Cái nón sắt của người lính VNCH

Trịnh Khánh Tuân & Huỳnh Công Minh

Người lính VNCH đứng gác trên cầu Sài Gòn, Tháng Mười Một, 1972. (Hình: Flickr manhhai)

“Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt trên bờ lau sậy này. Anh là ai? Anh là ai? Anh là ai?”

Cái nón sắt đề cập trong bài hát này chính là cái nón sắt được trang bị cho người lính VNCH trong nhu cầu bảo vệ sinh mạng ngoài mặt trận. Trong suốt chiều dài cuộc chiến 20 năm trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam, cái nón sắt là một vật không thể nào thiếu trên người chiến sĩ VNCH, đó là cái nón sắt M1.

Cái nón sắt này của QLVNCH phát xuất từ cái nón sắt của quân đội Mỹ dùng từ Chiến Tranh Thế Giới Thứ II đến năm 1985. Cái nón sắt này ngoài việc bảo vệ an toàn cho sinh mệnh người lính, nó còn là một vật rất đa dụng trong sinh hoạt của người lính như có thể chứa nước uống, nấu cơm canh, để múc nước tắm, làm ghế ngồi, ngoài ra còn đựng được nhiều loại đồ vật khác nhau… khi dừng quân.

Cấu tạo 

Nón M1 được chế tạo theo tiêu chuẩn một cỡ duy nhất phù hợp cho mọi người. Độ sâu của mũ khoảng 18 cm, chiều rộng 24 cm và chiều dài 28 cm, khối lượng mũ khoảng 1.3 kg.

Nón có hai lớp. Lớp bên ngoài của mũ là một vỏ kim loại còn gọi là “nồi thép,” phần ngoài của vỏ được sơn theo sắc phục của các đơn vị sử dụng. Bên trong, lớp thứ nhì là một mũ bằng nhựa được chế tác bằng thứ nhựa đặc biệt tăng thêm độ cứng, từ đó gia tăng thêm mức độ an toàn cho người lính; phần vỏ phía trong bằng hợp chất nhựa này là hệ thống dây treo có thể điều chỉnh để phù hợp với kích thước các cỡ đầu người sử dụng.

Hệ thống dây trong nón nhựa là để đỉnh đầu không áp sát với nón nhựa, và có một khoảng cách nhất định để đầu không bị nóng thái quá dưới ánh nắng. Phần bên ngoài nón sắt có gắn thêm vào một băng cứu thương và được bao bằng một lớp lưới để giảm độ phản chiếu ánh sáng từ vỏ sắt hoặc để ngụy trang cây cối tùy theo địa hình khi tham chiến. Người dùng nón có thể gắn thêm cành, lá cây để tăng mức độ ngụy trang, tránh sự quan sát của địch quân. Chiếc nón sắt M1 được quân đội Mỹ sử dụng đến năm 1985, sau đó được thay thế bằng M1C và M2.

Nón sắt là một vật cần thiết cho người lính VNCH để bảo vệ cho người lính chiến và nói lên được sự quan tâm đến sinh mạng của một người cầm súng khi ra trận. Qua đó chúng ta thấy mối chăm sóc đặc biệt của chính quyền với hàng ngũ bảo vệ quốc gia, họ cần được trang bị những nhu cầu cần thiết trong việc giảm thiểu mức độ sát thương của địch ngoài mặt trận.

Nón sắt M1 có công dụng giúp người lính ngoài mặt trận giảm được mức độ thương vong do các mảnh văng do bom, đạn, lựu đạn, mìn… từ phía địch gây ra. Nón sắt dùng để chống lại mức độ sát thương của các loại đạn bắn thẳng như AK-47… Nếu khoảng cách bắn xa cũng như góc va chạm giữa đạn và mũ nhỏ thì viên đạn sẽ bị nảy ra và gây ra một vết lõm trên mũ, tránh được thương vong cho người đội.

Nếu khoảng cách gần và góc va chạm giữa đạn và mũ gần như vuông góc thì đạn sẽ dễ dàng xuyên qua mũ và gây sát thương. Rất nhiều chiếc mũ sót lại sau trận chiến với các vết thủng do đạn bắn thẳng gây ra đã chứng tỏ điều này.

Một người lính VNCH với cậu bé, ở Sài Gòn. (Hình: Flickr manhhai)

Đến năm 1971, khi cuốn phim “Người Tình Không Chân Dung” được trình chiếu ở Sài Gòn, thì một bản nhạc rất hay, mang nhiều ấn tượng cho người lính VNCH trong quá khứ, đó là nhạc phim “Người Tình Không Chân Dung,” nói về thân phận của của cái nón sắt, do ca sĩ Lệ Thu trình bày làm xao xuyến không biết bao nhiêu trái tim của người chiến sĩ VNCH, một sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng:

“Hỡi người chiến sĩ đã để lại
cái nón sắt trên bờ lau sậy này
Bây giờ anh ở đâu, bây giờ anh ở đâu?
Còn trên đời này đang xông pha đèo cao dốc thẩm
hay đã về bên kia, phương trời miên viễn chiêm bao.
Trên đầu anh cái nón sắt ngày nào ấp ủ
mộng mơ của anh mộng mơ của một con người.

***
Ôi nó khác chi mây trời hiền hòa
khác chi bốn mùa êm trôi
có tiếng cười thủy tinh của vài đứa trẻ
và hơi ấm vòng tay ôm của một người vợ hiền
phải thế không anh?

(Hát)
Trong cái nón sắt của anh
mặt trời vẫn còn đó ban ngày
và ban đêm mặt trăng hoặc muôn muôn
triệu triệu vì sao vẫn còn đó
tất cả vẫn còn đó vẫn còn đó.

Nhưng anh bây giờ anh ở đâu
con ễnh ương vẫn còn gọi tên anh trong mưa dầm
tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ
Dạo Tháng Ba tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa
nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.
Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt
trên bờ lau sậy này
Anh là ai? Anh là ai? Anh là ai?” 

Câu chuyện về cái nón sắt 

Quân lệnh của Tướng Nguyễn Khoa Nam về cái nón sắt. Cuối năm 1969, lúc bấy giờ, tình hình an ninh các xã ấp, quận lỵ thuộc tỉnh Ðịnh Tường rất rối ren. Tin tức từ các chiến trường lớn nhỏ dồn dập báo về với bao sự chết chóc, bị thương và tổn thất.

Ðúng vào thời điểm dầu sôi  lửa bỏng càng ngày càng gia tăng thì Ðại Tá Nguyễn Khoa Nam, lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù, được Bộ Tổng Tham Mưu điều động về giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh khu chiến thuật Tiền Giang, thay thế cho Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh được thăng tiến làm Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, Quân Khu IV.

Tin tức được loan truyền nhanh chóng, từ tiền tuyến đến hậu phương, từ các đơn vị tác chiến, đến những quân binh chủng ngành trực thuộc Sư Ðoàn, đều tỏ vẻ lạc quan thấy rõ, với sự lãnh đạo mới của người hùng oanh liệt thuộc binh chủng thiện chiến Nhảy Dù. Song song đó, một lệnh đặc biệt lần đầu tiên trong quân sử Sư Ðoàn, với công văn được gởi đi khắp các đơn vị trong Sư-Ðoàn có nội dung: “Tất cả quân nhân các cấp luôn luôn phải mang súng và đội nón sắt khi di chuyển bất cứ ở nơi nào. Ngoài ra, xe Jeep đều phải tháo mui để trần.”

Bấy lâu, người quân nhân Sư Ðoàn đội nón lưỡi trai bằng vải ka-ki xanh khi đi ra ngoài, còn chiếc nón sắt chỉ sử dụng lúc ban đêm đi trực hay canh gác tiền đồn mà thôi! Phải công nhận, trọng lượng chiếc nón sắt của Mỹ mà bên trong còn có thêm một chiếc nón lót nhỏ hơn bằng nhựa, cùng với những dây da và vải để điều chỉnh khi đội chụp lên đầu không phải là nhẹ. Nếu ai không quen thì sẽ cảm thấy nặng nề và khó chịu lắm!

Nhưng nay lệnh của tư lệnh sư đoàn ban ra thì ai mà dám không thi hành? Cho nên, từ đại tá tư lệnh trở xuống đến hàng binh, bắt buộc quân nhân các cấp đều phải kè kè bên khẩu súng lục, hay cây súng M-16 và chiếc nón sắt to tướng bên cạnh, lúc làm việc cũng như khi đi ra ngoài. Hiện tượng mới lạ này không chỉ thấy được trong căn cứ quân sự Ðồng Tâm ở Bình Ðức mà ngay cả trong thành phố Mỹ Tho. Kể từ những tháng ngày cuối năm 1969, nhan nhản trên các đường phố và nơi chợ búa, người dân thành thị thấy lính Sư Ðoàn 7 đầu đội nón sắt. (Trịnh Khánh Tuân & Huỳnh Công Minh; nguồn Trang Văn Nghệ Người Lính VNCH)

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH ghi đến ngày 10 Tháng Ba, 2019

Danh sách mạnh thường quân và thương phế binh VNCH, cùng quả phụ VNCH đã được giúp đỡ hằng tuần đến ngày 10 Tháng Ba, 2019.

Góc nhìn của người lính cũ: Việt Nam với Thượng Đỉnh Mỹ-Bắc Hàn

Chính quyền Việt Nam cũng khôn lanh lắm. Bám ngay cơ hội này để quảng cáo cho sự phát triển kinh tế của mình qua những khu phố ở Hà Nội...

Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH ghi đến ngày 3 Tháng Ba, 2019

Danh sách mạnh thường quân và thương phế binh VNCH, cùng quả phụ VNCH đã được giúp đỡ hằng tuần đến ngày 3 Tháng Ba, 2019.

Tâm thư của bà quả phụ Trung Tá Lê Văn Ngôn

Tôi, quả phụ của Trung Tá Lê Văn Ngôn - tốt nghiệp Khóa 21 trường Võ Bị Ðà Lạt, có bài trần tình trong bức tâm thư trên báo Người Việt. 

Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH ghi đến ngày 24 Tháng Hai, 2019

Danh sách mạnh thường quân và thương phế binh VNCH, cùng quả phụ VNCH đã được giúp đỡ hằng tuần đến ngày 24 Tháng Hai, 2019.

Người lính miền Nam

Tướng Lê Minh Đảo, cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, có lần nói: “Nếu có kiếp sau, xin được tiếp tục làm người Lính Việt Nam Cộng Hòa.”

Bài học thứ hai cho Việt Nam có thể là từ Biển Đông

Ngày 17 Tháng Hai, 1979, quân đội “anh em” Trung Cộng đã kéo 600,000 quân theo lệnh của Đặng Tiểu Bình dạy cho Việt Nam một bài học.

Có gì đâu – thơ Quan Dương

Giả dụ giờ này anh còn kẹt lại Việt Nam/ Thì cũng chỉ là tên cù bơ cù bất/ Thành thử xứ người làm nghề đổ rác

Tôi đi lính

Những anh đã từng học qua khóa huấn luyện Sinh Viên Học Ðường thì họ có kinh nghiệm hơn bọn lính mới tò te chúng tôi. Tuy nhiên rồi đâu cũng vào đấy cả.