Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)
“Nhiều người trong đó có tôi luôn cho rằng nếu như có một tay hung ác đội mũ đen (black hatted villain) trong thảm kịch Saigon năm 1963 và cái chết của hai anh em ông Diệm, Nhu thì đó chính là Lodge,” tác giả James W. Douglas kết luận trong một cuốn sách nghiên cứu công phu xuất bản năm 2008. Ðại Sứ Cabot Lodge đã không trực tiếp ra lệnh đảo chính TT Diệm, nhưng ông đã có trách nhiệm lớn lao đưa tới lệnh ấy và khi thi hành mệnh lệnh thì lại dùng nhiều thủ đoạn – kể cả bóp méo những chỉ thị từ Washington – nhằm triệt hạ cho bằng được hai anh em ông Diệm-Nhu.
Thật cũng lạ: nếu như thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, có tay đao phủ tên là Henry (Kissinger), người đã đẩy Miền Nam xuống vực thẳm, thì thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, lại đã có một tay đao phủ khác cũng tên là Henry – Henry Cabot Lodge. Sự trùng hợp này thì chính tác giả cũng mới chợt để ý tới, vì trước đó khi nói tới viên đại sứ Mỹ cuối cùng trong thời Ðệ Nhất Cộng hòa thì ta thường nói tới ông Cabot Lodge. Cho nên chúng tôi gọi ông Henry Cabot Lodge là Ðao phủ Henry I và Henry Alfred Kissinger là đao phủ II.
Cuối Tháng Sáu, 1963, đang khi tình hình ở Saigon có vẻ lắng dịu xuống sau biến cố Phật Giáo ở Huế thì có tin từ Washington là tới Tháng Tám, Hoa kỳ sẽ thay thế Ðại Sứ Nolting, người đã nhất mực ủng hộ TT Diệm. Sau ba năm phục vụ, ÐS Nolting yêu cầu được thuyên chuyển về Mỹ vì lý do gia đình. Ðang khi chờ đợi quyết định của TT Kennedy, gia đình ông Nolting đi nghỉ ở Hy Lạp. Cho đến khi về tới New York ngày 1 Tháng Bảy ông mới nhận được lá thư của Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Ðình Thuần viết cho ông rằng, “Tổng Thống Diệm yêu cầu ngài về Saigon gấp.” Trong khi ông Nolting đi nghỉ, ông Thuần cũng đã yêu cầu tòa Ðại Sứ Mỹ thông tin cho ÐS Nolting là TT Diệm muốn ông trở về để làm trung gian giải quyết cuộc khủng hoảng. Truehart có hứa sẽ chuyển lời nhưng đã thất hứa. Giả như ông Nolting nhận được yêu cầu của TT Diệm thì chắc chắn ông đã trở về Saigon để làm cho bầu không khí căng thẳng Việt-Mỹ dịu đi được phần nào.
Về tới Saigon, ông Nolting thấy ông Diệm thực sự đã thi hành một số biện pháp theo như yêu cầu của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ngày 18 Tháng Sáu, ông Diệm cho phát sóng một thông điệp kêu gọi toàn thể chính phủ phải thực thi “Bản Tuyên Cáo Chung” giữa chính phủ và lãnh đạo Phật Giáo (16 Tháng Sáu). Ông cho phép các nhà sư trở về những ngôi chùa bị cô lập hóa, rồi trừng phạt viên đại tá là người đã tổ chức cuộc biểu tình chống Phật Giáo. Trong những ngày cuối cùng khi Nolting còn làm đại sứ ở Saigon, ông vẫn cố thuyết phục Washington là cuộc khủng hoảng Phật Giáo đang dần dần lắng dịu và Washington nên tuyên bố ủng hộ ông Diệm. Nhưng đồng thời, tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, bè phái Hillsman đã quyết tâm hành động.
Cabot Lodge là ai?
Ông Henry Cabot Lodge sinh ra tại Nahant, Massachusetts. Cha ông là George Cabot Lodge, một nhà thơ. Năm 1924, ông tốt nghiệp hạng ưu tại Ðại Học Harvard, nơi ông là một thành viên của hai hội Hasty Pudding và Fox Club. Năm 1933 ông được bầu vào Hạ Viện tiểu bang Massachusetts và năm 1936 được bầu làm nghị sĩ đảng Cộng Hòa tại Thượng Viện Hoa Kỳ. Lodge phục vụ năm đầu tiên của nhiệm kỳ Thượng Viện mới của mình, nhưng sau đó đã từ chức ghế Thượng viện của ông vào ngày 3 Tháng Hai năm 1944 để trở lại quân đội. Ông nổi tiếng là con người bảo thủ, cứng rắn, võ biền. Ông Lodge cũng là người đã tranh cử với ông Kennedy hai lần và đều thất bại.
Lần đầu là năm 1952 khi ông muốn tái cử chức Nghị sĩ tiểu bang Massachusetts, và lần thứ hai là trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960 khi ông đứng chung liên danh Nixon-Lodge (và chính chúng tôi đã đi vận động cho liên danh này).
Thành kiến sẵn về TT Diệm
Thoạt đầu TT Kennedy có ý định chỉ định ông Edmund Gullion (cựu lãnh sự Mỹ ở Saigon đầu thập niên 1950) để làm đại sứ thay ông Nolting. Gullion là người có thiện cảm với những người có tinh thần quốc gia cũng giống như Kennedy, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk không đồng ý và đề nghị ông Lodge. Trong cuốn sách “Triumph Forsaken” tác giả Moyar viện dẫn nhà sử học Arthur Schlesinger để cho rằng: năm 1963 TT Kennedy biết rằng ông Cabot Lodge sẽ là ứng cử viên Ðảng Cộng Hòa ra tranh cử nên chỉ định ông làm đại sứ ở Saigon để ông phải đứng vào thế thủ, không thể cáo buộc những thất bại ở Việt Nam cho đảng Dân chủ. Trước khi nhậm chức ông Lodge đã có thành kiến sẵn về TT Diệm. Ông đã đi tới kết luận là ông Diệm vừa bất tài vừa độc tài, và chính phủ ông thì tham nhũng. TT Diệm không biết nhiều về ông Lodge nhưng khi nghe tin ông sắp thay thế ông Nolting làm đại sứ và là người có thành kiến về mình, ông Diệm tâm sự với Bộ Trưởng Thuần, “Họ có thể gửi mười ông Lodge sang, nhưng tôi không thể để cho chính tôi hay đất nước này bị nhục mạ, dù họ có chĩa đại bác vào Dinh Ðộc Lập.”
Ðại Sứ Lodge đã ra tay dẹp Nhà Ngô như thế nào? Nghiên cứu kỹ tài liệu lịch sử chúng tôi thấy ông đã có những hành động như sau:
– Vừa tới Saigon, ông đã phớt lờ và không muốn điều đình gì với TT Diệm, một hành động bật đèn xanh cho tướng lãnh.
– Rồi ông trực tiếp khích lệ tướng lãnh đảo chính.
– Tiếp theo là việc loại bỏ trạm trưởng CIA là Richarson (người quen thân với ông Nhu) và không cho Tư Lệnh Harkins (người ủng hộ ông Diệm) biết đầy đủ thông tin về đảo chính, như vậy Lodge dễ bề hành động.
– Ông cũng không cho TT Kennedy biết hết những gì đang xẩy ra ở Saigon; và
– Hết mực thuyết phục Washington chấp thuận đảo chính.
– Khi lệnh từ Washington chưa rõ ràng, ông đã giải thích theo ý mình; rồi sau cùng, đã
– Ðánh lừa cả TT Diệm vào ngay ngày đảo chính; đồng thời
– Không thông báo cáo kịp thời cho TT Kennedy về thông điệp và nhượng bộ của TT Diệm vào sáng ngày đảo chính.
Sau cùng, ông Lodge đã hứa với TT Diệm là nếu ông yêu cầu thì sẽ giúp phương tiện để bay ra ngoại quốc, nhưng tới khi ông Diệm nhờ cậy việc này thì ông Lodge lại làm ngơ.
Bức mật điện lịch sử 24 Tháng Tám, 1963, cho phép đảo chính
Tại Saigon, ông Lodge vừa tới nơi là đã họp ngay với báo chí và thăm các nhà sư trước cả lễ nghi trình diện với Tổng Thống Diệm. Hôm sau, Tướng Trần Văn Ðôn gửi cho ông Lodge một bức thư qua Conein, nói rằng quân đội không nhúng tay vào biến cố Phật giáo vừa qua. Ông Lodge lập tức báo cáo về Washington mà không cần kiểm tra lại về sự chính xác của thông tin này. Washington phản ứng ngay vì những người chống ông Diệm ở Bộ Ngoại Giao (trong nhóm gọi là “The New Frontier” – Biên Cương Mới, chữ mà TT Kennedy hay dùng) đang cố đổ hết tội cho ông Nhu. Ngày 24 Tháng Tám nhằm ngày Thứ Bảy cuối tuần, quan chức cao cấp ở Washington đi nghỉ. Tổng Thống Kennedy thì về Hyannis Port (Massachussets). Tại Washington các ông Harriman (thứ trưởng Ngoại Giao), Hillsman (phụ tá ngoại trưởng), và Forrestal (phụ tá ở tòa Bạch Cung) soạn thảo một mật điện tín ra chỉ thị đầu tiên về việc đảo chính. Thật xui cho ông Diệm, sau khi soạn xong văn bản, phụ tá Forrestal chỉ gọi cho Tổng Thống Kennedy để đọc cho ông nghe qua điện thoại. Ðang nghỉ ngơi chiều Thứ Bảy mà lại phải nghe văn thư này nọ, ông Kennedy bảo thôi cứ để tới sáng thứ hai triệu tập một cuộc họp rồi hãy tính. Harriman cùng với Hillsman thúc giục là cần gửi gấp. Kennedy đồng ý với điều kiện là phải hỏi các xếp của hai ông. Hillmans gọi báo cho Ngoại Trưởng Rusk. Không biết ông nói như thế nào mà ông Rusk hiểu lầm rằng tổng thống đã đồng ý nên ông Rusk cũng OK. Còn McNamara và xếp CIA McCone thì chưa được thông báo, nhưng điện văn được gửi đi ngay. Vì đây là một tài liệu nòng cốt cho những âm mưu tiếp theo để đi tới cuộc đảo chính 1 tháng 11, chúng tôi in lại hầu như toàn bộ trong phần Phụ Lục. Sau đây là vài đoạn:
Ngày 24 Tháng Tám, 1963
BNG 243
TC: CAS 265 -TAB E
Bộ Ngoại Giao gửi Ðại Sứ Lodge
……..
“Chính phủ Hoa kỳ không thể khoan thứ một tình huống mà quyền bính nằm trong tay ông Nhu. Ta phải cho ông Diệm cơ hội dứt bỏ ông Nhu cùng với vây cánh và thay thế họ bằng những nhân vật chính trị và quân sự giỏi nhất hiện có.
“Nếu, mặc dầu tất cả những cố gắng của đại sứ mà ông Diệm vẫn ngoan cố và từ khước thì ta phải đối diện với khả năng là không thể bảo tồn chính bản thân ông Diệm nữa.
“Ðồng thời chúng ta phải thông báo cho những người lãnh đạo quân sự nòng cốt biết rằng Hoa kỳ không thể tiếp tục yểm trợ chính phủ VNCH về quân sự và kinh tế nữa, nếu không ngay lập tức áp dụng những biện pháp nói trên, trong đó chúng tôi nhìn nhận phải đưa ông bà Nhu ra khỏi chính trường.
“Chúng tôi muốn cho ông Diệm có một cơ hội họp lý để cách chức họ nhưng nếu ông ấy vẫn ngoan cố thì chúng tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả hiển nhiên là chúng tôi không thể ủng hộ ông Diệm được nữa.
“Ông cũng có thể cho những người chỉ huy quân sự nào thích đáng biết rằng chúng ta sẽ yểm trợ họ trực tiếp trong giai đoạn lâm thời khi guồng máy chính quyền trung ương bị tê liệt& Cùng lúc với sự việc nói trên, ông đại sứ và cộng tác viên nên khẩn cấp cứu xét mọi nhân vật lãnh đạo có khả năng thay thế và dự thảo kế hoạch làm cách nào để thi hành việc thay thế ông Diệm nếu điều này trở nên cần thiết…
Chấp thuận bởi: Averell Harriman
Ông Lodge đi xa hơn lệnh và đi thẳng với tướng lãnh
Dù trong công điện này còn nói tới việc cho ông Diệm một cơ hội: “Ta phải cho ông Diệm cơ hội dứt bỏ ông Nhu cùng với vây cánh… Chúng tôi muốn cho ông Diệm một cơ hội hợp lý để cách chức họ nhưng nếu ông ấy vẫn ngoan cố thì..” nhưng ông Lodge không muốn cho ông Diệm một cơ hội nào nữa. Ở Saigon, điện văn của Bộ Ngoại Giao đã mở màn cho một loạt những biến cố. Ðiện văn tới Saigon vào đêm Chủ Nhật, ngày 25 Tháng Tám. Nhận được, ông Lodge cấp thời đánh điện về Bộ Ngoại Giao, đề nghị một thay đổi chiến thuật: đó là không cần phải thuyết phục ông Diệm nữa mà cứ đi thẳng với các tướng lãnh.
Mưu lược ông đại sứ
Vì tòa đại sứ bây giờ đi thẳng với các tướng lãnh cho nên ngay sau mật điện này, ngày 29 Tháng Tám, Tướng Minh đã ra mặt: ông thay thế Tướng Ðôn để gặp Trung Tá Conein. Ông Minh yêu cầu Mỹ cung cấp bằng chứng rõ rệt là sẽ không tiết lộ âm mưu đảo chính cho ông Nhu biết. Bằng chứng ấy, theo ông Minh là Hoa Kỳ ngưng viện trợ kinh tế cho TT Diệm.
Ngay hôm sau, 29 Tháng Tám, ông Lodge gửi thêm một thông điệp, hết sức thuyết phục, đặt vấn đề phải lật đổ chính phủ Diệm vì hai lý do: uy tín của Hoa Kỳ và nhu cầu chiến thắng Cộng sản, hai yếu tố quan trọng nhất của chính sách Hoa kỳ đối với Việt Nam:
Ngày 29 tháng 8, 1963
Ðại Sứ Lodge gửi Ngoại Trưởng Rusk
“Chúng ta đã bước vào một cuộc hành trình mà không thể nào trở lại một cách đàng hoàng được nữa: đó là việc lật đổ chánh phủ Diệm.
“Tại sao không có cách nào quay trở lại được nữa? Ðó là một phần vì uy tín của Hoa Kỳ nói chung đã cam kết công khai vào mục tiêu này và sẽ còn tiếp tục như vậy nữa khi mà các sự việc bí mật được tiết lộ ra.
“Theo một ý nghĩa căn bản hơn chúng ta không thể trở lại được nữa, vì theo tôi sẽ không có khả năng chiến thắng Cộng sản với một chính phủ Diệm hay bất cứ người nào khác trong gia đình họ Ngô…
“Cơ hội về một cuộc đảo chánh của các tướng lãnh tùy thuộc vào họ tới một mức độ nào, nhưng cũng tùy thuộc phần lớn vào chúng ta… chúng ta nên xúc tiến các nỗ lực toàn diện để các tướng lãnh hành động cho mau lẹ…
Ðể khích lệ tướng lãnh, ông Lodge còn yêu cầu Washington chỉ thị để chính “Tướng Harkins (người chống đảo chính) phải đích thân lập lại với các tướng lãnh những điều mà các nhân viên CAS (CIA) đã nói với họ trước đây để chứng tỏ tính cách đích thực của các thông điệp ấy. Tướng Harkins phải có lệnh để làm việc này.” Lodge lý luận là vì các tướng lãnh đã “bị ám ảnh bởi cái tư tưởng là chúng ta sẽ bỏ rơi họ, mặc dầu theo chỉ thị chúng tôi đã nói với họ là cuộc chơi thực sự đã mở màn.” Cùng ngày 29 Tháng Tám, ông Lodge lại nhận được công điện nữa từ Ngoại Trưởng Rusk, trong đó có câu: “Tôi sẽ vui mừng đón nhận… quan điểm của ông về việc ông có tính đến chuyện hội đàm thêm với ông Diệm để tiếp tục đàm luận với ông ta nữa hay không…” Không, ông Lodge không muốn hội đàm thêm với ông Diệm nữa. Ông trả lời ngay: “Nếu tôi đến thăm ông Diệm để yêu cầu loại vợ chồng ông Nhu, chắc chắn là ông Diệm sẽ không đồng ý và điều này sẽ làm cho các tướng lãnh hoài nghi về ý đồ của chúng ta và tình trạng bất động sẽ kéo dài thêm nữa.” Ngoài ra, “một cuộc đến thăm như vậy sẽ khiến cho vợ chồng ông Nhu coi như một tối hậu thư,” và có thể sẽ hành động “phá tan bất cứ kế hoạch nào để chống đối ông ta.” Bởi vậy, Lodge kết luận:
“Cơ hội tốt đẹp nhất để thực hiện điều này là để các tướng lãnh nắm lấy toàn bộ chính phủ (nắm lấy chìa khóa, kho đạn và nòng súng)
Ông Nhu đã sẵn sàng nhượng bộ
Tướng Harkins thực sự đã muốn cho Washington ngừng thông đồng với nhóm đảo chính, và rất quan trọng, ông còn gửi báo cáo về Washington nói đến việc ông Nhu đã sẵn sàng nhượng bộ. Ông viết: “Trong một cuộc gặp gỡ hôm qua, ông Nhu nói là ông ta hiện nay sẵn sàng làm những gì mà Hoa Kỳ muốn làm nếu có sự ủng hộ của Tổng Thống Kennedy. Tôi nói với ông ta ‘đây là điều mới mẻ đối với tôi.’”
Tuy người thủ lãnh giới quân sự Mỹ ở Saigon có lập trường như vậy nhưng mật điện ngày 24 Tháng Tám đã được đao phủ Henry I sử dụng tối đa để thúc đẩy tướng lãnh đi tới cùng để bức tử người đã gắn lon cho họ và là người sáng lập ra nền Cộng Hòa Việt Nam.































































