Kỷ niệm
BS Nguyễn-Đan-Quế (Chủ tịch Cao Trào Nhân Bản)
Thân chúc các anh chị một năm Canh Tý an bình, hạnh phúc, thân tâm an lạc. Xin gửi quý anh chị một bài viết mới của BS Nguyễn Đan Quế… (Nguyễn Quốc Quân)
Đàn áp Đồng Tâm xảy ra 9 Tháng Giêng, 2020, làm xôn xao trong ngoài nước. Nhiều người thấy Đồng Tâm rất giống với (cuộc) nổi dậy ở Thái Bình 23 năm trước. Đều do CS “nòi” chống đối. Người cầm đầu vụ Thái Bình nằm biệt giam cùng với tôi ở Thanh Hóa.
Đồng Tâm khiến kỷ niệm xưa trở lại.
Chuyển từ Saigon ra. Vừa đến, đụng ngay một không gian lạnh lẽo, vắng lặng, âm u của núi rừng miền Trung. Vùng này nguyên là nơi các nghĩa sĩ Lam Sơn tụ họp theo Lê Lợi-Nguyễn Trãi đánh đuổi quân xâm lăng nhà Minh phương Bắc, lập nên nhà Tiền Lê, kéo dài 100 năm khoảng từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 16.
Tống vào phòng nhỏ, thấy lờ mờ một ông dáng người cao mảnh khảnh, ngồi tỉnh bơ, không thèm để ý đến ai. Tôi hơi lấy làm lạ. Tôi tù mới đã đành, nhưng với mấy quản giáo “tiên ông” cũng không coi có kí lô nào. Trại tù này vẫn nổi danh hắc ám, khét tiếng khắt khe tàn ác, ngay tù hình sự cũng phải chờn. Quản giáo chửi đổng, khóa cửa đi.
Tôi bước tới tự giới thiệu mới từ Saigon ra. Anh đứng dậy bắt tay. Bây giờ anh là một người khác. Chất phác, vui vẻ, rõ ràng gốc nông dân. Hỏi ra mới ngoài 50, thua tôi gần một giáp. Anh kể ngay, mới vài giờ trước, bất ngờ thấy một thằng quản giáo “miệng còn hơi sữa” tát một cụ già, bắt phải gọi cán bộ là ông và phải xưng là con. Anh tức quá mắng quản giáo là thằng ranh con. Bị tống ngay vào biệt giam kỷ luật chờ xử lý, thì tôi vào.
Thế hóa ra đây là biệt giam kỷ luật ? Anh lấy tay vẽ xuống đất. Lúc đó mới thấy hệ thống nhà giam này là ghê gớm: Gồm nhiều trại ở cách nhau cả chục cây số, kéo dài sang tới biên giới Lào.
Trại chúng tôi số 5, thuộc huyện Yên Định-tỉnh Thanh Hóa, giấu trong nông trường Thống Nhất, nằm giữa rừng núi ma thiêng nước độc. Trại có nhiều khu. Mỗi khu có nhiều phòng tù hình sự. Giam cả tù nữ nữa. Dẫy nhà hai chúng tôi đang ngồi là biệt giam kỷ luật, mặc dầu tôi mới vô và anh cũng chưa bị xử lý
Theo anh, ở kỷ luật vậy mà đỡ.
Phòng hình sự đông cả trăm người. Rất phức tạp, thiếu nước sinh hoạt, khổ lắm. Các phe đảng tranh chấp từ ngoài đời, tiếp tục trong tù, nổi tiếng nhất là băng Hải Phòng và Hà Nội. Trận chiến hiện nghiêng về mafia Hải Phòng. Cán bộ cũng không trị được.
Tôi lại có dịp tìm hiểu thêm các băng đảng xứ Bắc Hà. Nhiều huyền thoại, nghe giật gân, bán cho Hollywood quay thành phim được.
Anh là người tỉnh Thái Bình, cầm đầu vụ nông dân nổi dậy năm 1997, nhiều hãng thông tấn ngoại quốc đã tường thuật ầm ĩ. Cầm đầu sách động cả mấy trăm nông dân nổi loạn, tấn công Ủy Ban Nhân Dân huyện, bị kết án nặng, tước đảng tịch, cách chức, mất hết quyền lợi hưu bổng…
Vụ nổi dậy do đảng viên nòng cốt chủ xướng khiến Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản lo sợ. Phải cấp tốc cử ngay một phái đoàn về giải quyết, vì Thái Bình là cái nôi của cách mạng. Thay toàn bộ đảng ủy ngay.
Chúng tôi nhanh chóng thân nhau. Anh biết nhiều chuyện Tàu đêm nào cũng kể từ Tây Du Ký, Tam Quốc Chí đến Đông Châu Liệt Quốc, Chiến Quốc Sách, Khổng Tử, LãoTử, Hàn Phi Tử, Tuân Tử, Tôn Tử, Trương Nghi, Tần Thủy Hoàng, Hán Cao Tổ… Anh có trí nhớ khá tốt.
Tôi mường tượng ra ở miền quê, mùa gặt, sáng trăng mà “ông” này ngồi kể chuyện Tàu thì có hàng trăm dân làng bu quanh nghe, hẳn khoái chí lắm. Anh có biệt tài kể chuyện rất hấp dẫn, các trận đánh được vẽ ra trước mắt, với nhiều chấm phá lý thú…
Ngoài ra, đánh cờ tướng rất giỏi. Tôi biết ngay là cao thủ, xin thọ giáo liền. Chỉ dẫn, phân tích, cách phá, cách tấn công rất ác liệt.
Nhà anh gửi trà búp Thái Nguyên, đặc biệt thơm ngon. Có hai người nên chúng tôi ăn chung cho vui. Từ ngày vào tù, anh gần như tịnh khẩu, ít nói. Bây giờ gặp tôi, vui hơn, nói như khiếu. Thỉnh thoảng lại còn ngâm nga Kiều. Tôi nhớ đoạn nào là anh học thuộc lòng ngay đoạn ấy.
Thường ngày, điểm danh chiều xong, khóa cửa. Thời gian này an toàn nhất để anh hỏi tôi về Cao Trào Nhân Bản, nhất là chữ Nhân Bản thật sự rõ nét nghĩa là gì? Tại sao gọi là cao trào mà không dùng chữ phong trào?
Có trình độ lý luận cao, quen tranh luận, nên trình bày vấn đề rất rành rẽ, đâu ra đấy. Tôi nói đến nhiều điểm mới làm anh suy nghĩ, thậm chí sau còn hỏi để bàn lại.
Là người thông minh và biết nhiều, tôi trình bày anh nắm ngay, kể cả những kiến thức khoa học về đại vũ trụ và con người, mà theo anh rất mới và lạ nữa, chưa từng nghe ai nói bao giờ. Trong tù nhiều ngày giờ tôi rỉ rả nằm kể anh nghe:
Đại vũ trụ hình thành cách đây khoảng 14.7 tỉ năm từ vụ nổ lớn Big Bang của khối năng lượng cực lớn “ém” chặt trong một điểm cực nhỏ. Vũ trụ vẫn còn đang giãn nở, với hàng tỉ tỉ thiên hà giống như giải ngân hà của chúng ta. Mỗi thiên hà lại có cả tỉ ngôi sao giống như Mặt Trời.
Mặt Trời và các hành tinh có khoảng bốn tỉ năm nay. Một tỉ năm sau mới xuất hiện các vi sinh vật. Và con người mới chỉ có cách đây khoảng hai đến ba trăm ngàn năm.
Xưa kia biết rất ít về con người và thiên nhiên. Bước tiến lớn về khoa học kỹ thuật chỉ bắt đầu trong vòng một thế kỷ nay. Toàn thể vũ trụ đều động, không có bất cứ gì là tĩnh cả. Đại vũ trụ (thiên nhiên) cũng như tiểu vũ trụ (con người) ở trong một thể thống nhất.
Vật chất ở đâu làm không gian chỗ đó “lồi” lên (hoặc là “lõm” xuống), nhiều ít tùy khối lượng lớn nhỏ. Thời gian “co” lại hoặc “giãn” ra tùy vận tốc chuyển động nhanh chậm của khối lượng vật chất đó.
Đến đầu thế kỷ XX, theo Einstein: thời gian và không gian có tương quan với nhau.
Để dễ hình dung, tôi đưa ra thí dụ: Đầu sân cuối sân dài 20 m hay 2000 cm.
Một bước chân tôi 40 cm, đi mất 50 giây. Một bước chân của anh dài hơn những 50 cm thì chỉ mất 40 giây. Vậy vận tốc càng nhanh thì thời gian càng ngắn lại. Đây chính là thuyết liên không – thời của Einstein. Einstein đã nói: trong quá khứ, các nhà khoa học nghĩ rằng không gian và thời gian riêng rẽ, không dính gì với nhau; nhưng đúng ra chúng là hai mặt của cùng một thực tại.
Bàn về tinh thần và vật chất có liên quan với nhau, hỗ tương tác động, cái nọ có thể hoán chuyển qua cái kia, tôi dẫn giải cho anh nghe:
Cả vũ trụ do vụ nổ Big Bang mà ra. Vậy toàn thể vũ trụ là ánh sáng, là năng lượng, là vũ trụ năng. Vũ trụ có hai đại lượng không gian và thời gian. Vậy thời gian và không gian cũng đều có gốc gác từ vũ trụ năng mà ra.
Con người cũng từ vũ trụ năng Big Bang mà có. Con người có hai mặt tinh thần và vật chất. Vậy vật chất và tinh thần là hai mặt của sinh năng (năng lượng của sự sống), và sinh năng là một phần của vũ trụ năng. Hay nói một cách khác: tinh thần và vật chất là hai dạng thể hiện ra của sinh năng.
Liệu có chứng cứ khoa học cho thấy ánh sáng (photon) có những hoạt động của tinh thần không?
Các nhà bác học cho phóng một dòng photon nối đuôi nhau đến một tấm màn trên có rạch 2 vạch song song gần nhau A và B:
-Khi B được bịt kín. Tất cả photon đều đi qua A.
-Khi B được mở ra. Hiện tượng lạ: Một số photon đi qua A. Nhưng lại có một số khác lại đi qua vạch B vừa mở; làm sao photon biết vạch B mở để đi qua?; Vậy có phải là photon có nhận biết, để quyết định qua A hay qua B. Nhận biết và quyết định rõ ràng là hoạt động thuộc phạm vi của tinh thần. Chúng ta hãy nghe nhà vật lý David Bohm nhận xét: Dường như vật chất là ánh sáng được cô đặc lại và di chuyển dưới vận tốc ánh sáng. Đồng thới ánh sáng có khả năng nhận biết thông tin và lấy quyết định cần có. Như thế ánh sáng vừa cho ra vật chất và vừa có những hoạt động của tinh thần với vận tốc nhanh hơn vận tốc của ánh sáng (300,000 km/giây).
Thực tế đời sống hàng ngày, chúng ta có thể cảm nhận được mối liên hệ khắng khít giữa tinh thần và thể xác, thật thế: Một tù nhân yếu sắp chết. Có lệnh tha, anh ta có thể đứng dậy, thậm chí chạy ra cổng. Tin vui là tinh thần, qua sinh năng, sang phía vật chất khiến anh ta đột nhiên có sức mạnh ghê gớm.
Sáng dậy đói, uể oải không nghĩ gì được. Ăn bát phở, tinh thần sảng khoái, suy nghĩ gì cũng minh mẫn, thậm chí sáng tác được. Rõ ràng phở (vật chất) biến thành tinh thần.
Nghĩa là, nơi con người (tiểu vũ trụ) vật chất và tinh thần có liên quan với nhau qua sinh năng hay chúng ta có thể gọi là liên tinh thần – vật chất, giống như liên không – thời trong đại vũ trụ vậy.
Cơ thể chúng ta hoạt động trong không gian 3 chiều (dài, rộng, và cao). Còn tinh thần hoạt động theo thời gian (quá khứ, hiện tại, tương lai…). Thời gian thường được coi là chiều thứ 4 của vũ trụ.
Vỗ đùi đánh đét một cái thích chí anh kêu lên: “Vậy chủ nghĩa duy vật hỏng rồi. Không phải vật chất ‘đẻ’ ra tinh thần như Mác tưởng. Mà tinh thần và vật chất phải nói là hai mặt của sinh năng mới đúng.”
Theo anh “cái này” mới bác bỏ được chủ nghĩa Mác, rồi lẩm bẩm “hồi còn cầm quân mà có võ khí Nhân Bản này thì chúng nó ‘chết’ ngay.” Tôi hỏi đùa:
– Liệu có “sát” không?
-Không đâu. Chinh phục hàng triệu con tim hàng triệu khối óc mới là chiến lược chứ, mới thực là vương đạo chứ.
Vốn là cán bộ chính trị, từ bé đến lớn chỉ có học và nghiên cứu chủ nghĩa Mác, anh thú nhận những điều tôi trình bầy làm anh phải “lao động trí óc” nhiều, nhiều lắm. Có một cái gì đang lóe lên phá tung cái gọi là “chân lý” mà người ta đã nhồi nhét vào đầu anh liên tục ròng rã cả mấy chục năm nay.
Anh trầm ngâm một lúc mới “phán” tiếp:
-Thế thì làm gì có mâu thuẫn ý thức hệ. Vậy mà anh em một nhà choảng nhau chết bao nhiêu người. Cộng Sản, Tư Bản gì rồi cũng phải tự chuyển mình theo những hiểu biết khoa học mới về con người.
Tôi bảo đó chính là ý nghĩa sâu xa của Nhân Bản mà anh hỏi; và Nhân Bản phát triển thành cao trào là đương nhiên vì là bản chất thực của nhân loại.
Rất nhanh gần như tức khắc, anh ngồi bật dậy bắt tay tôi thật chặt, mắt sáng lên, giọng sang sảng: “Chúng ta phải khai mở ngay vận hội mới cho dân tộc.”
Canh khuya, giữa sơn lam chướng khí mà tràn hào khí Lam Sơn!
Hồn thiêng sông núi là đây.
Xuân Canh Tý, 2020.
(Nguồn: Quan Nguyen; [email protected]; qua [email protected])
Những bệnh… vô duyên!
BS Ðỗ Hồng Ngọc
Tuy già không phải là một bệnh nhưng già thì thường có bệnh. Bệnh thì có bệnh nặng, bệnh nhẹ, bệnh có duyên và bệnh… vô duyên.
Ai cũng biết thầy thuốc là người được học hành cẩn thận để giúp ta chữa trị bệnh tật, vậy mà thầy thuốc cũng có thể gây bệnh cho ta, dù là ngoài ý muốn, cái đó gọi là bệnh do thầy thuốc gây ra (iatrogenic) mà theo GS Phạm Khuê, một chuyên gia về Lão khoa, chủ tịch Hội Người Cao Tuổi Việt Nam thì có đến hơn một phần tư các bệnh ở người già là do thầy thuốc gây ra! (Bệnh Học Tuổi Già, Phạm Khuê, NXBY Học, 1998, trang 364)
Những bệnh… vô duyên còn có thể do chính bản thân mình, người thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, hoặc các nhân viên tâm lý xã hội gây ra nữa! Bà cô của một bác sĩ bạn tôi trên 80 tuổi kêu lúc nào trong người cũng nóng bức, miệng khô nên đã mua rễ tranh, mía lau, mã đề ngoài chợ về nấu “nước mát” uống. Mát đâu không thấy, thấy đi tiểu liên tục gây thêm tình trạng mất nước trong cơ thể, lại thấy nóng bức, thấy khô miệng, lại uống thêm “nước mát”! Thì ra “rễ tranh, mía lau, mã đề” là những loại thuốc lợi tiểu (diuretics).
Một ông bác gầy còm nghe hàng xóm bày vẽ có loại tễ mập, bèn mua uống mấy cây. Mập thiệt! Nhưng người béo bệu, cơ thể bạc nhược! Thì ra, thuốc tễ đó chỉ là bột mì trộn với mật ong và Corticoid, một thứ thuốc uống vào lâu ngày gây hội chứng Cushing, ứ nước, làm mập bệu và gây ra vô số những tác dụng tai hại khác như giảm sức đề kháng, mọc lông, loãng xương, loét bao tử, cao huyết áp…
Ta cũng biết thuốc chữa đau khớp có thể gây loét dạ dày; thuốc điều trị cao huyết áp có thể gây hạ huyết áp đột ngột; thuốc trị tiểu đường làm hạ đường huyết; thuốc uống cho đỡ bị đái són ở người già thì gây khô miệng, đỏ da, mờ mắt, chóng mặt…
Một đặc điểm sinh học của người cao tuổi là khả năng thích ứng dần kém đi. Hấp thu thuốc đã chậm mà đào thải cũng chậm. Tác dụng phụ của thuốc lại thiên hình vạn trạng, tùy từng người, từng lúc, có thuốc người này dùng thì tốt mà bày cho người khác không xong, uống vào bị phản ứng ngay.
Cho nên dùng thuốc ở người già phải dò dẫm trên từng trường hợp, giảm liều, giảm lượng, đắn đo tính toán trước sau, nào bệnh trước mắt, nào bệnh tiềm tàng; thuốc chữa được bệnh này nhưng có gây ra bệnh khác không, có làm bộc phát một bệnh cũ nào đó không, người bệnh ăn uống ra sao, tiêu tiểu ra sao và trạng thái tâm thần ra sao?
Người cao tuổi cũng thường hay tự ý gia giảm thuốc, tin lời bày vẽ, ai mách gì cũng nghe, gây tương tác thuốc lung tung rất dễ sinh ra nhiều bệnh… vô duyên đáng tiếc.
Ngày càng có nhiều máy móc xét nghiệm và một số người cao tuổi cũng thường muốn được xét nghiệm này nọ.
Báo Paris Match của Pháp có đăng trường hợp một bà già bị rối loạn tiêu hóa đến khám ở một bác sĩ. Bác sĩ thấy không có gì nặng nhưng cũng gởi cụ làm thêm vài xét nghiệm cho chắc. Sau đó, bà cụ được tiếp tục làm thêm hàng loạt các xét nghiệm khác ngày càng phức tạp hơn vì xét nghiệm đơn giản không tìm ra bệnh: Siêu âm, nội soi, sinh thiết, chụp cắt lớp, chụp cản quang mạc treo…
Sau hơn một tháng chuyển từ trung tâm này đến bệnh viện kia, nằm đợi trên những băng ca lạnh lẽo, đẩy từ hành lang này sang hành lang khác, tiếp xúc với những người mang khẩu trang chỉ chừa đôi mắt lạnh lùng, bà cụ rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý trầm trọng và tiêu tốn mất 35 ngàn quan Pháp.
Cuối cùng các bác sĩ hội chẩn kết luận không có bệnh gì cả! Tây gọi những người sính xét nghiệm là “examinite.”
Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới (WHO) cũng cảnh báo hiện tượng over-investigation, “thăm dò quá mức cần thiết” này (Health of the Elderly, WHO, 1989). Một số người cao tuổi được chăm sóc bảo bọc quá đáng, được làm xét nghiệm thăm dò, theo dõi liên tục làm cho người bệnh muốn… hết bệnh cũng không được; không kể trong quá trình thăm dò, chọc hút, bơm tiêm, thụt tháo… không phải là không có nguy cơ.
Dĩ nhiên nếu có bệnh thì cần phải làm để có chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả. Còn thăm dò chỉ để… thăm dò thì không nên. Các chuyên gia khuyên chỉ nên làm xét nghiệm cho người già khi nhằm để chẩn đoán một thứ bệnh có thể chữa được, có thể phục hồi được, có lợi cho người bệnh hoặc để chẩn đoán phân biệt tìm ra một bệnh có tiên lượng tốt hơn, điều trị có kết quả hơn, có lợi cho bệnh nhân và gia đình hơn mà thôi. Tóm lại, biết ơn mình thì cần thiết lắm mới phải làm xét nghiệm và phải có chỉ định của bác sĩ.
Thế nhưng có thứ không phải là thuốc, không phải là thủ thuật gì cả mà vẫn có thể gây ra những bệnh vô duyên: đó là lời nói!
Có những lời nói gây hoang mang, lo lắng, làm mất ăn mất ngủ, gây kiêng cữ quá đáng làm cho tình trạng bệnh khó phục hồi hơn. Cái đó gọi là sự “dán nhãn” (labelling). Chẳng hạn như người không có chuyên môn, không đủ cơ sở khoa học chắc chắn mà “phán” cho một cái chẩn đoán kiểu như “nghi ung thư,” “hơi bị lớn tim,” hoặc một từ mơ hồ như “máu lộn mỡ, gan hơi nhiễm mỡ, viêm nhiễm phần phụ, rối loạn thần kinh thực vật”… hoặc “bị thư phù, bị người cõi trên nhập…” đều đem lại những kết quả tai hại không thể ngờ được!
Ngay cả bị dán nhãn là già cả, già nua, già yếu, mất sức rồi bị ép phải nằm yên một chỗ, lúc nào cũng có người nâng đỡ chăm sóc thì sẽ ngày càng lệ thuộc, ngày càng suy nhược, mau loãng xương, bắp cơ thoái hóa, cứng khớp nhanh.
Ðáng sợ hơn cả là bị ép phải vào nằm viện, nằm nhà thương, nhà dưỡng lão, nhà nghỉ mất sức… khi vẫn còn có thể tự quản được. Thật ra đây chỉ là giải pháp cuối cùng vì một khi đã vào các cơ sở này rồi thì không hy vọng gì trở lại đời sống bình thường được nữa vì càng ngày càng thụ động, ỷ lại, lệ thuộc, suy sụp.
Các cơ sở chăm sóc cho người già thực ra rất cần thiết, miễn là phải giữ một số nguyên tắc như đảm bảo sự riêng tư, tôn trọng cá nhân, giúp tự chủ, tự quản, và tạo nhiều cơ hội cho họ tham gia sinh hoạt phù hợp với sở thích và sức khỏe.
Tóm lại, không nên để người cao tuổi mắc thêm những bệnh… vô duyên!
(Nguồn: Tim Lee: [email protected])
Thơ Hoa Nguyên
Đầu năm
Mở nụ cười đầu năm
Một hoa mai nở sớm
Một bầu trời thăm thăm
Lời đầu tiên chim hót
Có loài ong tích mật
Thất tình nhụy phấn hoa
Qua màn sương trời đất
Rớt chút tình giao ca
Nụ cười như tiếng khóc
giữa lòng nghe tê tái
Quê hương ngày đầu tiên
Từ bông mai rạng sớm
Lời đầu năm muốn nói
Như thể đã ngại ngùng
Mùa xuân đâu chờ đợi
Hiển linh từ mông lung
Bên trời là vô biên
Những âm u buông mỏi
Những mất mát hoa niên
Thời gian đâu ai đợi
Lời đầu năm em hát
Như từ thời lưu vong
Bầu trời xanh bát ngát
Giữ hững hờ thôn lân
Tiếng hát nào tự do
Trong áo mới thơm tho
Có trong làn hơi thở
Thuở áo ấm cơm no
Lời hát mãi thiết tha
Tự tình vào bao la
Không khí ta ná thở
Cớ sao đành hỡi hoa!
Mùa xuân như tình phụ
Thăm thẳm cánh chim buồn
Từ lâu loài hoang thú
Biết tự do trong chuồng..
Đã hết thời vượt truông..!
(Nguồn: sangtao@org)
Bài thơ tuyệt mạng của BS Lương
(Testament of Whistleblower Corona virus doctor)
Bài thơ tuyệt mạng bằng Việt ngữ của Bác Sĩ Lý Văn Lương (Li Wenliang), người đầu tiên lên tiếng cảnh báo nạn dịch CoronaVirus ở Vũ Hán và cũng là người đã bị chết vì nhiễm bệnh này. Rất tiếc là không được biết tên người dịch.
“ Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi vẫn còn có cha và mẹ
Và các con thơ
Người vợ đang mang thai sắp sinh,
Và nhiều bệnh nhân trong phòng khám.
Mặc dù sự trung thực không được tưởng thưởng,
Mặc dù con đường đã đến ngõ cụt,
Nhưng tôi vẫn phải tiếp tục.
Ai bắt tôi chọn đất nước này, và gia đình này,
Biết bao nhiêu đau khổ,
Khi trận chiến này kết thúc,
Tôi sẽ nhìn lên trời mà lệ rơi như mưa.
Tôi không muốn trở thành anh hùng.
Tôi chỉ là một bác sĩ,
Tôi không thể đứng nhìn những vi-rút này
Làm tổn thương đồng nghiệp của tôi
Và rất nhiều người vô tội,
Mặc dù họ sắp chết,
Nhưng luôn luôn nhìn vào mắt tôi,
Với niềm hy vọng được sống..
Ai có thể nhận ra rằng mình sắp chết?
Linh hồn tôi ở trên thiên đàng,
Nhìn xuống chiếc giường trắng,
Với cơ thể của tôi nằm trên đó,
Và khuôn mặt quen thuộc.
Cha mẹ tôi ở đâu?
Và người vợ yêu dấu của tôi nữa,
Người mà tôi đã từng có một thời ráo riết theo đuổi.
Có một ánh sáng ở trên trời!
Và ở cuối sự sáng đó là thiên đường mà mọi người thường nói đến.
Nhưng tôi không muốn đến đó.
Tôi muốn trở về quê hương của tôi ở Vũ Hán.
Tôi có ngôi nhà mới mua ở đó,
Mà tôi vẫn đang phải trả tiền vay mỗi tháng.
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Làm thế nào tôi có thể sẵn sàng được
Khi đứa con duy nhất của cha mẹ tôi không còn
Thật là buồn biết bao?
Và người vợ yêu dấu không có chồng bên cạnh,
Làm thế nào để đối mặt với những thăng trầm trong tương lai
Tôi đã ra đi rồi.
Tôi thấy họ lấy cơ thể của tôi,
Đặt nó vào một cái túi,
Ở đó có nhiều đồng bào.
Cũng ra đi giống như tôi,
Bị đẩy vào lửa trong lò thiêu
Lúc bình minh.
Xin tạm biệt những người tôi yêu mến.
Xin chia tay Vũ Hán, quê hương tôi.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Có ai đó sẽ một lần nhớ đến,
Có người đã cố gắng cho họ biết sự thật càng sớm càng tốt
Cố gắng cho bạn biết sự thật càng sớm càng tốt.
Tôi hy vọng rằng sau cơn thảm họa,
Người ta học được đứng thẳng,
Không còn để những người tử tế,
Phải chịu đau khổ vô tận
Tôi đã đánh trận tốt lành,
Tôi đã xong sự chạy,
Tôi đã giữ được đức tin.
Hiện nay mão triều thiên của sự công bình
đã để dành cho tôi.” (II Ti-mô-thê 4:7-8a)
(Nguồn: Peter Tran; [email protected]; qua [email protected])
Thơ Nguyên Dũng
Hãy Tưởng Tượng Ra Ai
(Đồi xanh Chino Hills, 1993)
Những mái nhà cong, khung cửa xanh
Những mảng rong rêu đóng bên thành
Những khi buồn đứng nhìn thung lũng
Những mảnh đời em không có anh
Những ngọn đồi xanh Chino Hills
Đàn bò gậm cỏ trong nắng chiều
Cảnh tượng như trong phim thần thoại
Như chuyện thần tiên Walt Disney
Tưởng tượng ra em chú Xì-Trum
Ngôi nhà hình nấm mái cong cong
Ngôi làng bé bỏng xinh như mộng
Ám ảnh anh hoài suốt tuổi xuân
Tưởng tượng khi xưa đời rất ngoan
Cuộc đời là nội cỏ thiên đường
Cuộc đời chìm đắm trong mộng tưởng
(Thực tế nhiều khi rất tang thương!)
Tưởng tượng ra ai môi rất ngon
Tóc thơm bồ kết mướt như nhung
Còn đôi vú sữa tròn ngây ngất
Một dòng mật ngọt rất thanh tân
Tưởng tượng ra em đứng trên đồi
Dõi mắt nhìn xa ngóng trông ai
Thấp thoáng đầu ghềnh nơi cuối bãi
Những cụm xương rồng gai rất gai
Hãy tưởng tượng đi, tưởng tượng đi
Chiều mưa giông bão bóng chim về
Hoàng hôn nhuộm tím rừng đồi núi
Vẫn một mình chim mải miết bay
Ôi những đồi xanh những đồi xanh
Từ khi đời sống hết vô tình
Từ khi nhân thế còn thức tỉnh
Là lúc đời em rẽ khúc quanh.
(Nguồn: qua điện thư của tác giả)
Thơ Trần Vấn Lệ
Khứ Niên Kim Nhật Thử Môn Trung
Nắng lên. Hoa đào nở.
Mùa Xuân được mấy ngày
rồi hoa rụng gió bay
nắng chan hòa mùa Hạ!
Coi như còn lâu quá
vì một ngày Thiên Thu
Nghe tiếng gió vi vu
thương hoa đào sắp rụng…
Đà Lạt, vẫn cái bóng
mờ mờ trong khói sương
tha hương nhớ quê huơng
Vô Thường, lời của Phật!
Cái còn hay cái mất
nằm trong lẽ Vô Thường
mà không phải Bất Thường
Tại sao như thế nhỉ?
Đau cái đầu suy nghĩ
mất gì và được gì?
Chiếc xe bus chạy đi
đúng giờ thì xe chạy…
Cái gì mình đang thấy?
Nắng lên! Hoa Đào đơm
trên má ai hường hường
trên môi ai mọng mọng…
Đà Lạt vẫn cái bóng
mờ mờ trong khói suơng!
“Ở đây suơng khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?” (*).
Hàn Mạc Tử chưa già
đã than thở như vậy!
Mình nhớ ai mười bảy
kim nhật… thời gian bay!
(*) Thơ Hàn Mạc Tử
Tháng Hai chưa là Xuân
Nguyên Tiêu rồi, vẫn lạnh.
Tháng Hai chưa là Xuân
dù hoa đào chớm nụ
gió ấm còn xa xăm…
Chờ Xuân để thấy Tết
chắc là Tết Thanh Minh
Lễ gọi là Tảo Mộ
Hội gọi là Đạp Thanh!
Tháng Ba trời quang đãng
Tháng Ba gặp Thúy Kiều
Thấy người xưa vẫn vậy
Thấy lòng mình còn yêu!
Thấy bầy ngựa, có thể
để nhớ thêm Lạc Duơng
rồi nghĩ người như ngựa
không chí vì không cuơng!
Tự do là thế đó
phải không gió lạnh lùng?
Thúy Kiều là nỗi nhớ
chẳng qua một đóa hồng!
…mà sao yêu đến nỗi
nhớ từng phiến ngói xanh
tưởng ai dài tóc biếc
bay bay gió trên đình…
(Nguồn: [email protected])
Bố tôi, người lính miền Nam
Hai Le
Tôi có một người cha già, tàn tật, cụt một chân. Khi tôi sinh ra đời bố tôi cũng đã gần 50 tuổi. Trong một thời gian dài, bố tôi đóng vai trò của một người mẹ, tuy di chuyển khó khăn, nhưng ông lo lắng cho tôi không còn thiếu một thứ gì. Bạn bè thường gọi là “ông nội trợ” và khen là đàn ông mà bố tôi có đầy đủ các đức tính của người phụ nữ Á Đông “công, dung, ngôn, hạnh,” nuôi con khéo léo không ai bằng.
Hồi còn bé, tôi không hiểu được, vì sao không phải mẹ tôi, mà lại là bố tôi luôn luôn ở nhà chăm sóc cho tôi? Từ từ tôi mới nhận ra, trong đám bạn bè, tôi là người duy nhất luôn luôn có người bố bên cạnh. Thiếu tình mẹ, tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi, mình là người rất may mắn, còn hơn nhiều đứa trẻ thiếu cả tình thương của cha lẫn mẹ.
Sau này tìm hiểu thì tôi biết, bố tôi từng là một người lính miền Nam, bị thương trên chiến trường, được mẹ tôi bảo lãnh theo diện đoàn tụ, bà lo cho ông hưởng tiền trợ cấp tàn phế. Lúc tôi được hơn 3 tuổi, bố tôi và mẹ tôi ly dị, bà đã lập gia đình với một người đàn ông khác, nhường tôi lại cho bố tôi nuôi. Trong ký ức trẻ thơ, tôi có hình dung được hình ảnh của mẹ tôi một vài lần, khi bà đến thăm, nhưng rất xa lạ, vì luôn luôn bà đi với một người đàn ông nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng.
Tôi có tí mặc cảm về địa vị bố tôi ngoài xã hội, so với bố của những đứa trẻ khác, tuy nhiên việc chăm sóc tôi thì hoàn hảo, ông chăm lo cho tôi từ việc lớn đến việc nhỏ, không phải đụng tay vào bất cứ thứ gì. Trong suốt thời gian tôi học tiểu học, ông còn thuyết phục ông tài xế xe bus đón tôi đi học ngay tại cửa nhà, thay vì ở trạm xe, cách xa nhà tôi 4 dãy phố. Khi tôi bước vào nhà, lúc nào bố tôi cũng chuẩn bị sẵn thức ăn trưa, nào cá kho, thịt kho, rau xào và có cả canh nữa. Lâu lâu cũng có thức ăn Mỹ, sandwich, hamburger, bơ đậu phộng, và còn thay đổi theo mùa. Giáng Sinh bánh có viền xanh hình cây thông, Valentine có hình trái tim…
Khi tôi lớn hơn một chút, vào năm đầu tiên trung học, tôi lại thích sống độc lập, tôi muốn thoát ra những cử chỉ yêu thương dành cho con nít của bố, vì sợ chúng bạn trêu chọc. Nhưng chẳng bao giờ bố buông tha tôi cả, một đôi khi tôi rất bực mình.
Cấp trung học, tôi không thể về nhà ăn cơm được nữa, phải bắt đầu tập tự lo cho mình. Nhưng bố tôi lại thức dậy sớm hơn thường lệ để chuẩn bị bữa ăn trưa cho tôi. Ông cẩn thận ghi cả tên tôi bên ngoài túi giấy đựng đồ ăn. Lật dưới đít bao giấy, luôn luôn có một vài hình vẽ nhỏ, khi thì căn nhà, khi thì dòng suối, ngọn núi, chim cá và hình trái tim với dòng chữ “I love you Tammy!” Nào hết đâu, bên trong những chiếc khăn giấy cũng có những dòng chữ triều mến “Bố thương con nhiều.” Ông luôn viết, hay có những câu nói bông đùa như thế để nhắc nhở là ông yêu thương tôi nhiều, và muốn làm cho tôi vui.
Tôi thường lén ăn trưa một mình để không ai thấy được cái túi giấy và khăn ăn. Nhưng cũng chẳng giấu được lâu. Một hôm, một đứa bạn tình cờ thấy khăn ăn của tôi, nó chộp lấy la lên và chuyền đi khắp căn phòng cho mọi người xem. Mặt tôi nóng bừng, bối rối, mắc cỡ muốn chui đầu xuống đất. Bữa hôm đó tôi về, đã làm mặt giận với bố tôi và “cấm” ông ấy không được viết, vẽ “bậy bạ” trên khăn giấy nữa, để bạn bè không coi tôi như đứa con nít lúc nào cũng cần người lớn chăm sóc. Lần đầu tiên tôi thấy bố tôi buồn, lặng lẽ vào phòng đóng cửa.
Ngày hôm sau, tôi vô cùng ngạc nhiên vì tất cả bạn bè bu chung quanh tôi, chờ để được xem chiếc khăn ăn, nhưng lần này thì trống trơn, không có dòng chữ hay hình vẽ gì cả. Nhìn mặt bọn chúng thất vọng, hụt hẫng, tôi mới hiểu ra, tất cả chúng nó đều mong ước có một ai đó biểu lộ tình thương yêu ngọt ngào giống vậy đối với chúng. Lúc đó lòng tôi len lén cảm thấy vui vui, dâng lên niềm tự hào về bố. Tôi vội về làm lành với bố, và những dòng chữ, những hình vẽ yêu thương lại tiếp tục.
Những năm còn lại trong trường trung học, tôi vẫn đều đều có những chiếc khăn đặc biệt ấy. Và từ đó, tôi giữ lại, chứa trong một cái hộp riêng, giấu kín.
Chưa hết, khi vào đại học, tôi phải rời xa bố, tôi nghĩ thông điệp xưa kia của bố sẽ phải chấm dứt. Nhưng tôi và bạn bè rất vui sướng vì những cử chỉ biểu lộ tình cảm của bố tôi vẫn tiếp tục qua hình thức khác.
Ở bậc Đại Học, dĩ nhiên không còn thấy bố tôi đứng chờ khi tan học, vì thế, tôi hay gọi điện thoại cho ông, chi phí điện thoại khá cao, nhưng không sao, tôi chỉ muốn nghe được giọng nói của ông mà thôi.
Suốt năm học đầu tiên, chúng tôi quen lối nói chuyện như thế và sau đó kéo dài một năm. Thường thì sau khi tôi nói lời tạm biệt, câu cuối cùng không bao giờ thiếu: “Này Tammy.”ôi thường trả lời: “Dạ, gì thế bố?”“Bố thương con nhiều.”“Con cũng thế. I love you!”
Hình như bố tôi nhận ra chi phí mắc mỏ cho những cuộc điện đàm, từ đó, tôi bắt đầu nhận thư mỗi Thứ Sáu. Ban thường trực phát thư của trường đều biết ai là người thường gửi lá thư này, mặc dù địa chỉ hồi âm luôn luôn ghi là KBC 1678. (Sau này tôi khám phá ra, KBC viết tắt là Khu Bưu Chính, địa chỉ trong quân đội ngày trước nơi bố tôi phục vụ. Còn số 1678 dễ quá, là số nhà tôi hiện tại).
Nhiều lúc bên ngoài bì thư, địa chỉ được viết bằng bút chì và tiếp theo đó là những lá thư có hình con mèo và con chó của gia đình tôi, có vẽ những hình tháp nhiều từng, hình cây cầu nhiều nhịp in trên sóng nước. Hè năm đó, bố tôi và tôi du lịch về Việt Nam, lúc đó tôi mới biết là chùa Một Cột, chùa Thiên Mụ, cầu Tràng Tiền…
Sau chuyến du lịch ấy, tôi tìm hiểu về Việt Nam nhiều hơn, nhất là cuộc chiến tranh trước 1975, tôi bắt đầu thấy thương bố nhiều.
Thư đến và được phát mỗi ngày sau buổi ăn trưa. Tôi thường đi nhận thư và mang theo mỗi khi đi uống cà phê. Tôi nhận thấy chẳng cần phải giấu giếm làm gì nữa, bởi bạn cùng phòng tôi là những đứa bạn hồi còn trung học, chúng nó biết rất rõ về những chiếc bao giấy, khăn ăn. Và rồi trở thành như một tập tục, tôi đọc thư, còn bì thư và hình vẽ thì được chuyển khắp bạn bè, thư từ bố tôi thành niềm vui của cả phòng.
Trong năm cuối cùng đại học, bố tôi bị căn bịnh ung thư hành hạ. Mỗi khi tôi không nhận được thư vào ngày Thứ Sáu, tôi biết ông ốm nặng, không thể viết được. Ông thường thức dậy lúc 4 giờ sáng để có thể ngồi trong nhà yên tĩnh nắn nót viết những lá thư. Nếu không kịp cho đợt phát thư vào Thứ Sáu, thì chỉ sau đó, một hai ngày, thế nào rồi thư cũng đến. Bạn bè tôi bình bầu ông là “Người cha thương con nhất trên thế giới này!”
Ngày Lễ Cha, Father’s Day, chúng nó gởi một tấm thiệp phong tặng ông danh hiệu đó và tất cả đều ký tên trên tấm thiệp. Tôi tin rằng ông đã dạy cho tất cả chúng tôi về tình phụ tử, bạn bè tôi bắt đầu nhận những tấm khăn ăn giống như tôi từ gia đình chúng nó, với những lời để lại ấn tượng mà sẽ thôi thúc họ hãy biểu hiện tình thương của họ với con cái sau này.
Suốt thời gian đại học, những lá thư và những cú điện thoại như một chu kỳ đều đặn.
Ngày ra trường, tôi quyết định chọn công việc làm gần nhà, để được ở cạnh bố tôi, vì căn bệnh bố càng ngày càng nặng. Thời gian được ở gần bố không còn bao nhiêu lâu nữa.
Đó là những giây phút khó khăn, đau khổ nhất cuộc đời tôi phải trải qua.
Tôi ở bên cạnh bố tôi một vài ngày trong bệnh viện trước khi ông mất. Vài giờ trước khi hấp hối, ông nắm tay tôi bảo: “Bố nhờ con một điều, con về nhà lấy cho bố cái hộp gỗ mà bố để trên đầu tủ, đây là hộp chứa đựng những kỷ niệm đời lính mà bố yêu thương nhất. Bố muốn nhìn nó lại một lần.”
Tôi lái xe về nhà, và cũng tìm ra ngay chiếc hộp phủ đầy bụi thời gian. Có gì bên trong? Tôi tò mò mở nắp hộp. Mắt tôi bắt đầu cay cay nhòa lệ, khi nhìn thấy những tấm hình của bố tôi còn trẻ, trong những bộ quân phục thật oai phong. Có những tấm cầm súng đằng sau chiến trường còn bốc mùi lửa khói. Lật ra đằng sau, những ngày tháng cũ, 1968, 1970, 1971, 1972… với những địa danh xa lạ: An Lộc, Bình Long, Đồng Xoài, Khe Sanh… Dưới đáy hộp là căn cước quân nhân, giấy giải ngũ và những tấm huy chương, bộ lon gắn trên cổ áo khi ông mặc những bộ quân phục.
Bây giờ thì tôi mới hiểu hết, không còn mặc cảm hình ảnh có ông bố tàn tật chỉ biết lo việc “nội trợ,” ngược lại là đàng khác, bố tôi đã một thời là một người lính chiến oai hùng, đổ máu hy sinh một phần thân thể mình cho cuộc chiến bảo vệ quê hương. Rõ ràng bố tôi chăm sóc tôi, vui vẻ làm những việc của người phụ nữ bao nhiêu năm nay, chỉ vì tình thương con mà thôi. Ông thật là người cha tuyệt vời.
Tôi ôm cái hộp, chạy gấp lại bệnh viện, định nói lời xin lỗi với người cha thân yêu của mình, nhưng đã quá muộn! Người y tá trực cho biết, bố tôi vừa trút hơi thở cuối cùng. Rồi người y tá trao cho tôi chiếc khăn giấy nhà thương, với dòng chữ cuối cùng run rẩy của một người cha dành cho con: “Tammy, bố thương con nhiều! Vĩnh biệt!”
Nước mắt tôi trào ra như suối, cầm tấm khăn giấy trong tay áp vào ngực, tấm khăn giấy cuối cùng, mà cả cuộc đời này mãi mãi tôi sẽ không bao giờ còn nhận được nữa.
Lúc liệm xác bố, tôi bỏ theo khăn giấy đã đổi màu vàng khè, nhưng tình tôi dành cho người bố càng ngày càng thắm thiết, bất diệt, muôn đời không thay đổi…
21/6/2017
(Nguồn: FB group Hoài Niệm Miền Nam Một Thời, qua sangtao@org)


































































































