Bụi và Rác (kỳ 94)


Nguyễn Xuân Hoàng


Chúng tôi nói chuyện rất khẽ. Những người nghe ngồi quanh bị thu hút bởi âm nhạc Nguyễn Giang.

“Tôi thấy hay nhưng tôi không hiểu.” Ma Chirac nói.

“Thấy hay hay hơn là hiểu.” Tôi trả lời “Cô có muốn tôi dịch cho cô câu tình yêu như trái phá không?”

“…”

“Câu này có nghĩa là từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng.”

“Hiểu ra rồi. Thấy hay chưa hay. Hiểu hay hơn.”

Hai giờ sáng. Khi Giang đặt cây đàn nằm xuống, uống những giọt rượu cuối cùng rót từ cái chai xanh đục cổ lùn, cũng là lúc tôi nằm bệt xuống sàn nhà.

Người thiếu nữ Pháp hỏi:

“Nhà ông Tran có gần đây không?”

“Gần.”

“Ông có xe không?”

“Có.”

“Ông về hay ở lại?”

“Ở lại.”

“Tại sao?”

“Tại vì tôi không có giấy đi trong giờ giới nghiêm.”

“Tôi có giấy đi trong giờ giới nghiêm. Ông có muốn đi với tôi không?”

“Tại sao không?”

“Thế thì đi.”

Ma đứng dậy. Tôi ngồi dậy theo. Chiếc xe “đơ sơ vô” mỏng dính, nhún nhảy. Máy tốt. Xe chạy trong một thành phố vắng. Mặt đường ướt. Mưa bụi phất qua cửa kính. Cái gạt nước buồn bã cử động đều đặn. Một thành phố chết.

“Sài Gòn buồn hơn là bố tôi tả trong thư.”

“Cô đến đây làm chi?”

“Thăm bố tôi. Ông ấy là tùy viên văn hóa Tòa Ðại Sứ Pháp.”

“Sài Gòn không yên đâu.” Tôi nói cho qua chuyện khi xe chạy ngang qua Dinh Ðộc Lập, vòng ra đường Thống Nhất chạy ngang hông Nhà Thờ Ðức Bà, rẽ xuống Tự Do.

“Tôi biết. Sài Gòn không yên. Nhưng tôi đã đọc cuốn Người Mỹ Trầm Lặng của Graham Greene. May ra có gặp được anh chàng Alden Pyle nào không?”

Ma cho xe dừng trước cửa khách sạn Caravelle.

“Bố tôi giữ cho tôi một phòng ở đây.”

Trời vẫn còn mưa. Ma mở cửa xe bước xuống. Thong thả.

“Ông có muốn nói chuyện về những cuốn sách không?”

Tôi không trả lời cô. Tôi mệt và đói. Tôi muốn có cái gì ăn hoặc là có chỗ nào nằm. Tôi không gật đầu cũng không lắc đầu.

Người giữ thang máy mặc đồng phục đứng ở cửa chào chúng tôi. Ma bấm nút. Tôi đứng sát vào cô. Mùi thơm ở mái tóc cô làm tôi nhớ Uyên. Có lẽ cả bà Phan và Uyên tối nay sẽ canh chừng tôi trở về. Nhưng tôi có cần phải về không?

Khi cánh cửa thang máy mở ra tôi đã hôn xong Ma cái hôn thứ nhất. Tôi không so sánh, nhưng rõ ràng là tôi không có cái cảm giác hôn người thiếu nữ này lần đầu. Cái biên giới giữa Uyên và Quỳnh là có thật, nhưng giữa Uyên và Ma ít ra trong cái hôn – tôi không nhận ra chút khác biệt nào.

Và đêm hôm đó tôi ở lại với Ma Chirac.

Khi vói tay bấm cái công tắc đèn ở đầu giường ngủ, tôi thấy cuốn “Ông Ðại Sứ” của Morris West đang mở ra dở chừng.

“Em thích đọc những cuốn tiểu thuyết viết về Việt Nam.”

Ðối với tôi, đó là một đêm không ngủ. Ma chỉ trở mình một lần. Da thịt cô mát rượi, mềm như lụa. Sáu giờ sáng, tôi rửa mặt, mặc quần áo, mang giày ra khỏi phòng xuống cầu thang, băng qua bên kia đường, vào quán Givral ăn một cái “toát bơ,” uống một ly cà phê sữa nóng và gọi điện thoại cho Uyên.

Sau đó tôi không bao giờ gặp lại “Ma Chirac.” Câu chuyện nghe nhạc và qua đêm với người thiếu nữ Tây phương trong khách sạn Caravelle có vẻ Bồ Tùng Linh quá. Tôi không nhớ tới nó cũng phải. Mặc dù trên đường đi cô có hỏi tôi rằng tên cô có làm tôi liên tưởng đến điều gì chăng? Tôi nói có, in hình như tôi có nghe tên một ông chính khách người Pháp tên Jacques Chirac, đô trưởng thành phố Paris thì phải. Cô nói chính vậy. Ông ấy là bác tôi. Và ông ấy sẽ là thủ tướng nước Pháp.

Thế thôi. Nhưng đó là Marguerite Chirac, đâu có phải là Malpighi.

Những dòng cuối lá thư của cô cho tôi biết chồng cô là Marcello Malpighi, một viên chức ngoại giao làm việc ở Barcelona. Thư nói hãy cho Ma biết Tran cần cái gì. Ma sẽ làm hết sức mình cho Tran. “Hãy đến gặp ông Thierry Rousselin.”

Ma Chirac, câu chuyện tưởng là liêu trai nhưng đang là sự thật.

Tôi nhắm mắt lại cố hình dung ra khuôn mặt cô, nhưng hoàn toàn vô vọng.

Trong tôi chỉ có Quỳnh và đứa con của hai chúng tôi.

Tại sao không có thư của Quỳnh?

Tại sao? Tại sao?

Tôi không hiểu. Tôi không có câu trả lời.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT