44 năm sau, nhìn lại mối đau (kỳ cuối)

Phan Nhật Nam

LTS: Trang Cựu Chiến Binh kỳ này xin gửi đến quý độc giả bài viết của nhà văn Phan Nhật Nam. Vì bài viết khá dài, nên chúng tôi sẽ chia ra làm năm kỳ. Mời quý độc giả đón đọc. Nhân đây, xin kính mời quý độc giả có những bài viết và hình ảnh về người lính VNCH, những sinh hoạt của cựu chiến binh VNCH… gửi email đến [email protected]. Nhật báo Người Việt sẽ là cầu nối các cựu chiến binh VNCH khắp nơi trên trang báo này.

Năm.

Tỉnh Long Khánh với thị xã Xuân Lộc trải rộng lên vùng rừng miền Đông Nam Bộ, tả ngạn sông Đồng Nai, nằm trên ngã ba của quốc lộ 20 đi Đà Lạt và quốc lộ I, đường đi ra Hàm Tân, Phan Thiết.

Sau thành công đánh chiếm Cao Nguyên Trung Phần thuộc Vùng II, và Vùng I Chiến Thuật do sự rút bỏ hỗn loạn của quân đội miền Nam trong Tháng Ba; qua Tháng Tư Bộ Tổng Quân Ủy quân đội miền Bắc quyết tâm tiêu diệt miền Nam bằng các áp dụng chiến thuật tập kích tấn công từ một điểm xong mở rộng ra, tránh giao tranh nếu gặp kháng cự mạnh để tất cả đồng nhất tiến về Sài Gòn.

Bí Thư Lê Đức Thọ người được giải Nobel Hòa Bình rời Hà Nội với quyết định của Bộ Chính Trị: “Phải đoạt thắng lợi, chỉ trở về với chiến thắng.” Vào đến miền Nam, Lê Đức Thọ với tư cách là chính ủy chiến dịch Hồ Chí Minh cho phổ biến công điện 37/TK đến với tất cả lực lượng vũ trang đang có mặt tại miền Nam bao gồm 15 sư đoàn quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt.

Tướng Lê Minh Đảo và những người lính đang giữa trùng vây của lửa ở mặt trận Long Khánh. Tiếng gọi là một sư đoàn nhưng Tướng Đảo chưa hề có đủ lực lượng thuộc quyền cơ hữu để điều động trong một cuộc hành quân quy mô cấp sư đoàn.

Đầu Tháng Ba, 1975, Trung Đoàn 48 của Sư Đoàn 18 lại tăng phái cho Sư Đoàn 25 để trách nhiệm mặt trận Tây Ninh, vùng Tây Sài Gòn. Thế nên khi trận chiến Long Khánh bắt đầu vào ngày 9 Tháng Tư, thì Tướng Đảo trong thực tế chỉ có Chiến Đoàn 43 do Đại Tá Lê Xuân Hiếu chỉ huy.

Chiến Đoàn 43 có nhiệm vụ phòng thủ nội vi thị xã Xuân Lộc hợp cùng các đơn vị của Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Phúc làm chỉ huy trưởng. Phần Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng gồm các đơn vị trinh sát, thiết giáp, pháo binh trấn giữ dọc quốc lộ 20 nằm về phía Bắc-Tây Bắc Long Khánh từ Kiệm Tân là cứ điểm chận đường từ Đà Lạt xuống đến Ngã Ba Dầu Giây. Đây là giao điểm của hai quốc lộ I và 20, nút chận về Biên Hòa, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn III, Sư Đoàn 3 Không Quân cách Sài Gòn 30 cây số về hướng Bắc.

Trước khi trận chiến bùng nổ lớn, Thiếu Tướng Đảo khẩn thiết yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn hoàn trả lại Trung Đoàn 48 từ Tây Ninh về. Nhận lại được trung đoàn này, Tướng Đảo sử dụng trấn giữ mặt đông của thị xã Xuân Lộc, đường đi vào quận Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Tuy.

Cũng nói thêm về một đơn vị tăng phái đặc biệt. Đấy là Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân Biên Phòng của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Nguyên Tiểu Đoàn 82 vốn thuộc Quân Khu II, khi mặt trận Ban Mê Thuộc bị vỡ, Thiếu Tá Long vừa đánh vừa rút lui xuống đồng bằng.

Từ Ban Mê Thuộc, Thiếu Tá Long đưa đơn vị vượt Cao Nguyên Di Linh băng rừng đi bộ về Bảo Lộc, xong tiếp tục cắt rừng theo hướng Tây-Nam để về Long Khánh. Tướng Đảo đã dùng trực thăng bốc toán quân 200 người sống sót còn lại của đơn vị này về phòng thủ Long Khánh. Với quân số như kể trên, Sư Đoàn 18 Bộ Binh quả thật đã gánh một nhiệm vụ quá khổ dẫu trong thời bình yên chứ chưa nói về tình thế khẩn cấp của Tháng Tư, 1975.

Cần nhắc lại rằng trước 1972 để phòng thủ vùng Long Khánh-Biên Hòa đã phải tăng cường một lữ đoàn thuộc lực lượng Hoàng Gia Úc-Tân Tây Lan, Lữ Đoàn 11 Chiến Xa Hoa Kỳ cùng những đơn vị Bộ Binh, Nhảy Dù Mỹ. Ngoài ra còn có Sư Đoàn Mãng Xà Vương Thái Lan tăng phái, trách nhiệm vùng Long Thành, dọc quốc lộ 15, đường đi VũngTàu.

Tướng Lê Minh Đảo nắm quyền chỉ huy Sư Đoàn 18 từ sau trận chiến mùa Hè 1972, và ông đã mau chóng tạo nên sự biến đổi thần kỳ cho đơn vị với bản lãnh của một võ tướng là Sống-Chết cùng Binh Sĩ-Đơn Vị. Đối mặt binh đội của Tướng Đảo là Quân Đoàn IV Cộng Sản BắcViệt do Trung Tướng Hoàng Cầm chỉ huy. Sau trận mở màn chiếm đóng Phước Long cuối năm 1974 với chứng tỏ phía Mỹ hoàn toàn im lặng. Cũng tương tự như phản ứng thụ động của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ để mặc Hải Quân Trung Cộng chiếm đóng Hoàng Sa, tấn công tiêu diệt Hạm Đội Việt Nam trong Tháng Giêng, 1974.

Để đánh Long Khánh, Tướng Hoàng Cầm được cả một bộ chính trị đảng Cộng Sản Hà Nội trực tiếp chỉ đạo, yểm trợ, bao gồm: Văn Tiến Dũng, tổng tham trưởng quân đội miền Bắc; Phạm Hùng, bí thư Trung Ương Cục Miền Nam; Lê Đức Thọ, bí thư Trung Ương Đảng giữ nhiệm vụ chính ủy chiến dịch. Tất cả đồng có mặt tại Lộc Ninh, nơi chỉ cách chiến trường Long Khánh, Xuân Lộc hơn 100 cây số đường chim bay.

Ngoài ra sau này khi thắng lợi nghiên về phía quân Cộng Hòa, bộ tư lệnh mặt trận Cộng Sản đã tăng cường thêm Sư Đoàn 325, đơn vị tổng trừ bị quân đội miền Bắc, là lực lượng nỗ lực chính đánh chiếm Nha Trang, Phan Rang và Trung Đoàn 95B biệt lập từ vùng châu thổ Sông Cửu Long kéo lên tăng cường. Cuối cùng nâng tỷ số tác chiến lên thành 8 đánh 1.

Lúc 5 giờ 40 sáng 9 Tháng Tư, 1975, chiến dịch đánh chiếm Xuân Lộc bắt đầu với một trận mưa pháo 2,000 quả đạn từ nhiều vị trí cùng đổ xuống trung tâm thị xã Xuân Lộc như đã từng tàn sát An Lộc trong mùa Hè 1972. Đúng 6 giờ 40, tám xe tăng được lính Trung Đoàn 165, đơn vị tiền phong của Sư Đoàn 7 Cộng Sản tùng thiết xông vào trung tâm thị xã Xuân Lộc, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 18.

Lính Cộng Sản ngỡ rằng sau đợt pháo hung hãn, và đội hình ào ạt với những chiếc T54, thế nào cũng sẽ tràn ngập mục tiêu dễ dàng như đã xẩy ra ở Vùng I và II của Tháng Ba vừa qua. Nhưng hoàn toàn không phải là như thế.

Những xe tăng này mắc kẹt giữa bãi mìn của một hệ thống tám lớp kẽm gai và mìn bẫy mà Thiếu Tướng Đảo đã sẵn bố trí. Không chỉ thế, những phi cơ A37 và F5 từ phi trường Biên Hòa được gọi đến chỉ sau ít phút cất cánh, và trên đồng trống, giữa những khu rừng cao su đội hình của toán quân Cộng Sản trở nên thành mục tiêu lộ liễu, trần trụi dưới hỏa lực phi pháo của quân ta.

Mặt Đông của thị xã, dọc quốc lộ I, Trung Đoàn 209 cũng của Sư Đoàn 7 Cộng Sản số phận cũng không mấy khả quan hơn. Bởi đơn vị Cộng Sản gặp phải Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long. Lính Biệt Động quyết đánh địch để trả hận lần lui quân bi thảm của tháng trước từ mặt trận Ban Mê Thuộc. Hai tiểu đoàn của Trung Đoàn 209 bị chôn chân trước tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động và Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung Đoàn 48 của Tướng Đảo.

Chiều tối 9 Tháng Tư, phía Cộng Sản lại dụng tâm gây căng thẳng bằng cách pháo vào khu vực thị xã với khoảng 2,000 quả đạn trên khắp các vị trí, kể cả khu vực dân chúng, nhà thương, nhà chùa, nhà thờ là những nơi dân chúng chạy vào ẩn núp với hy vọng tội nghiệp là Cộng Sản sẽ nương tay…

Đến 5 giờ 30 sáng ngày 11, đợt tấn công thứ hai bắt đầu. Kết quả cũng tương tự như ngày 9, quân Cộng Hòa giữ chắc vị trí, có khác chăng thêm một số chiến xa bị bắn hạ trên tuyến phòng ngự và một số tù binh bị bắt. Tướng Đảo không quên ra lệnh xuất kho quân tiếp vụ để nuôi số tù binh mới mẻ này.

Những ngày thất bại này được Hoàng Cầm viết lại trong Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân: “Trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch, Sư Đoàn 7 bị tổn thất 300 chiến sĩ; Sư 341 thiệt hại 1,200 bộ đội… Tất cả pháo 85 và 57 ly đồng bị phá hủy.”

Cùng ngày Không Quân VNCH cũng góp thêm vào chiến thắng qua hủy diệt hơn 100 xe quân sự tăng viện cho mặt trận.

Ở Sài Gòn, không khí lạc quan bừng lên, Tổng Thống Thiệu thúc giục Tướng Toàn cố gắng giữ vững Xuân Lộc để có thế đảo ngược tình thế… Để “B52 có thể trở lại!” Tướng Toàn sử dụng Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi từ Trảng Bom cố mở đường tiếp cận với cánh quân Xuân Lộc, nhưng lực lượng thiết kỵ không thành công trong việc phá chốt ở Ấp Hưng Lộc, Biên Hòa.

Không thành công trong việc dùng chiến xa để giải tỏa áp lực Cộng Sản tại Xuân Lộc, Tướng Toàn sử dụng một thành phần hữu hiệu hơn. Đấy là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù gồm bốn tiểu đoàn 1, 2, 8 và 9 được Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù trực tiếp yểm trợ. Cuộc hành quân không vận lớn nhất của trận chiến thực hiện trong hai ngày 11, 12 đưa đơn vị tổng trừ bị cuối cùng của miền Nam vào trận.

Sự xuất hiện của lực lượng nhảy dù tại trận địa đặt nên vấn đề nghiêm trọng đối với bộ tư lệnh chiến dịch Cộng Sản. Chiều 11 Tháng Tư, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ và Trung Tướng Trần Văn Trà – bộ trưởng Quốc Phòng của tổ chức gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam – thay thế Tướng Hoàng Cầm duyệt soát lại kế hoạch tấn công theo chiều hướng mới.

Bộ Tư Lệnh Cộng Sản quyết định mở một mặt trận giả nhằm đánh lạc hướng quân đội Cộng Hòa bằng cách chuyển hướng tấn công theo đường đi vòng Xuân Lộc để thực sự tiến thẳng về Sài Gòn. Lực lượng Cộng Sản dần rút đi theo kế hoạch mới của họ nên Tướng Đảo lập tức ra lệnh cho các đơn vị chiếm lại những vị trí bị địch chiếm giữ, tiếp nhận thực phẩm, quân trang, đạn dược và tải thương.

Cũng quả thực ông không biết được sự thay đổi quan trọng về kế hoạch mới của Trung Ương Cục Miền Nam chỉ đạo từ Hà Nội. Nhưng ông làm được gì hơn với chức vụ tư lệnh một sư đoàn bộ binh trong giờ phút nguy nan nhất của cuộc chiến khi người Mỹ sắp xếp lại một trật tự mới trên toàn thế giới qua liên hệ với Trung Cộng bằng cách giải quyết hy sinh miền Nam.

Hai trái bom CBU 55 “Daisy Cutter” nặng 15,000 cân Anh rơi xuống từ lòng chiếc C130 phá toang một vùng rộng lớn trong phòng tuyến của quân Cộng Sản dọc quốc lộ 20 tăng cường thêm sự quyết tâm giữ vững Long Khánh của phía quân Cộng Hòa, nhưng cũng chính là màn khói vô tình giúp cho lần rút đi theo kế hoạch mới của phía Cộng Sản để lại 235 xác bộ đội đếm được trên trận địa.

Không một ai trong Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa, nơi Phòng Hành Quân Tổng Tham Mưu Sài Gòn ước tính được ý niệm hành quân của phía Cộng Sản là sẽ siết chặt Biên Hòa-Sài Gòn với hai gọng kềm theo hai hướng Bắc và Đông bằng cách cắt quốc lộ I ở Dầu Giây và quốc lộ 15 ở Long Thành.

Tòa Đại Sứ Mỹ phấn khởi trước chiến thắng Long Khánh cố nài Quốc Hội Mỹ chuẩn chi $722 triệu quân viện khẩn cấp cho Việt Nam. Nhưng trong phiên họp ngày 17 Tháng Tư, Ủy Ban Quân Sự Thượng Viện đã bác bỏ thẳng thừng qua câu nói bất cận nhân tình của hai Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits và Edmund Muskie: “Cho tiền để lo việc di tản thì bao nhiêu cũng được chứ một xu cho ngân sách quân sự cho Thiệu cũng không có.”

Cuối cùng, ngày 20 Tháng Tư, Tướng Toàn tư lệnh và Đại Tá Thọ, trưởng Phòng Hành Quân Quân Đoàn III, đích thân đến giao cho Tướng Đảo một lệnh mơ hồ như vô cùng kích động: “Lệnh của Tổng Thống Thiệu Sư Đoàn 18 rút bỏ Xuân Lộc về bảo vệ mặt trận Sài Gòn.”

Tướng Đảo chỉ có đúng nửa ngày để hoàn tất một kế hoạch rút quân bao gồm lực lượng một sư đoàn cơ hữu cùng các đơn vị tăng phái và yểm trợ, chưa kể thành phần diện địa của Tiểu Khu Long Khánh. Nhưng như một phép lạ, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã hoàn tất cuộc lui binh về Bà Rịa, bảo toàn đơn vị, vũ khí, thậm chí đến hai khẩu pháo 175 ly hạng nặng cũng giao lại đủ cho quân đoàn.

Cũng một phần, lực lượng giữ nhiệm vụ hậu vệ đoàn di tản là Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh chỉ huy. Trung Tá Đỉnh là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6 Dù. Tiểu đoàn 6 là đơn vị đã giải tỏa An Lộc trong trận đánh ngày 8 Tháng Sáu, 1972, mà đơn vị Cộng Sản đóng chốt ở Xa Cam, Nam An Lộc chỉ còn đúng một người bị bắt làm làm tù binh tên gọi là Nguyễn Văn Tiền.

Một điều cần ghi thêm là Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh Sư Đoàn, dù đã bất chấp lệnh của tổng tham mưu, nên đã gởi một đơn vị nhảy dù khác là Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Lô, đơn độc đưa quân đi ngược Tỉnh Lộ 2 từ Bà Rịa lên Long Khánh đón đoàn quân di tản. Tiểu Đoàn 7 Dù là đơn vị cuối cùng chận giặc nơi Cầu Xa Lộ, cửa ngõ chính của Sài Gòn ở hướng Bắc trong buổi sáng 30 Tháng Tư.

Khi Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, buông súng, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo dừng quân trên xa lộ Biên Hòa, nhìn về hướng Trường Bộ Binh Thủ Đức, Long Thành, Bà Rịa, và xa kia là Xuân Lộc, Long Khánh, gần hơn Trung Liệt Đài của Nghĩa Trang Quân Đội Long Bình… Ông thấy thấp thoáng bức tượng Tiếc Thương tạc hình Người Lính Chờ Đợi in hình trong không gian mờ khói đạn…

Người lính cuối cuộc chợt thoáng nhớ những lời thơ ngắn: “Vì anh là lính áo rằn/ Ra đi nào biết mấy trăng mới về…” Những câu thơ của em ông, Cố Trung Tá Lê Hằng Minh, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến “Trâu Điên,” người lính đã ra đi từ một ngày Hè năm 1966 nơi chiến trường Thị Thiên, ở chân cầu Câu Nhi Phường.

Phường Câu Nhi, quận Phong Điền, Thừa Thiên là những nơi đâu? Rất nhiều Người Lính đã ra đi, không trở về từ những vùng đất không hề biết.

Hôm ấy, sáng 30 Tháng Tư, 1975, rất nhiều người lính không còn chốn trở về – Những Người Lính Mất Quê Hương.

Cali, 15 Tháng Tư,

Ngày mất Phan Rang, 1975,

Mùa Chúa Thương Xót 2019. (Phan Nhật Nam)

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.
video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT