Cô giáo cũ


Diệp Bảo Khương



Gần bùng binh Ninh Hòa, trên quốc lộ 21 hướng về cao nguyên Bình Dương và Buôn Mê Thuột, đối diện với sân vận động cũ của huyện có một quán kem mà người Ninh Hòa dù có xa quê đến đâu, mỗi khi nhắc đến đều nhớ về một nơi có cái tên khá dễ thương, đó là quán kem Thiên Hương.


Kem ở nơi đó tuy không có nhiều mùi vị để lựa chọn, chỉ vỏn vẹn vài loại bình thường như kem chuối, kem sầu riêng, kem va-ni-la, nhưng sao tôi vẫn thấy nó ngon ơi là ngon. Ngon đến nổi về sau này dù cho có ăn bất cứ loại kem nào mắc tiền hay ngon đến mấy cũng vẫn làm cho tôi nhớ đến ly kem với những chiếc muỗng nhựa đủ màu nhỏ xíu như chiếc móng tay, để mỗi khi múc lên chỉ được một chút tí tẹo, nhởn nhơ nhấm nháp từng tí một vì sợ mau hết. Cái vị ngọt đậm đà, thơm thơm, beo béo của nó đã theo tôi mãi đến ngày hôm nay. Lúc đó làm gì có tiền để được ăn kem cho đến ngán như bây giờ. Ăn xong rồi vẫn ngỡ như chưa ăn, vẫn còn thòm thèm cho nên người ta thường nói món ngon nhớ lâu quả không sai chút nào.


Nhắc đến quán kem Thiên Hương không phải là mục đích chính của bài viết này, chẳng qua là tôi chạnh nhớ đến cô giáo của tôi, vì nơi đó chính là nơi gia đình cô giáo tôi sinh sống.









Teacher (Tranh minh họa: Họa sĩ Nguyễn Thanh Vân/Người Việt)


Cô tên Nguyễn Thị Quý. Cô từ thị trấn Ninh Hòa về quê tôi dạy. Từ nhà đến trường chỉ cách nhau có hơn ba cây số nhưng lúc đó lại là quãng đường khá xa. Cô chạy chiếc xe gắn máy hiệu gì tôi không nhớ, chỉ nhớ nó có màu xanh mạ non, và nhỏ nhắn như tạng người của cô. Tiếng máy nổ xành xạch xành xạch mỗi khi xe của cô chạy ngang nhà, đều đặn sáng chiều hai buổi, quen thuộc đến độ chỉ cần nghe tiếng xe là tôi biết chừng mươi phút nữa tiếng trống trường báo hiệu giờ vào lớp sẽ điểm. Tôi vội ôm cặp, cắm đầu cắm cổ vù tới trường vì chậm chân sẽ bị trễ học.


Cô dạy lớp sáu, lớp đầu tiên của bậc tiểu học mà hồi xa xưa trường làng tôi chưa hề có. Từ thế hệ của các anh chị tôi trở về trước khi học xong lớp năm là phải lên trường huyện để học tiếp. Cô phụ trách dạy giảng văn và Anh ngữ. Những lúc tôi được học với cô về văn chương thơ phú là lúc tôi mê mẩn nhất. Tôi cứ như uống từng lời, từng chữ, và mắt tôi cứ dõi theo mỗi khi cô cầm cuốn sách chậm rãi đi lên đi xuống, vừa đọc vừa bình giảng. Đôi lúc cô dừng lại bàn cuối nơi có tôi đang ngồi, dịu dàng nhắc nhở tôi nhớ chép bài. Tôi ước ao phải chi cô cứ đứng đó luôn, đừng đi đâu hết vì ở nơi cô toát ra một cái gì đó vừa uy nghiêm, vừa gần gũi, cứ như một người chị đang dạy một đứa em thích học. Bốn mươi lăm phút của giờ học trôi qua nhanh lắm, tôi thường ngẩn ngơ buồn khi thấy cô xếp lại sách vở để đi dạy lớp khác.


Nhưng với môn Anh văn cô dạy, tôi lại không chịu học. Chẳng hiểu sao lúc đó tôi ngu dại một cách kỳ cục, cứ nghĩ tiếng Việt có học cả đời cũng không hết, mắc chi phải học một thứ tiếng mà tôi không biết dùng để làm gì. Tôi rủ theo thằng bạn, cứ nhè tiết cô dạy là chuồn ra khỏi lớp. Thơ thẩn đã đời, tôi lại mon men đến bên cửa sổ nhìn vào lớp, dõi mắt vào đám bạn đang hí hoáy chép bài, trong khi cô đứng bên bục giảng mãi mê viết.


Nhìn ánh nắng ban mai xuyên vào lớp học, những bụi phấn rối rít bơi bơi theo ánh nắng, tự dưng tôi thấy lẻ loi quá. Cảm giác buồn tủi vì bị bỏ rơi dâng lên ngập lòng. Ngay cả ánh nắng và bụi phấn cũng còn biết theo cô vào lớp, còn tôi thì đứng chết dí ngoài này, chẳng một ai quan tâm hay đoái hoài đến sao! Tôi ghen tức, nên tôi khích thằng bạn hãy tìm cách quậy phá để cho cô mất tập trung không thể dạy được.


Nó chết nhát lè lưỡi lắt đầu. Vậy thì tôi làm. Đu lên cửa sổ có một chấn song bị gãy, khom người trườn vào rồi nhảy cái ịch xuống, tôi chạy ào ngang qua lớp và mất hút đàng sau cánh cửa chính phòng học. Những tiếng cười ồ lẫn tiếng la ó của chúng bạn càng làm tôi hãnh diện vì đã tạo nên kỳ tích. Tôi anh hùng quá chừng.


Chạy vòng trở lại, kiễng chân nhìn vào lớp, tôi thấy cô đứng lặng, mắt mũi đỏ hoe. Đỗi sau cô mới đẩy chiếc kính cận lên, sụt sùi chậm nước mắt… Hôm sau tôi bị mời lên văn phòng. Tuyệt nhiên cô không la mắng, chỉ nhẹ nhàng khuyên bảo tôi đừng có ngỗ nghịch nữa, hãy chịu khó học hành cho đàng hoàng tử tế. Cô còn nhắc hành động tôi làm rất nguy hiểm, sẽ gây ra tai nạn nếu tôi sơ ý té xuống. Phải chỉ cô cứ rầy la hay xử phạt, tôi sẽ dễ chịu hơn. Lí nhí nói câu xin lỗi còn khó hơn trèo qua song cửa sổ .


Biết tôi thích đọc sách, cô thường đem truyện xuống cho tôi mượn. Nhà có cả một thư viện nhỏ, nhưng cô chỉ cho mượn mỗi lần hai cuốn, không hơn không kém. Tất cả những cuốn sách của cô đều được bao bìa rất cẩn thận. Cô cho tôi mượn đọc với điều kiện không được làm rách hay mất, và phải nói cho cô biết tôi hiểu và học hỏi được những gì từ nơi đó.


Cô là người hướng dẫn tôi đọc sách vở. Tôi vẫn nhớ như in lời cô nói “Khi đọc sách em nên để lòng em mở. Vì trong mỗi cuốn sách dù dở đến đâu vẫn có một câu, một dòng hay một đoạn hay. Em nên nhớ tác giả đã có công viết, thì em nên đọc một cách trân trọng. Hãy đọc nó và cố gắng hiểu nó như chính em là người viết ra nó vậy”.


Có lần cô nhận lại cuốn sách của tôi vừa đọc xong, ôn tồn cô bảo tôi kể cho cô nghe nội dung, và lý do sao tôi đọc nó. Tôi bí quá đành phải trả lời rất ngớ ngẩn “Dạ thưa cô em đọc sách là tại vì cô cho em mượn”. Cô phì cười vì câu trả lời quá sức là “bựa” của tôi.


Tôi chỉ được học với cô đến hết năm lớp sáu. Qua năm sau cô chuyển đi dạy trường khác. Từ đó trở đi tôi không còn được gặp cô nữa. Cứ mỗi lần nghe tiếng xe gắn máy của ai chạy ngang nhà, tôi bâng khuâng ngỡ như cô về lại thăm trường, thăm lớp.



***



Năm rồi tôi về chịu tang cho má tôi. Cái nắng chang chang của mùa hè như đổ lửa xuống lưng những người thợ đang xây mộ, tôi ước ao có được một ly nước mía hay một cái gì mát lạnh để cho mọi người giải khát. Hình ảnh ly kem bất chợt lóe lên, tôi vội đón xe ra thị trấn, tìm lại quán kem ngày xưa mà trong lòng bồi hồi, nao nao một cảm xúc rất lạ.


Quang cảnh đã thay đổi nhiều. Sân vận động giờ không còn nữa. Những hàng phượng vĩ quen thuộc vẫn rưng rưng đỏ trong ngàn lá xanh non, xôn xao vẫy mừng đứa học trò ngày xưa trở về. Bùi ngùi đứng trước nhà cô, lặng lẽ ngắm bảng hiệu “Kem Thiên Hương” giờ đã nhuốm màu thời gian cũ kỹ. Tần ngần tôi hỏi người bán quán:


-Thưa chị, cô Quý còn ở đây không, chị?


– Em là ai mà tìm cô Quý?


– Dạ, em là học trò cũ của cô!


– Cô Quý nghỉ dạy lâu rồi. Không ngờ hôm nay có học trò tới tìm. Để chị vô kêu cô. Em ngồi chơi và chờ chút nghen!


Một dáng người nhỏ bé, gầy gò với mái tóc lấm tấm hoa lau lần dò đi ra. Phải nhờ vào đôi kính cận cô đang đeo tôi mới nhận ra cô giáo của tôi ngày nào. Tôi vội đứng dậy, chưa kịp hỏi hỏi hết câu “Cô Quý, cô còn nhớ em không?” thì cô đã vừa đẩy gọng kính lên vừa nói “Khương đó hả? Thằng Khương hay mượn sách của cô đó hả?” mà mắt cô đã ngân ngấn nước.


Tôi nghẹn ngào ôm lấy cô. Ba mươi sáu năm dài đăng đẳng, bao nhiêu nước chảy qua cầu mà sao khi gặp lại, chỉ với một câu cô hỏi đã làm tôi chết sững cả người. Cô Quý ơi, đứa học trò cũ đã từng làm cho cô buồn cô khóc, nay nó đang đứng trước mặt cô nè, đang thổn thức vì những điều cô nhớ đến nó nè…



***



Tôi vẫn còn đam mê với sách vở cho đến bây giờ là nhờ vào sự dạy dỗ từ một cô giáo có tấm lòng vị tha, hiền lành như cô Quý. Cô là những trang sách hay mỗi khi tôi cầm lên đọc. Cô là vị ngọt ngào mỗi lần tôi thưởng thức ly kem. Cô là dòng sông ký ức êm đềm mỗi khi tôi ngụp lặn bơi về tìm dĩ vãng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT