Mẹ Tôi và Hoa
Đỗ Phương Khanh
Mẹ tôi yêu hoa. Không những hoa, mẹ yêu cả lá nữa. Mẹ nói: “Hoa lá tươi đem lại cảm giác tràn ngập sức sống.”
Nghĩ về thời thơ ấu, trong tâm tưởng anh chị em chúng tôi bàng bạc hình ảnh hoa lá trong căn nhà ấm cúng của gia đình hồi đó.
Nhưng chúng tôi không hoàn toàn hưởng ứng “thói” yêu hoa của mẹ. Chúng tôi phản đối, tại sao ư, vì nếu mẹ vắng nhà mà chúng tôi để hoa lá héo là thế nào cũng bị mẹ mắng:
-Sao các con không cho hoa uống nước, các con khát có chịu nổi không?
Gia đình chúng tôi thuộc diện trung lưu. Bố chúng tôi dạy học chỉ đủ chi tiêu có chừng mực. Vậy thì tiền mua hoa hẳn đã chiếm mất một phần đồ ăn của chúng tôi mất rồi. Nghĩ thế nên hồi còn bé anh em chúng tôi có mối ác cảm sâu sắc với hoa.
Những năm từ thập niên 60, chiến tranh lan tràn, đời sống của dân miền Nam rất khó khăn nên mẹ cũng đi làm để có thêm tiền chi tiêu. Nhưng cũng chẳng vì kinh tế khó khăn mà mẹ bớt yêu hoa.
Trước Tết năm đó, bố mẹ họp anh em chúng tôi lại, phát cho mỗi đứa một khoản tiền ước lượng bằng với số tiền mà những Tết trước chúng tôi được bạn bè bố mẹ “lì xì” và yêu cầu chúng tôi không được “thì thọt” ở cửa chờ đợi các bác gọi, bố nói:
-Các con chờ đợi mà các bác nghèo không có tiền cho, các bác tủi thân. Chào khách xong là các con phải vào nhà trong ngay.
Nhân dịp này, chúng tôi đưa ra “kiến nghị”:
-Thôi hay là năm nay mình đừng mua hoa nữa mẹ, để tiền mua bánh mứt nhiều nhiều ăn cho sướng.
Mặt mẹ hơi đờ ra, bố vội nhảy vào can thiệp:
-Bậy nào, Tết mà không có hoa thì còn gì là Tết nữa. Bố thích hoa, chiều nay bố dẫn cả nhà đi chợ hoa.
Ấy thế đấy, động vào vấn đề nhạy cảm “hoa” của mẹ là bố phải hối lộ liền. Bố hối lộ ăn cơm gà Siu Siu, chúng tôi vỗ tay rối rít.
Tiệm cơm gà Siu Siu ở ngay gần chợ An Đông, tầng trệt của dẫy nhà lầu mà một trong những căn lầu là tổ ấm của gia đình nhà văn Nhất Linh. Cơm gà Siu Siu thuộc loại cơm bình dân thôi, chỉ gồm có những thố cơm hấp nhỏ nhỏ và đĩa thịt gà luộc, dặm thêm đĩa đồ chua, cũng nhỏ nhỏ, vài đĩa đậu phọng rang ăn chơi, cũng nhỏ nhỏ. Nhưng đó là nơi để lại rất nhiều kỷ niệm đẹp của gia đình chúng tôi, vui buồn gì cũng được xí xóa bằng… cơm gà Siu Siu
Được một bụng no nê rồi, chúng tôi tạm biệt đống thố với đĩa sạch nhẵn chồng chất, chạy ra chui vào cái xe nhỏ xíu của bố, cái xe mà chúng tôi phải lèn cá hộp gần một chục người, mở hết kính xuống vẫn còn phải thở phì phò như những con gà Mỹ trong chuồng.
Ấy vậy mà chiếc xe tàng cũng lết được tới đường Nguyễn Huệ, thả chúng tôi xuống chợ hoa.
Năm nào thì chợ hoa đường Nguyễn Huệ cũng đông nghẹt, người đi lại “ngắm nhau” nườm nượp. Có năm, chúng tôi còn thấy có bà kia đứng bán tranh Đông Hồ. Thật ra thì không phải là tranh Đông Hồ mà là hàng nhái thôi. Gia đình bà ta yêu tranh Đông Hồ, muốn phổ biến phong tục tốt đẹp chơi tranh dân gian nên họ thuê in mấy mẫu, có lẽ bản chính là gia bảo đem theo khi di cư vào Nam năm 1954.
Tuy bố mẹ chúng tôi nói rằng mầu mực không đúng mầu tranh dân gian, nhưng hai người cứ đứng tần ngần “bước đi không đành,” chắc là hai người nhớ quê hương ngày Tết mất rồi.
Chúng tôi la cà khu chợ hoa mãi cho đến khi cả đám nhóc đòi ngồi bệt xuống cỏ, bố mẹ mới “tỉnh ngộ cơn mê hoa” mà đưa chúng tôi về nhà.
Đi chợ hoa là để ngắm hoa chứ mẹ tôi không mua hoa tại đó, mà dù có muốn mua cũng không thể nhét vào đâu trong cái xe chật cứng của gia đình chúng tôi. Mẹ tôi mua hoa tại chợ Bến Thành, rẻ và thuận tiện chuyên chở.
Vào khoảng từ 23 Tháng Chạp Âm Lịch, mẹ tôi thường ra chợ Bến Thành rất sớm. Mẹ ra “canh hoa đào” nhà vườn Ðà Lạt đem về bán cho dân Sài Gòn chơi hoa ngày Tết. Mầu hoa đào Ðà Lạt không đẹp như bích đào ngoài miền Bắc nhưng nhiều cành có dáng thiên nhiên rất đẹp, không thô.
Nói là “hoa đào,” nhưng nếu không phải tay “chuyên môn” thì sẽ chỉ thấy những bó cành trơ trọi, chẳng có hoa lá gì cả, dựa trong một góc chợ. Mẹ tôi tới sớm mở những bó lấy ra từng cành, nhìn mầm nụ, mầm lộc, thân và chỗ cành đào bị chặt còn mới, cào vào vỏ coi có nhựa hay đã khô quá, vân vân, rồi lựa chừng dăm cành đem về ngâm phía cắt xuống chậu nước ngập chừng một gang tay.
Khoảng 27 Tết, mẹ tôi nhấc mấy cành đào lên ngắm nghía, ước lượng cỡ những chiếc nụ nhú ra, cân nhắc theo thời tiết, rồi đem vào bếp đốt phía gốc, thời gian hoàn toàn ước lượng phù hợp với độ ấm của cành đào mà bàn tay mẹ cảm nhận. Mẹ tôi đốt như thế để nhựa đào chạy ngược lên phía ngọn, thúc cho hoa nở. Do kinh nghiệm của mẹ, hoa đào nhà tôi thường nở đúng vào ngày Tết và cho tới tận Rằm Tháng Giêng, cành đào vẫn còn những mầm lộc xanh tươi mơn mởn.
Đối với tất cả các loại hoa, mẹ đều đặc biệt ưu ái. Mẹ không để bình hoa và cây lá trong phòng tắm. Mẹ chỉ treo tranh phong cảnh trong đó thôi. Đặc biệt với hoa lan, mẹ chỉ chưng ngoài phòng khách và hoa quỳnh thì mẹ không trồng trước nhà vì nó nở về đêm.
Mẹ chúng tôi thường thủ thỉ với chúng tôi về hoa nên dần dà chúng tôi cũng thấm nhuần quan điểm của mẹ. Riết rồi sau này chúng tôi cũng phổ biến quan điểm của mẹ tới bạn bè luôn. Mẹ tôi bảo là hoa đem lại cho cuộc đời rất nhiều ý nghĩa. Ngay từ lúc em bé chào đời, em đã được hưởng mùi hoa thơm mà mọi người mang tới mừng đón em.
Rồi từ đó, hằng năm, mỗi buổi mừng Sinh Nhật của em, phòng tiệc lại tràn ngập hoa tươi trang trí, nếu em sụt sịt ấm đầu, bạn bè thân thuộc của cha mẹ tới thăm cũng đem hoa tới chúc em mau lành. Rồi em lớn lên đi học, đi thi, mỗi dịp lễ lạt là lại có hoa bày biện khắp nhà. Khi em có người yêu, hoa cũng là cầu nối, nói giùm những lời em muốn nói mà không ra lời. Trong thời gian yêu đương, hoa đã giúp hòa giải biết bao nhiêu là giận hờn giữa đôi bạn trẻ. Rồi khi đôi bạn trẻ quyết định cùng nhau đi trọn đường đời, trong ngày cưới, món quà đầu của đôi uyên ương tặng nhau, cũng là một bó hoa tươi, biểu tượng của cuộc tình đầy yêu thương, tràn ngập hạnh phúc.
Trong suốt cuộc sống chung dài đằng đẵng, hoa đã không biết bao nhiêu lần hàn gắn những hiểu lầm, những vô ý, đôi khi có thể làm rung rinh tổ ấm. Hoa đã làm đẹp cuộc đời cho tới khi đôi bạn trở thành có tuổi, thì đó lại là lúc hai mái đầu bạc cùng nhau bưng bình hoa lên chùa cúng Phật, dâng lên Ðức Mẹ, Ðức Chúa, Ðền Thánh, vân vân, tỏ lòng thành kính đối với các đấng thiêng liêng.
Cho đến một ngày trong tương lai khi ra đi vĩnh viễn, thì vòng hoa thơm ngát cũng ấm áp vây quanh người về thiên thu tới tận cuối đường. Hoa không chỉ giúp xây đắp tình cảm trong gia đình, hoa còn làm đẹp đời sống của mọi người trong xã hội. Không thể kể xiết đã có biết bao nhiêu lần trong cuộc đời, bình hoa thay mình nói lên lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời âu yếm trong tình thân quyến, tình bạn, tình lân bang hàng xóm…. Một bình hoa tươi tuy không biết nói, nhưng thật là cảm kích xiết bao qua ý nghĩa thầm kín mà bình hoa mang lại.
Rồi thì những ngày vui tưng bừng, ngày Tết, Lễ Phật Đản Sinh, Lễ Chúa Giáng Sinh, ngày Valentine, Father’s Day, Mother’s Day, ăn mừng tân gia, đón bạn từ xa tới, mừng đoàn tụ gia đình, vân vân, luôn luôn có sự hiện diện của giỏ hoa. Bất cứ cuộc hội hè, đình đám, họp mặt lớn nhỏ nào cũng đều phải trang trí bằng hoa. Người đời thượng cổ, hoặc tại những bộ lạc bán khai nơi rừng sâu núi thẳm, cũng dùng hoa để trang điểm.
Mẹ tôi say sưa tâm tình về hoa, mẹ muốn tất cả những cánh đồng trồng ma túy đều thành cánh đồng hoa bát ngát hương thơm. Nghe mẹ nói về hoa, nhìn ánh mắt mẹ, càng ngày chúng tôi càng gần gũi với tâm hồn nhậy cảm của mẹ, nhìn hoa cũng có cảm giác như hoa đang cười.
Cười lên đi hỡi những bông hoa, cười lên, cười và tỏa hương đi khắp nơi, mang đến cho tất cả mọi người hương thơm bát ngát, cho nhân gian có được những phút giây nhẹ nhàng tươi mát vào những ngày đầu Xuân ăm ắp hương thơm.
(Nguồn: http://khaiphong. net/showthread. php?1414-M%26%237865%3B-t%F4i-v%E0-hoa-%26%23272%3B%26%237895%3B-Ph%26%23432%3B%26%23417%3Bng-Khanh)
Họa sĩ người Việt minh họa truyện tranh của Đức Dalai Lama
Huệ Trần
GNO – Hạt giống từ bi: Những bài học từ cuộc sống và Lời dạy của Đức Dalai Lama (tạm dịch từ “The Seeds of Compassion: Lessons from the Life and Teachings of His Holiness the Dalai Lama”) là quyển sách đầu tiên Đức Dalai Lama viết cho trẻ em – theo tin từ The Buddhist Door. Sách có bản in, bản audio và bản điện tử.
Quyển truyện tranh đặc biệt này hướng đến việc gợi cảm hứng để “các độc giả nhí” chấp nhận tất cả các khía cạnh của con người bằng một trái tim cởi mở. Phần minh họa cho sách do một họa sĩ người Việt Nam, tên là Bảo Lưu, đang sống tại Hoa Kỳ thực hiện.Quyển sách này sẽ được phát hành vào Tháng Ba, 2020.
Nội dung quyển sách dựa trên các sự kiện và những câu chuyện thật từ tuổi trẻ của Đức Dalai Lama; từ lúc ngài còn là cậu bé Lhamo Thondup, sống trong một ngôi làng nhỏ Taktser của Tây Tạng. Đây là những bài học ngài học được từ người mẹ của mình khi còn bé và khi tập sự xuất gia – quá trình trưởng thành và phát triển của một cậu trai tinh nghịch cho đến khi trở thành một vị lãnh đạo tinh thần nổi tiếng thế giới được tôn kính.
Đây là lần đầu tiên Đức Dalai Lama trực tiếp hướng đến đối tượng trẻ em, ngài chia sẻ những bài học quan trọng từ chính tuổi thơ của mình – theo Bookseller.Quyển sách lý giải rằng: Tất cả chúng ta đều có trong mình một tiềm năng – đó là hạt giống yêu thương, từ bi có thể giúp thế giới trở nên tốt đẹp hơn.
Thông qua quyển sách sắp phát hành dành cho đối tượng là trẻ từ 4-8 tuổi này, Đức Dalai Lama mong muốn các độc giả nhỏ tuổi “tham gia và có mặt trong phút giây hiện tại, nhận biết những bài học quan trọng xung quanh mình, giúp trẻ phát triển về mặt tinh thần để trở thành người có lòng yêu thương, từ bi.”
Bằng ngôn ngữ đơn giản, ngài chia sẻ những lời dạy mang tính phổ quát, toàn cầu trong ứng xử và đối đãi với người khác bằng lòng từ bi. Sách được minh họa đẹp mắt với sắc màu tươi vui, sống động – chia sẻ của nhà xuất bản Puffin, người chuyên trích dẫn và viết giới thiệu sách cho Penguin Books.
Quyển sách chính là “thông điệp mạnh mẽ mang sự đồng cảm của mình đến cho thế giới xung quanh.” Kinh nghiệm Đức Dalai Lama chia sẻ là cách ngài mang đến cho trẻ niềm tin rằng “việc xây dựng một thế giới yêu thương, từ bi đã sẵn có bên trong chúng ta.” Đây không phải là vấn đề tôn giáo hay tâm linh mà là điều vô cùng thực tiễn.
“Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, nhưng chúng ta có thể thay đổi tương lai…Và trẻ nhỏ cần có những công cụ cần thiết để kiến tạo một thế giới hạnh phúc, tốt đẹp và từ bi hơn” – Đức Dalai Lama viết trong quyển sách, theo Romper.
(Nguồn: [email protected]; qua: [email protected])
Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh
Một Mình. Như Mơ
“…Bất bị nhân khiên xả
Thử tâm chung bất dao…” (Nguyễn Du)
Mênh mông mặt hồ trắng
Vô vọng sóng
Giấu ai trong nỗi một mình
Ơi ánh trăng câm…
Nhẹ tiếng bóng. Xô tôi
Tiếng lá thở dài tiếng gió
Đêm va vào tối
Những nỗi cô đơn
Chạm nhau. Không lời
Ném xuống
Tia nhìn hoài niệm
Mặt hồ thời gian
Gợn lên tiếng chào
Những vì sao tiền kiếp
Không nguôi lời sáng. Để đêm nay…
Ném xuống
Những hạt lệ
Sóng nụ cười lay động
Tưởng lòng ta xưa
Soi tỏ lại cùng trăng. Niềm yêu dấu cũ…
Ném xuống
Những hạt buồn vỡ tan
Mặt hồ giấc mơ
Lan tỏa những vòng tròn đồng tâm
Thao thức một điểm
Nhịp tim vừa thức
Gọi tên người, Ban Mai tinh sương…
Ô dường như đêm nay
Đâu nói chuyện một mình…
Giấc mơ đóa sen xanh
Nốt nhạc vừa reo bàn tay vừa nắm
Là mùa xuân vừa đặt bước chân
Tung tóe trên đường tia những nắng
Bỏ lại xác ngày hồn đêm ma mị
Tiếng xích buồn.Cười khóc nhân gian
Về lại chiêm bao mùi hương cố lý
Bỏ lại bóng ma cuối cùng trong kẹt cửa
Địa ngục không bao giờ mở nữa
Đường trẻ thơ tập bước tập đi
Chiếc lá non trong ngực vút bay
Từng nhịp đỏ ngất ngây những gió
Phía chân trời đang mọc nghìn tay
Nở bát ngát hào quang tin cậy
Ngày nắng lạ như lần đầu mới thấy
Lá từng đàn reo biếc câu kinh
Gọi rất khẽ mà trong veo tiếng cuội
Bầy cỏ xanh nao nức rủ nhau đi
Lòng đất ấm ngọt bùi bao dong ruổi
Xin về cùng. Và nắm tay nhau
Trái tim non là mầm hoa. Kết trái
Nhịp tâm kinh lồng lộng. Xưa sau
Một chấm vô cùng nở đóa sen xanh
Thấm chút nữa mầu hoa diệu mẫn
Thêm chan hòa cội rễ khai sinh
.2019
(Nguồn: [email protected])
Thơ Nguyễn Minh Phúc
Tạ lỗi với quê
gửi Quảng Ngãi và bạn bè tôi
cớ gì chiều tháng chạp
lại dặn lòng nguôi ngoai
nghe nỗi buồn gió tạt
một trời mù sương bay
mây trôi trời viễn xứ
mà tưởng bóng quê nhà
chậm bước sầu lữ thứ
mới hay biền biệt xa
thôi cũng đành lưu lạc
mấy mươi năm không về
nhớ ai mà muốn khóc
con đò xa bến quê
có đôi lần thầm hỏi
quê đâu nữa mà về
chợt nghe lòng đau nhói
quặn mấy trời sơn khê
mấy mươi năm bụi cát
xóa dần làng quê chưa
sao mỗi lần phiêu bạt
lại khóc thầm trong mưa
cho tôi xin tạ lỗi
với nghìn sau một lần
quê ơi ngày trở lại
chắc cũng là trăm năm…
Chiều cuối năm
chút gió bấc hiu hiu chiều tháng chạp
trôi miên man nỗi nhớ tạt trong hồn
năm tháng đó đau mảnh đời lưu lạc
sao là chiều… sao cứ tím hoàng hôn
đâu cứ phải sông buồn mà sóng vỗ
em đâu chiều mà đã buốt lòng anh
sao phải nhớ một chân trời đổ vỡ
chiều cuối năm mưa tạt mãi không đành
ký ức đã phôi phai dần năm tháng
chợt quay về như chưa đã từng quên
em ở đâu ngút chân trời vỡ rạn
để tôi ngồi gom nỗi nhớ mông mênh
tình yêu cứ muôn đời là dang dở
như hoàng hôn vàng không hết nỗi buồn
trời cuối năm lạc loài trên đỉnh nhớ
tôi một mình ngồi đếm vệt chiều buông…
(Nguồn: sangtao@org)
Thơ Nguyên Dũng
Còn mùa xuân nào?
Mùa xuân hoa Tulip
Nở giữa công trường xưa
Phía trên thành quách cổ
Chim bồ câu bay qua
Mùa xuân không yên vui
Ngồi im. Không tiếng cười
Lặng câm. Không tiếng nói
Còn mong ai, trông ai
Mùa xuân sao quanh đây
Ngày như sao quá dài
Đời như đang hấp hối
Còn mong ai qua đây
Mùa xuân ai vui tươi
Còn ai đang biếng lười
Hồn ai đang chết đuối
Lòng ai chưa nguôi ngoai
Mùa xuân hoa Tulip
Nở đỏ công trường xưa
Nhưng lòng ai hoang phế
Trắng một màu tang ma!
Y bây giờ có lẽ
Ngồi đó nhìn cuộc đời
Không đọc kinh sám hối
Không cần nhập cuộc chơi
Mùa xuân không thấy tới
Ngày tháng sống buông trôi
Một người còn ngồi đợi
Mùa xuân nào xa xôi!
Florence 1974.
(Nguồn: Don Nguyen; [email protected])
Thơ Song Anh
Tết đến làm chi
Tết đến rồi sao không nghe tiếng pháo
Mà đì đùng Đồng Tâm vang tiếng súng
45 năm sau chiêu bài đánh Mỹ cứu nước
Tang thương vẫn gọi tên người dân vô tội
Tết năm ngoái vườn rau Lộc Hưng đổ nát
Tết năm nay tai ương đổ xuống Đồng Tâm
Đi cướp đất mà làm như đánh giặc ngoại xâm
Bao vây, nổ súng, già trẻ giết không tha
Tết đến rồi sao đầy trời dậy tiếng oán than
Ông trời ơi! ác chi ác dữ ác dằn
45 năm sau cái gọi mùa xuân đại thắng
Xuân về. Máu vẫn rơi vẫn đổ trên đất Việt
Tết đến rồi sao đất bằng dậy sóng
Ông trời ơi! có mắt để làm chi
Sao không sai thiên lôi đánh chết hết cho rồi
Bọn bán nước coi dân như kẻ thù truyền kiếp
Tết đến làm chi. Đồng Tâm trắng một màu tang
Tết đến làm chi. Đồng Tâm oán khí ngút trời
(Nguồn: sangtao@org)
Thơ Trần Vấn Lệ
Để Có Một Bài Thơ
Tin thời tiết rất tốt, trời bắt đầu ấm dần,
ít ra là một tuần. Mong là điều có thật!
Hôm nay ngày thứ nhất của hai tuần cuối năm.
Thời tiết và thời gian, hút chưa tàn điếu thuốc!
Có bao giờ quay ngược kim đồng hồ lại không…
cho ai nhớ mùa Đông ngó ra đồng sương trắng…
…tan dần dần bởi nắng hay vẫn mờ chân mây,
có thể thấy chim bay, có thể không gì cả?
Khổ trên lưng của Mạ, nhọc trong lòng của Ba,
những đứa con đi xa… và hoa tàn trước ngõ!
Ôi ngôi nhà xưa nhớ, hai tuần nữa Tết về.
Tôi tỉnh hay tôi mê? Hoa đào trên nón lá…
…và áo dài màu mạ phất phơ gió nồm nam.
Tôi nghĩ tới dung nhan, tới bài thơ Thôi Hộ…
***
“Tin Thời Tiết” tôi mở đầu bài cho có thơ
biết chớ sông núi mờ tuổi mình đâu trẻ nữa!
Tuổi Xuân tàn trong lửa. Mộng Xuân tàn trong tro.
Tôi làm vạn bài thơ chỉ là giọt nước mắt…
Mộ Tổ Tiên giỗ Chạp, bốn lăm năm chưa về.
Tôi mở từng phong bì nhìn sâu mình trong đó!
(Nguồn: [email protected])
Suy nghĩ cuối năm: ‘Cùng nhau xuống biển mò cua…’
Khánh Vân
Những suy nghĩ này khởi lên từ những ngày đầu sống trên đất Mỹ, cũng đã lâu. Có những thay đổi chi tiết trong cuộc sống hiện tại. Nhưng đặc tính căn bản thì vẫn thế. (KV: Những ngày giáp Tết Canh Tý 2020)
Một người bạn muốn dịch thành ngữ “tình nghĩa vợ chồng” từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Sau nhiều ngày tham khảo sách vở, từ điển và tìm hỏi nhiều người, ông đã thất vọng. Không có một từ ngữ nào trong tiếng Anh có thể dùng để diễn tả trọn vẹn ý nghĩa hàm chứa trong từ ngữ này. Hai nền văn hóa. Hai cuộc sống ở hai nơi có quá nhiều dị biệt và đã ảnh hưởng tới ngôn ngữ.
Đời sống rất thực tế ở xứ Mỹ đã đưa người ta,những người bình thường làm ăn lương thiện, đến chỗ làm gì cũng phải tính toán, từ đó phải ngân sách hóa gia đình. Tiền chợ, tiền nhà, tiền ăn, tiền bảo hiểm sức khỏe, tiền thuốc men, xe hơi, ngay cả bảo hiểm nhân mạng để ít ra có đủ tiền chôn cất hay hỏa thiêu mình sau này, chưa kể tới tiền xăng nhớt và bảo trì xe cộ, tiền học hành và sách vở cho con cái, tiền thù tạc bạn bè, tiền đóng góp cho xã hội, tiền đóng thuế cuối năm… làm gì cũng phải tính. Từ đó lấy vợ lấy chồng cũng phải tính luôn.
Bà góa phụ của một tổng thống nổi tiếng của Hoa Kỳ khi đi thêm một bước nữa, kết hôn với một nhà tỷ phú, bình thường có gì phải tính. Nhưng bà đã tính. Bà đã ký khế ước trước khi ký hôn thú. Bà muốn chắc chắn được chia bao nhiêu triệu Mỹ kim nếu sau này có chuyện ly dị hay khi ông tỷ phú qua đời. Cũng vậy, một cô đào nổi tiếng khi lấy chồng lần thứ tám cũng ký giấy hạn chế số tiền người chồng thứ tám của cô sẽ được lãnh nếu cô chết hay khi hai người bỏ nhau.
Cuộc sống ở nước Mỹ cũng đã ảnh hưởng sâu đậm tới người Việt, đặc biệt là những người“di tản buồn.” Thời của “một túp lều tranh hai trái tim vàng” đã lùi vào dĩ vãng. Khi tính chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái người ta đã tính đủ thứ và tính luôn cả số tiền lời, lỗ khi làm đám cưới. Sự tính toán này đã ảnh hưởng không nhỏ tới bạn bè thân thuộc được mời tới dự. Nhiều người đã tâm sự là được mời tham dự một đám cưới là nửa mừng, nửa lo. Mừng là thấy một gia đình mới sắp được thành hình, mừng cho hai người nam nữ đã tìm được nhau để chia sẻ những ngày ấm áp, đẹp đẽ của cuộc đời và gây dựng một tương lai cho thế hệ tới. Nhưng lo vì phải thu xếp tiền mừng, đồ mừng sao cho coi được và tránh làm cho người mời mình phải thất vọng đồng thời ngân sách gia đình không bị hao hụt. Đi đúng tiêu chuẩn theo bà con, bạn bè nói và mỗi tháng mà có ba hay bốn đám cưới là tháng đó có ba bốn nỗi mừng và ba bốn nỗi lo, đặc biệt là nhiều người Việt có tệ tính là hay nói phóng đại để ra điều mình rộng rãi hào phóng trong việc tiêu xài. Mỗi lần “đi” theo nhiều người ít nhất cũng phải 200 đô trong khi đương sự mỗi tháng mang về nhà khoảng 1,000 đô và một tháng có hai hay ba đám cưới, đám tiệc tùng, ra mắt sách, v.v… thì lấy đâu tiền trả tiền nhà, tiền xe, tiền chợ? Về phía gia đình có đám cưới, cả hai nhà trai nhà gái đều có những cái kẹt riêng. Kẹt vì nếu không mời nhiều người thì bị coi là so xúi, không kính trọng quý mến bạn bè, thân thuộc. Còn nếu mời nhiều người và mời hết mọi người thì cũng làm cho nhiều người bị kẹt. Đúng là ma chê cưới trách. In thiệp mời cũng là một việc nhức đầu khác. Thiệp mời thì phải được in ở những nhà in nổi tiếng thì mới đúng “mode” đúng trào lưu. Hình thức bề ngoài đôi khi đã trở thành nặng nề, kiểu cách và từ đó phô diễn. Quan trọng và phiền toái như vậy nhưng thực chất của hôn nhân người Việt trên đất Mỹ có luôn đẹp như mọi người mong mỏi không lại là một chuyện khác.
Hồi ở Việt Nam các cụ thường ngâm nga nhắn nhủ con cháu:
Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay, muối mặn xin đừng phụ nhau
Ý các cụ là khi đã lấy vợ, lấy chồng là coi như gắn bó đời mình với đời người bạn đường, là phải ở với nhau suốt đời, bất luận xấu tốt. Các cụ, nhất là các cụ bà. Phần vì quan niệm trọng nam khinh nữ, phần vì về phương diện kinh tế các cụ bà ngày xưa rất có ít khả năng tự túc, do đó trong cuộc sống vợ chồng nhiều trường hợp bị thiệt thòi đè nén các cụ vẫn phải cắn răng ở lại nhà chồng. Thêm vào đó, hệ chế ràng buộc của cơ cấu xã hội đã khiến cho người ta phải ở lại với nhau, phải dẹp bỏ mâu thuẫn vì danh dự, vì tương lai của chính mình và của con cái… Vì thế nên khi một cô gái lên xe hoa là kể như “em đã thuộc về nhà người ta rồi!” như “ván đã đóng thuyền rồi.” Họa chăng chỉ còn nghe những lời ngậm ngùi, than thở “Sao anh không hỏi những ngày (em) còn không? vì “bây giờ em đã có chồng, như chim vào lồng như cá cắn câu” và “cá cắn câu biết đâu mà gỡ, chim vào lồng biết thuở nào ra?”
Ở nước Mỹ mọi chuyện khác hẳn.Cơ cấu kinh tế và xã hội của người Mỹ đã làm thay đổi phần lớn nền tảng gia đình của người Việt. Phụ nữ được bảo vệ nhiều hơn, đặc biệt là được hệ thống an ninh xã hội (social security) bảo đảm. Các ông không còn là cột trụ duy nhất của gia đình nữa. Các bà, các cô phần lớn đều là “bread winner” của gia đình bên cạnh các ông chồng. Những sự kiện này đã là tác tố quan trọng làm lung lay những giá trị cổ truyền của gia đình Việt Nam bất kể những nghi thức rườm rà, lôi thôi của hôn lễ, cũng như sự chứng kiến đông đảo của quan viên hai họ và của bạn bè. Có những đám cưới thật linh đình; nhà trai, nhà gái đãi khách cả hai ba ngày mà cô dâu chú rể chỉ ở với nhau được vài ba tháng. Tệ hơn nữa có đám cưới quan khách ở lại chơi thêm vài ngày, vừa bay về đến nhà đã được tin hai trẻ không ở với nhau nữa! Và còn nhiều nữa…
Cuộc sống ở nước Mỹ quá máy móc. Bình thường con người đã bị lôi cuốn theo nhịp sống vội vàng gấp gáp, nhiều khi không còn thì giờ để suy nghĩ và nhất là để nhớ những gì gọi là tình nghĩa, chưa kể tới những yếu tố xã hội và kinh tế. Người ta khó mà có được thì giờ để nhớ lại những ân tình của nhau và thâm cảm được những thời gian cùng nhau đi một đoạn đường dù là ngắn ngủi.
Người viết xin chép lại cả bốn câu ca dao liên hệ để xin ngưng bút:
Cùng nhau xuống biển mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng,
Non xanh nước bạc xin đừng bỏ nhau
(Nguồn: http://www.buctranhvancau.com/new-blog/2020/1/9/suy-nghi-cui-nm-cung-nhau-xung-bin-mo-cua-khanh-vn, qua [email protected])
Cái giá của một nụ cười
Sưu Tầm
Có một câu chuyện kể về người phi công Saint Éxupery (1) khi ông tham gia chống phát xít trong Chiến Tranh Thế Giới II. Ông đã viết ra tác phẩm “Nụ cười.” Trong truyện, Saint Éxupery là một tù binh bị đối xử khắc nghiệt và ông biết nay mai sẽ bị xử bắn như nhiều người khác. Ông viết:
“Tôi trở nên quẫn trí, bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm. Qua chấn song nhà giam, tôi trông thấy một người cai tù. Tôi gọi: ‘Xin lỗi, anh có lửa không?’ Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu tại sao lại thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ nở một nụ cười.
“Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy ngang qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta cũng phải mỉm cười đáp lại. Anh bật que diêm đến gần tôi hơn và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là một viên cai tù phát xít mà chỉ là một con người bình thường.
“Anh ta hỏi tôi: ‘Anh đã có con chưa?’ Tôi đáp có và lôi từ trong ví ra tấm ảnh gia đình mình. Anh cũng vội rút từ túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhòa lệ. Tôi biết mình sắp chết và chẳng bao giờ gặp lại những người thân. Anh cũng bật khóc. Đột nhiên không nói lời nào, anh ấy mở khóa và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Và thế là, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười.
(*) Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mở đầu bằng câu: “Antoine Marie Jean-Baptiste Roger de Saint-Exupéry, thường được biết tới với tên Antoine de Saint-Exupéry hay gọi tắt là Saint-Ex (sinh ngày 29 tháng 6 năm 1900 – mất tích ngày 31 tháng 7 năm 1944) là một nhà văn và phi công Pháp nổi tiếng. Saint-Exupéry được biết tới nhiều nhất với kiệt tác văn học Hoàng Tử Bé (Le Petit Prince).”
(Nguồn: mynga b, [email protected]; [email protected])
[jwplayer oDRfbedJ]



































































































