Du Tử Lê
Trong ghi nhận của tôi, sinh hoạt văn xuôi của 20 năm văn học miền Nam có thể chia thành hai khuynh hướng chính.
– Khuynh hướng thứ nhất: Văn chương lãng mạn.
-Khuynh hướng thứ hai: Văn chương hiện thực xã hội.
Nhà văn Sâm Thương. (Hình: Sâm Thương)

Nói như vậy, không có nghĩa trong sinh hoạt văn xuôi của 20 năm văn học miền Nam không có những nhà văn chủ trương ghi nhận một cách trung thực bối cảnh dựng truyện của họ.
Một trong những nhà văn chủ trương bối cảnh dựng truyện phải cụ thể, có thật, hiểu theo nghĩa từng đi tới, trải qua những ngày tháng sống thực ở những nơi chốn được chọn làm bối cảnh dựng truyện của mình, là nhà văn Sâm Thương.
Khởi viết từ những năm đầu đại học, 1964, tính tới hôm nay, với hàng chục tác phẩm đủ loại, đã xuất bản, Sâm Thương, tác giả của một trong những tập truyện nổi nổi tiếng: “Cõi Người,” chủ trương bối cảnh của văn chương không thể hoàn toàn đi ra từ tưởng tượng! Ông không thuộc lớp “nhà văn thành phố,” “nhà văn phòng trà” theo cách nói của nhà văn Trần Hoài Thư. Ông quan niệm, nhà văn cần nắm vững bối cảnh truyện; trước khi gửi một “thông điệp” hay, tư tưởng, triết lý nào vào phần nội dung.
Trước quan điểm này của tác giả “Cõi Người,” tôi nghĩ, có lẽ cũng nên nói thêm rằng: Cùng lúc với những bước chân dấn sâu trong lãnh vực văn chương, Sâm Thương cũng đã say mê nghiên cứu, học hỏi điện ảnh… (Cụ thể, về sau, ông đã tham gia công tác đào tạo sinh viên ngành diễn xuất và, biên kịch).
Vì thế, khuynh hướng hiện thực đã sớm định hình trong quan niệm sáng tác văn chương của Sâm Thương. Nên truyện ngắn nhan đề “Một tác phẩm nghệ thuật” của Sâm Thương, in lại trong tuyển tập truyện kể trên, đã được văn giới ghi nhận, như thể đó là một thứ bán-hồi-ký hay tự-sự-kể của một người trong cuộc. Mà, tính xác thực (chí ít cũng về phương diện bối cảnh) đã đóng góp phần không nhỏ, đem xúc động đến cho người đọc.
Phải chăng, đó cũng là một trong những lý do “Một tác phẩm nghệ thuật” của Sâm Thương đã được sao lục, in lại trong bộ sách Văn Xuôi Miền Nam, xuất bản bởi Thư Ấn Quán, Hoa Kỳ. (1)
Ðược biết, “Một tác phẩm nghệ thuật” (2) được tác giả viết vào Tháng Mười Hai năm 1972; khi cuộc chiến miền Nam bị cuốn sâu trong cơn bão tăng tốc khốc liệt! Với những cái chết không thể phi lý, vô nghĩa hơn của đồng bào miền Nam, khi quân đội CS miền Bắc thọc những mũi dùi đẫm máu trên nhiều trận tuyến mà Ðông Hà-Quảng Trị, trong giai đoạn này là một điểm nóng chảy sắt.
Câu chuyện mở đầu với một nhân vật xưng “tôi,” được một đạo diễn tên Phú Văn thuê mướn đi quay một đoạn phim tài liệu về trận chiến Ðông Hà. Và, nhân vật nữ tên Maggie, người Mỹ, có anh ruột, mới tốt nghiệp Ðại Học West Virginia, bị gọi quân dịch, đưa qua Việt Nam, chết ngay trong cuộc hành quân hỗn hợp Việt-Mỹ đầu tiên ở Tây Ninh.
Bên cạnh ba nhân vật chân vạc này, những nhân vật của thời sự thuở đó, như Trung Tướng Trần Văn Trung, Bộ Trưởng Hoàng Ðức Nhã… cũng được đề cập, như những nhân vật phụ, làm nền cho tính hiện thực.
Diễn giải nguồn gốc đưa tới cuộc tình giữa nhân vật xưng tôi và Maggie, tác giả kể, hai năm sau cuộc gặp gỡ lần thứ nhất, liên quan tới cái chết của anh mình, Maggie viết thư hỏi nhân vật xưng “tôi,” nghĩ gì về chiến tranh? Nhân vật xưng “tôi” trả lời:
“…Sau khi đọc xong thư, tôi đã viết cho cô: ‘Tôi rất vui khi nhận được thư của Maggie và hy vọng được gặp lại cô ở Việt Nam. Tôi muốn trả lời câu hỏi của cô, mà đúng ra để trả lời cho chính tôi. Thú thật tôi vẫn chưa chọn được cho mình một thái độ dứt khoát. Phải chăng tôi là một kẻ ngụy tín?…. ’ ’ Trong thư, tôi không nói gì về những thay đổi của tôi. Sau khi tốt nghiệp Ðại Học Văn Khoa, tôi đã bỏ dạy học và viết báo để theo học một khóa quay phim. Mãn khóa tôi được gửi đi tu nghiệp ở Paris. Trở về, tôi chính thức làm việc tại Trung Tâm Quốc Gia Ðiện Ảnh. Công việc ở đây, ít ra đã không trực tiếp bắt tôi cầm súng. Tôi không muốn bắn vào người anh em tôi bên kia chiến tuyến; cũng như tôi không muốn ngã xuống trước họng súng của họ. Ngoài công việc được giao phó, thỉnh thoảng tôi cộng tác với một vài hãng phim ngoại quốc, nhưng tôi vẫn luôn ấp ủ thực hiện những tác phẩm nghệ thuật của tôi, những phim tài liệu thể hiện nỗi đau của đồng bào tôi đang phải gánh chịu trong cuộc chiến tranh tàn khốc này…”
Ðoạn trích dẫn trên, theo tôi, phần nào phản ảnh thực trạng tâm lý phân vân, ngã ba đường của giới trẻ, trí miền Nam thời ấy!
Cũng với những chi tiết khá cụ thể, ở một đoạn khác, đoạn nói về chuyến đi tới “hiện trường” của cuộc chiến Ðông Hà-Quảng Trị, Sâm Thương viết:
“…Sau khi kiểm tra lại máy móc, đồ nghề lần cuối tôi leo lên chiếc xe Citroen cà tàng mà ông Phú Văn mượn hay thuê của ai đó, và tự mình cầm lái. Trên mặt kiếng trước của xe, ông không quên dán chữ PRESS thật rõ. Chúng tôi lên đường đi Quảng Trị. Tôi nhìn lên mặt đồng hồ: 13 giờ 37, ngày 17 tháng 5, 1972.
“Khi xe chạy qua cầu Trường Tiền, tôi chợt hiểu ra một điều, có lẽ một trong những lý do thúc đẩy tôi nhận lời theo ông Phú Văn ra đây, nó hoàn toàn không mang tính nghề nghiệp. Tôi cứ tưởng tôi không quan tâm đến Huế, không muốn nhắc tới Huế. Nhưng trong tâm thức tôi vẫn khát khao muốn nhìn lại Huế. Huế vẫn là nỗi nhớ, là niềm đau trong lòng tôi. Những tà áo trắng bay bay của các nữ sinh Ðồng Khánh trong gió mỗi sáng mỗi chiều tôi đi qua trên đó thuở nào đã luôn khuấy động tâm hồn tôi, chìm sâu trong vô thức.
“Qua các ngả đường, ở đâu cũng thấy quán ăn, tiệm nước, vẫn đông đúc người qua kẻ lại. Nhưng sao khuôn mặt của Huế có vẻ như thất thần, mất máu. Xe chúng tôi chạy giữa con đường thẳng tắp quen thuộc với hai hàng cây cao, cành lá xanh, hoa phượng vỹ đỏ rực, mặt nước sông Hương loang loáng màu bạc trắng. Tôi nhớ khi còn học ở Quốc Học, đã bao nhiêu lần tôi lang thang trên con đường này, đứng dưới chân chiếc lư nhìn mưa bay trên sông, phía sau là cầu Trường Tiền mờ mờ ảo ảo. Bây giờ, cầu bị đánh sập đi mấy nhịp chưa kịp sửa, chiếc cầu mới dựng lên, án ngữ mất tầm nhìn, như một bức tranh có một lỗ hổng thật lớn. Tuổi trẻ của tôi cũng bị cuốn đi trong cơn lốc của chiến tranh…”
(Như bất cứ đứa con nào của Huế, Sâm Thương viết về nơi chôn ông được sinh ra và lớn lên, với tất cả rung-động-quá-khứ, sau nhiều năm xa và, những tưởng đã quên được Huế!)
Mạch văn đi tiếp tới một địa danh cũng có thực khác:
“Tới An Lỗ, tôi bắt đầu cảm nhận được thế nào là cái nắng nóng và những ngọn gió nồm nơi vùng đất khắc nghiệt này quất lên da mặt rát bỏng. Mặt đường nhựa sáng loáng như những vũng nước ảo giác giữa sa mạc, là đà bốc khói. Hai bên đường chỉ có cát và cát, cây cối khô héo, hút tầm mắt nhức nhối một màu bạc phếch, nghèo đói, khô cằn… Nhưng sao dân chúng vẫn bám vào đây để sống, để hiện hữu. Cái gì đã níu giữ họ? Vùng đất này không chỉ khắc nghiệt bởi thiên nhiên nóng cháy, bởi giông bão cuồng nộ, mà còn hứng chịu nhiều hơn bất cứ đâu lượng bom đạn của cuộc chiến tranh dai dẳng này…”
(Còn tiếp một kỳ)
Chú thích:
(1) Trọn bộ “Văn Miền Nam” 4 cuốn. Cuốn cuối cùng xuất bản năm 2009. Liên lạc Trần Hoài Thư: [email protected].
(2) Tạp chí Văn Mới, Saigon, tháng 12, 1972.



























































































