Hà Nội và Đà Lạt, qua thơ Phan Nhiên Hạo

Trần Doãn Nho/Người Việt

Thơ Phan Nhiên Hạo mới cả về nội dung lẫn hình thức. Về hình thức, khác hẳn với cái tươi mát, lãng đãng hay thơ mộng của những tập thơ ta thường thấy.

Tập thơ mà tôi hiện có do anh gửi tặng, “Chế Tạo Thơ Ca,” bìa trước và bìa sau là hình ảnh của một bầy dép hai quai kiểu Nhật, nằm chen chúc nhau, với màu sắc pha trộn nhợt nhạt, sáng tối không đều.

Về nội dung, thơ Phan Nhiên Hạo là một cách tân triệt để. Vượt ra ngoài vòng cương tỏa của vần, điệu đã đành, mà nó còn là một trộn lẫn nhiều thể loại khác nhau: thơ, tùy bút, truyện kể, kể cả lịch sử. Có thể gọi đó là một kết hợp giữa thơ và phi-thơ.

Anh cho biết, “Ðối với tôi, thi pháp chỉ là phương tiện của sự diễn đạt. Ngay cả khi có kỹ thuật diễn đạt tốt, nhưng không có cảm xúc, không có cảm quan văn hóa mới, thi pháp cũng chỉ là một mớ đồ nghề vô dụng. Nhiều người mày mò với đủ loại thi pháp nhưng sản phẩm cuối cùng mà họ tạo ra chỉ là những bài thơ rất chán. Thi pháp chỉ thuyết phục và có ảnh hưởng khi được thể nghiệm thành công qua những bài thơ hay.”

Thơ Phan Nhiên Hạo là một vận dụng ngôn ngữ dựa trên nhận thức và cảm quan thẩm mỹ đối với sự vật. Bằng một thứ ngôn ngữ có tính cách mô tả, đôi khi trông rất dửng dưng, lạnh lùng, vô cảm, Phan Nhiên Hạo chuyển tải những cảm xúc vừa chân thật vừa mới mẻ. Ẩn khuất đằng sau đó, người đọc còn tìm thấy một tính chất khác: nhận thức sâu sắc về sự vật và sự kiện và qua đó, tính nhân văn của chúng.

Trong tập “Chế Tạo Thơ Ca,” tôi hết sức thích thú với cách diễn đạt thế giới giản dị, cụ thể và chiếu rọi vào chúng những tia nhìn vừa lạ vừa khiêu khích qua hai bài thơ về hai thành phố rất quen thuộc ở Việt Nam: Hà Nội và Đà Lạt.

Mỗi thành phố, Phan Nhiên Hạo sử dụng một cách diễn đạt khác nhau. Trong tập thơ, có hai bài về Hà Nội. Bài thứ nhất, “Hà Nội 1 (lược sử hình thái kiến trúc)”. Đúng như tựa đề, bài thơ này lược qua các hình thái kiến trúc Hà Nội từ trước và sau lúc người Pháp đến.

“Sự đổi thay của Hà Nội có thể được bắt đầu
bằng việc phân tích bản đồ 1873 do người Việt lập”

Từ cảnh quan mang dáng nét tự nhiên, cổ lổ của một thủ đô thời phong kiến, người Pháp đến, thay đổi hoàn toàn, phá bỏ một Hà Nội cũ và xây dựng một thành một thành phố khác, mới mẻ, để rồi nuối tiếc về hành động của mình.

“Việc phá bỏ bừa bãi những công trình cổ của người Việt
sau này mới được nhắc đến một cách tiếc nuối”

Theo thời gian, Hà Nội phát triển, nhưng vẫn có cái gì vướng víu. Chả thế mà nhà thơ tìm thấy vẻ đẹp của Hà Nội ở một hình ảnh khá bất ngờ. Vẻ đẹp đó, phần lớn nhờ vào:

“hằng hà sa số xe đạp và xe máy
dày đặc xen nhau trong bụi bặm
giống như đàn cá khổng lồ đoàn kết chặt chẽ”

Cư dân Hà Nội đã đoàn kết như thế qua lịch sử và đã thành công. Thành công gì? Phan Nhiên Hạo ghi nhận, đó là họ đã “thành công trong việc:”

“biến ngôi làng của mình thành một thủ đô”

Đây là một cái nhìn độc đáo của nhà thơ: Hà Nội mang tính chất của một ngôi làng dù nó là thủ đô!

Bài “Hà Nội 2 (các khu tập thể cời nới)” cho ta thấy tính cách đặc thù “ngôi làng”/thủ đô này trong thời hiện đại: sự cời nới.

“Những dãy nhà hình hộp giống hệt nhau
Mặt tiền lỗ chỗ thùng carton, tấm che bằng gỗ,
Tôn, mảnh tre màu sắc thượng vàng hạ cám

Người ta cời nới cả hai bên
khiến cho các dãy nhà ban đầu     xa     cách nhau
bây giờ         dínhliềnthànhmộtkhối”

Bất chấp mọi điều kiện, kể cả chiến tranh, “cời” và “nới’ là một thói quen – một căn bệnh trầm kha – của cư dân Hà Nội không cách gì thay đổi được. Sự cời nới độc đáo đến nổi khiến tác giả ngạc nhiên, bối rối, cảm động hy vọng và lo âu, nhưng:

“…thật sự không biết phải làm gì”

Tập thơ “Chế Tạo Thơ Ca” của Phan Nhiên Hạo. (Hình: ibiblio.org)

Ai đã từng ở, từng đến thăm hay yêu mến Hà Nội đều nhìn thành phố này với một cảm giác bất lực như thế. Hà Nội ngổn ngang, bừa bộn, ù lì, trơ trơ, dường như bất-khả-thay-đổi. Có hy vọng chăng, cũng phải đợi tới “mười thế kỷ,” theo như cách Phan Nhiên Hạo hình dung.

Về Đà Lạt, Phan Nhiên Hạo chế tạo thơ một cách khác.

Khác với giọng điệu bàng quang, đượm chất trào lộng trong hai bài về Hà Nội, “Đà Lạt 1989-2002” nói về Đà Lạt với nhiều cảm xúc rất gần gũi và sống động. Có lẽ vì đó là nơi anh đã từng sống, từng gắn bó, và chứng kiến tình trạng “vật đổi sao dời” của nó trong dòng xoáy của sự thay đổi thời thế sau 1975.

Ngôn ngữ thô, nhám, trực tiếp hơn đưa đến những cảm xúc cụ thể hơn. Phan Nhiên Hạo mô tả một Đà Lạt của những năm 1989-2002. Một Đà Lạt không-còn-là-Đà-Lạt. Một Đà Lạt biến thể, tan nát, suy sụp. Đó là:

“…một con bửa củi lật ngửa những cái chân
Thông xơ xác chĩa lên trời ngọ nguậy”

Một địa danh nổi tiếng, đồi Cù, đã trở thành:          

“…một cái vú
cho thương gia Đài Loan trèo lên bóp mỗi ngày”

Cái thành phố hoàn toàn xuống cấp. Đó là một khung cảnh tạp nhạp:

“…phát phì kiểu một người ăn tạp
Các con đường giãn dây thun, nhà xây
theo bản nháp (…)
Ban ngày có những bọn đàn ông:
trấn lột thân thể xốp thiếu nữ,
trấn lột ngôn ngữ dịu dàng, trấn lột đất”

Trong lúc Hà Nội là một cái gì ù lì muôn thuở thì Đà Lạt là một thực thể hoàn toàn biến tính, méo mó. Đứng trước cuộc bể dâu này, Phan Nhiên Hạo bày tỏ cảm xúc một cách mãnh liệt. Không chỉ về Đà Lạt (như một tiếc nuối) và về xã hội và con người trong một thành phố lột xác thảm hại. Bài thơ chấm dứt bằng một hình ảnh vừa quen thuộc lại vừa lạ lùng:

“…Qua cửa sổ mờ sương tôi thấy người
Đàn bà gánh hai chiếc thúng.
Tôi không biết bà gánh gì nhưng
tôi biết sức nặng của cuộc đời không ra khỏi được thung lũng.”

Thật bùi ngùi!

Ba bài thơ về hai thành phố nói trên cho ta thấy Phan Nhiên Hạo đã chế tạo thơ ca bằng một cung cách khác lạ, mới mẻ: mọi chất liệu ngôn ngữ và cấu trúc của chúng đều có thể được sử dụng một cách thoải mái trong diễn đạt thi ca. Nói một cách khác, không có yếu tố thơ và phi-thơ ở đây. Anh vận dụng bất cứ thể loại nào miễn là chúng nằm gọn được trong một cấu trúc thẩm mỹ.

Mặt khác, trong thơ Phan Nhiên Hạo, cảm xúc và nhận thức hòa quyện lẫn nhau. Cảm xúc xuất phát từ một đánh giả, một “nhìn thấy,” một suy gẫm, chứ không phải là thứ tình cảm thương vay khóc mướn, có tính cách làm dáng.

Theo anh, “Nhiều người cũng viết về những sự vật gần gũi xung quanh. Nếu tôi có thể viết khác họ một chút, có lẽ vì tôi có một cảm nhận văn hóa riêng. Môi trường sống, những ảnh hưởng của một nền văn hóa khác đã đem đến cho tôi những cảm nhận mới về thế giới xung quanh. Tôi có thể viết về “ẩm thực ở một làng quê” chẳng hạn, nhưng cái nhìn của tôi không giống cái nhìn ngợi ca của một người luôn gắn bó với nông thôn, cũng không giống cái nhìn tò mò của một người ngoại quốc. Ðối với tôi, thơ chỉ thật sự mới khi có một cảm nhận văn hóa mới.”

Phan Nhiên Hạo sinh ở Kon Tum năm 1967, đến định cư ở Hoa Kỳ năm 1991. Anh tốt nghiệp cử nhân Văn Chương ở Việt Nam và cử nhân Văn Chương Hoa Kỳ và cao học Thư Viện ở UCLA (University of California, Los Angeles).

Anh là tác giả hai tập thơ, “Thiên Đường Chuông Giấy” (1998) và “Chế Tạo Thơ Ca 99-04” (2004). Thơ Phan Nhiên Hạo được dịch sang tiếng Anh đăng ở tạp chí The Literary Review, trong tập “Of Vietnam: Identities in Dialogues” (Palgrave 2001), và trong “Night, Fish and Charlie Parker,” (Đinh Linh dịch, Tupelo 2006).

———
Tài liệu:
– “Chế Tạo Thơ Ca,” nhà xuất bản Văn, San Jose, 2004.
– Nhà thơ Phan Nhiên Hạo: “Thơ chỉ thật sự mới khi có một cảm nhận văn hóa mới…” phỏng vấn.
– Wikipedia.

Mời độc giả xem phóng sự “Họa sĩ ViVi – Người tô điểm ký ức tuổi thơ”
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT