Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
là lẽ sống của Miền Nam tự do
* Vann Phan
(Tiếp theo kỳ trước)
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có những điểm ưu việt ra sao?
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thoát thai từ Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam và được gọi là Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, tuy không tự xưng mình là “quân đội nhân dân” như các đạo quân cộng sản – trong đó có Trung Cộng, Liên Xô, Bắc Hàn, Cuba – từng là đối thủ của họ trên chiến trường, thật sự là một quân đội khai sinh từ nhân dân và vì nhân dân mà phục vụ.
Trong hơn hai thập niên chiến tranh chống Cộng khốc liệt, hầu như không có gia đình nào tại Miền Nam Việt Nam mà không có thân nhân phục vụ trong quân đội này. Họ có thể là chồng, là cha, là anh, là em, là con, cháu trong gia đình. Hàng hàng, lớp lớp các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã cầm súng ra chiến trường để bảo vệ Miền Nam tự do trước cuộc xâm lăng tàn bạo của cộng sản.
-Trong thời gian chiến tranh, phần lớn các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ đều có ý thức về tình hình chính trị, từ nền độc tài, gia đình trị thời Ðệ Nhất Cộng Hòa cùng những chia rẽ tôn giáo và đảng phái cho đến nạn tham nhũng và bè phái cũng như tâm trạng hoài nghi lý tưởng Quốc Gia thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, nhưng số lượng binh lính đào ngũ, quay súng đánh lại Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không có là bao nhiêu, nhất là so với con số đáng kể các cán binh Việt Cộng trở về với chính nghĩa Quốc Gia qua con đường hồi chánh.
Dù biết rõ là một số các cấp lãnh đạo dân sự và quân sự trong chính quyền bất xứng, nhưng ý chí chiến đấu của quân và dân Miền Nam Việt Nam đã không vì thế mà sút giảm, và tuyệt đại đa số người lính Cộng Hòa đều giữ vững tay súng chiến đấu chống quân cộng sản. Ðiều này nói lên ý chí chống Cộng sắt đá của tập thể chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là nếu đem so với các thành phần dân chúng khác trong xã hội Miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ, tiêu biểu là giới “trí thức” thân Cộng và các phần tử trốn tránh nghĩa vụ cầm súng chống quân cộng sản xâm lược.
Vai trò năng động và quyết định của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi quân đội Mỹ rút đi từ năm 1973 theo kế hoạch “Việt Nam Hóa Chiến Tranh” đã chứng tỏ người lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu vì lòng thù ghét chủ nghĩa cộng sản và vì lý tưởng tự do, dân chủ. Nói khác đi, đó là cuộc chiến đấu tự vệ chính đáng để sinh tồn, cuộc chiến đấu cho tự do, no ấm của chính mình, của gia đình, thân thuộc và của toàn thể dân chúng Miền Nam Việt Nam.
-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tồn tại và chiến đấu vì lý tưởng Quốc Gia chứ không phải là vì quyền lợi của một đảng phái hay phe nhóm nào. Dù dưới danh xưng “người Chiến Sĩ Quốc Gia” hay “Người Lính Cộng Hòa,” các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn chỉ chiến đấu để bảo vệ cho đất nước Việt Nam, cho màu cờ vàng ba sọc đỏ và cho lý tưởng tự do dân chủ của dân chúng Miền Nam Việt Nam. Ðiều này trái ngược một cách phũ phàng với cái gọi là “Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam” – mà trước kia là của Cộng Sản Bắc Việt mà hiện nay là của Cộng Sản Việt Nam – bởi vì, trong thực chất, đội quân này chỉ chuyên tâm phục vụ cho cái phe đảng đang cầm quyền, đó là Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Ðiều không thể chối cãi là trong khi phương châm của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm” thì lệnh truyền cho các chiến binh cộng sản là “Trung với Ðảng, Hiếu với Dân.” Bởi vậy, ngày nay, không ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy các lực lượng quân đội và công an nhân dân của Cộng Sản Việt Nam đang được Ðảng và Nhà Nước hết sức o bế, cho hưởng nhiều bổng lộc cao trọng, không phải để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam, từ vùng đồng bằng cho tới biển cả, chống quân xâm lược Cộng Sản Trung Quốc mà chỉ là để bảo vệ cho Ðảng và Nhà Nước cai trị và bóc lột dân tộc Việt Nam dài lâu mà thôi.
-Trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa chính là nạn nhân cuộc xâm lấn của cộng sản từ miền Bắc do tham vọng chiếm độc quyền cai trị đất nước của Ðảng Cộng Sản Việt Nam và theo lệnh của cộng sản quốc tế trong sách lược bành trướng chủ nghĩa cộng sản toàn thế giới. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền tự do, dân chủ tại Miền Nam Việt Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chẳng những không đánh lại chính nhân dân mình mà, trái lại, còn hy sinh xương máu để bảo vệ cuộc sống tự do và phúc lợi của dân chúng, cho nên người lính Cộng Hòa luôn được đa số dân chúng – những thành phần không bị cộng sản mê hoặc – ủng hộ và đi theo (trong các cuộc di tản hoặc chạy loạn) cho đến khi bị địch pháo kích chết thì thôi.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với sứ mạng “Bảo Quốc, An Dân,” đi đến đâu đều được dân thương đến đó, đúng như lời ca trong bài “Anh Ði Chiến Dịch” ngày nào của Phạm Ðình Chương:
“Anh đi chiến dịch xa vời.
Lòng súng nhân đạo cứu người lầm than…
Thương dân nghèo, ruộng hoang cỏ cháy.
Thấy nỗi xót xa của kiếp đọa đày… anh đi…”
Những “Ðại Lộ Kinh Hoàng” và “Quốc Lộ Máu” lừng danh trong lịch sử Chiến Tranh Việt Nam đã nói lên lòng thương yêu, niềm tin tưởng và kỳ vọng lớn lao của toàn thể dân chúng Miền Nam Việt Nam vào các anh chiến sĩ Cộng Hòa: Dù gian nguy cách mấy, dân chúng cũng chạy theo các anh trên đường chạy giặc đầy những chết chóc kinh hoàng và hiểm nguy cùng cực. Dĩ nhiên là lịch sử thế giới từng cho thấy không có nhiều người chạy theo các đội quân Ðức Quốc Xã, Phát-xít Ý, Thiên Hoàng Nhật, hay đạo quân Cuba của Batista khi các đạo quân này tan rã.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của Miền Nam tự do
Ðến đây, thiết tưởng cũng đã đủ để có thể khẳng định rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của Miền Nam tự do. Kể từ khi giới lãnh đạo độc tài của Cộng Sản Bắc Việt ngang nhiên xé bỏ Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973 và mở đợt tổng tấn công cuối cùng để cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam – khởi đầu bằng cuộc đánh chiếm Ban Mê Thuột hồi Tháng Ba năm 1975 – và kể từ khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lẽ sống của Miền Nam tự do, bắt đầu tan rã sau những đợt lui binh dưới áp lực cắt viện trợ của Ðồng Minh Hoa Kỳ (vì nước Mỹ nóng lòng muốn đẩy nhanh mức độ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa trong sách lược toàn cầu của Nixon-Kissinger), chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam đã phải rơi vào chỗ chiến bại.
Là chiếc xương sống của công cuộc kháng chiến thần thánh của trên 20 triệu quân, dân Miền Nam Việt Nam và cũng là tiền đồn chống Cộng của Thế Giới Tự Do tại Ðông Nam Á, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, khi sụp đổ, đã kéo theo sự sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng Hòa và Miền Nam tự do trước làn sóng xâm lược bạo tàn của Cộng Sản Bắc Việt và tay sai là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam.
Là lẽ sống của Miền Nam tự do, người chiến sĩ Cộng Hòa đã nhận được sự ngưỡng mộ và khâm phục lớn lao của toàn thể dân chúng Miền Nam Việt Nam, nhất là “trong lòng muôn người biết yêu đời lính,” như từng được nói lên trong một bài hát về lính của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Những bài hát làm rung động lòng người và được khắc ghi sâu đậm trong tâm khảm dân chúng Miền Nam Việt Nam trước đây, bây giờ và mãi mãi về sau, có lẽ chính là những nhạc phẩm viết về đời lính và về cuộc chiến đấu hào hùng của người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, những ca khúc nói lên tấm lòng của người em gái hậu phương yêu anh lính chiến xa nhà:
“Có ai biết không em yêu đời lính?…
Mỗi khi có ai muốn hỏi tên anh, em bảo tên anh là “lính”…
Lính luôn đa tình đáng yêu…”
Mới đây, trong chương trình ca nhạc DVD “Lá Thư Từ Chiến Trường” do Trung Tâm ASIA sản xuất, hình ảnh thân thương của người lính Cộng Hòa đã được làm sống lại qua những câu ca, điệu múa do hằng chục nam, nữ ca sĩ và nghệ sĩ Việt Nam tại hải ngoại trình diễn, nói lên lòng biết ơn và ngưỡng mộ không hề nhạt phai của người Việt khắp nơi đối với các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hơn ba thập niên sau ngày Miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản.
Ngày nay, 33 năm sau, khi hồi tưởng và suy nghiệm về biến cố mất nước ngày 30 Tháng Tư năm nào cùng những hậu quả của nó, những người Việt Nam bình thường – không bị mù quáng vì các tư tưởng lệch lạc hay thành kiến bất công – có thể sẽ đi đến nhận định sau cùng rằng “chính những hy sinh lớn lao và cao cả của những người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến chống Cộng trước đây tại Miền Nam Việt Nam đã tạo dựng mầm sống cho dân tộc Việt Nam hôm nay.”
Thật vậy, điều may mắn cho dân tộc Việt Nam, ở cả Miền Nam lẫn Miền Bắc, chính là sự kiện Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lẽ sống của Miền Nam tự do, đã thoát hiểm và sống còn đến trên hai thập niên, cũng vừa đủ thời gian cho mầm tự do, dân chủ đâm chồi và bén rễ trên quê hương Việt Nam. Chính cái mầm mống tự do, dân chủ ấy từ Miền Nam Việt Nam đã làm băng hoại nền kinh tế và cả chế độ cộng sản từ Nam chí Bắc, khiến cho Cộng Sản Việt Nam ngày nay chỉ còn là một cái vỏ trống không, dù họ vẫn mang danh xưng là một nước “xã hội chủ nghĩa.”
Cái gọi là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hiện đang sống trong hoàn cảnh bi đát là tất cả những giáo điều cùng lý luận của chủ nghĩa cộng sản đều lâm vào ngõ bí sau khi các vị “thánh tổ” của chủ nghĩa này từ bên trời Âu, cụ thể là Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết, đồng loạt lăn đùng ra chết.
Những gì sẽ xảy ra nếu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và tiền thân của quân đội này không hiện hữu, hay quân đội này tan rã ngay vào thời điểm đất nước bị chia đôi năm 1954, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị ám sát năm 1963, quân chiến đấu Mỹ phải nhảy vào tham chiến năm 1965, cuộc tổng công kích của cộng sản hồi Tết Mậu Thân năm 1968, hoặc ngay cả vào lúc diễn ra trận chiến một mất, một còn hồi “Mùa Hè Ðỏ Lửa” năm 1972 khi các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh đã thôi chiến đấu bên cạnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?
Thay lời kết
Nghĩ cho cùng, trong suốt thời gian có cuộc chiến tranh kéo dài nhằm thôn tính Miền Nam tự do của Cộng Sản Bắc Việt, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, hoặc ngay cả chế độ quân nhân có thời cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam, chính là thực thể phát sinh từ nhu cầu tất yếu của lịch sử. Nếu cuộc chiến tranh bảo vệ nền tự do, dân chủ tại Miền Nam Việt Nam trước đây được coi là chính đáng thì không có lý do gì mà người Việt Quốc Gia từ trong nước lẫn ở hải ngoại lại quên đi Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu hằng năm.
Ngày mai đây, khi Việt Nam trở thành một đất nước thật sự có tự do dân chủ, khi lịch sử cận đại và hiện đại của Việt Nam được viết lại một cách nghiêm chỉnh và khi cuộc chiến tranh Quốc-Cộng được đánh giá đúng mức, Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu phải được coi là một trong những ngày kỷ niệm huy hoàng cả trong quân sử lẫn trong lịch sử dân tộc Việt Nam bởi vì một lý do đơn giản: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là lẽ sống của Miền Nam Việt Nam, mà Miền Nam Việt Nam chính là cái vườn ươm mầm tự do, dân chủ mà giờ đây đang đâm chồi, nẩy lộc trên quê hương Việt Nam để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản độc tài, thối nát vào bóng tối của lịch sử.
Chú thích:
(1) Trong cuộc chiến đấu để bảo vệ tự do, dân chủ cho Miền Nam Việt Nam, các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã cống hiến cho đất nước những hy sinh vô cùng to lớn và cao cả mà cho tới nay vẫn chưa có gì đền đáp nổi. Theo các con số phỏng định, vào lúc kết thúc cuộc Chiến Tranh Việt Nam (1959-1975), Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có 250,000 chiến sĩ bỏ mình và Quân Ðội Hoa Kỳ có hơn 58,000 quân nhân hy sinh. (Wikipedia, May 31, 2008)
(2) Trong bài viết nhan đề “Ngày Quân Lực” của Chinh Nhân (tức Bùi Ðức Lạc) trên tuần báo Chuông Việt năm 1987, có đoạn sau đây đề cập tới lịch sử Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa:
“Cũng từ ngày 29 Tháng Mười Hai năm 1954, Bộ Tham Mưu Hỗn hợp Việt-Pháp được cải tổ và cải danh thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam. Vào đầu năm 1956, các Bộ Tư Lệnh Quân Khu được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn. Vào đầu năm 1958, các đơn vị Sư Ðoàn Khinh Chiến, Dã Chiến cũng dần dà được canh tân thành các sư đoàn Bộ Binh.
Vào cuối năm 1965, các Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Ðoàn Nhảy Dù cũng theo đà canh tân quân đội được bành trướng thành các sư đoàn Tổng Trừ Bị, các đại đội Biệt Ðộng Quân được thành lập thành tiểu đoàn rồi liên đoàn và rồi sư đoàn vào năm 1975. Các đơn vị thiết giáp, các chi đội, chi đoàn được canh tân, hiện đại hóa và trở thành các Thiết Ðoàn. Các chiến hạm Hải Quân do quân đội Pháp để lại được thay thế bằng những chiến hạm tân tiến hơn, các Phòng Hải Quân bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn được lập thành các Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng. Các đơn vị Không Quân từ những khu trục cơ cánh quạt được thay thế bằng những phản lực cơ, rồi các phi đoàn, sư đoàn Không Quân ra đời. Các binh chủng, nha sở cũng được trang bị hiện đại hơn và tăng cường quân số cho phù hợp với nhu cầu của chiến trường và nhu cầu của các đơn vị không tác chiến…”
(3) Bản tuyên cáo của quốc trưởng, chủ tịch hội đồng quốc gia lập pháp và thủ tướng chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa, được công bố ngày 11 Tháng Sáu năm 1965, có đoạn viết:
“Sau khi duyệt lại tình trạng ngày một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng: những vơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế… Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi… Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng, địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1.11.1963.” (V.P.)



























































































