Khu Rừng Lau (Kỳ 182)

 


Kỳ 182


Gió thu lạnh ghê ghê, mùi lúa thơm phức, một thành sương trắng quấn ngang lũy tre một làng xa thành một đại tang, khói lam chiều ở từng mái bếp bốc lên như muối lặng lẽ sưởi ấm cho thiên nhiên.

Kha thấy chán sự ồn ào của đô thành, Kha ở trong quê một hôm thế này để nghe chính tiếng mình nói không bị lẫn vào tiếng xe cộ. Nhà rộng, sân rộng giờ đây còn ba bóng người, ông Hạo, bà Hạo và Kha.

Có tiếng trẻ con khóc ở căn nhà lá lụp xụp cách dinh cơ nhà Kha một đường hẻm. Thấy Kha nhìn về phía đó bà Hạo nói:

– Nhà chị cả Cầu đấy, anh giáo còn nhớ chị ta không?

– Thưa thím cháu nhớ – Kha đáp.

Bà Hạo tiếp:

– Anh Cầu đi lính, đồng lương chẳng được bao nhiêu, khi nào về thăm nhà thì mang về cho vợ một ít xà phòng, một ít đồ hộp. Anh ta thương vợ con lắm!

Bà Hạo ngừng. Mấy giây sau bà nói tiếp, ngượng nghịu vì bà đang nhai trầu:

– Chị Cầu chẳng cần gì đến xà phòng cũng không biết ăn đồ hộp, mà đồ hộp thì còn ra cái gì nữa, chị mang đi bán ráo lấy thêm tiền đong gạo mua rau mua vừng cho hai con.

Anh Cầu – Kha còn nhớ – hơn Kha chừng năm tuổi, con nhà nghèo, thuở bé, đi ở chăn trâu cho ông bá Lãnh ở xóm Quản (xóm này ở giữa làng và trên một bãi cỏ rộng thuộc ngõ xóm về phía sát đồng có cái quán gạch) lớn lên anh đi cày thuê. Thuở xưa mẹ anh mang thai đã trên chín tháng mà vẫn phải ra đồng cấy lúa, bà đẻ rơi anh ở bên lề cầu đá giữa đồng, do đó đặt tên anh. Anh có nước da đen dòn, mắt tinh, miệng cười tươi, lại khỏe, táo bạo, bơi giỏi từ thuở bé. Gần chùa có cái ao rộng và sâu, xung quanh bờ cây cối um tùm. Ao này đã có hai người chết đuối và trên một cành muỗm ven bờ đã có người thắt cổ, vì vậy tuy ao có cầu xây gạch rất sạch sẽ mà ít đàn bà trẻ con dám đến giặt giũ một mình. Nước ao lúc nào cũng mát lạnh thăm thẳm huyền bí. Chỉ có Cầu chiều chiều đi chăn trâu về là dám nhảy xuống ao này bơi lội nhởn nhơ. Nhiều lần anh trổ tài lặn cho Kha xem, anh lặn từ bờ ao này sang bờ ao kia. Lớn lên ăn nói có duyên, anh thường trêu cợt các cô – cô nào cũng mắng yêu anh là “phải gió”, “nỡm”, “chết tiệt”. Nhiều khi mải suy nghĩ – nhà nghèo thường có nhiều điều phải suy nghĩ – anh không kịp nhận ra các cô, chính các cô lên tiếng trêu anh trước. Hình như cô nào cũng lấy sự được anh trêu là vinh hạnh. Anh có cách đùa kỳ quái và táo bạo nhất, nhè đúng lúc các cô đương xúm xít giặt giũ ở cầu ao, anh bơi tới gần đấy cởi phăng áo khi sắp sửa cởi nốt quần, anh nói, “Chà của giời cho, ăn cắp ăn trộm của ai mà sợ!” Các cô la hét vơ vội lấy rổ quần áo quay mặt đi, la hét đấy mà cười đấy, cảnh lộn xộn y như một chuồng gà mái vừa bị cáo nhảy vào bắt đi một con. Cùng xóm có chị Trác kém anh hai tuổi. Chị Trác cũng là con nhà nghèo, cũng khỏe mạnh, lẳn người và đẹp. Da chị trắng, vào mùa phải đi gặt mướn nhiều, màu trắng đó chuyển sang xám hồng. Có nhiều trai làng gặp chị ở khoảng đồng không quãng vắng giở trò chớt nhả nhảy vào ôm bừa, bị chị đấm đạp cho những cái trời giáng. Chẳng xơ múi gì, các anh chỉ còn biết cười trừ, còn chị thì lúc nào cũng cười tươi và dòn, kể cả khi chị đấm đạp chống cự. Một chiều chị ra ao giặt với các chị em, anh Cầu đủng đỉnh từ trong xóm đi ra.

– Cái ông nỡm kia lại sắp giở trò lục sở đấy – một chị nói.

Quả nhiên Cầu tới khoảng bờ gần đấy cởi áo rồi cởi quần và cũng lên tiếng phân trần trước, “Chà, của giời cho, ăn cắp ăn trộm của ai mà sợ!” Nhưng trong khi các chị tru tréo quay giạt sang một bên, riêng chị Trác vẫn điềm nhiên vò áo, đúng lúc Cầu trần như nhộng, chị ngẩng lên nhìn trâng tráo. Cầu nhảy vội xuống nước. Chính anh ngượng! đến mùa đông năm đó chị Trác thành chị Cầu.

Tiếng con chị Cầu bên đó vẫn khóc, chỉ có tiếng khóc là rõ, nó nói gì với chị Cầu, chị Cầu nói gì lại với nó, Kha nghe không rõ.

Thốt nhiên Kha quay lại hỏi bà Hạo:

– Thím ơi, nhà còn phần biếu nào không cháu muốn mang sang biếu chị Cầu, tình hàng xóm!

Bà Hạo gật đầu:

– Còn anh ạ, còn xôi, còn chuối nhưng hết thịt quay.

– Hết thịt quay thím xếp cho một đĩa thịt gà.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT