Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)
Xưa
Mùa Hè năm 1958, khi chúng tôi tới Mỹ du học, nhiều người hỏi, “Anh có phải người An Nam không?” Cho tới đầu thập niên 1960 thì Việt Nam ta nói riêng và Ðông Nam Á nói chung là rất xa lạ đối với đa số nhân dân Hoa Kỳ.
Nhưng rồi từng bước, Mỹ đã mang tới trên nửa triệu quân vào để chiến đấu. Nghiên cứu những tính toán của các nhà làm chính sách thì thấy thật rõ là Mỹ đã nhảy vào Việt Nam chủ yếu là để bảo vệ quyền lợi của chính mình tại vùng Biển Ðông. Câu hỏi đặt ra là: chiến lược Mỹ coi những quyền lợi nào là quan trọng ở nơi đây? Trả lời câu hỏi này giúp ta có thể tiên đoán được khi nào Mỹ sẽ thực sự khai hỏa với Trung Quốc. Trong cuốn Khi Ðồng Minh Nhảy Vào, chúng tôi mời độc giả đi thẳng vào phòng họp của các nhà làm chính sách ở Washington để theo dõi những bàn bạc, tính toán về cuộc chiến Việt Nam. Trong hai bài vắn gọn này, chúng tôi trích dịch 4 văn bản nòng cốt để bình luận.
1. Huấn Lệnh NSC 48/1
Bối cảnh: ngày 10 tháng 6, 1949, vào lúc quân đội Mao Trạch Ðông đang chiến thắng ở Hunan, Hupeh và Manchuria, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Louis Johnson đệ trình Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (National Security Council – NSC) yêu cầu cho nghiên cứu về tình hình khẩn trương và tái thẩm định chính sách của Hoa Kỳ “để ngăn chận và làm giảm sự đe dọa của cộng sản đối với nền an ninh của Hoa Kỳ.” Chỉ ba tháng sau đó quân đội ông Mao tiến vào Bắc Kinh, Washington báo động. Ngày 30 tháng 12, 1949, NSC nhóm họp dưới quyền chủ tọa của chính Tổng Thống Harry Truman để duyệt xét một phân tích rất dài về ‘Lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ đối với Á Châu trước sự đe dọa của Cộng Sản. Ðó là Huấn Lệnh NSC số 48/1 (một tài liệu rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ). Văn bản này được in lại một phần ở Phụ Lục và tóm tắt như sau:
Huấn Lệnh NSC 48/1
Ngày 30 tháng 12, 1949
1. Mục tiêu căn bản để bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ gồm ba yếu tố:
• Phát triển sức mạnh quân sự cho đầy đủ ở một số quốc gia chọn lọc;
• Dần dần giảm đi thế lực đang lớn mạnh và ảnh hưởng của Trung Cộng để nó không còn khả năng đe dọa nền an ninh của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa kỳ tại khu vực này;
• Ngăn chận bất cứ liên minh quyền lực nào (Liên Xô-Trung Quốc) có thể đưa tới sự đe dọa an ninh Hoa Kỳ phát xuất từ khu vực này…
2. Những hành động cần thiết gồm:
• Yểm trợ những lực lượng không cộng sản ở Á Châu để họ lấy thế chủ động;
• Sử dụng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy quyền lợi riêng của Hoa Kỳ;
• Khởi xướng những hành động như thế nào để cho nhân dân Á châu thấy những hành động ấy hấp dẫn và phù hợp với quyền lợi của chính mình, và sẽ ủng hộ.
3. Thiết lập một chính sách của Hoa Kỳ về Á Châu bao gồm:
• Hoa Kỳ phải tỏ rõ sự tán thành đối với những cố gắng của lãnh đạo các nước Á Châu để họ thành lập liên minh cho từng vùng giữa những quốc gia không cộng sản tại Á Châu; Hoa Kỳ sẽ chuẩn bị để khi cần đến và được yêu cầu thì sẽ sẵn sàng yểm trợ những liên minh này theo điều kiện về quyền lợi của Hoa Kỳ… nhưng không quá vội vàng lộ liễu trong giai đoạn đầu để khỏi mang tiếng là dùng các nước Á Châu để phục vụ quyền lợi của mình;
• Hành động để phát triển và củng cố an ninh của khu vực này chống lại xâm lược của cộng sản từ ngoài vào hay những phá hoại từ bên trong;
• Về chính sách kinh tế, phải cổ võ những yếu tố đóng góp vào ổn định chính trị của các quốc gia không cộng sản bằng… chính sách ngoại thương tự do với Á Châu và khích lệ nhập cảng hàng hóa Á Châu.
2. Huấn Lệnh NSC 64
Bối cảnh: Huấn Lệnh NSC 48/1 vừa bắt đầu có hiệu lực vào ngày chót của năm 1949 thì tới tháng 1 năm 1950, Mỹ càng lo ngại khi Mao Trạch Ðông đôn quân xuống phía Nam. Ðồng thời Trung Quốc và Liên Xô công nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia liền nhóm họp để phân tích về vị trí của Ðông Nam Á đối với Hoa Kỳ. Phân tích này trở thành Huấn Lệnh NSC 64, một tài liệu được nhiều tác giả viện dẫn để phân tích nguồn gốc của chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam vì nó đã dẫn tới học thuyết Ðôminô: “nếu để một nước ở Ðông Nam Á mất đi thì tất cả các nước còn lại sẽ sụp đổ theo sau giống như những con cờ Ðôminô xếp hàng.” Văn bản về huấn lệnh này được tóm tắt như sau:
Huấn Lệnh NSC 64
Ngày 27 tháng 2, 1950
Nhận xét rằng:
• Hiểm họa Cộng Sản xâm chiếm Ðông Dương (căn bản là Việt Nam) chỉ là bước đầu tiên của kế hoạch nhằm thôn tính toàn thể Ðông Nam Á.
• Ngày 18 tháng 1, 1950, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố phong trào Hồ Chí Minh là chính phủ hợp pháp tại Việt Nam và ngày 30 tháng 1, 1950, chính phủ Liên Xô, dù có liên lạc ngoại giao với Pháp, cũng đã công nhận tiếp theo…
Kết luận
• Áp dụng tất cả những biện pháp thực tế để ngăn chận sự tiếp tục bành trướng của Cộng Sản tại Ðông Nam Á là việc quan trọng đối với nền an ninh Hoa Kỳ;
• Những nước láng giềng như Thái Lan và Miến Ðiện cũng sẽ rơi vào vòng kiểm soát của Cộng sản nếu Ðông Dương bị kiểm soát bởi một chính phủ Cộng sản. Và cán cân lực lượng ở Ðông Nam Á sẽ bị đe dọa trầm trọng;
• Bởi vậy Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng phải chuẩn bị một kế hoạch ưu tiên gồm những biện pháp thực tế nhằm bảo vệ quyền lợi an ninh của Hoa Kỳ tại Ðông Dương.
3. Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ phân tích bảy quyền lợi của Hoa Kỳ tại vùng Biển Ðông
Ðể thi hành Huấn Lệnh NSC 64, Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ (Bộ TTM) gửi ngay cho Bộ Trưởng Quốc Phòng Johnson một bản ghi nhớ để trình bày quan điểm của mình về bảy quyền lợi của Hoa Kỳ ở khu vực Biển Ðông.
Về pương diện chiến lược, lãnh đạo quân sự Mỹ chia ra hai Á Châu:
-Á Châu Hải Ðảo; và
-Á Châu Lục Ðịa.
Trước đây, các nhà lãnh đạo quân sự chỉ coi những quốc gia hải đảo (Nhật, Ðài Loan, Phi Luật Tân, Indonesia, Malaysia) mới là quan trọng vì Mỹ có quan hệ chặt chẽ với những quốc gia này, còn vai trò của vùng Ðông Nam Á thuộc Á Châu lục địa thì chỉ là phụ thuộc. Nhưng trước sự bành trướng của Trung Quốc, bây giờ thì Bộ Tổng Tham Mưu coi cả khu vực Ðông Nam Á tự nó đã có tầm quan trọng về chiến lược. Vì sao như vậy?
Bộ Tổng Tham Mưu (JCS) gửi Bộ Trưởng Quốc Phòng
Bản Ghi Nhớ ngày 10 tháng 4, 1950
Bộ TTM nhận định thế nào là quyền lợi của Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á:
1. Khu vực Ðông Nam Á là nguồn tiếp liệu một số tài nguyên chiến lược cần thiết để hoàn thành dự án về dự trữ tiếp liệu của Hoa Kỳ.
2. Về địa lý, nó nằm trên đường băng ngang của những trục giao thông quan trọng nhất.
3. Ðông Nam Á nằm ngay trên cái tuyến ngăn chận Cộng Sản để khỏi tràn sang Nhật, xuống phía Nam, rồi vòng quanh vùng Bán Ðảo Ấn độ, và như vậy, an ninh của cả ba căn cứ không Cộng Sản ở một phần tư thế giới – Nhật, Ấn Ðộ, và Úc châu – tùy thuộc một phần lớn vào việc không để cho Cộng Sản chiếm được Ðông Nam Á. Nếu mất Ðông Nam Á, ba nước này sẽ bị cô lập với nhau.
4. Nếu Ðông Dương (căn bản là Việt Nam) sụp đổ thì sẽ dẫn tới sự sụp đổ của những nước khác còn lại ở lục địa Ðông Nam Á và tất nhiên là sẽ dẫn tới nhiều nguy hiểm an ninh cho các quốc gia Á Châu hải đảo là Phi Luật Tân, Indonesia, Malaysia, như vậy nó chính là bước đầu của sự sụp đổ của các quốc gia này.
5. Sự sụp đổ của Ðông Nam Á sẽ làm cho Hoa Kỳ mất hẳn đi vùng duyên hải Á Châu (littoral of Asia). Còn phần lục địa Ðông Nam Á thì lại quan trọng cho những hoạt động của chúng ta để kìm hãm sự bành trướng của Cộng Sản.
6. Nếu Trung Quốc kiểm soát được vùng này thì sẽ giúp cho họ bớt căng thẳng về vấn đề lương thực, và sẽ giúp cho Liên Xô có được những nguyên liệu chiến lược quan trọng.
7. Nếu Cộng Sản có được một ưu thế nổi trội ở Ðông Nam Á thì địa vị của Hoa Kỳ tại Nhật Bản sẽ bị đe dọa, Nhật Bản sẽ mất đi thị trường Á Châu, và mất luôn nguồn tiếp liệu thực phẩm và những nguyên liệu thô từ vùng này.
Ngoài quyền lợi riêng lại còn vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ
Trong một bản ghi nhớ ba tuần sau đó, vào ngày 2 tháng 5, 1950, Bộ Tổng Tham Mưu còn gửi bản ghi nhớ bình luận thêm về điểm thứ 7 nói tới địa vị của Hoa Kỳ, khẳng định rằng: “Vai trò lãnh đạo thế giới tự do của Hoa Kỳ đã đặt trách nhiệm lớn lao cho nước này phải huy động được sức mạnh của thế giới tự do để ngăn chận cộng sản bá chủ thế giới. Tổng Tham Mưu tin rằng Hoa Kỳ và những cường quốc Tây Phương phải có những hành động tức khắc và tích cực trong cuộc xung đột hiện nay, vì nếu Hoa Kỳ thành công ở Ðông Nam Á thì sẽ giúp cho những thành công ở những nơi khác.”
Những diễn biến tiếp theo
Vừa có những tính toán như trên thì ngày 25 tháng 6, 1950, quân đội Bắc Hàn tràn qua vỹ tuyến 38, tấn công Nam Hàn. Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.
Ðang khi chiến tranh Triều Tiên tiên còn tiếp diễn, Bắc Kinh lại công bố “Tuyến 9 Vạch” ở Biển Ðông. Ngày 8 tháng 9, 1951, một “Hiệp Ước Hòa Bình với Nhật” gọi là “Hiệp Ước San Francisco” (vì ký ở Memorial Opera House tại thành phố này) được 48 quốc gia tham dự và ký kết (kể cả VNCH). Vì Hiệp ước này không đả động gì tới hai nhóm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho nên ngày 15 tháng 8, và 18 tháng 9 (trước và sau khi ký kết Hiệp ước), Thủ tướng TQ Chu Ân Lai tuyên bố: “Hiệp Ước San Francisco là bất hợp pháp” và khẳng định chủ quyền ở các đảo này. Bản đồ mới của Trung Quốc gồm thêm một “tuyến 9 vạch” khoanh lại một khu vực giống như hình lưỡi con bò. Chỉ 5 tháng sau Hoa Kỳ phản ứng: Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia đi tới Huấn Lệnh NSC 124 chính thức chấp nhận lập trường do Bộ Tổng Tham Mưu đưa ra vào ngày 10 tháng 4, 1950 (như trên đây).
Ðó là những tính toán thuở xưa. Ngày nay, với bối cảnh mới ở Biển Ðông, liệu những tính toán này còn đúng hay không? Mời độc giả đọc bài tiếp theo.































































