Còn nhớ thuở nhỏ, tôi rất sợ ngày khai bút, tức là ngày mồng Một Tết khi cụ Tú – ông nội tôi – gọi mấy đứa nhỏ cháu chắt trong nhà quây quần ở phòng khách, đứa nào đứa nấy nghiên bút sẵn sàng: sáng sớm ngày đầu năm phải khai bút.
Tất cả ngồi xếp bằng tròn trên những vuông chiếu hoa trải trên nền nhà, có đứa không ngồi xếp bằng tròn được thì quặp hai chân về một phía, hoặc phía phải, nhưng thường là phía trái, ngồi kiểu đó hai bàn chân luôn luôn phải ngửa lên, hai đầu gối luôn luôn phải sát đất. Nhưng ngồi kiểu đó khi viết có thể nhoài người ra phía trước, lưng thẳng ra thoải mái, còn ngồi bằng tròn khi viết phải gò lưng xuống hơi khó khăn.
Khai bút rất là nghiêm trọng, vì đó là những chữ đầu tiên viết ra trong năm, viết sao thì viết nhưng nét bút lông làm sao phải gọn sạch ngay từ lúc chạm xuống tờ giấy bổi, là loại giấy không bằng phẳng đều nhẵn trắng trẻo như giấy trong tập vở có đóng kim, kẻ hàng, cũng không được dùng bút chì kẻ hàng, mà chỉ được gấp trang giấy lại làm ba lần, lần nào cũng gấp đôi theo chiều dọc, gấp xong, lấy cán bút miết xuống vài lần rồi mở tờ giấy ra, như thế trang giấy sẽ có bốn cột thẳng hàng, chữ viết sẽ nằm giữa những cột giấy hai bên có nếp gấp. Chữ Nho viết từ trên xuống dưới, từ phải sang trái.
Chuyện ấy xảy với tôi khi tôi 6 tuổi, là còn nhớ rõ, trước đó thì không. cho tới mấy chục năm sau, sáng mồng Một Tết nào tôi cũng bày bút mực ra bàn, sửa soạn khai bút. Lúc nhỏ khai bút bằng bút lông, hơn 10 tuổi khai bút bằng bút sắt. Càng theo ngày tháng, càng không biết phải viết gì trước nhất vào mỗi Nguyên Ðán. Tôi nhớ có một năm không biết viết gì, tôi đành viết xuống mấy chữ đầu tiên muốn ra sao thì ra, khi mực đã xuống giấy rồi, không chờ được nữa, may quá tôi viết ngay xuống mấy chữ “Ngày Xuân Khai Bút.” Ðúng rồi chứ gì nữa, mình khai bút thì viết ra mình khai bút, còn khai ra sao là chuyện chưa xét tới.
Thế là “ngày xuân khai bút” mở đầu cho cuốn lịch sách hàng năm ấy; cho tới ngày cuối cùng trong năm thì cất nó đi, để bắt đầu một cuốn lịch sách mới, cho một năm kế tiếp.
Khi viết những dòng này, hôm nay là mồng 4 Tết Ðinh Dậu rồi, trong garage ngoài kia, trên một ngăn sách, còn vài chục cuốn lịch mấy chục năm qua, mỗi năm một cuốn (có năm hai cuốn, cuốn lớn cuốn nhỏ), còn quá sớm để mở cửa ra ngoài lấy xem. Mỗi năm một cuốn lịch sách hàng ngày, ngày nào cũng có thể ghi xuống những chuyện linh tinh, tôi sợ phải mở ra xem lại những chuyện năm xưa. Chẳng để làm gì. Chắc vậy. Nhưng lịch sách đã dạy tôi một điều không thể nói được bằng vài câu, phải nói bằng mãi mãi. Nó thuộc về thời gian. Nó thuộc về lịch sử. Nó giúp tôi lúc nào cũng có ít ra là một cái hẹn với một nhân vật trong không thời gian, lúc nào tôi cũng tìm được một người, không biết là ai, chỉ khi mở sách ra mới thấy…
[Chẳng hạn hôm nay, chẳng hạn thôi nhé, tôi có thể tới chuyện trò với Viên Chiếu Thiền Sư, và kể bạn nghe cuộc gặp gỡ ấy.]

Viên Chiếu Thiền Sư (999-1091)
Viên Chiếu thiền sư trụ trì chùa Cát Tường tại thủ đô Thăng Long vào thế kỷ thứ XI, là người đã để lại những câu kệ hàm súc, những pháp thoại văn chương cao khiết, ý lời quán thế còn được lưu truyền suốt một ngàn năm qua. Ông nổi tiếng có tài biện luận, kinh sách hàng bồ, từng được vua Triết Tôn nhà Tống cho sao chép lại để lưu giữ trong Thư các của triều đình Trung Hoa, sau khi các pháp sư Trung Hoa trình với vua của họ rằng văn sách của nhà sư Ðại Việt không thể sửa được một chữ nào. Học giả Ngô Tất Tố đã dịch ra một số câu, chỉ nghe qua đã thấy gió trăng ào ạt lộng thổi chan hòa:
Theo gió tiếng còi luồn bụi trúc
Kèm trăng bóng núi quá đầu tường.
(Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo
Sơn nham đái nguyệt quá tường lai)
Hoa núi mưa sa Thần nữ khóc
Tre sân gió thổi Bá Nha đàn.
(Vũ trích nham hoa Thần nữ lệ
Phong sao đình trúc Bá Nha cầm) (*)
Viên Chiếu thiền sư tên họ là Mai Trực, người Thanh Trì (xưa kia là đất Long Ðàm, Giao Châu), con của người anh bà Linh Cảm thái hậu nhà Lý (mẹ vua Lý Thánh Tôn). Tục truyền thuở nhỏ một vị trưởng lão xem tướng cho, nói rằng nếu đi tu thì có thể là người trong hàng thiện Bồ Tát, ông liền xin phép mẹ vào tu ở chùa núi Ba Tiêu, thường trì Kinh Viên Giác. Theo một học giả (*), một tối trong khi thiền định, ông thấy cảnh Bồ Tát Văn Thù tự cầm dao mổ bụng, rửa ruột gan rồi dùng thuốc rịt lại, từ đấy những gì ông đã học được trở nên rõ ràng như từng biết qua, “sâu rõ ngôn ngữ tam muội.” (Tức là ba phép tu thiền định trong kinh Viên Giác, để đạt được sự giác ngộ hoàn toàn – samatha, tam ma bạt đề [samapatti] và thiền na [dhyana]. Ba chữ Phạn này tóm gọn là Tịch tĩnh, Chú vào một chỗ, Chiêm nghiệm.) Theo các sách về Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam thì Viên Chiếu là vị thiền sư thứ 9 có công đức cao dầy, sau các vị thiền sư Vô Ngôn Thông, Cảm Thành, Thiện Hội, Vân Phong, Khuông Việt, Ða Bảo, trưởng lão Ðịnh Hương và thiền sư Thiền Lão.
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 1 tháng 2 năm 2017
Trong các tác phẩm của Viên Chiếu, “Tham đồ hiển quyết” may mắn thay, còn tồn tại 10 thế kỷ qua cho đến ngày nay. Lê Tắc (thế kỷ XIV), học giả Việt Nam chạy qua Tầu và ở lại làm quan nhà Nguyên bên Tầu, viết trong cuốn An Nam Chí Lược [Lịch sử Việt Nam từ đời Trần trở về trước], như sau: “Thiền sư Mai Viên Chiếu thường soạn ‘Tham đồ hiển quyết’ đại lược nói: ‘Một hôm khi đang ngồi trước nhà, bỗng có một vị tăng hỏi: Phật cùng với Thánh, nghĩa ấy thế nào? Ðáp: Dưới dậu thu cúc rậm. Ðầu cành chim yến ca. [Cúc trùng dương dưới dậu, Oanh thục khí đầu cành]. Sách ấy phần lớn gồm những thứ như thế đó. – Cứ vào dẫn chứng này của Lê Tắc, ta có thể nói rằng tất cả cơ duyên thoại ngữ dẫn trong truyện này đã hoàn toàn rút ra từ “Tham đồ hiển quyết,”… nó là một tác phẩm đời Lý được giữ lại cho tới ngày nay, một tác phẩm xưa nhất của lịch sử văn học, tư tưởng và triệt học Phật Giáo nước ta.” (**)
Vẫn theo sách này, sau đây là một số vấn đáp giữa người hỏi (một vị tăng) và những câu đáp của Thiền Sư Viên Chiếu.
Hỏi: Tất cả chúng sinh từ đâu mà đến? Trăm năm sau sẽ đi về đâu?
Ðáp: “Rùa đui chui vách đá , Trạch què bò núi cao.”
Hỏi: Thế nào là căn nguyên đại đạo thẳng đường đi?
Ðáp: “Gió lộng bờ cao hay có cứng, Nhà tan nước mất biết trung lương.”
…
Năm Canh Ngọ 1090, thiền sư cho gọi tăng chúng đến dạy rằng: “Trong thân ta đây, thịt xương gân cốt, tứ đại giả hợp, đều là vô thường, ví như ngôi nhà kia khi sụp đổ, cột kèo đều đổ. Cùng các con giã từ, hãy nghe bài kệ của ta đây:
Thân như tường vách đổ xiêu rồi
Thiên hạ bồn chồn xót dạ thôi.
Nêu rõ tâm không, không tướng sắc
Sắc không ẩn hiện mặc xoay đời.
Sau khi đọc xong bài kệ, thiền sư Viên Chiếu vẫn ngồi ngay thẳng mà viên tịch, thọ 92 tuổi, đi tu 56 năm.
(VL. Little Saigon, Xuân Ðinh Dậu viết thêm, Tháng Giêng 2017)
*Ngô Tất Tố, Văn Học Ðời Lý, Khai Trí, Saigon, 1960.
**Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, 1999.



























































































