Năm cùng tháng tận, bốn chữ đó tự nó đứng riêng rẽ cũng đã có nghĩa: nó như một lời than, đó là khoảng thời gian khó khăn của một năm, người ta không mong nó cũng vẫn tới, và dường như tới quá nhanh, tuồng như người ta chưa hẳn đã sẵn sàng để đón tiếp.
Trong một năm mỗi cuối tháng nào người ta cũng có sửa soạn cho một đầu tháng mới, riêng trong Tháng Mười Hai, ngoài việc sửa soạn cho một tháng mới, người ta cùng một lúc còn phải có những sửa soạn cho những cái quan trọng hơn, đó là sửa soạn cho cả một năm mới nữa.
Năm cùng tháng tận, cái gì cùng tận cũng hàm chứa những kết thúc và cùng lúc, những khởi đầu thay thế hay tiếp nối.
Năm cùng tháng tận ở đây là của năm Dương Lịch, thường đến sớm hơn năm Âm Lịch, nói một cách đại thể, đó là hai thứ lịch được soạn ra dựa vào sự hiện hữu của các thiên thể, một là hỏa tinh – mặt trời; hai là nguyệt cầu – mặt trăng.
Âm dương trong vũ trụ mịt mùng muôn vạn đại không phải là chuyện chỉ trong một kiếp con người có thể biết được, chỉ nội mặt phải mặt trái của một bàn tay cũng đã khó lường, cho nên mang chuyện bóng tối và ánh sang nói đến trong một bài báo hằng ngày chẳng qua là chuyện nhân cái này nói tới cái kia. Như chuyện “đáo bỉ ngạn,” từ bờ bên này nghĩ tới bờ bên đó.
Ấy là ngày 7 Tháng Mười Hai (năm 2003) nhà thơ Trần Hồng Châu (Nguyễn Khắc Hoạch) từ trần, (cũng ngày ấy nhà thơ nữ Trí Hải ra đi) – bài này có dịp nói đến một số văn nghệ sĩ khác đã khuất, ta hay gọi văn vẻ là những vì sao băng, những sinh mệnh đã không còn. Ở đây cụ thể là những nhà thơ nhà văn từng xuất hiện trên văn đàn, có một thời tên tuổi, nhưng đã khuất vào một thời gian của năm cùng tháng tận, tức Tháng Mười Hai, của những năm qua.
Bài này như thế chỉ nói về chân dung những người đã khuất vào cùng Tháng Mười Hai, chỉ cùng tháng mà không kể ngày nào hay năm nào, chỉ kể Tháng Mười Hai mà thôi.
Một vài tên tuổi ghi nhận được như sau:
-Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, mất Tháng Mười Hai, 1585.
-Giáo Sư Dương Quảng Hàm, tử nạn Tháng Mười Hai, 1946, trong đêm Hà Nội nổ súng chống Pháp.
-Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch, cựu khoa trưởng Văn Khoa Sài gòn, mất tại California Tháng Mười Hai, 2003.
-Ni sư Trí Hải, mất trên đường đi cứu trợ dân nghèo, Tháng Mười Hai, 2003. (*)
Không kể Trạng Trình đã quá xa xôi và bao la, ba tên tuổi còn lại là ba nhà giáo, trong đó tôi đã được cộng tác và quen biết nhiều năm với nhà thơ Trần Hồng Châu Nguyễn Khắc Hoạch từ khi ông đứng tên chủ bút tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi năm 1960. Tòa soạn tờ báo này đặt tại nhà in Tín Đức Thư Xã ngay sát chợ Bến Thành.
Hôm tay ta chỉ đọc một bài thơ trọn vẹn của ông qua bài “Tôi Đi Trên Những Cầu Kiều,” quyển Hạt Cát Biển Đông, trang 34:
“Tôi đi trên những cầu kiều
Từng con phố nhỏ quạnh hiu trong lòng
Bâng khuâng mây trắng xây thành
Từng cơn nhung nhớ bên mành nhớ nhung
Cầu xưa vua đắp còn đây
Cầu em giải yếm cũng gầy tương tư
Tôi đi trên những cầu kiều
Từng nơi hò hẹn tiêu điều dấu chân
Ngậm ngùi vạt áo Hà Đông
Một con bướm trắng bên sông hững hờ
Cầu xưa lá rụng tơi bời
Cầu tôi đuôi mắt mây trời đam mê
Tôi đi trên những cầu kiều
Từng hồn thu cũ bóng chiều chưa phai.”
Nhà thơ Trần Hồng Châu là tác giả những bài tùy bút nổi bật chất lãng mạn bóng bẩy hòa hợp trí tuệ Đông Tây qua ngôn ngữ Việt miền Bắc. Tác phẩm đã xuất bản: “Thành Phố Trong Hồi Tưởng,” tùy bút, An Tiêm 1991. “Nửa Khuya Giấy Trắng,” thơ, Thanh Văn 1992. “Nhớ Đất Thương Trời,” thơ, Thế Kỷ 1995. “Hạnh Phúc Đến Từng Phút Giây,” thơ, Văn Học 1999. “Dăm Ba Điều Nghĩ Về Văn Học,” tiểu luận Văn Nghệ 2001. “Suối Tím,” thơ và đoản văn, Văn Nghệ 2003.
Thơ ông thường là những bài rất dài, hai hoặc ba bốn trang, nhiều nhất là thơ văn xuôi, rất hiếm những bài ngắn như bài trên. Ông ra đời tại niền Bắc năm 1922, từ trần ngày 7 Tháng Mười Hai, 2003, tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ. (Viên Linh)
(*) Chúng tôi chỉ tìm được bốn tên tuổi các nhà văn nhà thơ ra đi vào Tháng Mười Hai. Nếu quý bạn đọc biết thêm và cho chúng tôi tin tức, xin cảm tạ).
Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật
Copyright © 2018, Người Việt Daily News



























































































