Khu Rừng Lau (Kỳ 155)

 


Kỳ 155


Khi Bộ Tham Mưu của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc dời xuống Hoa Nam, Khiết đến chào chú Nìn lúc đó đương ốm, thì cả bà Ðô và Cam cùng khóc, chính chú Nìn phải nghểnh cổ khỏi giường bệnh tìm mấy lời vỗ về an ủi hai mẹ con.

Khiết đâu có ngờ chàng xuống Hoa Nam chừng hai tháng sau thì bệnh tình chú Nìn trở nên trầm trọng rồi chú tạ thế.

Sau khi đã săn sóc cho chú mồ yên mả đẹp để tạ ơn tri ngộ, bà Ðô để lại cho hai anh chú Nìn phân nửa gia tài để hai người tiếp tục trông nom đứa con giai chú Nìn đương theo học ở Mỹ, bà mang Cam về nước ngay. Nghe nói miền Quảng Yên chưa yên, bà mua vé máy bay về Hà Nội. Tỉnh nào cũng được, thành phố nào cũng được, miễn là được sống giữa đồng bào trên đất tổ!

Năm 1948, Khiết từ Vọng Các tới Nam Vang chàng được các đồng chí bố trí cho về nước theo ngả qua Cambot rồi vượt biên giới về Hà Tiên nước nhà (chàng về tìm phương kế giải quyết vụ phe quốc gia kháng chiến bị Việt Minh ra mặt khủng bố, đương lâm cảnh trên đe dưới búa). Vùng này trước đây vẫn yên tĩnh, rủi thay khi Khiết vừa đặt chân tới Cambot thì đoàn convoi gồm hai mươi nhăm xe GMC của quân đội viễn chinh Pháp bị giật mìn phục kích tơi bời khoảng biên giới giữa Miên với tỉnh Châu Ðốc, Phòng Nhì Pháp lập tức cho tung màng lưới trinh sát dầy đặc. Khiết phải xuống một chiếc thuyền đánh cá Miên, dự định qua hải phận nước nhà sẽ sang một chiếc thuyền máy khác, ven thẹo vịnh Thái Lan mà về Rạch Giá. Chàng bị giữ ngay khi vừa bước chân xuống thuyền đánh cá.

Căn cứ vào quốc tịch, người Pháp cho chở Khiết bằng phi cơ quân sự về Sài Gòn, nhốt chàng ở khám lớn Catinat, năm tháng sau đưa ra tòa án quân sự và mặc dầu chẳng có chứng cớ gì nhưng duy việc Khiết nhập nội Cao Miên trái phép đủ để tòa này lên án chàng mười năm biệt xứ, đày ra Côn Ðảo.

Ngay tuần đầu, vào một buổi sớm sắp bị dẫn đi làm ở Sở Cây, một người bạn đồng cảnh đã nói khẽ với Khiết:

“Anh mới bị đày ra đây mà đêm bị cùm, ngày đi làm tại lò nung vôi, như vậy phải cẩn thận lắm, một tháng sau anh có thoát khỏi Sở Tiêu mới cầm bằng là được ở tù mãn hạn.” “Làm Sở Tiêu còn vất vả hơn ư hở anh?” Người bạn bật cười vì câu hỏi ngây thơ của Khiết: “Anh tưởng Sở Tiêu là gì, sở giồng chuối tiêu hay giồng hồ tiêu chăng? Sở Tiêu ở phía Tây Nam Côn Ðảo, không có một cây chuối tiêu, chẳng có một giây hồ tiêu, đi đến đấy là… tiêu đường về, đó là một bãi phẳng gần sát hồ sen, nơi thực dân thủ tiêu các chính trị phạm mà chúng cho là nguy hiểm nhưng không thể lên án tử hình vì e lộ liễu mất chính trị.”

Chưa đầy một tháng qua Khiết bỗng nhận được giấy ân xá nhưng bị trục xuất khỏi miền Nam, phải trở về nguyên quán. (Mãi sau Hiệp Ðịnh Genève, Khiết mới hay một đồng chí cũ trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc của chàng được thực dân o bế phong cho giữ chức vị tối cao chính phủ bù nhìn. Người bạn đó bị mua chuộc, tuy hết tinh thần cách mạng nhưng tình nghĩa đồng chí còn, nên ngầm ra lệnh ân xá và trục xuất chàng. Khi khám phá ra “ân nhân” thì thế nước đã thay bực đổi ngôi, quân đội Pháp lần lần rút khỏi miền Nam tự do, “ân nhân” cũng phải cao chạy xa bay và hiện nay còn lưu vong trên đất Pháp).

Lúc còn ở Côn Ðảo, ngờ mình rồi đến bỏ thây nơi Sở Tiêu, Khiết giữ một thái độ đợi chờ rất bình tĩnh. Chàng nghĩ dù có chịu thua số mệnh thì cũng thua một cách chững chạc chẳng việc gì mà ưu phiền, mình đã làm hết sức mình rồi mà. Nhưng đến khi được tha, bắt trở về nguyên quán (miền Bắc) đặt chân đến Hà Nội, nhìn những bóng áo xanh, áo đỏ cùng những suối tóc thề quanh hồ Hoàn Kiếm, Khiết bỗng thấy tiếc đời vô cùng, tưởng như mình sắp bị thực dân dẫn tới… Sở Tiêu. Khiết gặp bà Ðô ngồi trên ghế xi măng, bên cạnh một thiếu nữ “mặt hoa da phán.”

Không hiểu sao Khiết lại nhớ đến thành ngữ rất… tuồng này, như Tiết Ðinh Sơn khen Phàn Lê Hoa chẳng hạn, khi chàng gặp lại Cam, vì thiếu nữ đó chính là Cam, vẫn khuôn mặt phúc hậu xưa bên bờ sông Tần Hoài, nhưng đôi mắt có chiều linh động hơn tuy vẫn giữ vẻ thản nhiên như xưa. Phải chăng vì cây Việt Nam đã được gặp thủy thổ Việt Nam để nở hoa? Cô bé bên sông Tần Hoài nay đã là cô gái… bên sông Tần Hoài (bởi mặt hồ Hoàn Kiếm lúc đó gợn sóng xanh biếc như hệt sóng sông Tần Hoài vào những sớm đẹp trời). Ðôi bên nhận ra nhau ngay, bà Ðô kéo tuột Khiết về ngôi hàng bán giày dép của bà ở Hàng Trống gần đấy, đó cũng là lần đầu tiên Khiết gặp vợ chồng Khóa và Thanh, đứa cháu nội đầu lòng của bà Ðô. Cũng may Khiết sớm biết Khóa đồng niên với chàng, từ đấy, để thân mật, Khiết gọi bà Ðô bằng bác, Cam cũng ấp úng gọi chàng bằng anh và xưng em.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT