Kỳ 148
Chú Nìn quả là một người Tàu kỳ cục, chú có cái đam mê của Kim Trọng, cái hào phóng của Thúc Sinh, nhưng lại thêm cái lòng ghen khủng khiếp của Othello Tây Phương.
Thấy bà Ðô hay đi lại nhà người đồng hương, chú ghen với cả nước Việt Nam – chú biết bà Ðô chỉ vì nhớ nước mà giao thiệp như vậy – chú bèn vận động giới thiệu bà Ðô vào giúp việc cho nhà thương Nam Kinh, tập sự làm nữ y tá. Như vậy bà Ðô sẽ bận bịu suốt ngày và chỉ có bé Cam là được tự do đến đằng gia đình ông Kiển, tên người đồng hương, để học thêm về chữ quốc ngữ và đàm thoại bằng tiếng Việt trong bầu không khí gia đình Việt cho khỏi mất gốc. Cuộc đời nghẹn ngào thiếu quê hương của bà Ðô kéo dài được hơn một năm thì bà hay tin Khóa đã đỗ bằng Thành chung ở Vientiane và sửa soạn về nước, vì ông Hải được thuyên chuyển về Hải Phòng. Bà vội vã phúc đáp thơ con trong có đoạn:
“Con ơi, con được về thăm đất nước mẹ mừng. Mẹ và em con giờ đây nghìn trùng cách trở cố hương biết có ngày tái ngộ? Con ơi, cổ nhân nói học như hải, biết thế nào cho vừa. Nay con đã đậu bằng Thành chung, vốn kiến thức cũng tạm đủ, về đến nước nhà, con nên kiếm việc làm và tiền lương hàng tháng phải nộp tất cả bác Hải, bác cho bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu, hoặc cần bao nhiêu thì xin bấy nhiêu. Mẹ có thể lấy tiền của ông Nìn ở đây gửi về cho con tiếp tục ăn học, nhưng mẹ không muốn phải mang ơn ông Nìn hơn nữa; chắc chắn con cũng đồng ý với mẹ như vậy. Ðặt chân tới nước nhà, con phải về làng Liên Phú thăm quê của cha con và nhận họ hàng bên nội, rồi xuống Hải Phòng, qua bến đò Bính, qua bến đò Rừng, tới Quảng Yên, xuống tầu biển tìm đến Ninh Tiếp quê mẹ, nơi làm muối nấu cho cả nước dùng.”
Bà Ðô có viết riêng cho ông Hải một lá thư khác, trong đó bà cám ơn ông Hải đã thay bà nuôi Khóa ăn học nên người, bà xin ông Hải coi Khóa như con.
Ông Hải vẫn coi Khóa như con! Và Khóa đã tuân theo lời mẹ, tiền lương tháng đầu – Khóa đã thi được vào làm Quan Thuế – Khóa đưa biếu hết ông Hải. Cử chỉ tượng trưng này làm đẹp lòng cả đôi bên, sau đó ông Hải hoàn lại cho Khóa tiêu gần đủ. Ông đã hỏi vợ cho Khóa, con gái một người bạn mà ông quen thân tự ngày mới đổi đến Vientiane.
Ông Hải mắc chứng huyết áp quá mạnh – hypertension – từ lâu rồi, chuyến phi cơ chở ông cùng gia đình từ Lào về Hà Nội, qua dãy Trường Sơn gặp bão lớn, nhồi lên nhồi xuống, ông bị ngất. Phi cơ hạ cánh, người ta chở ngay ông sang nhà thương Ðồn Thủy (Lanessan). ông qua khỏi lần này, nhưng miệng hơi méo, cơ thể suy nhược trông thấy. Hai tháng sau một cơn huyết áp quá mạnh khác tấn công ông Hải lần chót, lần này ông bị đứt mạch máu óc, chết tức khắc. Khóa phải cưới vợ gấp – Có thể gọi là cưới chạy tang.
Năm sau đứa con đầu lòng ra đời, Khóa đặt tên là Thanh.
Tất cả những tin vui buồn lẫn lộn đó đều có thư tới Nam Kinh, mối sầu xa xứ của bà Ðô vì thế cũng vời vợi đôi phần vì bà có cảm tưởng bà vẫn tham dự vào cuộc sống những người thân tại quê hương. Ðó là vào giữa năm 1937 – bà xa quê hương đã hai năm rồi.
Gia đình ông Kiển, người đồng hương duy nhất của bà Ðô ở Nam Kinh, gồm hai vợ chồng ông và hai thằng con trai đã gần đến tuổi trưởng thành, gia đình này chuyên nghề buôn thuốc Bắc và sâm Cao ly. Thì ra ông Kiển mới từ Bắc Kinh dời về Nam Kinh. Ông nhận thấy khí thế người Nhật rất hung bạo, họ đã nắm vững tình thế ở Cao Ly và luôn luôn gây gổ với người Tàu ở biên giới, ông cho rằng chiến tranh Trung Nhật chẳng sớm thì muộn tất bùng nổ, và ngòi nổ tất nhiên ở Bắc Kinh rồi, ông bèn dời Bắc Kinh về Nam Kinh. Chưa được một năm thì xảy ra vụ án Lư Cầu Kiều (ngày 7 tháng 7, 1937) cách Bắc Kinh năm dặm, rồi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ đúng như lời ông tiên đoán, và Bắc Kinh bị chiếm hai tuần sau. ông Kiển rất lấy làm đắc ý về nhãn giới chính trị của ông, chẳng ngày nào là ông không kể công với vợ con “Bà mày xem, chúng bay xem, tao không tiên đoán giỏi thì bây giờ mắc kẹt ở Bắc Kinh rồi nhé, vốn liếng đi đời nhà ma rồi nhé!” ông đâm ra theo dõi tình hình nước Tàu. ông nói với vợ con: “Ðấy rồi bà mày xem, chúng bay xem, hội nghị chín cường quốc họp ở kinh đô Bỉ nhất định can thiệp bắt quân Nhật rút về vị trí cũ. Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh cho quân ông phải giữ từng tấc đất đấy.”
Rủi thay lần này ông tiên đoán sai, hội nghị chín cường quốc quá lơ là, chiến tranh tiếp diễn ác liệt, Nhật tiến quân như vào chỗ không người. Chiến thuật tiêu thổ kháng chiến đã đươc đề cập đến. Nhưng điều ông Kiển không ngờ nhất là Tháng Mười Một năm đó quân Nhật đổ bộ lên Thượng Hải.



























































































