Chính Biên
Tháng Tư về!
Mỗi năm vào dịp này, những người lính cũ lại trào dâng những nỗi niềm trăn trở khôn nguôi. Một thời tuổi trẻ đã qua. Một thời chinh chiến cũng đã khuất. Nhưng những mất còn trong đời lính thì vẫn mãi cô đọng trong lòng.
Có người lính cũ như “lính già” Lương Duyên Nhạ, khóa 12 Thủ Ðức đã cậy đăng trên một nhật báo ở Nam California tâm tình của mình “Nghĩ về đời lính” để tưởng nhớ đến những đồng ngũ đã hy sinh mất tích trong các cuộc chiến tại VN.
Người Lính Già kể đến đồng ngũ Nguyễn Song Ba thất tung năm 1945 tại Thái Nguyên VN, đến Trung Tá Lâm Văn Sửu đã thất lộc năm 2013 trên phần đất tị nạn O.C., đến Ðại Úy Trịnh Quốc Côn, tuẫn tiết vào Tháng Tư năm 1975 tại Saigon, đến Binh Nhì Nguyễn Văn Hên thuộc tiểu đoàn 334 Ðịa Phương Quân tiểu khu Long An, đến Trung Tá Quân Y Võ Khắc Tuy, tử tiết tại Lò Gạch Xuân Trung Liên Trại 7, Hoàng Liên Sơn Tuyên Quang.
Năm đồng ngũ đó được Người Lính Già Lương Duyên Nhạ tưởng niệm trong dịp Tháng Tư này, chắc hẳn chỉ là một số tiêu biểu trong số những đồng ngũ của Người Lính Già đã hy sinh, đã tuẫn tiết, đã mãn phần trong nỗi cô đơn tị nạn hay còn vất vưởng sống tại VN hiện nay.
Chiến tranh Việt Nam nếu ta muốn gọi theo người Mỹ, còn gọi theo những người muốn tỏ ra là khách quan, trí thức, hiểu biết, đứng ngoài chính trị thì đó là Chiến Tranh Cốt Nhục Tương Tàn. Nhưng với những người lính của Quốc Gia VN thời Cựu Hoàng Bảo Ðại, của QLVNCH thời đệ I và đệ II Cộng Hòa thì cuộc chiến tranh ấy phải gọi là Chiến Tranh Xâm Lăng của cộng sản quốc tế Nga Tầu mà cộng sản VN cam tâm làm con chốt qua sông.
Cốt nhục tương tàn sao không diễn ra ở miền Bắc, phần đất của CS chiếm được sau Hiệp Ðịnh Geneve 1954, mà chỉ ở miền Nam. Cốt nhục tương tàn mà sao chiến tranh chấm dứt vào năm 1975 thì hàng trăm ngàn người phải vào tù, hàng trăm ngàn người phải bị đày đi “kinh tế mới” khai hoang, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi và những người thắng cuộc đã tận thu “chiến lợi phẩm” trong vùng đất mới chiếm được không khác một đoàn quân đi xâm lược. Ðiều này người dân miền Nam đã mô tả thật ai oán qua câu nói cửa miệng vào những năm sau 30 Tháng Tư 1975 rằng, “Miền Bắc nhận hàng miền Nam nhận họ” hoặc “tự nhiên như người Hà lội.”
Một cuộc đổi đời thật tệ hại cho người dân miền Nam. Một thất vọng não nề cho người dân miền Bắc khi cộng sản reo hò “Ðại Thắng Mùa Xuân” để rồi chỉ ít năm sau, chính những người cộng sản cũng cảm thấy đó chỉ là cuộc “chiến thắng rã rời.” Vì, sau những ngày hốt hoảng lãnh nhận chiến thắng, người cộng sản đã bị lột mặt nạ yêu nước, giải phóng dân tộc trước người dân miền Bắc từng đã phải cam chịu hy sinh, chia sớt từng hạt muối, chén cơm vào cuộc chiến được gọi là “giải phóng miền Nam.” Thực tế đã bóc trần cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa của cộng sản, để đến lúc nhận ra thì đã quá muộn rồi như nhà văn Dương Thu Hương đã ngồi trên vỉa hè ngắm đoàn quân chiến thắng tiến vào một thành phố huy hoàng, giầu sang phú quý, văn minh trong khi trong tâm trí nhà văn vẫn nghĩ đó là một thành phố của người dân Việt nghèo đói, bị bóc lột, đàn áp, nô lệ dưới gót giầy của “Mỹ Ngụy.” Và nhà văn đã sớm tỉnh ngộ nhất nên phải bật khóc (Dương Thu Hương viết trong tiểu thuyết của mình sau đó).
Tháng Tư về, tâm tình những người lính cũ lại tràn về thác lũ đầy những suy tư, dằn vặt tự tìm xem những người lính VNCH phải có những trách nhiệm gì trong sự mất mát lớn lao của đất nước và dân tộc vào Tháng Tư năm ấy!
Có lẽ cũng trong tâm ý này mà Hội Cựu SVSQ Trừ bị Thủ Ðức Nam California tổ chức một buổi “Tâm Tình Hội Ngộ” vào chiếu tối Thứ Bảy cuối tuần này 10 Tháng Năm để “nói cho nhau nghe tâm tình, ký ức của những người trai thời loạn trong thảm cảnh 30 Tháng Tư 1975, trong các trại tù cộng sản, trong cuộc sống lưu vong trên xứ người và hiện nay vẫn còn mang nặng nỗi ưu tư về đất nước, dân tộc VN đang chìm ngập trong khổ đau, uất ức dưới ách thống trị của Tập Ðoàn Việt Gian Cộng Sản bán nước.”



























































































