Vann Phan/Người Việt
SANTA ANA, California (NV) – Năm 1949, sau khi quân đội Cộng Sản Trung Hoa của Mao Trạch Đông chiếm được Hoa Lục từ tay Trung Hoa Dân Quốc, khiến Tổng Thống Tưởng Giới Thạch và các lực lượng Trung Hoa Quốc Dân Đảng phải chạy ra đảo Đài Loan mà cố thủ.
Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã khởi sự cho thấy họ có tham vọng chiếm đoạt Biển Đông, tức Biển Nam Hoa (South China Sea), qua việc mau lẹ thừa nhận các phán quyết quốc tế về vùng lãnh hải rộng đến 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế rộng đến 200 hải lý của các quốc gia ven biển.
Bối cảnh
Nhằm biện minh cho hành động dùng vũ lực để xâm chiếm Biển Đông, đồng thời cố tình tạo ra tình trạng tranh chấp chủ quyền biển đảo với Việt Nam và các quốc gia khác ở Đông Nam Á, Trung Cộng lập luận rằng nước này có “chủ quyền lịch sử” đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Trung Cộng quả quyết rằng tổ tiên người Trung Hoa, từ hàng ngàn năm nay, đã phát hiện, khai phá, chiếm hữu, và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này.
Trung Cộng không ngớt đề cao giá trị lịch sử của một bản đồ cũ do chính quyền Quốc Dân Đảng của Thống Chế Tưởng Giới Thạch vẽ vội ra hồi cuối thập niên 1940, gọi là bản đồ “Đường Chín Đoạn,” hay bản đồ “Đường Lưỡi Bò,” khi tổng thống họ Tưởng chỉ muốn khơi dậy tinh thần Đại Hán cố hữu của dân tộc Trung Hoa đặng tìm kiếm sự ủng hộ của người Hoa trong và ngoài nước giữa lúc viện trợ Mỹ cho Trung Hoa Dân Quốc sắp bị cắt đứt và quân đội của ông đang có nguy cơ bị các lực lượng Cộng Sản đánh bại.
Mặc dù không có cơ sở pháp lý nào về chủ quyền trên Biển Đông, Trung Quốc vẫn chủ trương dùng sức mạnh để chiếm đoạt các đảo hoang và bãi đá trên vùng biển này, nơi các quốc gia Đông Nám Á (như Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Indonesia, Brunei…), và cả Đài Loan nữa, đang tranh chấp chủ quyền.
Năm 1974, thừa cơ Việt Nam Cộng Hòa đang bối rối vì một mặt phải tiếp tục chống đỡ cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt vào miền Nam sau Hiệp Định Paris 1973, các lực lượng Trung Cộng đã tiến chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa sau một trận hải chiến mà cả hai bên đều tổn thất nặng.
Năm 1988, các lực lượng Trung Cộng lại đánh chiếm nhóm đảo Gạc Ma thuộc Quần Đảo Trường Sa đang do Hải Quân Cộng Sản Việt Nam trấn giữ, sau khi 64 binh sĩ trấn giữ nơi đây bị bắn chết vì Hà Nội đã ra lệnh cho họ không được nổ súng vào các đồng chí Cộng Sản Trung Quốc, dù rõ ràng là họ đang tấn công vào đảo.
Áp dụng triệt để sách lược “mưa dầm thấm lâu,” Trung Cộng ngày đêm gấp rút tô bồi và xây đắp các đảo hoang và bãi đá – mà họ chiếm được từ tay các quốc gia yếu thế hơn trong vùng – thành các pháo đài và căn cứ quân sự vững chắc, nhằm đặt thế giới vào “chuyện đã rồi.”
Năm 2013, phẫn nộ trước sự hung hăng của Trung Cộng sau khi nước này xua quân chiếm đóng bãi cạn Scarborough của Phi Luật Tân, Tổng Thống Benigno Aquino III đã khởi kiện Trung Quốc trước Tòa Án Trọng Tài Quốc Tế ở The Hague, Hòa Lan.
Năm 2016, sau ba năm thụ lý, Tòa Trọng Tài đã ra phán quyết, theo đó, “yêu sách về quyền lịch sử” của Trung Cộng đối với các vùng biển bên trong “Đường Lưỡi Bò” là vô giá trị do không có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, chính quyền Trung Cộng đã tuyên bố họ “không tham gia;” “không thừa nhận” và cũng “không thi hành” phán quyết này.
Các diễn tiến hồi gần đây bao gồm việc việc Trung Cộng thiết lập các đơn vị hành chánh cấp quận để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi họ đang tranh giành chủ quyền với Đài Loan và các quốc gia Đông Nam Á; việc Trung Cộng đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá bắt đầu từ ngày 1 Tháng Năm cho đến ngày 16 Tháng Tám trên khu vực Biển Đông bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; và mới đây nhất, Trung Cộng đã đưa ra nhiều dấu hiệu cho thấy họ sắp sửa lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông để buộc tàu bè quốc tế đi qua nơi này phải xin phép họ trước.
Các diễn biến trên thế giới nằm trong những nguyên nhân xa
Thế giới đánh giá sai lầm về tiến trình sụp đổ của Cộng Sản Quốc Tế, cứ nghĩ là sau năm 1991, khi Liên Xô, cái nôi của chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít, đã tan rã rồi thì, chẳng chóng thì chầy, Trung Cộng cũng sẽ sụp đổ. Nhưng thực tế cho thấy không những Trung Cộng mà cả những quốc gia Cộng Sản nhỏ bé hơn, như Việt Nam, Bắc Hàn, Cuba… vẫn bám trụ và đứng vững cho tới bây giờ.
Thế giới quá tin tưởng vào sức mạnh không gì cưỡng nổi của chủ nghĩa tư bản, cứ nghĩ rằng chủ nghĩa này, sau cùng, sẽ đánh bại được chủ nghĩa Cộng Sản một khi nó đã xâm nhập được vào xã hội Trung Cộng qua sách lược toàn cầu hoá kinh tế và sau khi Trung Cộng đã được nhận vào các tổ chức quốc tế, như WTO chẳng hạn. Nhưng kết quả rõ ràng là không đúng như vậy, mà không chừng còn có thể ngược lại nữa, khi xét tới ảnh hưởng to lớn của Trung Cộng đối với phần còn lại của thế giới ngày nay. Thì ra, Trung Cộng đã tương kế, tựu kế, dùng ngay chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa vật chất để mua chuộc, gây chia rẽ, và làm suy yếu Hoa Kỳ cùng các quốc gia Tây phương.
Hoa Kỳ rõ ràng là đã ngủ quên trên chiến thắng sau khi Cộng Sản Liên Xô và Cộng Sản Đông Âu sụp đổ. Hoa Kỳ cũng đã đánh giá quá cao chất xám của dân Nga và đánh giá quá thấp trí thông minh của dân Tàu khi không dám đem tiền bạc ra đầu tư để giúp nước Nga – đã dân chủ hóa – phát triển mà lại đem hết tài nguyên và trí tuệ ra giúp Cộng Sản Trung Hoa giàu lên và hùng mạnh tới mức đại họa như bây giờ.
Trung Cộng luôn coi trọng “chủ nghĩa dân tộc,” trong đó Hàn tộc là tối thượng, cho đó là cái tinh túy của nền văn minh Trung Hoa, và chỉ coi chủ nghĩa Cộng Sản là phương tiện để giành giật và củng cố quyền lãnh đạo cho đảng Cộng Sản. Đối với họ, chỉ có chủ ngĩa Cộng Sản Trung Hoa chứ không hề có Chủ Nghĩa Cộng Sản Quốc Tế như thế giới, và khốn nạn nhất là Việt Nam, vẫn cứ tưởng như vậy. Độc chiếm Biển Đông sẽ phục vụ đắc lực cho “chủ nghĩa dân tộc” của Trung Cộng và giành được sự ủng hộ của dân chúng tại Hoa Lục cũng như của tập thể người Hoa sinh sống rải rác trên toàn cầu.

Tư bản Mỹ đã quá tham lam khi chấp nhật bán hết bí mật kinh tế và các sản phẩm trí tuệ cho Trung Cộng để đối lấy lợi nhuận từ thị trường gồm hàng tỷ người của Trung Cộng, nhưng rồi chỉ tổ đem lại cho đế quốc Cộng Sản này sự giàu có về tiền bạc. Để rồi nước này dùng tiền mua chuộc khắp thế giới, kể cả các chính trị gia Mỹ, và sức mạnh về quân sự để phục vụ giấc mộng bá chủ hoàn cầu của họ, và sau cùng, trở thành mối hiểm nguy cấp bách cho mọi quốc gia, dù lớn, dù nhỏ, dù mạnh, dù yếu trên thế giới.
Hoa Kỳ luôn tôn trọng các công ước và luật lệ quốc tế, trong đó có các quy luật về những vùng biển đảo chưa có người ở như tại Biển Đông, cho nên họ không hề công nhận chủ quyền của bất cứ ai tại Hòang Sa và Trường Sa, kể cả Việt Nam Cộng Hòa hồi các thập niên 1950-1970 và Pháp cũng như Nhật trước đó. Trong khi đó Trung Cộng chỉ xài luật rừng, tức là sẵn sàng lờ đi hoặc xóa bỏ các công ước và luật lệ quốc tế nếu thấy không có thế lực nào đủ sức cưỡng chế mình, nhẫn nại chờ cho đến khi thế giới mệt mỏi quá rồi thì ắt phải nhìn nhận chủ quyền của họ tại Biển Đông mà thôi.
Các diễn biến quốc tế nằm trong những nguyên nhân trực tiếp
Hoa Kỳ đột ngột rút lui khỏi cuộc Chiến Tranh Việt Nam, lần lượt bỏ rơi Cộng Hòa Khmer (Cambodia), Việt Nam Cộng Hòa và Vương Quốc Lào trên tiến trình, sau khi đã cắt hết viện trợ kinh tế và quân sự khiến cho Sài Gòn mau lẹ sụp đổ vào ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Trung Cộng lợi dụng thời cơ miền Nam Việt Nam đang lâm cảnh thù trong (bị Cộng Sản Bắc Việt tiếp tục tấn công sau Hiệp Định Paris 1973) và giặc ngoài (Trung Cộng) khi khởi sự cuộc tấn công lấn chiếm Quần Đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 19 Tháng Giêng, 1974, thời điểm mà quân viện từ Hoa Kỳ đã giảm sút tới mức tới đa, khiến cho khả năng tác chiến của Hải Quân – và cả Không Quân – Việt Nam Cộng Hòa bị hạn chế rất nhiều.
Hoa Kỳ, vì muốn lấy lòng Bắc Kinh sau khi cặp bài trùng Nixon-Kissinger đã thuyết phục được Trung Cộng cùng theo về phe mình để chống Liên Xô, đã làm ngơ để cho Hải Quân Trung Quốc đánh chiếm Quần Đảo Hòang Sa, đồng thời ngăn cản các lực lượng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đối đầu với Hải Quân Trung Quốc. Trong khi đó, Cộng Sản Bắc Việt, vì sợ Trung Cộng không tiếp tục giúp mình xâm chiếm miền Nam Việt Nam nữa, đã ủng hộ việc Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa qua “công hàm” của Thủ Tướng Cộng Sản Việt Nam Phạm Văn Đồng hồi năm 1958, xác nhận chủ quyền của Trung Cộng trên Quần Đảo Hòang Sa.
Ngón đòn chót của Hoa Kỳ giúp Trung Cộng bám trụ tại Hoàng Sa là nỗ lực ngăn cản Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hợp đồng quân, binh chủng tấn công chiếm lại Hoàng Sa theo chỉ thị của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, với niềm tin ngớ ngẩn rằng thà để cho Hoàng Sa và Trường Sa rơi vào tay Trung Cộng vẫn ít nguy hiểm hơn là rơi vào tay Liên Xô, vốn là nước Cộng Sản đáng gờm nhất dối với Mỹ vào lúc bấy giờ.
Thay lời kết
Ngoại trừ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những chiến sĩ đã hy sinh xương máu tới cùng để bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông, mảnh đất quê hương do tổ tiên để lại, Cộng Sản Bắc Việt, kẻ đánh Việt Nam Cộng Hòa, và Hoa Kỳ, đồng minh nửa vời của Việt Nam Cộng Hòa, đều phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về việc để mất Hoàng Sa và Trường Sa vào tay Trung Cộng.
Ngày nay, vì những lỗi lầm trước đây, Cộng Sản Việt Nam đã phải bao phen ngậm đắng, nuốt cay khi chứng kiến biển đảo và tài nguyên dồi dào của mình đang bị Trung Cộng xâm chiếm mà đành nuốt hận, khóc thầm, chớ chẳng hề dám hé môi. Trong khi đó Hoa Kỳ – cùng các đồng minh chiến lược của họ – cũng vật vã, cay đắng không kém khi phải đứng nhìn Biển Đông, hải lộ huyết mạch của hàng hải thế giới từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, bị Trung Cộng từ từ nuốt chửng và biến thành cái hồ nước riêng cho dân tộc họ, từ nay mặc sức nhởn nhơ bơi lội và cười cợt vào mũi người Mỹ sao quá thơ ngây… (Vann Phan) [qd]















































































