Trúc Phương/Người Việt
Việc “tái phối trí” lực lượng Hoa Kỳ tại Trung Đông trên bề mặt là giữ an toàn trước mắt nhưng về lâu dài, điều đó chẳng khác nào việc âm thầm cuốn cờ không kèn không trống. Hỏa tiễn Iran là tác nhân chính, nhưng màn khai chiến không có “đường binh” cụ thể của Tổng Thống Donald Trump mới thật sự là yếu tố mang lại tổn thất nghiêm trọng về địa chính trị cho Mỹ. Từ lâu, quân đội Mỹ luôn được xem là lực lượng “canh giữ hòa bình” cho Trung Đông, nay, dù chưa đến mức thảm hại, nhưng rõ ràng uy lực không còn…
Hệ thống căn cứ Mỹ tại Trung Đông trên đà tan rã?
Đầu Tháng Mười, Mỹ vội vã rút 12 oanh tạc cơ B-1 khỏi một căn cứ không quân tại Anh. Ông Trump nói, chuyện này không là vấn đề gì quan trọng, trong khi Ngoại Trưởng Marco Rubio trấn an dư luận rằng Ngũ Giác Đài “luôn liên tục điều chuyển nguồn lực đến những nơi cần thiết.” Thực tế cho thấy, từ khi ông Trump khai chiến với Iran, quân đội Mỹ nhiều lần buộc phải “tái phối trí” – cụm từ nghe có vẻ chiến lược nhưng thực chất là thoái lui. Sự có mặt rộng khắp của quân đội Mỹ như một sức mạnh răn đe giờ bỗng biến thành bài học chua chát với những hậu quả nảy sinh từ một kế hoạch chiến tranh được dàn dựng một cách cẩu thả và vụng về.
Cần nhắc lại, Mỹ đóng quân rải rác khắp Vịnh Ba Tư. Căn cứ lớn nhất tại Trung Đông là căn cứ Không Quân Al Udeid ở Qatar, nơi có khoảng 10,000 quân nhân Mỹ làm việc trước khi cuộc chiến nổ ra. Đó cũng là nơi đặt sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư Lệnh Miền Trung Hoa Kỳ (CENTCOM) và Trung Tâm Tác Chiến Không Quân Hỗn Hợp – nơi điều hành mọi hoạt động của Không Quân Mỹ toàn khu vực. Tại Bahrain, Mỹ có Sở Chỉ Huy Hạm Đội 5 và Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Ngoài ra, còn có các căn cứ quan trọng tại Kuwait và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), chưa kể sự hiện diện quân đội thường trực tại Oman và Saudi Arabia…
Đáng lý đóng vai trò gọng kiềm vây hãm Iran, các căn cứ này giờ trở thành mục tiêu “dễ xơi” của kẻ thù. Tất cả xuất phát từ sự đánh giá thấp khả năng Iran và sự tự tin thái quá trước khả năng phòng thủ và đánh chặn của các căn cứ Mỹ, ngay trong bối cảnh mô hình bố trí các căn cứ nằm quá gần Iran. Doanh trại Arifjan ở Kuwait – sở chỉ huy tiền phương của Lục Quân Hoa Kỳ thuộc CENTCOM – chỉ cách Iran 62 dặm (khoảng 100 km). Căn cứ Hải Quân Mỹ tại Bahrain cách Iran chừng 128 dặm (206 km). Trong khi đó, căn cứ Al Udeid cách 170 dặm (274 km). Để so sánh, khoảng cách từ Iran đến Israel là 1,100 dặm (1,770 km).
Ngay ngày đầu tiên cuộc chiến (28 Tháng Hai), Iran đã phá hủy một căn cứ tiếp vận quan trọng của Hải Quân Mỹ tại Bahrain. Cục diện nhanh chóng rối loạn đến mức Mỹ không dám sử dụng loạt hải cảng trong khu vực, vốn có khả năng tiếp nhận mẫu hạm hoặc tàu tiếp tế. Tính đến nay, vô số máy bay Mỹ buộc phải rời khỏi các căn cứ từng được coi là an toàn. Hàng ngàn nhân sự Mỹ phải sơ tán khỏi các căn cứ ở Bahrain, Kuwait, UAE, và Qatar. Một số căn cứ trong tổng cộng 13 căn cứ mà quân đội Mỹ sử dụng tại Trung Đông bị hư nặng đến mức Ngũ Giác Đài có ý định bỏ luôn thay vì sửa chữa.
Các căn cứ tại Kuwait, quốc gia nằm sát Iran, bị thiệt hại nặng nhất. Sau một cuộc tấn công của Iran vào hải cảng Shuaiba, sáu quân nhân Mỹ bị thiệt mạng và một trung tâm tác chiến của Lục Quân Mỹ bị phá tan nát. Căn cứ Không Quân Ali Al Salem và doanh trại Buehring ở Kuwait cũng bị hư hỏng nặng. Tại Qatar, Iran tấn công căn cứ Al Udeid, làm hỏng hệ thống radar cảnh báo sớm. Tại Bahrain, một thiết bị bay Iran đánh trúng tổng đài liên lạc tại Sở Chỉ Huy Hạm Đội 5. Tại căn cứ Không Quân Prince Sultan ở Saudi Arabia, hỏa tiễn và máy bay không người lái Iran gây hư hại cho hệ thống truyền tin cùng một số máy bay tiếp nhiên liệu…
Chiến lược của Iran: “Bào mòn” nguồn lực Mỹ
Vào thời khắc cuộc chiến nổ ra, Ngoại Trưởng Abbas Araghchi của Iran đang dự cuộc họp tại khu phức hợp cùng với Lãnh Tụ Tối Cao Ali Khamenei. Trước đó, ông Araghchi dành nhiều tháng đàm phán với Mỹ về chương trình nguyên tử. Đó cũng là thời điểm ông Trump cùng Thủ Tướng Benjamin Netanyahu của Israel chuẩn bị tổ chức chiến dịch quân sự.
Khi ông Araghchi đang trình bày với các giới chức cấp cao về diễn biến đàm phán cũng như nguy cơ xung đột ngày càng tăng, bom bắt đầu dội xuống. Giáo Chủ Ali Khamenei chết ngay lập tức. Ông Araghchi sống sót. Mình mẩy đầy gạch đá và bụi vữa, ông Araghchi lóp ngóp chui ra từ đống đổ nát. Theo lời ông kể với một người làm podcast ở Iran, ông chạy ra đường, chặn một chiếc xe và nhờ chở đến Bộ Ngoại Giao. Tại đó, ông liên lạc với các chỉ huy quân sự và bắt đầu kết nối một số lãnh đạo nước ngoài…
Đó chính xác là những gì mà bộ sậu cấp cao Iran “tập dợt trong đầu” thường xuyên trong suốt nhiều năm. Họ luôn sống với ý thức thường trực rằng Iran có thể bị tấn công bất kỳ lúc nào. Họ dành nhiều thời gian sắp xếp tổ chức phân quyền bộ máy chính trị lẫn quân sự, để thống đốc tỉnh và các chỉ huy quân sự có thể hoạt động mà không cần chờ chỉ thị từ lãnh đạo chóp bu.
Những viên chức cấp cao đều chỉ định ít nhất hai người kế nhiệm nếu họ không sống sót. Không chỉ vậy, họ nghiên cứu rất kỹ các căn cứ quân sự Mỹ. Một danh sách dài những vị trí ưu tiên tấn công nằm trên bàn giới chỉ huy quân sự. Họ lên danh sách cả những địa điểm dân sự khắp vùng Vịnh, từ các nhà máy lọc dầu, thậm chí khách sạn nơi lính Mỹ có thể trú ẩn trước những màn dội hỏa tiễn.
Trong bài điều tra công phu gần 10,000 từ, đăng ngày 15 Tháng Mười, hãng thông tấn Reuters cho biết Iran đã thực hiện loạt tấn công chính xác khắp vùng Vịnh, vô hiệu hóa một cách có hệ thống các thiết bị trọng yếu, gây ra thiệt hại dây chuyền ảnh hưởng kinh tế toàn khu vực. Đó là một chiến dịch tinh vi và tính toán từ rất lâu.
Cụ thể, họ nhắm vào hệ thống vận chuyển dầu huyết mạch tại Fujairah (thuộc UAE) – hải cảng chính nằm ngoài eo biển Hormuz. Họ tấn công cơ sở khí tự nhiên hóa lỏng Ras Laffan của Qatar. Họ bắn vào phi trường tại ít nhất bốn quốc gia (nội trong Tháng Mười, một phi trường ở Saudi Arabia bị tấn công tới bốn lần chỉ trong một tuần).
Tổng quát, kể từ ngày 28 Tháng Hai, Iran nhắm vào loạt “sân sau” của Mỹ, từ Saudi Arabia, UAE, Iraq, Qatar, Kuwait, Oman, đến Bahrain, với ít nhất 135 vụ tấn công bằng máy bay không người lái và hỏa tiễn, làm tê liệt ít nhất 84 cơ sở hạ tầng. Chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là hải cảng Fujairah (UAE), nơi từng đóng vai trò như chiếc phao cứu sinh cho thương mại toàn cầu, giúp giảm thiểu tình trạng gián đoạn nguồn cung dầu trong nhiều thập niên qua.
Tính từ ngày 28 Tháng Hai, Fujairah bị tấn công ít nhất 19 lần. UAE khốn đốn đến mức phải van xin Iran. Cuối cùng, vào Tháng Sáu, UAE đồng ý giải tỏa ít nhất $10 tỷ của Iran bị đóng băng trong hệ thống ngân hàng nước này. Các nguồn tin của Reuters cho biết $3 tỷ đã được giải ngân. Đổi lại, Iran ngừng oanh kích. Dù Bộ Ngoại Giao UAE phủ nhận vụ gỡ phong tỏa, từ thời điểm đó đến nay, không có báo cáo nào về các vụ tấn công cơ sở hạ tầng của liên hiệp này nữa.
Còn nữa, Iran cũng tấn công hạ tầng kỹ thuật số, chẳng hạn các trung tâm dữ liệu của Amazon tại UAE và Bahrain. Họ làm tê liệt toàn bộ 1,262 buồng điện phân tại nhà máy luyện nhôm Al Taweelah của công ty Emirates Global Aluminium (EGA).
Đáng chú ý nhất là việc Iran tấn công hệ thống cung cấp điện và nước của Kuwait. Ông Trump từng dọa phá hủy nguồn nước của Iran nhưng chính Teheran mới là nơi thực hiện điều đó. Cần biết, Kuwait phụ thuộc gần như hoàn toàn vào hệ thống nhà máy khử mặn để có thể có 90% lượng nước sinh hoạt.
Phần Saudi Arabia, Iran phá hỏng năm trong chín nhà máy lọc dầu lớn nhất và ba trung tâm chế biến dầu chủ yếu của nước này, trong đó có cơ sở của tập đoàn dầu Aramco, được mô tả là lớn nhất thế giới. Sản lượng dầu hàng ngày của Saudi Arabia đã giảm dưới mức 7 triệu thùng trong sáu tháng đầu cuộc chiến, so với hơn 10 triệu thùng trước khi xung đột nổ ra. Mức độ thiệt hại là hơn $50 tỷ.
Dù cuộc chiến chưa kết thúc, điều có thể rút ra ở thời điểm này là Iran ngày càng ở thế thượng phong. Mức độ và khả năng tấn công chính xác của Iran giờ đây trở thành mối đe dọa thường trực và dai dẳng đối với toàn bộ vùng Vịnh. Chiến lược của Iran là bào mòn sức mạnh Mỹ, buộc Mỹ không còn chọn lựa nào khác là phải rút dần khỏi khu vực.
Từ thế yếu và phải luôn e dè, họ bắt đầu ở thế nắm đằng cán. Teheran là con quái vật và ông Trump đã tiếp thêm sức mạnh cho nó, ít nhất về mặt chính trị. Ông Trump biến Trung Đông không còn là nơi an toàn để Mỹ có thể áp đặt tùy nghi. Có thể hơi quá lời khi nói ông Trump đang đánh mất hẳn sân sau của Mỹ ở Trung Đông nhưng chắc chắn một điều rằng Trung Đông từ nay về sau không bao giờ là Trung Đông như trước khi xảy ra cuộc chiến ngu xuẩn của vị tổng thống thứ 47 của Mỹ. [đ.d.]