(Tâm sự của người vợ CTNCT)
Từ ngày có bức tâm thư của ông chủ tịch Khu Hội CTNCT được đăng trên báo Việt Mỹ Times và hàng ngày đọc ra rả trên đài phát thanh kêu gọi mấy bà vợ CTNCT viết về những nỗi khổ cực trong thời gian chồng đi cải tạo, từ việc làm ăn kiếm đồng tiền nuôi con, nuôi chồng, đến những nỗi gian nan vất vả trên đường đi thăm nuôi chồng… để đăng trong Ðặc San Xuân của Khu Hội vào dịp Tết năm nay, không ngày nào là ông chồng tôi không nhắc nhở tôi viết bài đăng báo. Ông ấy còn nói là năm nay Khu Hội tổ chức Tết lớn để kỷ niệm 15 năm thành lập Hội và đặc biệt trong dịp này “Vinh Danh Người Vợ CTNCT.”
Thú thật, đã từ nhiều chục năm nay tôi không cầm bút viết thư thăm người thân, và ngay cả thư thăm bố mẹ tôi ở VN tôi cũng nhờ ông chồng tôi viết, vả lại tôi chưa bao giờ cầm bút viết “bài đăng báo.” Thế mà bây giờ ông ấy cứ nằng nặc bắt tôi viết, mà lại viết về mình nữa, kể chuyện đời tư của mình cho thiên hạ nghe nghĩ cũng thấy xấu hổ. Kiểu này là tôi lại bị nhà tôi làm khó đây! Bình thường nhà tôi ít khi nào nói nhiều hoặc có chuyện gì tôi không làm vừa ý là ông ấy gắt ỏm tỏi lên. Còn chuyện viết bài ông ấy cứ “năn nỉ” hoài khiến tôi cũng phải xiêu lòng!
Ông chồng tôi có cái tật hễ giận là dỗi. Hỏi cũng không nói, gọi cũng không thưa, đến bữa dọn cơm rồi cũng không thèm ngồi vào bàn ăn. Phải năn nỉ, dỗ dành ông ấy mới chịu ăn. Phải ngày còn bồ bịch mà ông ấy “giận” cái kiểu như bây giờ thì…! Thôi không nói nữa, kẻo ông ấy lại nói rằng nếu không có ông ấy chiếu cố thì giờ này tôi còn “…chạy ngược chạy xuôi,” hai mắt dớn dác tìm kiếm tấm chồng! Ý ông ấy muốn là ông ấy không cưới thì tôi ế chồng! Mà quờ quạng cũng dám ế thật lắm chứ! “Già kén thì kẹn hom,” ông bà ta thường nói thế chắc cũng không sai đâu! Cũng vì sợ ông ấy giận nên tôi phải cố gắng thức đêm thức hôm để viết bài cho ông ấy vui lòng. Tôi có nói với nhà tôi, những điều tôi viết ra đều là sự thật nếu có đụng chạm gì tới ông thì ông ráng chịu. Nhà tôi đồng ý sẽ không khiếu nại!
Tôi quen chồng tôi từ ngày ông ấy mới bước chân vào quân trường Thủ Ðức. Số là, vào một ngày Chúa Nhật khoảng cuối Tháng Giêng năm 1968, tôi cùng đi với bà chị dâu lên Trường Bộ Binh Thủ Ðức thăm ông anh ruột theo học khóa 27. Tôi cũng biết ông ấy cũng học khóa này vì ngày đi trình diện có đến nhà cùng đi với ông anh tôi cho có bạn. Họ là bạn học với nhau, nhưng nào tôi có biết. Ðang cùng với bà chị dâu ngồi chuyện trò với ông anh ở Khu Tiếp Tân thì thấy ông ấy lò dò tới. Người đâu mà cao như cái cột đình, da đen nhẻm, đầu tóc thì trọc lóc, bộ quần áo nhà binh rộng thùng thà thùng thình, trông ngố hết sức! Nhìn quanh, thấy ông Tân Khóa Sinh nào trông cũng như vậy, ngố ơi là ngố! Tôi thầm nghĩ, sao anh chàng này lại mon men tới đây, chắc có “ý đồ” gì đây? Tôi chuẩn bị đề phòng thì ông anh tôi nói là gọi ông ấy ra nói chuyện cho vui vì tưởng rằng chàng là “con bà phước.” Sau này tôi mới biết ông anh tôi có ý muốn giới thiệu cho tôi chứ không phải là anh chàng có ý đồ muốn tán tỉnh tôi. Như thế là tôi đã nghĩ oan cho ông ấy!
Chàng ngồi chưa nóng đít thì thình lình đứng dậy vội vã đi ra ngoài. Tôi nhìn theo thấy chàng đi với một cô gái mặc áo dài xanh ra tận ngoài cổng, vừa đi hai người vừa nói chuyện, nhưng nào tôi có nghe thấy, và tôi cũng chỉ nhìn thấy sau lưng của cô ta nên cũng chẳng biết cô ấy là ai! Một lát sau ông ấy trở lại trông mặt buồn so nhưng vẫn nở nụ cười không được tươi lắm. Sau này tôi mới biết cô gái ấy là cô L, “bồ” của nhà tôi. Hai người đã quen nhau từ mấy năm nay. Tôi có nghe chuyện về mối tình của hai người do một người bạn kể lại. Nghe cũng “tình” lắm! Và sau này khi đã là vợ, tôi có hỏi ông ấy: “Hôm đó đang ngồi nói chuyện ở Khu Tiếp Tân trường Thủ Ðức, anh vội vã đi ra ngoài với một cô gái, cô ấy là ai vậy? Sao cô ấy không ở lại chuyện trò với ông mà bỏ về?”
Tôi biết câu hỏi này là “vô duyên,” nhưng vì bản tính tò mò và muốn biết câu trả lời của chồng tôi xem có đúng như câu chuyện của người bạn nói về mối tình của hai người không. Sau một cái thở thật dài, ông ấy nói đó là cô L. Hôm đó L lên thăm nhưng không báo trước. Cô ấy phải mất 20 phút đi tìm mới tìm thấy, lúc đó lại trông thấy anh chàng đang ngồi cạnh tôi nói cười toe toét. (Nhìn cảnh đó ai mà không tức phải không quý vị?). Cơn giận hay nói đúng là cơn ghen nổi dậy, cô ấy bỏ về một nước, ông ấy năn nỉ hết hơi cô ấy cũng không chịu ở lại. Và từ đó hai người xa nhau! Tôi nghĩ có lẽ tại tôi vô tình làm tan vỡ mối tình của ông ấy thì tôi phải lấy chính tôi ra đền bù cho ông ấy vậy!
Sau buổi gặp gỡ và nói chuyện với nhau lần đầu tiên đó, tôi cũng có chút cảm tình với anh chàng cao nhòng đó. Anh chàng có giọng nói thật ấm, nụ cười thật tươi và con mắt biết cười tình. Nghe anh chàng nói chuyện cũng có duyên, trông cũng “ngồ ngộ.” Thời gian đó cũng có vài chàng thanh niên theo tán tỉnh, nhưng tôi có vẻ ngả về phía chàng nhiều hơn. Thế rồi sau đó cứ hàng tuần, tôi viện cớ lên thăm ông anh nhưng thực ra là để thăm chàng.
Sau ba tháng huấn nhục, chàng được gắn Alfa, được 24 giờ phép về Sài Gòn thăm tôi. Ðến nhà, chàng nói chuyện với ba mẹ tôi rất vui vẻ “tự nhiên như người Hà Nội,” cứ làm như là đã quen biết ba mẹ tôi từ lâu và sau đó xin phép đưa tôi đi chơi. Dĩ nhiên là tôi nhận lời ngay, đâu dám từ chối. Tôi chỉ mong có bấy nhiêu thôi mà! Hôm đó trông chàng mặc bộ đồ kaki vàng, đầu đội mũ lưỡi trai, trên hai vai mang Alfa lại thêm dây biểu chương màu vàng rực rỡ, chân đi giầy láng cóng, trông xinh trai và oai đáo để, trông không còn ngố như thời gian còn là TKS. Dạo phố Lê Lợi với chàng, tôi cũng cảm thấy thích thú và hãnh diện. Ði một vòng từ đường Lê Lợi đến đường Tự Do, chàng rủ vào La Pagode ăn kem, chuyện trò. Ngày đó tôi còn nhút nhát, e lệ, ít nói, có lẽ như vậy mà chàng thích tôi, chứ phải cái bệnh nói nhiều như bây giờ chắc chàng “de” tôi rồi!
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Ba, ngày 10 tháng 1 năm 2017
Ngày ra trường, chàng được nghỉ phép mấy ngày thì chẳng có ngày nào chàng không đến cổng sở làm đón tôi. Rồi hai đứa đi chơi phố, đi ăn bún ốc ở hẻm Casino hoặc ăn đu đủ bò khô ở đường Nguyễn Trung Trực trước tiệm nước mía Viễn Ðông hay chui vào rạp Eden hay Rex hoặc Kim Châu xem phim. Biết chàng lương lậu chẳng được bao nhiêu, nên thường vé hát thì chàng mua, còn ăn uống thì tôi trả tiền. Bây giờ tôi cũng chẳng còn nhớ chúng tôi đã xem những phim gì, hỏi ông chồng có nhớ không thì ông ấy cười trả lời cũng không nhớ, ngay cả tựa cuốn phim cũng không nhớ nữa là nội dung cuốn phim. Vì vào đó chúng tôi có xem phim đâu à. Vả lại cũng đã lâu lắm rồi, gần 40 năm còn gì nữa!
Một tuần lễ nghỉ phép mãn khóa của chàng qua thật nhanh. Chàng phải đi trình diện Quân Ðoàn II ở Pleiku, sau đó về một đơn vị ở Ban Mê Thuột. Ðây là thời gian tôi viết thư cho chàng nhiều nhất. Có lẽ hồi đó viết thư nhiều quá rồi nên bây giờ tôi làm biếng chăng? Thư của tôi, chàng còn giữ nguyên, sắp xếp thứ tự để trong một cái tép da nhỏ, trao lại cho tôi khi ông ấy về làm việc ở Long Bình. Ðến ngày đi Mỹ tôi lại để quên ở Việt Nam. Giờ này cũng chẳng biết nó nằm ở chỗ nào, còn hay mất! Thỉnh thoảng ông chồng tôi có nhắc về tập “thư tình” đó và tỏ vẻ tiếc hùi hụi. Tôi hỏi tại sao tiếc? Có biết ông ấy trả lời sao không?- “Ðể được ‘nghe’ lại những lời êm ái, dịu ngọt, tình tứ lãng mạn của người yêu bé bỏng, chứ bây giờ nghe bà cằn nhằn suốt ngày, nói chuyện bốp chát như búa bổ riết rồi muốn phát điên lên”!
Trước ngày hết phép ông ấy nói với tôi trong một quán cà phê ở đường Lê Văn Duyệt: “Một năm sau ngày ra trường anh sẽ về cưới em.” Và chàng còn nói là đi lính tác chiến hay chết hoảng chết tiều trong năm đầu. Cưới sớm, tôi làm quả phụ thì tội nghiệp! Sau một năm thì khó chết hơn vì đã có chút ít kinh nghiệm chiến trường. Tôi được biết chàng về một đơn vị Thám Kích. Nghe cái tên đã thấy dễ sợ rồi. Nhưng ngày đó tôi lại thấy rất tình, có lẽ trong tôi có một chút lãng mạn của tuổi trẻ và cũng là cái mốt thời thượng của con gái thời đó. Có người yêu là lính tác chiến vẫn hãnh diện hơn là mấy anh chàng làm văn phòng ở Sài Gòn. Lúc đó tự nhiên tôi không có cảm tình với mấy ông lính hay sĩ quan làm văn phòng. Nhìn bộ vó họ yếu xìu! Cũng có vài ông sĩ quan theo tán tỉnh làm quen, nhưng tôi cứ vờ đi và chỉ nghĩ về chàng và viết thư cho chàng thôi. Có dịp chàng về phép là chúng tôi lại quấn quýt bên nhau, rủ nhau đi bát phố hay đi ra ngoại thành ngồi quán dừa hóng mát, tâm tình. Cuộc đời lúc đó sao tôi thấy đẹp và nên thơ quá!
Vâng, đúng một năm sau, giữ lời hứa, chàng về làm đám cưới. Sau đám cưới được vài ngày, chàng lại lên đường “ra mặt trận,” tôi vẫn ở Sài Gòn với bố mẹ chồng, hàng ngày vẫn đi làm, trong lòng thì thương nhớ chàng vô tả. Một năm chàng chỉ về phép một vài lần, mỗi lần không quá một tuần lễ. Bố mẹ chồng tôi rất hiền lành và thương con dâu, nhiều lần nói với tôi ra BMT sống với chồng tôi. Bà cô chồng tôi cũng thường khuyên tôi như thế và còn dọa tôi là: “Thằng S. tính giống tính ông ngoại nó, nên bay bướm lắm đó, liệu lên BMT mà ở với nó.”
Nhưng tôi vẫn ở lì Sài Gòn. Tôi rất sợ ở một mình, sợ ma, sợ lạ nước lạ cái, sợ lên BMT không có việc làm, sợ đủ thứ. Và tôi biết chồng tôi lúc đó nay thì hành quân ở BMT, tháng sau đã nghe nói ở Quảng Ðức, rồi Ðức Lập, Pleiku, Kontum… đi liên miên như thế dĩ nhiên tôi phải ở nhà một mình, cho nên tôi không đi theo chồng tôi là vì vậy! Mãi về sau này tôi mới thấy tôi ngu là đã “thả rông” chồng tôi suốt thời trai trẻ. Làm gì mà những nơi ông ấy ở không có cô này cô nọ, rồi có khi còn con rơi con rớt tùm lum là khác. Bây giờ có tra vấn ông ấy thì ông ấy cứ chối bai bải là có rơi vãi gì đâu! Ông ấy còn nói ông ấy vẫn còn nguyên, chẳng mất đi đâu tí nào. Biết là ông ấy nói dối nhưng tôi cũng đành chịu!
Khi tôi sinh đứa con đầu lòng thì cũng là lúc ông ấy về làm ở Phòng 1/SÐ23BB nên tôi yên tâm và nghĩ rằng từ nay ông ấy cũng khó chết. Con tôi sẽ không bị mồ côi sớm, tôi không bị góa bụa như một vài người bạn gái của tôi. Nhìn tụi nó khóc chồng, con nó khóc cha mà thấy mủi lòng!
Cuối tháng 4, 1975 nhà tôi từ BMT về làm SQ/QTNV cho TÐ18CB đồn trú ở Long Bình. Ông anh ruột của tôi cùng khóa với nhà tôi, trước khi nhà tôi về thì anh ấy đã phục vụ ở đơn vị này, sau đó đổi đi đơn vị khác. Lúc đó nghe anh tôi nói anh ấy làm trưởng Ban 5. Tôi chẳng biết Ban 5 là ban gì? Tôi nói đùa với anh tôi, “Anh nổi tiếng lười biếng dài lưng tốn vải ăn no lại nằm nên phải gọi là Trưởng Ban Nằm mới đúng.” Anh tôi la tôi và nói là tôi nói bậy bạ. Sau khi đi cải tạo về, sống không nổi với hoàn cảnh thực tế, anh tôi đã vượt biên 5, 7 lần mới thoát. Bây giờ đang ở tiểu bang NC. Tôi và nhà tôi đã có dịp qua thăm anh ấy hồi năm ngoái.
Thời gian này tôi đang làm việc ở Trung Tâm Tiếp Vận Không Quân/Phòng Quản Trị Quân Dụng ở phi trường Biên Hòa, đại đơn vị mà Chuẩn Tướng Từ Văn Bê là CHT. Qua đây gặp lại Tướng Bê, tôi kể lại chuyện hồi đó làm ở BCH Tiếp Vận ở phi trường Biên Hòa. Tướng Bê thích lắm, không ngờ giờ này sau bao nhiêu chục năm gặp lại được “cô thư ký” của đơn vị còn nhớ tới ông và quý trọng ông.
Tôi kể tiếp chuyện tôi làm ở Biên Hòa, nhà tôi làm ở Long Bình. Thời gian này chúng tôi có nhiều cơ hội gặp nhau hơn, nhưng tôi vẫn ở Sài Gòn với bố mẹ chồng. Thỉnh thoảng buổi chiều về làm nhà tôi ghé đón về trại của ông ấy. Hôm nào có phép thì ông ấy chở tôi về SG. Chúng tôi vẫn có những hẹn hò như ngày chúng tôi còn bồ bịch với nhau. Bây giờ nghĩ lại cũng thấy thú vị. Thời gian này tôi có bầu cháu thứ hai. Sanh cháu ra nhà tôi đặt tên cháu là Hòa Bình để kỷ niệm nơi chốn chúng tôi đã “làm việc.” Còn đứa con gái đầu lòng do tôi đặt tên. Tôi lấy ngay tên người yêu “đầu đời?” của nhà tôi đặt tên cho cháu. Lúc đó nhà tôi còn ở BMT khi nghe tin tôi sanh về phép. Nghe tôi nói đặt tên cho cháu là Mai Loan, nhà tôi hỏi tại sao lại lấy tên của “người ta” đặt tên cho con? Nhà tôi hỏi, tôi cũng lính quýnh, nhưng mỉm cười bảo rằng bộ anh không thích tên đó sao? Nhà tôi đòi đi lên nhà thương đổi tên. Nhưng chẳng biết ông ấy có đi thật hay không nhưng sau đó trở về nói là sổ sách hộ tịch khai sinh họ đã làm xong, không đổi được nữa. Tôi nghe thì biết như vậy, nhưng tôi nghĩ nhà tôi rất thích cái tên này! Cô ấy sau đó lấy một ông đại úy bác sĩ Quân Y làm ở TYV Cộng Hòa, cũng đi cải tạo và hiện nay gia đình cô ấy ở Mỹ. Có lần tôi hỏi thử nhà tôi có muốn liên lạc lại với cố nhân không tôi sẽ xin số phôn cho nói chuyện cho đỡ nhớ người xưa ấy mà, có gì đâu. Ông ấy mỉm cười lắc đầu! Nhưng tôi biết trong tâm tư ông ấy cũng có lúc nghĩ đến “người ta” nhưng tế nhị không nói ra thế thôi!
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã gần kề. Nào ai có biết ngày đó là ngày tàn của miền Nam. Gần đến ngày đó, người Sài Gòn vẫn nhởn nhơ sống, vẫn vui chơi nhộn nhịp, chẳng biết chiến tranh là gì và cũng chẳng biết là họ sắp rơi xuống địa ngục. Trong lúc đó miền Cao Nguyên, miền Trung đã lọt vào tay quân Cộng Sản. Những người bà con họ hàng của gia đình chồng tôi từ BMT, Di Linh, Lâm Ðồng, Ðà Nẵng… đã chạy giặc vào SG. Một số ở nhờ nhà bố mẹ chồng tôi, một số tản mát đến các gia đình bà con khác. Tôi vẫn đi làm ở Biên Hòa, nhà tôi vẫn ở Long Bình. Những người bạn cùng làm với tôi số đã theo những chuyến bay di tản ra nước ngoài. Tôi lo lắm, hỏi ý kiến nhà tôi đi hay ở lại? Nhà tôi buồn rầu nói, tôi đã có bầu 7 tháng bụng bự thế kia làm sao mà đi được, hơn nữa còn bố mẹ già và một đàn em nhỏ, và gia đình bên tôi cũng như vậy, mình bỏ đi sao đành! Thôi cứ ở lại, tới đâu hay tới đó. Và SG chắc không mất đâu. Tôi nghe cũng có tình có nghĩa. Nhưng trong bụng vẫn lo âu.
Rồi chuyện phải đến đã đến. Sài Gòn thất thủ sau khi nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Việt Cộng trên đài phát thanh vào lúc gần trưa ngày 30 tháng 4, 1975. Nhà tôi đã có mặt ở nhà từ chiều hôm trước khi theo đơn vị di tản từ LB về SG. Bây giờ thì hết đường chạy! Nhìn nhà tôi âu sầu, ngơ ngác trông thật tội nghiệp. Tôi chẳng biết an ủi nhà tôi như thế nào. Thôi thì ai sao mình vậy!
Ngày 17 tháng 6, 1975 tôi sanh cháu Hòa Bình. Ngày 22 tháng 6 nhà tôi đưa tôi và cháu HB về nhà ba mẹ tôi ở XM. Tôi mới sanh chưa được một tuần lễ, còn yếu ớt nên muốn về Ngoại săn sóc. Còn cháu ML thì vẫn để ở nhà Nội. Khi từ giã, nhà tôi nói 10 ngày học tập xong sẽ xuống đón mẹ con tôi về. Ngày 23 tháng 6, 1975 nhà tôi đi trình diện tập trung cải tạo theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản. Nào có phải 10 ngày như họ nói đâu! Nhà tôi đi tù cải tạo 6 năm. Sáu năm hay 2190 ngày mà chúng nó nói là 10 ngày! Toàn là giọng điệu lưu manh, dối trá và lừa bịp. Ở SG trong những năm sau đó người dân thường nói nhỏ với nhau: “Bây giờ thì cả miền Nam được cách mạng cho ăn thịt lừa và uống rượu bìm bịp.”
Cả nửa năm sau ngày nhà tôi đi “trình diện học tập cải tạo” tôi không nghe một tin tức gì về nhà tôi cũng như ông anh ruột của tôi ở đâu, sống hay chết? Tôi lo lắm, chạy hỏi lung tung những gia đình tôi quen biết có người thân đi cải tạo. Họ cũng như tôi, mọi người đều mù tịt! Biệt vô âm tín! Khoảng cuối tháng 12, 1975, gần Lễ Giáng Sinh, em chồng tôi xuống XM cho tôi biết đã có tin của nhà tôi và trao cho tôi lá thư do chính tay nhà tôi viết. Tôi mừng vì biết nhà tôi còn sống, nhưng trong thư không cho biết là hiện đang ở đâu, ngoài phong bì chỉ thấy ghi số hòm thư. Biết nhà tôi còn sống là mừng rồi. Thư chỉ viết vỏn vẹn có mấy dòng cho biết nhà tôi vẫn khỏe mạnh, “an tâm học tập để tiến bộ sớm về đoàn tụ với gia đình,” và cuối thư viết vội cần ít thuốc bổ B1, vài ký đường và lon Guigoz mắm ruốc xào sả ớt. Tất cả không quá 3 ký và gửi qua bưu điện.
Khoảng gần Tết năm 1976, tôi nhận được lá thư thứ hai của nhà tôi báo cho biết hiện đang ở trại giam Tân Hiệp, Biên Hòa. Trại cho phép thăm nuôi, nhưng phải xin giấy phép của địa phương. Tôi vội làm mọi thủ tục và đi mua ít quà thăm nuôi. Biên Hòa-Sài Gòn gần, nên tôi đem theo 2 đứa con nhỏ, có cả ba tôi, bố mẹ chồng tôi và cả mấy người em tôi cùng đi nữa. Nhưng số người vào thăm bị giới hạn nên ba tôi và các em tôi phải ở lại ngoài cổng. Nhìn nhà tôi gầy gò xanh xao quá! Nhà tôi vốn đã cao, nên trông lại càng thấy xót xa. Tôi khóc, nhà tôi bảo đừng khóc, tụi nó nhìn thấy thì lại có chuyện không hay. Lúc đó còn bộ đội trông coi nên mọi người được tự do trò chuyện, thỉnh thoảng mới có vài tên bộ đội đi lảng vảng ở ngoài sân.
Trong lúc trò chuyện tôi hỏi nhà tôi thời gian đầu ở đâu sao không cho nhà biết tin? Nhà tôi nói “trại” cấm tiết lộ, tất cả thư từ đều bị kiểm soát gắt gao, ai tiết lộ sẽ bị phạt nặng. Lúc này tôi mới biết lúc đó nhà tôi ở “Thành Ông Năm” là doanh trại Liên Ðoàn 5 CBKT ở Hóc Môn, nơi mà tôi và vài người bạn đã đi tìm chồng khi nghe đồn ở đó là nơi nhốt tù cải tạo. Khi đó chúng tôi chỉ loang quanh ở gần cổng trại đâu dám vào hỏi thăm. Gọi là đi tìm chứ có tìm thấy gì đâu! Chỉ biết chắc chắn đó là nơi giam giữ “tù cải tạo” qua những người bán hàng nước gần đó. Nóng ruột và thương nhớ nhà tôi nên tôi nghe lời ba mẹ tôi đi đại vậy thôi.
Ðầu năm 1977, nhà tôi viết thư về cho biết đang “cải tạo lao động” tại Bù Gia Mập thuộc tỉnh Phước Long. Lần thăm nuôi này mới gian nan vất vả. Ði xe đò từ SG đến chợ Phước Bình. Từ đây chúng tôi phải lội bộ gần 10 cây số đường đất đỏ vì vào mùa mưa nên đường sá lầy lội, trơn trượt, vào đến trại thì quần áo chân tay lấp láp đầy sình lầy đất đỏ. Người nào người nấy trông thật thảm não! Nhưng so với những chị đi thăm chồng ở ngoài Bắc thì chẳng thấm thía gì! Những lần đi thăm kế tiếp ở trại Minh Hưng và lần cuối cùng ở trại Gia Trung, Pleiku.
Thực ra tôi không ngại đi thăm nhà tôi dù ở bất cứ đâu, nhưng đi thăm thì phải “nuôi”! Trong lúc đó, kiếm được đủ tiền nuôi hai con nhỏ cũng đã là gay go lắm rồi. Mỗi lần đi thăm, ba mẹ tôi và bố mẹ chồng đều phải bù đắp mới có được túi quà nho nhỏ. Ðã nhiều lần tôi phải lấy cả cái tiền vốn nhỏ nhoi đi buôn để mua đồ! Mặc dù tôi không nói ra những khó khăn này cho nhà tôi biết, nhưng nhà tôi cũng hiểu được những thiếu thốn đó nên nói với tôi là một năm đi thăm một vài lần cũng được. Trong khi những người bạn gần nhà không tháng nào là họ không đi thăm chồng, thăm con. Tôi thấy cũng tủi thân và nghĩ thương nhà tôi quá, nhưng khả năng của tôi thì không có, biết làm sao đây?
Tháng 6, 1981, nhà tôi được tha. Tôi thật vui mừng vì từ nay tôi không còn cô đơn, các con tôi đã được gần gũi bố chúng nó. Chỉ sau một tuần lễ, có lẽ thấy tôi quá vất vả nên nhà tôi đã phải lăn xả vào nhiều công việc để kiếm sống, mặc dù tôi đã nói với nhà tôi nên nghỉ ngơi thêm một gian nữa để bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, nhưng nhà tôi không chịu. Tôi cũng đành phải để nhà tôi đi làm. Từ việc đi bán dạo dầu gió Hoa Ðào, cả tuần lễ bán được vài chục chai. Thấy kiểu làm ăn này không được nhà tôi đổi sang đạp xích lô, nghề này mất sức quá nhiều nên chỉ một năm sau nhà tôi bị bệnh phổi phải nghỉ chữa bệnh một năm trời mới khỏi. Rồi theo tôi đi thồ gạo từ Long An về SG bị bọn quản lý thị trường bắt hoài mất hết cả vốn, cuối cùng nhà tôi theo bố chồng tôi đi làm nghề xây dựng cho đến ngày đi Mỹ. Từ một sĩ quan QLVNCH oai hùng, nay tàn tạ như thế! Tương lai mù mịt chỉ toàn là màu đen! Nhưng cuối cùng chúng tôi đã được đền bù.
Ngày 8 tháng 3, 1991, gia đình nhỏ bé của tôi được đi Mỹ theo chương trình HO-5. Ðịnh cư tại thành phố Oklahoma City, tiểu bang Oklahoma. Ba mẹ tôi cũng như bố mẹ chồng tôi rất vui mừng. Tất cả họ hàng và bà con hàng xóm đều đến chúc mừng và cầu chúc chúng tôi ra đi bình an, gặp nhiều may mắn trên xứ Mỹ và mong ngày nào đó trở về thăm quê hương. Nhưng đã gần 16 năm nay, tôi cũng như nhà tôi “chưa” có dịp về thăm lại những người thân yêu còn ở lại Việt Nam!
Suốt cuộc đời tôi, có lẽ thới gian 16 năm sống dưới chế độ Cộng Sản (1975-1991) là gian khổ ải, kinh hoàng và khủng khiếp nhất. Nghĩ lại, bây giờ tôi vẫn còn giật mình kinh hãi. Thoát được địa ngục trần gian lại chính là quê hương của mình, đến được xứ sở tự do này tôi có cảm tưởng như được lên thiên đàng! Ðiều tôi vui mừng nữa là hai đứa con gái của tôi đã lập gia đình. Chúng tôi đã có 5 cháu ngoại rất dễ thương và cả hai con rể đều kính trọng và thương yêu chúng tôi.
Tôi rất yêu thương và quý trọng chồng tôi. Sợ ông ấy giận lại bỏ ăn bỏ uống nên tôi phải ráng viết, nộp bài để cho ông ấy vui lòng. Còn chuyện gian khổ của mấy bà vợ CTNCT trong thời gian chồng đi tù thì chắc có nhiều người viết rồi. Và tôi nghĩ dù tôi có gian khổ bao nhiêu đi chăng nữa cũng không bằng cảnh khổ nhục của những người tù, nhất là tù trong chế độ CSVN. Ðọc cuốn Bút ký “Tôi Phải Sống” của Cha Nguyễn Hữu Lễ, tôi thấy sao mà những người tù khổ quá! Bị đói khát triền miên, lao động cực nhọc lại còn bị bọn cán bộ Cộng Sản coi tù nhục mạ, đày đọa, đánh đập không thương tiếc. Tàn bạo hơn, thâm độc hơn chúng còn mượn tay của những kẻ phản bội đánh đập đồng đội mình cho đến chết! Thật là tàn nhẫn vô nhân đạo!
Từ dưới đáy địa ngục, họ còn cố ngoi lên được để trở về thì cũng tài thật!
Qua đến Mỹ rồi, mặc dù tối tăm mặt mũi lo cho đời sống vội vã ở xứ sở này mà các ông ấy vẫn còn dành những thời giờ nghỉ ngơi để sinh hoạt Cộng Ðồng, sinh hoạt Hội Ðoàn, hoạt động đấu tranh cho tự do dân chủ, tự do tôn giáo cho Việt Nam. Ðâu phải chỉ ở địa phương mà các ông ấy còn đi hết tiểu bang này đến tiểu bang khác để sinh hoạt. Nhiều khi các ông ấy quên hẳn bản thân của mấy ông ấy để lo cho thiên hạ đôi khi quên cả chuyện gia đình!
Là đàn bà, tôi cũng có những ích kỷ, những lo lắng, tôi chỉ muốn ở gần nhà tôi, không muốn “thả rông” ông ấy như mấy chục năm về trước! Lỡ may đi nhiều, tiếp xúc với nhiều người ông ấy đổi tính đổi nết sinh tật thì sao? Cũng có đôi ba lần tôi nói với nhà tôi ý nghĩ này. Nhà tôi nói là hồi còn trẻ đã không sinh tật, bây giờ đã luống tuổi rồi còn đổi tính đổi nết gì nữa. Hãy để cho ông ấy làm việc hữu ích cho xã hội, cho quê hương, cho mọi người như tâm nguyện của ông ấy! Nếu công việc nhà cửa hay việc làm ăn có thiếu sót thì tôi giúp ông ấy! Thương nhà tôi nên tôi cũng ráng gồng mình chứ biết nhờ ai đây!
Vợ tù đã khổ, người tù còn khổ gấp trăm ngàn lần! Thế mà Tết năm nay mấy ông ấy còn bày chuyện “Vinh Danh Người Vợ CTNCT” nữa. Kể ra các ông ấy cũng lịch sự và biết nịnh đầm đấy chứ!



























































































