(Nhớ lại mỗi Tháng Tư – Những giờ phút tê dại: Xa Sài Gòn… di tản về miền Tây… và hy vọng)
* Phạm Kim
1. Tư lệnh HQ, đáp ứng tình hình di tản
Lễ nhậm chức và bàn giao của tân tư lệnh Hải Quân diễn ra vào trưa ngày 24 Tháng Ba 1975 có khoảng 7 tư lệnh các vùng đứng một hàng ngang trước bàn có cờ 3 sao tư lệnh. Sĩ quan báo chí hiện diện góc cử bên cạnh Trung Tá Khanh để quan sát và tường thuật, trong văn phòng tư lệnh nhỏ nhắn trên lầu hai nằm bên tay mặt của trụ sở Bộ Tư Lệnh trông ra bến Chương Dương.
Phó Ðô Ðốc Chung Tấn Cang lúc đó đang là tư lệnh Biệt Khu Thủ Ðô, một trong vài “chỗ” sáng giá, quan trọng nhất chung quanh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông được đổi về gấp nhậm chức tư lệnh Hải Quân lần thứ nhì sau khi đã rời Hải Quân trên 10 năm về trước. Ðiều này cho thấy kế hoạch “di tản và lui binh” là mối quan tâm nhất của Tổng Thống Thiệu trong việc bổ nhậm chức vụ này. Ông Cang thổ lộ rằng, “nếu còn ở vị trí tư lệnh Biệt Khu Thủ Ðô trực thuộc Bộ TTM, thì ông sẽ ở lại Sài Gòn tử thủ.”
Hồi đảo chính Tháng Mười Một năm 1963, lần đầu ông Cang được giao nắm chức vụ tư lệnh Hải Quân cũng là vì được lòng tin cậy của nhóm tướng lãnh đối với ông. Và lần đầu ông làm tư lệnh Hải Quân kéo dài khoảng 16 tháng. Còn lần thứ nhì này với cấp bậc cao hơn và giao tiếp khẩn cấp rộng lớn hơn hẳn trước. Rồi vận nước ông cũng chỉ được ở lại chức vụ khoảng trên một tháng, với một kế hoạch “di tản Quân Lực VNCH và các công nhân viên chức chánh phủ khi có nguy biến, để về Miền Tây, tập trung tại Côn Sơn hoặc dẫn đoàn tầu đi tị nạn…”
Lễ Bàn Giao trầm lắng, căng thẳng đó gồm cả những người đã có bất hòa trước đây với cá nhân tân tư lệnh cũng hiện diện còn có mặt khoảng 10 vị sĩ quan chỉ huy cao cấp trong đó có: Phó Ðề Ðốc Nghiêm Văn Phú (từ Ðồng Tâm-Mỹ Tho), Phó Ðề Ðốc Ðặng Cao Thăng (từ Cần Thơ)…, một vài vị khác như Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại rối bời tại BTL-HQ vùng I không về được…
Chỉ vài ngày sau ngày nhậm chức ông đã thành lập đơn vị Lực Lượng Ðặc Nhiệm 99 bao gồm những giang đoàn ngăn chặn và nhiều căn cứ hải quân do Ðại Tá Lê Hữu Dõng là tư lệnh, với sự đóng góp đáng kể của Phó Ðề Ðốc “Phú Già,” là minh chứng cho sự xóa bỏ những dị biệt bất hòa thời “âm mưu đảo chánh trong quân chủng năm xưa.”
Tân Tư Lệnh Chung Tấn Cang lúc đó có cấp bậc cao nhất quân chủng, và ngang cấp với các tư lệnh quân-binh chủng khác, dễ dàng nói chuyện với Dinh Ðộc Lập và Bộ Tổng Tham Mưu. Trong những ngày giờ dầu sôi lửa bỏng đó, quả ông đã quan tâm thực sự đến kế hoạch “Di Tản” một cách chặt chẽ, với tiêu chuẩn phải mang đi được nhiều tướng lãnh, quân nhân của các quân binh chủng khác và Hải Quân, dĩ nhiên.
Và ông thường xuyên có mặt trong Trung Tâm Hành Quân thuộc Bộ Tư Lệnh Hành Quân Lưu Ðộng Biển, trong tầng 3 một cao ốc tân kỳ mới xây vài năm. Ông có phong thái bề thế chỉ huy oai nghiêm như một tổng tham mưu trưởng chiến trường Lục Quân. Phó Ðô Ðốc Cang liên lạc hàng ngang với tổng thống và giới chức cao cấp nhất của Tổng Tham Mưu, cũng như bên Biệt Khu Thủ Ðô.
2. BTL/HQ và cuộc di tản QK1 & Tướng Trưởng
Tư Lệnh Chung Tấn Cang theo dõi giải quyết cuộc di tản và tình hình trận liệt ngoài Quân Khu 1, và Ðà Nẵng. Ông biết từng bước đi của tướng bộ binh, tướng không quân và các đơn vị tác chiến với những khi tạm trú trong căn cứ HQ Ðà Nẵng hoặc TTHQSÐ/TQLC, hoặc với Phủ Tổng Thống. Trung Tá Khanh sĩ quan Chánh Văn Phòng Tư Lệnh, gọi sĩ quan báo chí của Hải Quân lúc đó cũng được chỉ định ngồi không xa những hải bàn chỉ huy của vị tướng hải quân ba sao này.
Tướng Trưởng, Tướng Lân, Tướng Khánh, Phó Ðề Ðốc Thoại… thường xuyên họp tham mưu tại TTHQ/Sư Ðoàn TQLC hiện đóng tại Non Nước (Ðà Nẵng). Trong khoảng thời gian này hai sĩ quan của BTL Sư Ðoàn TQLC vừa trúng pháo của VC khi đang trên mặt nước để lên chiến hạm, đó là Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc và Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng, theo như lời thổ lộ của Trung Tâm Trưởng TTHQ/ SÐ/TQLC Trần Vệ và sĩ quan TQLC, Tô Văn Cấp.
Vào phút chót Trung Tướng Trưởng đành bó tay, đã rời bỏ Quân Khu I… Nếp đạo đức, khôn ngoan và thói quen chịu đựng đau đớn cho thấy ông tướng danh tiếng này, vượt thắng hơn sự tính toán của TT Thiệu… Theo lời một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến kể lại sau này viết lại trên trang Báo Ða Hiệu của Hội Cựu SVSQ Võ Bị Ðà Lạt: “Những chi tiết này cũng phù hợp với lời Tướng Thoại kể lại.Tướng Trưởng ngồi lẻ loi trên ghế bố cùng với Ðại Tá TLP/ TQLC Nguyễn Thành Trí và độc nhất một anh lính truyền tin Bộ Binh, chờ ôm poncho lội nước để lên Hải Vận Hạm 404 vào lúc 10 giờ sáng ngày 29 Tháng Ba, thay vì tin theo lời hứa hẹn của Sài Gòn là: “Cứ ở yên trong đó không lội ra khơi chờ đến khi HQ 404 vô đón.” Và ông đã mặc bộ quân phục vải xám của Hải Quân để mặc trong suốt thời gian tạm trú trên tầu.”
Dù theo dõi chặt chẽ, nhưng thực ra Trung Tâm Hành Quân HQ ở Sài Gòn không nắm vững được phương vị di chuyển của Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Tướng Ngô Quang Trưởng: Khi ông ra tới chiến hạm, thì Tướng Hồ Văn Kỳ Thoại vẫn còn đang thất lạc ở bờ biển chờ tiểu đỉnh vào đón. Và trước đó, một vài viên chức người ngoại quốc đã được sắp xếp lên HQ-5 rồi.
Em trai của Phó Ðề Ðốc Thoại là Thiếu Tá Hồ Văn Kỳ Tường, hạm phó HQ-5, đã cầm tận tay công điện mật của chính tổng thống giao cho Tướng Trưởng và nói: “Tổng thống muốn trung tướng theo tiểu đĩnh trở lại đất liền để tiếp tục chỉ huy.” Sau khi đọc công điện một lúc khá lâu, Tướng Trưởng đã xin với Sài Gòn để được cùng với TQLC “tiếp tục chỉ huy trên Bộ Tư Lệnh Nổi tại Hải Vận Hạm HQ 404”… (Thực ra không ai rõ ngày giờ ấy: Tướng Trưởng đang ở chiến hạm nào? Những chi tiết này cũng được chính Tướng Thoại xác nhận.)
Những quyết định từ trung ương sau một khoảng thời gian chờ đợi, đồng ý cho Tướng Trưởng được theo chiến hạm xuôi về Nha Trang, Phan Rang về đến Sài Gòn. Buổi chiều cùng ngày, tin từ Ðà Nẵng gọi về Trung Tâm Hành Quân (thuộc Khối Hành Quân-Hải Quân cho Tư Lệnh Chung Tấn Cang biết “một oanh tạc cơ không rõ của Không Quân VN hay Hoa Kỳ đã bắn lầm một chiến hạm.” Cũng khoảng thời gian này vào khoảng sau 5 giờ chiều có tin chiến hạm trên đường xuôi Nam HQ 503 bị trúng đạn, gây cho khoảng 4 sĩ quan cùng với nhân viên, thủy thủ trúng thương và tử nạn.
Một sĩ quan trẻ tôi nghe qua máy truyền tin báo cáo tử nạn là “HQ Trung Úy Chiến Binh Nguyễn Ðộ,” cũng là người bạn cùng đơn vị của tôi trong Hải Quân vài năm trước. Tin chiến sự này cứ ám ảnh trong lòng tôi như chưa nguôi quên…
Không đầy một tuần sau, cái ngày Hải Quân và TQLC rời bỏ Ðà Nẵng hỗn loạn. Khi chiến hạm có Tướng Trưởng về đến cầu tầu Tư Lệnh HQ, Phòng Báo Chí cũng theo ra đón Tướng Trưởng, chứng kiến cảnh tượng Tướng Chức thay mặt Tổng Thống Thiệu tỏ rõ sự bất bình. Có tin “đồn” là Tướng Trưởng bị quản thúc cùng với một số tướng khác qua lệnh của Tướng Trần Văn Ðôn. Sau này gặp lại Tướng Chức, ông không muốn xác nhận lại chuyện cũ. Tướng Thoại thì kể rằng “ông Trưởng là sĩ quan cao cấp hơn, làm sao tôi ‘dám’!”
3. Tuyến Thép Phan Rang và Phó Ðề Ðốc Minh
Chỉ vài ngày sau khi Ðà Nẵng thất thủ, Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã muốn Phòng Báo Chí chuẩn bị các bài diễn văn soạn sẵn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Ðại Tướng Viên và tư lệnh Hải Quân nhằm nêu cao vai trò “Tư Lệnh Tuyến Thép” và một sĩ quan báo chí theo ra Nha Trang giao trực tiếp để trao tận tay và đề cao chiến dịch mới: “Tuyến phòng thủ cuối cùng dự định tại Nha Trang, mang tên Tuyến Thép, do PÐÐ Hoàng Cơ Minh là Tư Lệnh Chiến Trường-là vinh dự cho HQVN,” nhưng lễ nghi quân cách và lệnh chưa kịp chính thức loan tải và phát thanh thì lãnh thổ kiểm soát của VNCH đã phải cắt thêm về tới Tuyến Thép Phan Rang. Rồi cũng từ Phan Rang, chưa kịp thực hiện những nghi lễ mang tính tuyên truyền, tử thủ và bảo vệ Tuyến Thép thì Tư Lệnh Hoàng Cơ Minh, lẫn sĩ quan báo chí BTL-HQ đã phải theo chiến hạm chạy dọc theo bờ duyên hải để đón người di tản từ Phan Rang và các thành phố khác nữa xuôi Nam. Tôi, sĩ quan báo chí HQ, có dịp rút lui khỏi Nha Trang, đi chung chiến hạm với Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh, cùng gặp gỡ trong phòng ăn sĩ quan chiến hạm cùng những lúc chen chân giữa quân nhân tác chiến, và heo gà trên chiến hạm kêu oang oác, ồn ào.
Ðây là dịp tôi có giờ trò chuyện riêng tư với Tướng Minh. Chúng tôi kể lại thời ăn cơm chung giữa chúng tôi với nhà văn HQ Trung Úy Chu Sĩ Lương từng là sĩ quan báo chí BTL HQ khoảng thời gian với Trung Úy Trần Trọng Thức (sau này rời quân đội nhờ có Kim Cương), sau này Chu Sĩ Lương về phụ trách báo chí cho Tướng Minh, chúng tôi nhắc nhắc đến HQ Trung Úy Lê Rĩnh; HQ Trung Tá Lê Công Bình (người có mối liên hệ chặt chẽ với ông Chơn, sau này cả hai đều đi tù cải tạo nhiều năm); Thiếu Tá Phi Ðoàn Trưởng Thần Trùy 211; Nguyễn Kim Hườn, với Thiếu Úy KQ Trần Thụy Chi thường chở ông trên trực thăng, những ngày tôi được quan sát cuộc hành quân thủy bộ, ông tiếc cho buổi triển lãm tranh ở Hội Việt-Mỹ khai mạc đầu Tháng Tư sẽ không có nhân vật chính là tôi về kịp tham dự…. Chúng tôi ngậm ngùi chung về những mất mát… Và chúng tôi lênh đênh như thế trên biển hơn 3 ngày, chen lẫn trong số hàng ngàn chiến binh tướng tá di tản, trên cả 3 soái hạm, HQ 2, HQ 3, HQ 5 và bao gồm cả Dương Vận Hạm HQ 500
4. Hải Quân họp tiết lộ chi tiết: di tản
Bộ Tư Lệnh Hải Quân và Ðại Tá Nguyễn Xuân Sơn, tư lệnh hạm đội đã họp với khoảng 100 hạm trưởng các loại chiến hạm lớn nhỏ vào chiều ngày 26 Tháng Tư, ông Sơn tuyên bố rằng “lấy quyền-tư lệnh hạm đội thông báo đến quý vị hạm trưởng rõ 3 chuyện: ‘Vũng Tầu, Phan Rang và Bộ Tổng Tham Mưu đã tan rã, địa điểm Sư Ðoàn 3 Không Quân đang bị giội bom, trong khi Hạm Ðội HQ còn an toàn và nguyên vẹn, chúng ta chuẩn bị tinh thần có thể di chuyển về Phú Quốc.’”
Chỉ vài ngày sau hôm 28 Tháng Tư, Ðại Tá Sơn bị “cách chức,” người thay thế là Ðại Tá Khuê. Ông Khuê tuyên bố trong buổi họp đầu tiên để trấn an và đánh lạc hướng: “Di tản không còn là vấn đề phải đặt ra nữa vì Hoa Kỳ đã giúp ta thả bom CBU ở Xuân Lộc,… ta sẽ thắng…”
Vào sáng sớm ngày 29 Tháng Tư lại có một cuộc họp tham mưu cao cấp cho biết: “Nếu không có một phản lệnh nào khác, thì toàn bộ hạm đội sẽ rời Bộ Tư Lệnh Sài Gòn vào lúc ‘Không Giờ’- Khuya 29 rạng 30, các hạm trưởng cứ thế mà tuân hành.”
Trong khi đó thì Phó Ðề Ðốc Nguyễn Thanh Châu cũng có mặt gần Sài Gòn, ông thường xuyên có mặt tại “nút chặn” Căn Cứ Hải Quân Cát Lái, cùng với toán Quân Cảnh và toán nhân viên làm một nút chặn ngay tại ngoài tuyến đường lộ gần căn cứ, nơi được đặt là trại tị nạn cho quân nhân và đồng bào về từ Phú Quốc. Trong lúc đó có tin không chính thức “HQ Ðại Tá Trần Văn Triết điều khiển kiểm soát vòng đai Hải Quân Sài Gòn?”
Thiếu Tá Trần Khánh Liễm bị ngăn cản vào “Nút Chặn-Trại Sĩ Quan Cửu Long” đã kể lại sau này. Thiếu Tá Liễm “giờ thứ 25” vào lúc 9 giờ tối 29 Tháng Tư, còn gặp Ðại Tá Ðỗ Kiểm vẫn chưa lên tàu, có mặt trong Hải Quân Công Xưởng – Ðại Tá Kiểm hỏi, “tại sao anh chưa đi?” và cho biết, “Bộ Tư Lệnh HQ đã được lệnh giải tán từ 2 giờ chiều (ngày 29 Tháng Tư).” Thiếu Tá Liễm, người chỉ huy cuối cùng của Biệt Ðội Văn Nghệ Hải Quân, trước đó cũng không được biết bất cứ một tin tức, không được ai kể cả Phan Minh Hồng hứa liên lạc khi có biến chuyển và lệnh “tan hàng.” Ông Liễm vẫn bám trụ với 4 đơn vị bao gồm Nút Chặn Trại Cửu Long và NewPort. May cho ông vừa đúng lúc, kịp phút chót vào lúc nửa đêm, còn kịp xuống HQ 801 – trong lúc HQ 801 còn phải kéo theo Soái Hạm HQ-1 bị “ủi bãi,” mắc cạn trước đó vì lý do không công bố. Cũng rất khó hiểu khi chính hạm trưởng soái hạm Trần Hưng Ðạo HQ1, Nguyễn Ðịch Hùng (khóa 4 Brest) bị “bỏ rơi” ở lại?
Riêng Hạm Trưởng Ðinh Mạnh Hùng của HQ2 – mang tên Trần Quang Khải – còn nhớ lại: “Vào lúc 5 giờ 30 chiều 29 Tháng Tư, 1975, cơn mưa chiều vừa tạnh, khi chuẩn bị xuống chiến hạm, chuẩn bị công tác chiến dịch ‘Di Tản-Lui Binh,’ có nhìn thấy vài sĩ quan từng quen thuộc trước đây ở tại Bộ Tư Lệnh.” Theo lời kể lại của Hạm Trưởng Hùng thì: “Ông Ưng Văn Ðức cùng một thiếu tá nói với Hạm Trưởng Hùng ‘thi hành lệnh của Ðại Tá Triết không cho hạm trưởng và nhân viên, hoặc bất cứ ai được xuống tầu di chuyển nếu không do chính Ðại Tá Triết cho phép.’”
Hạm Trưởng Ðinh Mạnh Hùng cũng thuật lại “chính tôi đã bị cản lại không được xuống tầu, tôi đã phải dùng máy liên lạc cho một tiểu đỉnh đón ông trước nhà hàng Majestic, và lên tầu phía tả hạm, bằng thang dây…”
5. Tổng Thống Dương Văn Minh đồng ý cho di tản về miền Tây
Cũng khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, trong cơn mưa nhỏ và mây xám, Phó Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí, tư lệnh Hành Quân Lưu Ðộng Biển đã cùng với gia đình Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh xuống HQ3. Trong khi Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh đứng trên một chiếc PCF, đậu ngay cầu tầu tư lệnh để dàn xếp mọi diễn biến. Ông nói như ban lệnh rất lớn chỉ về hướng tôi còn đang ngơ ngác hướng mắt nhìn ông: “Anh sĩ quan nhờ sĩ quan trực liên lạc gấp với tư thất tư lệnh Chơn ngay bây giờ…”
Từ giờ phút ấy Tướng Minh trở lại chiến hạm. Từ đó có lệnh từ chiến hạm “Nội bất xuất, ngoại bất nhập.” Và cho đến chiều tối mới chuyển qua HQ5, chiến hạm này “được chọn làm soái hạm chỉ huy” cùng với Tư Lệnh Chung Tấn Cang.
Ðô Ðốc Cang muốn bảo toàn đơn vị đến giờ chót hoặc lên đường ra Phú Quốc hoặc Miền Tây. Những điều này khi trình bày với TT Dương Văn Minh đều được tổng thống gật đầu và không phản đối điều gì. Chủ trương của ông Cang cùng với các vị tướng tham mưu là không chấp nhận liên hiệp. Xung quanh ông là những tướng lãnh chủ trương chống Cộng, chống Liên Hiệp với CS… như Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh, Phó Ðề Ðốc Ðinh Mạnh Hùng, Phó Ðề Ðốc Ðặng Cao Thăng, Phó Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí… Và Phó Ðề Ðốc Nghiêm Văn Phú, là một sĩ quan chỉ huy mà trước đây từng có những bất hòa riêng với tư lệnh, nhưng chính cuộc chiến đấu và di tản cuối cùng gay go này đã đưa những người có những bất đồng ngồi lại gần nhau… cùng hữu hiệu làm việc.
Họ thường xuyên liên lạc với Ðại Tướng Minh, Ðại Tướng Minh đã bày tỏ rõ ý muốn ở lại của riêng ông, và mệt mỏi đồng ý cho các đơn vị quân đội và HQ được quyền tự giải quyết hoặc đưa quân nhân các cấp “di tản & lui binh,” sau khi ông cảm thấy đã tuyệt vọng và bị lừa.
Phó Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí, tức nhà thơ Hữu Phương lại là vị tướng độc nhất trong BTLHQ (?)theo như lời ông kể lại, “Muốn phá hủy cơ sở Trung Tâm Hành Quân để bảo mật. Trong lúc rời nhiệm sở, ông nói ra ý định muốn dùng lựu đạn lân tinh để tiêu hủy hồ sơ theo mục đích bảo vệ những người còn kẹt lại và ngăn chặn khi VC tới.”
Phó Ðề Ðốc Chí sau đó xuống chiến hạm bằng tiểu đỉnh và lên bằng thang dây vì cầu tầu đã bị kiểm soát nghiêm nhặt, như lời ông kể lại khi đến Hoa Kỳ.
Các phòng sở khác êm ắng như nhà hoang cửa trống,ai cũng túa ra về vì tất cả họ tâm trạng đều rối bời, không ai tiếc nuối gì hoặc có một hành động gì khác, ngoài nhóm người thân cận với tân Tổng Thống Dương Văn Minh thì vẫn cố vớt vát tìm giải pháp… chiến đấu (?)…Có lẽ vì vậy vài sĩ quan Hải Quân giờ chót chưa đi, người được anh em tưởng là thân cận với ông Dương Văn Minh khi ở lại, vẫn bị trên 16 năm tù “cải tạo” thế mà còn bị mang tiếng là đặc công nằm vùng! như Ðại Tá Nguyễn Văn Tấn. Ông Tấn đã kể lại và xác nhận “được khẩu lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh hành xử quyền tư lệnh Hải Quân.” Hai sĩ quan phòng Tâm Lý Chiến là HQ Trung Tá Lê Như Linh (người dành cho tôi những ưu ái – mà tôi không quên), Trưởng Phòng Tâm Lý Chiến Bộ Tư Lệnh Hải Quân và HQ Thiếu Tá Trần Bá Hạnh, phó trưởng phòng là những người tôi được biết không bỏ đơn vị trước như một số sĩ quan khác. Chính vào lúc 10 giờ sáng 30 Tháng Tư, Trung Tá Linh còn vì nể tình tôi nhờ cậy, đã đón gia đình Giáo Sư ÐH Luật Khoa, Lê Ðình Chi vô phòng làm việc của ông ngồi chờ, hứa sẽ giúp nếu có phương tiện.
Tôi “tin chắc” trong suốt bao nhiêu năm trong Hải Quân (mãi đến 4 năm sau mất SàiGòn) tôi chỉ thấy có một người đó là Trung Sĩ Tâm Lý Chiến Huỳnh Thanh Vân, cũng là tài tử điện ảnh, là cán bộ nằm vùng sau 1975 đã trở thành thủ trưởng phòng Tài Chánh và Ngân Hàng Quận Tân Bình, là dân nằm vùng mà thôi, như lời xác nhận của Trung Úy Tài Chánh Nguyễn Văn Hưng. Còn những tiếng đồn khác về như nhà văn Chu Sinh (Chu Sĩ Lương) và những người khác ở lại, hoặc không đi được gọi họ là “nằm vùng” thì tôi không bao giờ tin được và thật là oan ức cho họ!
Phó Ðô Ðốc Cang, theo sát an ninh vào những giờ cuối cùng. Ông liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu, cũng như Ðại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, chỉ huy trưởng Ðặc Khu Rừng Sát và Thủy Trình sông Lòng Tảo, Vàm Cỏ-Soài Rạp… để giữ an ninh cho đoàn chiến hạm có khả năng di chuyển trên sông Sài Gòn trong vòng vài giờ ra khơi, cùng hướng về điểm hẹn đặt dưới quyền chỉ huy toàn diện của chính ông, không trở thành mục tiêu của VC sẽ trải dài hai bên bờ sông. Ông Cang là vị tướng đã thu gọn quân nhân dưới quyền tập hợp di tản nhẹ nhàng nhất mà chắc rằng không ai có khả năng điều động rộng lớn và khó khăn được như thế.
“Nếu không có lệnh đầu hàng, và nếu không có lệnh khác thì một khối lượng lớn tướng lãnh, sĩ quan, quân nhân các quân binh chủng và Hải Quân đã có mặt tại Miền Tây” (?), như chính lời Ðô Ðốc Cang cho biết như vậy, qua các bài phỏng vấn và tin tức chính thức sau này.
Lực Lượng Ðặc Nhiệm 99 cũng là con đẻ của ông, một tổ chức cần thiết để giữ an ninh giờ chót cho Sài Gòn. Có lẽ chính vì thế mà nhiều người còn rời Sài Gòn được trong ngày 30 Tháng Tư, như cụ thể trường hợp nhà thơ Nhất Tuấn, và nhiều người khác còn cơ hội lên được Quân Vận Ðỉnh 9604 ra khỏi sông Sài Gòn từ Nhà Bè hoặc Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc rời Sài Gòn trong khoảng 4 giờ trên sông mà không bị VC bắn từ hai bên bờ sông.
Tới trưa 30 Tháng Tư, những vụ hôi của dọc kho Trịnh Minh Thế và Khánh Hội gây ra những vụ nổ súng và khói lửa trong khi VC vẫn chưa xuất hiện dọc đường như nhiều người lo âu.
6. Hải Quân ra khơi
Tư Lệnh HQ Chung Tấn Cang đã không ra đi bằng phương tiện hàng không. Mặc dù cũng giống như Phó Ðề Ðốc Chí, Ðề Ðốc Chơn, Ðại Tá Tấn – Khối An Ninh HQ đều được cơ quan DAO dành chỗ sẵn để họ lên máy bay.
Trước đó một ngày, đề đốc hồi hưu Trần Văn Chơn “ra Vũng Tầu đón cha mẹ về cùng đi, chờ lên máy bay của Quân Ðội HK, nhưng cuối cùng tôi đã quyết định ở lại. Con trai, là hạm trưởng HQ601, HQ Ðại Úy Trần Minh Chánh, cũng từ chối di tản trong chiều tối 29 Tháng Tư, để rồi phải chịu đi tù nhiều năm. Ðề Ðốc Trần Văn Chơn đã kể lại trong buổi thăm viếng tại San José sau năm 2000, cùng hồi tưởng về năm tháng trước 1975, và những ngày cuối cùng tại BTL-HQ).
Trong cơn mưa chiều 29, “vài tướng lãnh bị tạm giam trong khu vực BTL Hải Quân như: Trung Tướng Lâm Quang Thi, Lâm Quang Thơ, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Ðức Thắng, Phạm Quốc Thuần, Chuẩn Tướng KQ Nguyễn Ðức Khánh… được các sĩ quan Hải Quân nhanh chóng mời đón lên chiến hạm HQ2 cùng di tản chiến đấu.” Như sự chứng kiến và giúp cho xuống chiến hạm theo lời kể lại của Hạm Trưởng HQ2 Ðinh Mạnh Hùng.”
Phó Ðề Ðốc Lâm Nguơn Tánh vừa rời chức vụ tư lệnh Hải Quân tháng trước, ngày đó cũng mới từ xa về, được hướng dẫn xuống Soái Hạm HQ1, đậu ở vị trí 1 gần sát đường lộ mặt tiền BTLHQ. Vì HQ1 rời bến đầu tiên và sau đó lại mắc cạn phải chờ kéo đi .Ở vị trí số 2 cặp chính giữa là HQ3 Phạm Ngũ Lão, ngoài cùng vị trí số 3 là HQ2 Trần Quang Khải do HQ Trung Tá Ðinh Mạnh Hùng là hạm trưởng kể lại: “Ðã tuân theo kế hoạch rời bến gần giữa đêm” “giờ Zéro.” Có các chiến hạm khác kể cả các chiến hạm PCF trong nhóm tầu của Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh chỉ huy đã rời bến từ sớm. Mỗi khi có một chiến hạm tách bến lại có vài người trên bờ nổ súng… Và nhiều trực thăng bay lượn xa gần vòng quanh Bộ Tư Lệnh càng lúc càng nhiều như muốn được nhảy xuống nước để được HQ vớt.
Khi chiến hạm rời bến, người ta nhìn thấy ngọn lửa đang bốc cao từ kho đạn Thành Tuy Hạ và kho xăng Nhà Bè. Mặc dù trước đó cũng có nhiều người rời Sài Gòn từ khu vực Quân Cảng vùng Cát Lái hướng về Phú Quốc. Trong lúc này phi trường Tân Sơn Nhất và Bộ Tư Lệnh Không Quân đã là trọng điểm của những đợt pháo kích, nhiều cấp tướng và cấp tá đã cho biết họ không còn tìm được máy bay để rời Sài Gòn. Hình ảnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân và sông Sài Gòn bị pháo kích cũng trong tầm tiên liệu và lo âu như phi trường, nhưng làn sóng người vẫn kéo về thật đông.
Sáng sớm ngày 30 Tháng Tư, theo lệnh từ trung ương chính phủ, HQ Trung Tá Lê Như Linh cho phát ra lời kêu gọi các chiến hạm đừng rời bến trên hệ thống truyền tin nội bộ. Riêng HQ Ðại Tá Nguyễn Văn Tấn, quyền Tư Lệnh BTL/HQ, sau khi đi họp với Tướng Vĩnh Lộc từ 7 giờ 30 sáng, có cả ông Vanuxem cựu tướng lãnh Pháp trong buổi họp này. Tướng Vĩnh Lộc đã ra lệnh Hải Quân phải cung cấp chiến hạm cho ông. Trở về BTL/HQ ngay sau đó, Ðại Tá Tấn đã ra lệnh cho sĩ quan báo chí viết các lời kêu gọi của TL/HQ “ban hành lệnh cho anh em chiến sĩ tiếp tục giữ vững tay súng” và không đi đâu cả. Sĩ quan báo chí HQ lúc ấy đã không viết hoặc đọc được lời kêu gọi này.
Cựu trưởng khối CTCT BTL-Hải Quân là Ðại Tá Trần Văn Triết đã rời nhiệm sở, để nắm quyền kiểm soát, cho phép từng người xuống chiến hạm. Theo lời Tướng Chí cho biết: “Ông Triết đã rời bến nhanh chóng và có mặt ở Phi đầu tiên, mà không đi theo 3 phân đội di tản của HQVN…”
Lúc bấy giờ đi ra đi vào phòng làm việc ở Bộ Tư Lệnh HQ, tôi còn gặp HQ Thiếu Tá Trần Bá Hạnh là người có tin đồn rằng ông rất thân cận với vài tổng trưởng mới, thân tín của Tổng Thống “Big Minh.” Tôi thấy Thiếu Tá Hạnh còn đi ra đi vào nói năng, lệnh lạc với anh em đoàn viên, nét mặt trầm tĩnh. Lúc ấy ở ngay Tiểu Ban Ðiện Ảnh, tôi nghe bản tin đặc biệt qua radio lập đi, lập lại cách 5-10 phút, loan tin: “Tân nội các Vũ Văn Mẫu đòi trục xuất cơ quan DAO và lực lượng Hoa Kỳ…”
Anh em làm ở BTL-HQ đều biết, “Thực sự Tướng Cang, là người lâu nay thường xuyên liên lạc chặt chẽ với Tổng Tham Mưu, Dinh Ðộc Lập, với ông Thiệu… Ông nổi danh từ khi tham gia đảo chánh 1-11-63 thành công. Nhưng giờ phút này ông Cang để cho Phó Ðề Ðốc Diệp Quang Thủy có HQ Thiếu Tá Phước (định cư tại Tacoma-WA) đi cùng, thay mặt ông là ‘con thoi’ với ông Dương Văn Minh khi cần…” Thiếu Tá Phước đã kể lại sau này.
Các chức vụ xung quanh Tướng Cang như: Phó Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí, tư lệnh Hành Quân Lưu Ðộng Biển; HQ Ðại Tá Nguyễn Xuân Sơn, tư lệnh hạm đội; Ðại Tá Ðỗ Kiểm, tham mưu phó hành quân; Ðại Tá Luân, chỉ huy trưởng khối tiếp vận; Ðại Tá Phạm Mạnh Khuê, tân tham mưu trưởng hành quân biển, thế chỗ Ðại Tá Sơn vào ngày chót; Phó Ðề Ðốc Diệp Quang Thủy, tham mưu trưởng Hải Quân; Phó Ðề Ðốc Ðinh Mạnh Hùng, tư lệnh hành quân lưu động sông; Ðại Tá Dõng, tư lệnh Lực Lượng Ðặc Nhiệm 99. Những cách biệt cá nhân không còn nữa, cuộc di tản mang họ lại gần nhau.
Riêng trường hợp cá nhân tôi, là một sĩ quan rất trẻ, lúc ấy mang cấp bậc trung úy, và phục vụ trong lãnh vực Thông Tin-Báo Chí. Tôi là trưởng Tiểu Ban Báo Chí còn có ba thượng sĩ-phóng viên báo chí Hải Quân và một thượng sĩ-báo chí (được tu nghiệp từ Hoa Kỳ) nhưng không phải là phóng viên hoặc không có nhiệm vụ viết tin.
Tiểu Ban Báo Chí còn có hai đoàn viên và hai nữ nhân viên dân chính. Chúng tôi thuộc Ban Thông Tin BTL/HQ do HQ Trung Úy Nguyễn Tất Ứng là trưởng ban thông tin, còn có hai tiểu ban khác nữa, một người bạn cấp bậc trung úy là trưởng tiểu ban ấn loát hội họa, có “Thượng Sĩ Tư Cầu” là phụ tá và Vũ Thái Hòa cũng là nhạc sĩ kiêm họa sĩ trong Ban Ấn-Họa, trong ban này có một đoàn viên tên Hào (cùng định cư tại WA) có người anh là nhà văn nổi tiếng của BTL-KQ. Trung Úy Chương An Hòa là trưởng Tiểu Ban Ðiện Ảnh, với phụ tá là Thượng Sĩ Sủng chuyên lo về hình chụp, quay phim (rất gần gũi trực tiếp với các vị tư lệnh), tiểu ban này còn có vài đoàn viên phụ tá. Tôi muốn nhắc đến một chút về sự quan tâm chọn sĩ quan về làm ngành thông tin báo chí, Nguyễn Tất Ứng là một thí dụ. Trước 1968 Ứng quen biết và hoạt động với Cha Hoàng Quỳnh, chỉ qua một buổi gặp gỡ giữa linh mục và Tư Lệnh Trần Văn Chơn, Cha Quỳnh chỉ thố lộ: tôi có một giáo dân có lý tưởng tốt là Nguyễn Tất Ứng, không ngờ chẳng bao lâu sau, Tư Lệnh Chơn đã cho lệnh thuyên chuyển Trung Úy Ứng về làm báo chí. Ðó cũng là trường hợp Trần Trọng Thức, vì tôi là bạn cùng học với Ứng, nên mọi người vẫn nghĩ, Trung Úy Ứng đã xin tôi về làm việc chung.
Tôi còn nhớ trong những giây phút hoang mang ấy chúng tôi những người bạn thân quen ngoài Ứng, còn có HQ Trung Úy Phạm Vĩnh Xuân (Hà Thúc Sinh), và HQ Ðại Úy Ðặng Phú Thiệt (trưởng ban Nghiên Cứu Kế Hoạch-và ban Tuyên Vận cùng phòng Tâm Lý Chiến) tốt nghiệp từ Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị được chính Tư Lệnh Chân “kéo” về phục vụ trong cùng Khối CTCT Hải Quân. Nay sau bao năm chúng tôi ở cùng một thành phố, vẫn còn thân thiết… Tháng Tư 1975, Ðặng Phú Thiệt (nay rất thành công về tài chánh tại Seattle) cũng từng bàn với tôi, “mình chiếm đoạt một tầu loại nhỏ càng sớm càng tốt rời Sài Gòn ra đi khi bị bỏ rơi…” Thân hơn nữa, tôi còn sát cánh với HQ Trung Tá Trịnh Tiến Hùng, ông cũng là “cánh tay mặt” của Ðại Tá Sơn, sau khi lo cho người thân và nhân viên thuộc cấp, chính ông cũng muốn tôi mang gia đình tôi lên tầu HQ với ông (nếu không có phương tiện di tản khác). Sau này tôi được biết ông Hùng thay vì di tản cùng chiến hạm, đã có phương tiện máy bay đi vào ngày cận chót.
Như phóng viên báo chí Hải Quân-Thượng Sĩ Nguyễn Viết Kim tức nhà văn Người Khăn Trắng, trong ngày 29 Tháng Tư, nhân việc đi săn tin tức, chở tôi trên chiếc xe Honda đàn ông đỏ của anh, tâm sự với nhau những lời từ giã, vì vợ con anh đã ra Vũng Tầu và chờ ra khơi rồi. Anh đang tìm đường gấp rút ra đi. Chúng tôi nói những lời chia tay từ đó. Trong cơn hỗn loạn ngày 29 Tháng Tư, tôi còn gặp Lara (cựu trưởng ban Báo Chí Gia Long), gặp Nick Út, Ðệ, Ba Lê, Huỳnh (của các hãng thông tấn Hoa Kỳ)… tất cả đều bối rối… như tôi.
Như nhà văn Võ Hà Anh, vừa là thượng sĩ phóng viên báo chí và cũng là nhà văn nổi tiếng thời ấy tên Dung-Võ Hà Anh, thì rất chu đáo và lo cho anh em “trong phòng Báo Chí chúng tôi, còn có thượng sĩ phóng viên Triều Dương, Thượng Sĩ Báo Chí Hà Minh Trung, và cô dân chính Cẩm Vân để có những giấy tờ lên máy bay đặc biệt do cơ quan DAO cấp cho thân nhân người Hoa Kỳ. Vợ chồng nhà văn Dung-Võ Hà Anh, vài năm lặn lội ngược xuôi rồi cũng định cư tại Pháp.”
Như HQ Thiếu Tá Nguyễn Ðình Sài, tác giả của vài bài thơ mới, thường cho tôi đọc thời ấy vẫn rất nghiêm chỉnh cùng với nhóm sĩ quan BTL-HQ vào doanh trại kiểm soát các toán sĩ quan và đoàn viên trực gác canh phòng mỗi đêm cho đến hết những đêm cuối… tới khuya 29 Tháng Tư…
Và chúng tôi vẫn gặp bạn cũ, HQ Ðại Úy Lê Rĩnh, sĩ quan tùy viên của Phó Ðề Ðốc Ðinh Mạnh Hùng (là người chí thiết với Tướng Hoàng Cơ Minh tại vùng Bắc-Mỹ Châu); Nhà thơ Hà Thúc Sinh say mê làm thơ và dịch sách từ đó, là trung úy đơn vị trưởng Hải Tiếp Vụ tại Hải Quân Công Xưởng. Tuy nhiên Hà Thúc Sinh giống như Võ Hà Anh, Nguyễn Tất Ứng và trường hợp của nhiều người khác, họ cũng không liên lạc được với máy bay của DAO, (dù có chủ đích) với con số người quân đội cần bốc khỏi Sài Gòn ngày càng tăng, nhiều quân nhân và giới chức Hoa Kỳ vẫn chưa kịp lên máy bay rời Sài Gòn được…
Và dù biết danh sách các địa điểm trực thăng đón và có danh sách được đón đi, tôi cũng chẳng màng “chờ nghe bài hát White Christmas sẽ phát trên làn sóng phát thanh quân đội Hoa Kỳ,” được cho biết mật từ một tuần trước.. như phóng viên báo chí Thượng Sĩ Võ Hà Anh đã căn dặn, như lời dặn của một cô dân chính (thông dịch viên tại Phòng 2 thuộc Khối Hành Quân) có liên hệ với Phó Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí. HQ Ðại Úy T. trước từng ở Phòng 2 trước năm 1970, vào khoảng 9 tới 10 giờ sáng 30 Tháng Tư trở lại nhìn lạ Phòng 2 “vô BTL coi thế nào” theo yêu cầu của Phó Ðề Ðốc Nghiêm Văn Phú, và cũng cảm xúc từ giã phòng làm việc năm xưa lần cuối. Ðại Úy Tạo đang gác cổng BTL- HQ vì là bạn thân thiết cho Ðại Úy T. biết “theo lệnh nghiêm ngặt của Ðại Tá Tấn ‘nắm quyền’ tư lệnh HQ, ra lệnh không cho ai vô cao ốc mới” nơi có Phòng Hai, nhưng Ðại Úy T*. đã trở về nhìn lại Phòng 2 trong những giờ phút mong manh cuối cùng của đời quân ngũ.
Tôi không còn gặp một bạn hữu hoặc nhân viên nào của Phòng Thông Tin Báo Chí nữa, như phóng viên Hải Quân-Triều Dương, Nguyễn Tất Ứng, phóng viên Hà Minh Trung, Dân Chính Cẩm Vân (nhân viên Dân Chính bị cho nghỉ việc thời gian này vì lý do ngân sách không còn để trả lương dân chính)… từ chiều 29 Tháng Tư, 1975.
Ðêm 29 Tháng Tư, vào lúc tôi còn bận tìm người thân trong gia đình, tại Bộ Tư Lệnh, sĩ quan và đoàn viên họ gọi nhau ơi ới, mở lối đi về hướng cầu tầu cho quân nhân “Xuống tầu đi kìa, gấp lên tầu rời bến đêm nay…” Chiếc TV để giữa cổng ra vào từ đêm 21 Tháng Tư, ông Thiệu đọc diễn văn từ chức vẫn chớp hình mà không ai muốn nhìn. Tôi lại rời BTL, lái xe về nhà với ý định mang gia đình xuống chiến hạm ra đi theo bạn bè, đồng đội.
7. Chi tiết di tản của hải quân và ông Armitage
Lúc này có một sĩ quan liên lạc cấp tốc từ Hoa Thịnh Ðốn cử tới là cựu Thiếu Tá Richard Armitage, là tùy viên viên quân sự Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ. Nay là thứ trưởng Bộ Ngoại Giao. Ai cũng có thể hiểu ông đã đóng vai trò theo dõi, đôn đốc cuộc “Di Tản-Lui Binh” êm thấm và bí ẩn theo ý muốn của chánh phủ Hoa Kỳ chứ không hẳn là theo ý của Tư Lệnh Cang. Tuy vậy Phó Ðô Ðốc Cang cho biết “ông Armitage cũng không làm điều gì to tát và không tỏ lộ là người có quyền chỉ huy trong cuộc di tản như những lo ngại”… khi nhắc tới vai trò sĩ quan Hoa Kỳ này. Tôi cũng được có những lời kể khác nhau về những điều mà tôi ghi nhận được.
Ðối với chính phủ Hoa Kỳ, ông Armitage mới là người đích thực lãnh trách vụ trong chiến dịch mang quân nhân, viên chức Hoa Kỳ liên quan đến HQ còn lại, toàn thể quân nhân HK tại Sài Gòn lúc ấy chỉ còn khoảng 900 người cần mang ra khỏi VN càng sớm càng tốt.
Phó Ðề Ðốc Ðinh Mạnh Hùng đã hướng dẫn sĩ quan liên lạc Armitage thăm vùng cầu Bình Lợi, quan sát khu Quân Cảng và HQCX sau đó đi xuống Chiến Hạm HQ3 rồi chuyển qua HQ 5, và sau đó đón Tướng Cang và Tướng Diệp Quang Thủy từ một tiểu đĩnh lên soái hạm, thay vì xuống chiến hạm từ Bộ Tư Lệnh như bao nhiêu người khác để bảo mật.
8. Ai là quyền tư lệnh cuối cùng trên đất liền?
Chiều hôm 29 Tháng Tư 1975, Phòng Báo Chí Hải Quân nhận lệnh theo dõi các diễn biến đi họp tại Tổng Tham Mưu, như lời kêu gọi. Khuya 29 và rạng sáng ngày 30 Tháng Tư lại được lệnh từ Ðại Tá Tấn, hành xử như nhân vật số 1 của HQ; Ðại Tá Tấn cũng mời Phó Ðề Ðốc Ðặng Cao Thăng từ Miền Tây về cùng ông chỉ huy, Tướng Thăng nói, “Chờ tôi lấy trực thăng và sẽ có mặt tại BTL.” Và đến gần trưa 30 Tháng Tư vài giờ trước khi Tổng Thống Minh chính thức đọc lời đầu hàng lại có sự xuất hiện của Ðại Tá Trần Bình Phú, trưởng khối nhân viên Bộ Tư Lệnh được Tư Lệnh Cang (hay ông Tấn) chuyển lại quyền ra mặt, ở lại kiểm soát, chỉ huy Hải Quân.
Nhiều người gọi ông Ðại Tá Tấn là Tư Lệnh cuối Tháng Tư, và ông cũng ra lệnh cho vài hạm trưởng trong ngày 29 Tháng Tư – “nhân danh tư lệnh” (dù không nói rõ tư lệnh tên gì), nhưng không xác định tư lệnh là chính ông hay không? Người ta thấy trong ngày 29 Tháng Tư, ông Tấn trong quân phục đại lễ HQ, có hai xe Jeep Quân Cảnh hộ tống vào Bộ Tư Lệnh HQ.
Người ta tin rằng Ðại Tá Tấn đã được Tổng Thống Dương Văn Minh bổ nhậm bằng khẩu lệnh ngay sau khi biết ý định của Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang xin có kế hoạch di tản. Ông Minh nói,”Các anh cứ việc đi và cho mang theo hai người thân cũng là sĩ quan cao cấp VNCH,” đồng thời từ chối lên một chiến hạm chuẩn bị chu đáo “dành riêng để nghinh đón Nội Các và di tản các giới lãnh đạo quốc gia.”
Sau 16 năm tù “cải tạo” cay đắng nhục nhằn, đi Hoa Kỳ tị nạn, Ðại Tá Tấn có ý định định cư tại thành phố Seattle cùng với Ðại Tá Dũ (Cơ Khí), sau đó ông Tấn di chuyển về Cali. Khi liên lạc lại được nhau tại Hoa Kỳ, khi tôi hỏi ông “có phải là quyền tư lệnh ngày 30 Tháng Tư không?” Ðại Tá Tấn “giữ thái độ yên lặng với quá khư Ô- trải qua 16 năm tù khổ nhục mà…!” và ông đã xác nhận vai trò của ông vào “chỉ huy giờ phút chót trong nỗ lực tuyệt vọng này là đúng.” Sau vài lần trò chuyện qua điện thoại, ông Tấn cho biết ông không có dịp giao tiếp trong cộng đồng nhiều…
Bấy giờ nhiều cánh quân VC đã vào tới Sài Gòn, xe tăng T-54 đã nghiến lòng đường phố Sài Gòn tới góc đường Ðinh Tiên Hoàng, Hiền Vương, Hai Bà Trưng và nhiều nơi khác. Mặt khác đoàn quân CS Bắc Việt cũng trên đường tiến tới ủi sập cổng sắt Dinh Ðộc Lập và đòi chánh phủ VNCH phải đầu hàng.
Trong khi đó HQ Ðại Tá Trần Bình Phú, trưởng khối nhân viên BTL-HQ cũng được các sĩ quan tham mưu và nhân viên có mặt lúc ấy xác nhận ông là người ra mặt chỉ huy tại Bộ Tư Lệnh. HQ Trung úy Ðỗ Anh Tuấn em vợ của Ðại Tá Trần Bình Phú cùng với HQ Trung Tá Phan Ngọc Xuân chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh BTL/HQ tiếp tục cầm súng chỉ huy những vị này và vài sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Khối An Ninh đi theo Ðại Tá Tấn là những người cuối cùng tôi gặp và từ giã ở vòng vây rào kẽm gai chằng chịt.
9. BTL/HQ bỏ ngỏ từ lúc tổng thống ban hành lệnh buông súng – chờ bàn giao
Giờ phút ấy tôi không nghĩ được phải làm gì, bỏ chạy ra xe về đón gia đình xuống tàu hay ra vài điểm hẹn “chờ trực thăng”? Không hiểu tại sao giờ phút đó chúng tôi còn đủ bình tĩnh, không sợ pháo kích và T-54 càn nát người và tiến vào vòng rào Hải Quân không chừng?
Trong giờ phút căng thẳng tôi nghe theo lời yêu cầu của người bạn, chỉ biết Trung Úy Ðỗ Anh Tuấn là người thân tín, anh rất có kỷ luật, bạn học trường Taberd, gia nhập vào cùng quân chủng giao súng, khẩn khoản mong tôi đứng trong đội ngũ bảo vệ cuối cùng Bộ Tư Lệnh dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Phú. Tôi làm theo yêu cầu, cho đến khi biết rằng: Thật sự tuyệt vọng rồi, như lời anh Ðệ thông tấn viên truyền hình ABC, anh Nick Út của hãng thông tấn AP, hai anh hôm trước đến chia tay tôi tại BTL/HQ và muốn rủ cô em Bình Minh cùng theo anh lên máy bay Hoa Kỳ. Họ đưa tôi bản tin từ tờ New York Times từ ngày 24 Tháng Tư 1975 viết về sự thất thủ đã là sự thực không chối cãi được khi viện trợ Hoa Kỳ cho VNCH đã bị ngưng. Chấm dứt bao nhiêu năm sát cánh: với 58,000 người lính Hoa Kỳ tử vong có lúc quân số lính Mỹ ở VN lên tới trên nửa triệu người, cũng như tổng cộng gần 200 tỷ đô la đã tiêu pha cho cuộc chiến tranh VN, với khoảng 500 triệu cho tài khóa năm cuối, viện trợ không bằng hiện kim mà viện trợ bằng thuốc lá dự trù cho tài khóa sau 1975 cũng bị cắt đứt. Hải Quân lúc ấy có quân số trên 40 ngàn chiến sĩ… nhưng viện trợ nay thực sự bị cắt ngang rồi!
“Hãy rời Sài Gòn ngay hôm nay đi – không thể là ngày mai!” Phóng viên AP, Nick Út, và Ðệ của hệ thống truyền hình Hoa Kỳ ABC và ông Ba Lê của truyền hình Nhật NHK cùng nói như vậy, “Ðừng để quá muộn!”
Cũng vào gần buổi trưa, Trung Tướng Vĩnh Lộc rời Bộ TTM và Trung Tướng Trần Văn Trung cũng đi vào Bến Bạch Ðằng gặp Ðại Tá Tấn tìm tầu ra đi. Lúc này thì công trường Bạch Ðằng cũng vẫn còn nhiều người chen lấn. Trước đó một giờ Giáo Sư Lê Ðình Chi, cùng với gia đình ông có Lê Ðình Cẩm, Nguyễn Hữu Phúc (Puyallup-WA), Huyên… là những người thân cũ trên một chiếc xe van đến kiếm chúng tôi tìm đường ra đi, nhưng tôi cũng đang trong trạng thái vô cùng bối rối nên không thực hiện được lời hứa: cùng đi với họ trên chuyến tàu của Trung Úy Ðỗ Anh Tuấn, nếu giờ phút đau lòng tuyệt vọng xảy ra.
Lúc ấy Thiếu Tá Trần Thiện Hiệp trong một may mắn bất ngờ sau khi chờ đợi được đi theo cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn, đã nhẩy xuống chiếc tầu nhỏ đậu gần HQCX, mang theo được hai vị tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào giờ chót: Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc lúc ấy là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực theo lời yêu cầu của Ðại Tá Tấn, ông Tấn kể lại: “Tôi giúp Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Vĩnh Lộc rời Sài Gòn, đúng vào lúc Tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên thay.”
Tướng Vĩnh Lộc trước đó cũng đã từng kêu gọi giữ vững tay súng, Tướng Lộc cũng miệt thị Ðại Tướng Viên về hành động đào tẩu. “Nhưng vào sáng ngày 30 Tháng Tư, ông Vĩnh Lộc đã nhờ Trung Úy Hùng lái xe Jeep ‘chở tới Ðài Phát Thanh Sài Gòn để gửi đi thêm một thông điệp mới.’ Thay vì tới đài phát thanh, ông đã đi đón ca sĩ Minh Hiếu và chia tay với Hùng ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân” theo lời Trung Úy Hùng cay đắng kể lại thời đi tù “cải tạo” Suối Máu. Trong khi đó Ðại Tá Tấn kể rằng Tướng Vĩnh Lộc đã đến BTL-HQ tìm đường ra đi vì ông đã có giấy tờ chính thức sẽ bàn giao (đầu hàng) của Ðại Tướng Dương Văn Minh.
Vào sáng ngày này, hệ thống vô tuyến có rất nhiều lời gọi máy của các tướng tá, sĩ quan Bộ Binh thiết tha kêu gọi: “Các anh Hải Quân ơi, chờ chúng tôi đi với, hãy cứu lấy chúng tôi vì phi trường Tân Sơn Nhất cũng đã tan nát rồi. Ðâu còn ngả nào để tránh CS đâu? VC đã vào tới. HQ đừng đi vội kiên nhẫn chờ cứu chúng tôi.” Trung Tá Hùng kể lại với lòng ngậm ngùi sau bao năm đã trôi qua…
Nhưng bây giờ là trưa 30 Tháng Tư – quá muộn thật rồi”… Các nẻo đường đã rền tiếng xe tăng, và tiếng đạn pháo kích thi nhau rền vang rất gần, và súng đã cùng với quân phục mũ nón vung vãi chất đống khắp nẻo đường từ BTL/HQ về tới Phú Nhuận nơi tôi đang cư trú tạm.
Khác với Ðại Tá Tấn ở lại và đi tù trên 16 năm, Ðại Tá Phú cũng xuất hiện như chớp nhoáng trong ngày 30 Tháng Tư, nhưng Ðại Tá Phú cùng Trung Úy Tuấn “đã kịp rời Bến Bạch Ðằng ra biển ngay vào giờ phút ông Minh đọc lời đầu hàng trên radio.” Tuấn đã kể lại sau này khi định cư ở miền Ðông Hoa Kỳ.
Và giờ phút ấy đã xảy ra thật. Nhanh chóng như một chớp mắt. Từ đó radio đã nhiều lần đọc lời kêu gọi buông súng và đầu hàng. Thôi thế là hết tất cả, không theo tầu di tản về Miền Tây, không ra Phú Quốc, và cũng không được theo tầu ra khơi đi tị nạn – Thôi… Thôi.
Tôi rời Công Trường Bạch Ðằng có tượng đài Ðức Thánh Trần, cổng vào Bộ Tư Lệnh, tìm Tuấn, tìm Trung Tá Linh, sau đó lái xe lách xe qua những tốp người đang hôi của tại khách sạn và căn cứ Mỹ tại các cao ốc xung quanh Bộ Tư Lệnh Hải Quân, để về nhà đón người thân yêu ra đi.
Tôi cùng với gia đình trở lại Bến Bạch Ðằng và chạy tiếp tới Ðặc Khu Rừng Sát để tìm tàu rời Sài Gòn thì bến bờ đã hoang vắng… Vô phương trong lúc tiếng pháo kích nổ vang.
Lòng cảm thấy như ông Dương Văn Minh đã mở “Lỗ Lù” (*) của chiến hạm đời tôi… Lúc ấy tôi cảm thấy như đã quá muộn, tôi như lặng lờ chết chìm, chìm dần… khoan thai xuống lòng biển.
Như từ đáy biển sâu, tôi cầu mong cho vài chục chiến hạm và vài chục ngàn quân nhân và dân chúng miền Nam đi thoát được, khai mở ra những đợt thuyền nhân kế tiếp, Nếu họ không tập trung chiến đấu ở Miền Tây được, thì cũng tiếp tục “khai phá mở mang bờ cõi sơn hà theo bước chân tiền nhân” bằng hình thức “mang Việt Nam ra khơi tới khắp năm châu, tận cuối chân trời và trên toàn cõi địa cầu.”
Chú thích:
“Lỗ Lù”: Van đắm tàu, dùng để mở cho nước vào để tự đánh chìm tàu.
(*) Một số tên chức vị chiến hạm không nhớ rõ, và một số nhân chứng không muốn ghi rõ tên, hoặc chỉ viết tên tắt.









































































