‘Người Cày Có Ruộng,’ ngày vui nhất của TT Thiệu

Nguyễn Tiến Hưng

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (phải) công bố Luật Người Cày Có Ruộng. (Hình: vnin21.blogspot.com)

Ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi (29 Tháng Chín, 2001), ông đã mang xuống tuyền đài bao nhiêu cay đắng, bao nhiêu nỗi buồn. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng ông cũng đã mang theo một sự yên ủi vô biên, một niềm vui cuối cùng của cuộc đời. Đó là sự thành công trong lãnh vực kinh tế, xã hội. Đạo luật về “Người Cày Có Ruộng” và kết quả tốt đẹp về cải cách điền địa là một điểm sáng chói trong sự nghiệp lãnh đạo của ông. Ảnh hưởng của nó vào đời sống người nông dân là một thành quả lớn lao của nền Đệ Nhị Cộng Hòa.

Truyền thông Mỹ không bao giờ bình luận về khía cạnh tích cực này cũng như thành tích “Năm Năm Vàng Son, 1955-1960” của Đệ Nhất Cộng Hòa (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, chương 13). Mỗi khi đề cập tới Việt Nam thì chỉ là “Vietnam War,” như chúng ta đang xem phim tài liệu dài 18 giờ do Ken Burns và Lynn Novick thực hiện. Đài PBS bắt đầu chiếu phim này từ ngày 19 Tháng Chín. Thật là một sự trùng hợp: Tuần tới, Hiệp Hội Lịch Sử New York (New York Historical Society) lại có một triển lãm lớn tại bảo tàng ở số 170 Central Park West, New York, từ ngày 4 Tháng Mười, tới ngày 22 Tháng Tư, 2018, với cùng chủ đề “Vietnam War.”

Hội chứng Việt Nam đã trở thành một phần của lịch sử Hoa Kỳ, được giảng dạy ở các đại học, nhưng cũng chỉ nhắm vào Vietnam War, với cái nhìn của người Mỹ, dù luôn nói rằng “với góc độ từ mọi phía tham gia cuộc chiến.” Chắc chắn rằng cuốn phim do PBS trình chiếu cũng như hình ảnh tại triển lãm ở New York sẽ không bao gồm – dù chỉ một ít – hình ảnh nói lên những xây dựng của VNCH ngay giữa một cuộc chiến hoang tàn.

Cho nên, nhân dịp ngày giỗ Tổng Thống Thiệu, chúng tôi nhắc lại kỷ niệm người cày có ruộng để phần nào vinh danh người quá cố (xem Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, chương 22).

Tấc đất tấc vàng

Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân ta là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần nước thì là vàng. “Đất nước tôi,” đất và nước. Chỉ có người Việt Nam ta mới dùng hai chữ này để chỉ quê hương, tổ quốc mình. Một lý do là vì đại đa số nhân dân chỉ sinh sống loanh quanh ở những vùng đất ven sông. Lúc đầu con cháu Văn Lang, Âu Lạc đã kéo nhau tới vùng đồng bằng sông Hồng Hà. Tới thời Nam tiến thì vào vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tính ra thì tới 75% dân số miền Bắc sinh sống ở đồng bằng sông Hồng và 75% nhân dân miền Nam, ở đồng bằng Cửu Long.

Cải cách điền địa

Từ ngày lập quốc, tổ tiên ta đã để ý tới việc phân chia ruộng đất, làm sao cho đa số người dân được chia sẻ đất đai. Tới năm 207 trước Tây Nguyên, theo phép tỉnh điền của Trung Hoa, Triệu Đà đã phân chia đất đai: Mỗi mảnh đất được chia làm chín lô, lô ở giữa thuộc công điền, còn lại thì phân chia cho tám gia đình, họp lại là một “tỉnh” (tsing). Dần dần, vua chia cho mỗi thanh niên 100 mẫu (“meou”) tương đương 3,600 mét vuông để canh tác. Khi tới 60 tuổi thì phải trả lại để chia cho người khác. Nhờ không có tích lũy đất đai nên sự cách biệt giàu nghèo không quá lớn, công bình xã hội thời ấy đã tiến bộ xa hơn ở nhiều quốc gia khác.

Đến đời vua Trần Thuận Tôn (năm 1388) thì có chiếu ấn định không người dân nào được sở hữu quá 10 mẫu. Dưới triều Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng đều làm luật cải cách điền địa. Nổi tiếng là sứ thần đặc trách phát triển nông thôn tên là Nguyễn Công Trứ, ông có công lớn biến đổi vùng đất hoang vu miền duyên hải gồm Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương thành đất canh tác và phân chia cho nông dân (trong đó có gia đình của tác giả).

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa

Tổng Thống Ngô Đình Diệm cố gắng cải cách ruộng đất trong điều kiện chính trị, kinh tế thật khó khăn vào lúc mới thành lập nền Cộng Hòa. Ông đã mạnh dạn ký Dụ 57 (Tháng Mười, 1956) nhằm khởi sự một cuộc cách mạng ruộng đất, nhắm vào nhiều lãnh vực như cải tổ quy chế tá điền, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, dinh điền, để cho dân khai thác; khuyến khích chủ điền tự ý phân chia điền sản để bán cho tá điền rồi chính phủ giúp nông dân tín dụng để mua đất. Thành quả của bước đầu đang được gặt hái trong “Năm Năm Vàng Son” (Xem Chương 13, Khi Đồng Minh Nhảy Vào) thì ông bị sát hại năm 1963. Trong hai năm tiếp theo, tình hình chính trị miền Nam thật nhiễu nhương, làm mất đi cái đà của những tiến bộ kinh tế và xã hội, trong đó có sự gián đoạn của công cuộc cải cách điền địa.

Thời Đệ Nhị Cộng Hòa

Vừa lên chức chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Tướng Nguyễn Văn Thiệu ký ngay Sắc Luật 020/65 ngày 8 Tháng Mười, 1965 để sửa đổi Dụ 57, “cấp quyền sở hữu thiệt thọ cho nông dân mua ruộng truất hữu.” Cùng một ngày vào năm sau, ông ký Sắc Luật số 021/66 “cấp quyền thực trưng vô thường trên những sở đất thuộc công sản quốc gia tại các dinh điền và trại định cư cho những người đang thực sự khai khẩn.” (Chúng tôi may mắn sưu tầm được bản gốc của cả hai sắc luật này và in trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu, trang 472-473).

Trong một chuyến đi miền Tây vào Tháng Hai, 1966, ông tuyên bố ở Ba Tri (tỉnh Bến Tre) là ông không đồng ý với việc chính phủ cứ khư khư giữ đất lại. Ông tuyên bố: “Đất đai phải thuộc về người trồng cấy.” Chương trình được Đại Sứ Mỹ Bunker hết sức ủng hộ.

Hai trở ngại lớn và biện pháp giải quyết

Ngay từ ban đầu, nỗ lực cải cách điền địa đã gặp phải hai trở ngại lớn từ hai phía Mỹ, Việt.

Về phía Mỹ, cơ quan viện trợ USAID là nguồn hỗ trợ một phần tài chính và kỹ thuật cho chương trình này thì lại thiếu nhất quán về vấn đề “quyền tư hữu đất đai.” Có hai trường phái, một trường phái cho rằng người nông dân Việt Nam đã quen với truyền thống tá điền, không hiểu nhiều và cũng không đặt vấn đề sở hữu đất, miễn sao chính phủ giúp cho họ ổn định, giữ được khế ước cho lâu dài, không tăng tô (tiền thuê đất) là được rồi, việc phân chia đất làm sở hữu sẽ đưa lại nhiều vấn đề rắc rối. Trường phái thứ hai thì có ý kiến ngược lại: sở hữu đất là quan trọng nhất và có ý nghĩa sâu xa đối với nông dân. Theo quan điểm này, ý niệm về công bình xã hội phải gắn chặt với việc người nông dân được sở hữu một miếng đất. Chế độ tá điền dù được hoàn thiện tới bao nhiêu cũng không thể thay thế được mục tiêu này.

Để đi tới một kết luận cho vững chắc, Viện Nghiên Cứu Stanford (Stanford Research Institute – SRI) của đại học Stanford University được USAID thuê để nghiên cứu thật sâu vấn đề này trong hai năm 1966-1968, dùng những kỹ thuật tân tiến để trắc nghiệm thái độ và quan niệm của nông dân. Kết quả trắc nghiệm cho thấy thật rõ ràng: người dân ước mong làm sở hữu mãi mãi một miếng đất. Đối với một nông dân sống trong mái nhà tranh, trên một mảnh đất khoảng 1/3 mẫu, làm sao có được một vài sào ruộng để canh tác là giấc mơ. Miếng đất ấy sẽ nối kết quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó nối kết tổ tiên với con, với cháu. Rồi lúc người nông dân về già, không còn canh tác được nữa thì lấy gì mà sống? Vì hết còn làm tá điền, phải trả đất lại cho ông phú nông thì chỉ còn trông mong vào con cái. Chúng nó mà lờ đi thì hết đường vì đâu có “tiền tiết kiệm” hay “an sinh xã hội.”

Về phía Việt Nam, trở ngại lớn nhất là sự chống đối của các đại điền chủ. Ruộng đất miền đồng bằng Cửu Long có một đặc tính hãn hữu: đó là nó tập trung quá nhiều vào vài ngàn điền chủ lớn. Ngay từ cuối thế kỷ 19, dân gian ta đã có câu nói về tứ đại phú: “Nhất Sỹ, nhì Phương, ba Xường, tứ Định.” Người thứ tư là Định thì sau này có thay đổi thành “tứ Hỏa” (hay Chú Hỏa), rồi “tứ Bưởi” (Bạch Thái Bưởi). Nhưng người thứ nhất là Sỹ, tức Huyện Sỹ (người xây nhà thờ Huyện Sỹ, bà con với Nam Phương Hoàng Hậu) thì không bao giờ thay đổi. Đây là bốn đại đại gia sở hữu nhiều ruộng đất nhất, nằm sát nhau, trải ra thành những cánh đồng xanh tươi “thẳng cánh cò bay” ở miền Tây, trông thật ngoạn mục.

Trong bối cảnh ấy, cải cách điền địa nhằm giới hạn quyền sở hữu đất đai là một việc hết sức khó khăn. Tuy nhiên, chính phủ đã thuyết phục được các địa chủ bằng ba cách: thứ nhất là tranh đấu được sự ủng hộ của đại đa số nông dân (qua đài phát thanh, truyền đơn, hội thảo) và dùng kết quả để thuyết phục chủ đất; thứ hai, bồi thường khá sòng phẳng bằng cách mua lại đất để phân chia cho nông dân. Tài trợ việc mua đất bằng một sáng kiến: bán công khố phiếu (hay trái phiếu chính phủ) với lãi suất hấp dẫn 10% một năm cho địa chủ, phần còn lại thì trả bằng tiền mặt; thứ ba, có một yếu tố thuận lợi khác nữa: trong cái rủi cũng có cái may: đó là vì tình hình thiếu an ninh ở một số khu vực nông thôn, điền chủ cũng dễ dàng hơn trong việc chấp nhận nhường ruộng lại cho chính phủ.

Chọn An Giang làm thí điểm

Sau khi vượt được cả hai trở ngại, công cuộc cải cách điền địa tiến tới những bước đi thật dài. Tháng Giêng, 1967: Tổng Thống Thiệu đề nghị chọn An Giang làm nơi thí điểm. Ở vùng đồng bằng Cửu Long (rộng trên 37,000 cây số vuông, với dân số gần 7 triệu người – 34% dân số miền Nam), An Giang là tỉnh đông dân thứ nhì (1.4 triệu người với mật độ rất cao: 341 người một cây số vuông), chỉ sau Hậu Giang (1.9 triệu người, mật độ 372 người).

Kinh nghiệm An Giang được áp dụng ngay vào hai tỉnh Chương Thiện, và Kiến Tường, rồi lan ra những tỉnh khác. Tháng Bảy, 1969, Tổng Thống Thiệu đệ nạp Quốc Hội đạo luật “Người Cày Có Ruộng.” Thoạt đầu, Hạ Viện thông qua (vào Tháng Chín), nhưng dự thảo luật vẫn được tranh luận rộng rãi. Ủy Ban Canh Nông Thượng Viện xem xét và tu sửa lại. Sau cùng cả lưỡng viện đều thống nhất theo đúng tinh thần dân chủ.

‘Người Cày Có Ruộng’

Ngày 26 Tháng Ba, 1970 là ngày quan trọng, được chỉ định là “ngày lễ nghỉ toàn quốc.” Hôm đó, trong một nghi lễ long trọng ở vùng đồng bằng Cửu Long, Tổng Thống Thiệu ký ban hành luật “Người Cày Có Ruộng.” Luật có những quy định chính như sau:

-Hủy bỏ quy chế tá điền;

-Phân chia công điền, công thổ;

-Giới hạn mỗi điền chủ chỉ được canh tác một diện tích không quá 15 mẫu; trên số đó là phải bán cho chính phủ để tái phát cho nông dân;

-Ưu tiên dành cho người trực tiếp canh tác đất đai truất hữu;

-Đền bù cho chủ đất thật nhanh và tương đối là công bằng: 20% bằng tiền mặt; 80% bằng công khố phiếu với 10% lãi suất trong 8 năm (có thể dùng để chuyển nhượng, thế chấp vay ngân hàng, cầm cố).

Điều quan trọng nhất của chương trình là đã hủy bỏ được quy chế tá điền từ bao nhiêu thế kỷ, giải phóng được tâm lý người nông dân luôn phải làm thuê cấy mướn.

Cải tiến kỹ thuật và tín dụng để hỗ trợ nông dân

Tuy là có ruộng, nhưng diện tích phân chia cho nông dân rất nhỏ nên đòi hỏi phải làm thể nào để giúp tăng năng suất. Từ thời Tổng Thống Diệm nhiều loại giống lúa mới đã được nhập vào. Nhưng từ 1967 thì có sự cải tiến kỹ thuật vượt mức với nỗ lực gọi là, “Cuộc Cách Mạng Xanh,” nhập loại giống lúa mới IR-8 vừa được Viện Nghiên Cứu Lúa Gạo Quốc Tế (International Rice Research Institute – IRRI) ở Philippines phát minh.

Tổng Thống Thiệu cho thử nghiệm loại này ở Võ Đạt (còn gọi là xã Võ Đất), tỉnh Phan Thiết (bây giờ là Bình Thuận), vì nông dân ở đây vừa bị mất cả một vụ lúa do trận lụt lớn. Thử nghiệm thành công ở Võ Đạt chẳng mấy lúc đã được lặp lại ở Long Định (Mỹ Tho) và Bến Lức (Long An), rồi lan ra thật nhanh tới khắp đồng bằng Cửu Long. Nông dân nơi nơi phấn khởi áp dụng giống lúa mới, gọi nó là “lúa thần nông.”

Bây giờ, có ruộng, có lúa thần nông rồi, nhưng nông dân lấy tiền đâu mà mua lúa giống, máy cày, xăng nhớt, phân bón, thuốc sát trùng. Vấn đề này được giải quyết một phần qua chương trình tăng tín dụng nông thôn. Năm 1967, Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp (Agricultural Development Bank of Vietnam – ADBV) được thành lập, thay Quốc Gia Nông Tín Cuộc.

Năm 1969 cũng là năm thành lập các ngân hàng nông thôn (Rural Banks). Tới 1972 thì ngân hàng này đã có mặt tại tất cả 44 tỉnh. Tới cuối 1973 đã có tới 64 ngân hàng và kế hoạch là tới 1980, sẽ mở chi nhánh hoạt động ở tất cả 250 quận của 44 tỉnh.

Với số tín dụng, nông dân có thể mua phân bón, đồ ăn gia súc, thuốc sát trùng, máy bơm nước đáp ứng đòi hỏi của lúa thần nông, “gia súc thần nông.” Sản ngạch tăng, ở nhiều nơi nông dân còn thặng dư gạo bán ra, mua được xe máy, gọi là “Honda Rice.”

Ngày vui nhất của Tổng Thống Thiệu

Cuộc cải cách điền địa đã thành một “cuộc cách mạng ruộng đất,” hỗ trợ mục tiêu xây dựng công bình xã hội. Ảnh hưởng của nó đã làm cho chương trình Phát Triển Nông Thôn có nhiều tiến bộ. Lúa thần nông tăng năng suất; tín dụng nông thôn giúp mua phân bón, máy cày.

Hạn chót phải thúc đẩy động lực sản xuất qua chương trình “Người Cày Có Ruộng” là ngày 26 Tháng Ba, 1973. Vào ngày này, Tổng Thống Thiệu nhận được một báo cáo, được cả hai bên Việt-Mỹ thẩm định kỹ càng, như sau:

“Mục tiêu của ‘Người Cày Có Ruộng’ là phân phát khoảng trên 1 triệu mẫu cho gần 1 triệu nông dân. Kết quả là gần 1.2 triệu mẫu được cấp phát cho gần 1 triệu nông dân. Tính theo mỗi gia đình trung bình là bốn người, số người được hưởng là gần 4 triệu, tức là 20% tổng dân số.”

Như vậy, ngày 26 Tháng Ba, 1973 phải là ngày vui nhất của Tổng Thống Thiệu. Sau này, khi có dịp nhắc lại những kỷ niệm về người cày có ruộng, về lúa thần nông, Ba Tri, Võ Đạt, chúng tôi thấy ánh mắt ông vui hẳn lên. Rồi ông vui cười, kể lại nhiều chuyện của ông về nông thôn và về nghề đánh cá ở Phan Rang, khác hẳn với khuôn mặt u sầu khi ông hồi tưởng về những chuyện chiến sự.

Bài học cho các nước khác

Cải cách điền địa là một vấn đề hết sức nhạy cảm. Tuy nó đóng góp lớn lao vào công cuộc xây dựng công bình xã hội, nhưng cũng có thể biến thành một ngòi nổ nguyên tử, làm đảo lộn sự phát triển của một quốc gia. Kinh nghiệm của VNCH trong thời gian 1965-1975 mang lại một số bài học hữu ích cho các quốc gia khác. Chúng tôi tóm gọn vào bốn chữ “Đ” như sau:

1-Điều đình với cả điền chủ lẫn nông dân để có sự hợp tác tương đối giữa hai bên như một phương án “làm việc chung.” Công việc này đòi hỏi (i) phải tiên đoán và tìm giải pháp cho các tắc nghẽn trong từng chặng đường của chương trình; và (ii) giải quyết các tranh chấp cho kịp thời, công bình giữa điền chủ và nông dân cũng như giữa nông dân với nhau (như tranh tụng về ranh giới ruộng).

2-Đền bù điền chủ tương đối cho sòng phẳng. Giá đất cũng phải xấp xỉ bằng giá thị trường. Nếu như chưa có thị trường đất đai thì ít nhất tại mỗi địa phương cũng đã có những mua bán lẻ tẻ có thể dựa vào để làm hội thảo định giá.

3-Đài thọ 80% tiền bồi thường bằng cách bán công khố phiếu (trái phiếu kho bạc) cho điền chủ với lãi suất hấp dẫn. Phần còn lại (20%) thì trả bằng tiền mặt.

4-Đáp ứng nhu cầu canh tác của nông dân về “đầu vào” (inputs) như kỹ thuật, tín dụng để họ thực sự trở nên người chủ đất (chứ không phải đem đất đi bán lại!).

Nước láng giềng của Việt Nam là Thái Lan đã tiếp nhận được một số kinh nghiệm này và tiến tới Luật Đất Đai Cải Tổ Đất Đai Nông Nghiệp năm 1975 (Agricultural Land Reform Act 1975). Cùng năm ấy, bên Phi Châu còn có những nước như Ethiopia tuyên dương “Chương Trình Cải Cách Đất Đai 1975,” và Uganda có “Sắc Luật Cải Cách Đất Đai 1975.”


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Cần loại ngay từ ‘thu giá’ ra khỏi ngôn ngữ nói và viết

Vừa qua, các trạm thu phí BOT đồng loạt đổi thành “trạm thu giá.” Đây là từ do Bộ Giao Thông Vận Tải (GTVT) Việt Nam mới “sáng tạo” ra gây nên sự phản ứng dữ dội trên công luận và trong dư luận.

‘Lò’ ông Trọng lại tự nguội lạnh?

Sau vụ chỉ đạo bắt cựu ủy viên Bộ Chính Trị Đinh La Thăng vào Tháng Mười Hai năm 2017 và giáng hai bản án tổng cộng 31 năm tù giam đối với nhân vật này, Nguyễn Phú Trọng đã chính thức “leo lên lưng cọp."

Góc Nhìn Siêu Cường

Sau Thế Chiến Thứ Nhì, 5 nước siêu cường: Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp; 5 nước đó có quyền phủ quyết tại tổ chức Liên Hiệp Quốc.

‘Tư bản đỏ’ thao túng mọi chính sách ở Việt Nam

Giới “tư bản đỏ” mới chỉ hình thành vài ba chục năm nay, sau khi đảng CSVN tuyên bố “đổi mới” kể từ 1986, nhưng giờ đây đã thao túng, lũng đoạn mọi chính sách của nhà cầm quyền Cộng Sản tại Việt Nam.

Thượng đỉnh Mỹ-Triều có tan vỡ?

KCNA lên án cuộc tập trận giữa không quân Hàn Quốc và Mỹ là “diễn tập xâm lược” và là “hành vi quân sự cố ý khiêu khích” giữa thời điểm mối quan hệ Hàn-Triều đang cải thiện.

Hội Nghị Trung Ương 7 và dấu hỏi Đinh Thế Huynh

Hội Nghị Trung Ương 7 của đảng Cộng Sản Việt Nam đã trôi qua êm đềm vào đầu Tháng Năm năm 2018 mà không có sự xáo trộn lớn trong “tứ trụ.”

Bầu cho người nào?

Việc tranh cử tại khu 7 thật đáng buồn vì đa số quý vị bên ngoài phê phán chụp mũ tàn nhẫn. Xin cùng nghe lại câu thơ cũ. Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn, muôn đời sau để hận cho dòng sông.

Điện Trời

Toàn bộ 5 thành viên của California Energy Commission đã đồng thanh biểu quyết chấp thuận kế hoạch ĐIỆN TRỜI, trong một thời gian ngắn kỷ lục.

Mẹ Têrêsa

Tôi nghĩ người được nhiều người gọi là mẹ nhất trên thế giới khi còn tại thế phải là mẹ Têrêsa (Mother Teresa).

600 cán bộ chiến lược nặn ra từ khuôn mẫu giáo điều

Với 600 quan chức hủ lậu, như 600 robot theo mô hình các thế kỷ cũ, toàn đồ cổ mốc meo, tư duy già nua, đất nước sẽ đi vào thời kỳ mạt vận.