Kỳ 180
Thoại chợt cười lớn:
– Ba trăm có thể mua được một mẫu đất ruộng tốt đấy. Bắt! và tố thêm một trăm hai mươi nhăm đồng nữa.
Ðối phương vỗ đùi ha hả:
– Anh đôi xì chăng? Ðôi tây chăng?
Thoại chặc lưỡi:
– Tháu cáy đấy, vì biết chắc anh chỉ có đôi đầm mặt và tẩy chức!
– Anh định ăn hết cả tiền để tôi về chết với vợ đấy phỏng?
– Thì vợ anh nó cũng chỉ rỉa róc anh suốt một tháng là cùng, rồi nó phải quên đi chứ.
Bằng một cử động mạnh bất ngờ đối phương vơ gọn tập giấy bạc trong lòng, giơ cao tay quẳng mạnh vào đống giấy bạc giữa chiếu. Nhanh như chớp chàng thanh niên Thoại vồ lấy cả đống giấy bạc ngồn ngộn như con sư tử vồ mồi ngon vừa định kéo về lòng chàng thì có tiếng đối phương.
– Ấy khoan! Tôi đã bảo “bắt” đâu mà anh vội vơ tiền thế?
Ðối phương cười khanh khách:
– Ðánh xì như anh còn kém lắm, tôi quẳng tiền vào như vậy chỉ là để đánh cái đòn thăm dò thôi.
Ðối phương thu lấy số một trăm hai mươi nhăm đồng về. Tiếng cười chiến thắng – chiến thắng về tâm lý – càng ròn rã như để trả thù số tiền đành chịu mất vì mấy lần bắt trước.
Ðối phương nói qua tiếng cười chế riễu đó:
– Anh có đôi xì hay đôi tây đấy, cho nhau biết được chăng? Xin nhường anh ván này vậy!
Thoại bình tĩnh vơ tiền về, khuôn mặt không hề thay đổi, chỉ nói khẽ:
– Anh bạn có thể mở lấy mà xem.
Ðối phương lật con tẩy của Thoại. Tiếng cười ngưng bặt. Ðồng thời với hai tiếng “ồ” lớn của hai ông bạn đã chịu bài khi nãy, tiếng vỗ đùi đánh “đét” của đối phương:
– Bỏ mẹ tôi rồi!
Ðúng như lời tuyên bố, Thoại đã tháu cáy, bài chẳng có đôi gì hết.
– Ðánh như anh đáng được vua ban bát phẩm văn giai. Giỏi, giỏi thật! bá Thoại giỏi lắm! – đối phương kết luận.
Ván bài tháu cáy được truyền tụng khắp làng và cũng kể từ đấy người làng gọi đùa ông Thoại là bát Thoại. Năm năm sau tên đó nghiễm nhiên thành một danh từ kép, không một chút khôi hài.
Trên bàn thờ đã tàn hết ba tuần nhang thẻ, những thỏi trầm bên trong đỉnh đồng cũng đã bén hết, chỉ còn nén hương vòng cháy dở như tượng trưng cho lòng kính ái thường xuyên của người sống dâng lên người chết.
Ðược sự chỉ dẫn của bà Phán và bà cả Bê, cô Toản và Miên bày ra làm ba mâm. Sự phân chia thành nhóm khá hợp lý theo quan niệm miền quê. Một mâm gồm toàn các ông: ông Hạo, ông bát Thoại, ông cả bê, các thanh niên Kha, Hãng, Hiển và Toản (vừa đi làm về), một mâm gồm toàn các bà: cụ ngoại, bà Hạo, bà Phán, bà cả Bê, bà Nụ, bà Quân, mâm thứ ba gồm cô Toản, Miên, Thi và lũ trẻ mà các cô có nhiệm vụ trông nom cho ăn: Quảng, Bắc, Ðông.
Nghĩ mình lao nặng, Thi xin rút lui, nhưng tất cả những người có mặt đều tiếp lời nhau giữ nàng lại cho bằng được (chính bà Phán và cả Hãng nữa ở nhà vẫn ăn cơm cùng mâm với Thi để nàng đỡ tủi).
Thi miễn cưỡng ở lại nhưng trước khi ăn – cũng như ở nhà – nàng đã kín đáo xuống bếp đặt ấm đồng nước sôi để lát nữa dội vào bát đũa của nàng, và trong khi ăn nàng dùng hai thìa, hai đôi đũa…
Vì cô Toản và Miên phải trông nom lũ trẻ nên mâm thứ ba này nói chuyện ít. Trong khi đó ở mâm các bà câu chuyện tuy xì xào nhưng giữ được nhịp thường xuyên, thoạt là các chuyện làm ăn cày cấy vất vả, buôn bán khó khăn, tiếp đó ôn lại những kỷ niệm xưa với người quá cố, vui có buồn có, tóm lại câu chuyện nông nổi thôi nhưng tình cảm nhẹ nhàng thành thực, từ đầu đến cuối không một phút gắng gượng.
Câu chuyện ở mâm các ông phức tạp hơn cả. Thoạt là chuyện về thời tiết và vụ màu sắp gặt năm nay, câu chuyện chuyển dần sang thời sự, các ông nhắc lại cái nhục khi con tướng De L. Chết ở mặt trận Ninh Bình, trường tiểu học làng phải để cờ rũ suốt một tuần lễ.
Ông cả Bê vừa với cái điếu vừa gân cổ lớn tiếng phê bình:
– Bố con đưa nhau sang cướp nước nhà người ta chết là đáng còn cờ rũ cờ riệt làm cóc gì?
Ông bát Thoại:
– Nghe nói dạo đó thằng De L. Nó mắng mấy anh chóp bu chính quyền người mình là ngồi ăn hại trong khi con nó chết.
Ông cả Bê đã đánh diêm hơi cúi đầu xuống để miệng ngậm vào đầu xe điếu sắp rít một hơi bỗng ngửng lên công phẫn:
– Thì nó chửi cho là phải, toàn là lũ ăn hại cả.



























































































