Dấu chân đầu dòng

 


Hoàng Quy


 


Chồng chết, năm Bích chưa đầy bốn mươi tuổi. Cái tuổi hết lớn. Tràn ngập xuân tình. Mẹ góa ôm bốn đứa con nheo nhóc giữa thành phố ngậm ngùi tem phiếu và bo bo.










Nguồn: Google


Thời ấy, ai cũng khổ. Thành phố chùng xuống một màu xám xịt. Trên đường phố rách rưới, má tóp, những đôi mắt mất thần lầm lũi. Rêu và mối ăn ruồng trên thân gỗ những ngôi nhà cỗ. Những mái ngói âm dương gần như không còn hòa nhịp, còng lưng gánh chịu những nỗi dằn vật của thời gian. Cái đói luôn đe dọa, rình rập trong mỗi căn hộ. Bích tung mấy đứa con lớn ra đường kiếm ăn. Cái đạo làm người chỉ biết dừng ở miếng cơm, manh áo. Tất cả những thứ khác được coi như xa xỉ. Sau bữa tang chồng, Bích không còn khóc được nữa. Nước mắt đã khô cạn. Ðôi mắt ráo hoảnh, chìm sâu trong nỗi cô đơn tuyệt cùng của kiếp người.


Thế nhưng, phải sống. Sống như anh đã sống. Bích nghĩ, các con của mình phải được sống và phải sống như những con người có nhân tính. Cái nhân quả mà người ta nói trong sách vở, Bích không hơi sức đâu mà nghĩ tới. Bích cũng không mường tượng được, không thấu nỗi cái duyên khởi nó từ đâu, hay chỉ có trong kinh kệ ở nhà chùa. Ngày còn đi học, thầy dạy cái nhân, cái nghĩa… cái tam cang ngũ thường. Thế mà bây giờ, ngó tới ngó lui thấy nó xa vắng với đời sống! Phải chăng, lúc cùng cực con người không khác chi một lũ chuột. Lũ chuột đang sinh sôi nẩy nở trong những đường cống rãnh, ăn ruồng dưới chân thành phố như một xã hội. Nước thải từ nhà theo đường cống chảy ra hai bên lề đường phố, chảy xuống cống nhỏ. Cống lớn chảy ra sông. Chỉ có sông là đau mình hứng chịu hết cái cặn bã, dơ dáy của thành phố nầy. Bích không muốn lũ con mồ côi của mình lớn lên như lũ chuột đang rình rập, đang giành giựt từng miếng ăn, quanh quẩn đó đây trong những đường cống rãnh hôi thúi. Nhưng trong thời buổi nhiễu nhương nầy, lũ trẻ con trong thành phố cứ chạy quanh kiếm sống ở khu chợ có cái giếng cổ. Chúng ngửi mùi, đánh hơi trước những cửa hàng hợp tác xã. Chúng làm cò mồi, dắt mối. Chúng bán thuốc lá lẻ, bán vé số… Bích nhất quyết không thể để con mình như thế. Tụi nhỏ không thể đói cơm và đói cả chữ như lũ chuột. Thằng Tí, con Ngọc, con Như phải vừa đi học vừa chia nhau ra chợ tiếp mẹ nó bán cơm ngoài chợ Hội.


Chuyện của mẹ con Bích, đã trôi qua hơn hai mươi năm về trước. Hai mươi năm để sống, đau khổ, để trải nghiệm, để thành bại của một đời người. Bốn đứa con của Bích lớn lên trong lò tôi luyện “chén cơm manh áo.” Chúng không có tuổi thơ, không có mơ ước. Thế hệ của chúng thực dụng đến phũ phàng. Chúng muốn được học, được ăn, được sống trong một xã hội mà người ta lấy cơ sở vật chất làm tiêu chuẩn. Lấy đồng tiền làm thước đo. Gần như cả một thế hệ trẻ thời ấy không lớn nổi, không cao hơn được và trí não đù đẫn. Chấm hết. Không thể như thế được. Sự sinh tồn, vạn vật vạn hữu luôn chuyển dịch trong sự tiến hóa không ngừng. Bích nghĩ, mọi sự đổi thay chỉ là giai đoạn trong tiến trình đi tới của đời sống. Chỉ có sự đổi thay mới là không thay đổi. Nhưng cuộc sống của một con người trên mặt đất nầy, cũng chỉ là một giai đoạn để vay và trả, để thương yêu chứ không phải thù hận. Chỉ có trải nghiệm được trong cuộc sinh tồn mới thấy bộ mặt thật, cảm nhận thực tại của hố thẳm nhân và quả. Gần năm mươi năm, đi suốt một đoạn đường chông chênh của cơm áo và nhân nghĩa tình đời, mới nhận ra cái nghiệt ngã của cuộc sống. Nó bi thiết hay là lẽ-tất-nhiên? Nhiều lúc Bích không tin là mình đã có thể vượt qua những chặn đường mà ngọn sóng thời gian đã bao phen quật ngã. Ðiều gì đã giúp cho Bích đứng dậy, khi ngã xuống, khi vùi dập trong cơn giận dữ của cả cái thiện và cái ác. Bích không có đức tin, cũng không muốn tin vào bất cứ điều gì ngoài bản thân mình. Quá khứ như một mớ bòng bong khô héo, chỉ cần một tia lửa cũng đủ thiêu rụi. Tương lai thì xa xăm như mây bay ngoài chân trời ảo vọng. Những nỗi ê chề, vung vãi trong cuộc sống thường nhựt đã để lại những di chứng trong tâm hồn con người ta như một căn bệnh trầm kha. Những bài học thực tế miệt mài trong cuộc sống đã tạo cho Bích một thái độ biết chấp nhận thực tại. Và cũng chỉ có thực tại mới nhận chân được giá trị của sự tồn vong. Bích trở nên khôn hơn, lớn hơn, những tiếng thở dài cũng thưa dần; cũng là lúc bốn đứa con bắt đầu trưởng thành. Nồi cơm của mẹ con Bích mỗi ngày như nở ra giữa cái xã hội đang thay da đổi thịt.


Căn bệnh dạ dày mãn tính của Bích phải chữa liên tục trong nhiều năm qua là hậu quả của những năm làm lụng vất vả, đầu tắt mặt tối nuôi con. Nhiều lúc tưởng chừng như mình không còn gượng dậy được nữa. Căn phòng trong khu bệnh viện nầy là nơi lưu trú của Bích trong những ngày trở bệnh. Màu trắng của bệnh viện như tràn ngập, lan tỏa trong tâm hồn Bích một nỗi buồn vô hạn. Cuộc đời con người ta không lẽ phải dừng lại ở đây như một dấu chấm hết, không được giải đáp. Hay mình không tìm ra đáp số? Bích nghĩ, cuộc đời cũng chẳng phải là một cuộc rong chơi. Rong chơi kiểu gì mà phải làm việc bán mạng, vắt cả máu và nước mắt mới kiếm được miếng ăn. Bóp méo vò nát cả tâm hồn để có được một ký gạo, một thước vải, một lít dầu,… một nơi an phận!


Gió mùa Ðông Bắc đã về. Một chút se lạnh lọt qua khe cửa sổ len vào trong căn buồng của người góa bụa đơn côi. Hai mươi năm trước, cũng trong căn buồng nầy người chồng thương yêu của Bích đã trút hơi thở cuối cùng giữa những ngày tháng u buồn nhất. Một trang sử đã lật qua, và một mảnh đời đã khép lại. Cái se lạnh đầu mùa như thấm vào tâm hồn. Bích rùng mình, không dám nghĩ tới nữa. Căn bệnh dạ dày mãn tính lại cứ âm ỉ như ngọn gió trở mùa. Tuy Bích không còn tất tả ngoài chợ nữa. Thằng Tý, con Ngọc, Con Như đã cưới vợ, lấy chồng. Chúng đã có nhà riêng, yên bề gia thất. Nhưng Bích vẫn không yên lòng. Bích luôn cảm thấy mình đang hụt hẫng như một cơn mơ vừa đánh mất. Chừng ấy năm qua đi như dòng nước miệt mài chảy dưới chân cầu. Dòng nước không bao giờ quay về bến cũ, mãi mãi trôi lăn như hạt cát trên dòng trường lưu in dấu chân đầu nguồn sơ ngộ. Chừng ấy năm. Ðất nước cũng đã chuyển mình, vươn tới như mùa Xuân xôn xao trước ngõ. Thế nhưng, tâm hồn của người góa phụ cứ héo dần, khi tin chắc rằng mình không còn kéo níu được thời gian, con người chỉ là hữu hạn. Cái ray rứt trong lòng Bích là không thể trang bị cho các con của mình những kiến thức cần thiết để làm hành trang trong cuộc sống hiện tại. Bốn đứa con, không đứa nào được vào đại học. Chỉ vì một lý do đơn giản: lý lịch. Thời ấy: bó tay. Cuối cùng rồi thằng Út cũng phải lập gia đình. Như anh chị, mỗi đứa đều được chia sớt nồi cơm của mẹ nó. Mỗi lần mẹ con ngồi với nhau, trong những giây phút đầm ấm ấy, Bích cảm nhận các con mình đang cần vun đắp tình cảm, trí tuệ và cả mặt tâm linh. Và hình như thế hệ trẻ bây giờ chông chênh trong cuộc sống. Xã hội đã không kịp phân bổ và trang bị cho họ những gì họ đang mong đợi.


Chiếc xe 15 chỗ dừng lại ở cuối chợ Trung Phước. Chín giờ sáng. Chợ Trung Phước, một thị trấn cheo leo giữa thung lũng sương mờ, bốn bề núi dựng. Dòng sông Thu lượn quanh. Bên kia sông một màu xanh ngan ngát là làng Ðại Bình. Nắng sớm tháng ba vàng rực rỡ trải mình băng qua cánh đồng Trung Yên, Ðồng Chợ, kéo dài từ chân đèo Le về tới ngã ba Cây Muồn. Bích ngơ ngác như mình vừa lạc vào một nơi xa lạ. Hơn năm mươi năm Bích mới tìm về chốn cũ, Trung Phước Ðại Bình. Thời thơ ấu, nơi ấy là một giấc mơ êm đềm. Nó thôi thúc, nó đánh thức tâm hồn Bích như tuổi hồi xuân tràn ngập nắng vàng. Năm mươi năm quay về cố hương. Bích đang khóc. Những giọt nước mắt thổn thức trong lòng, ai biết cho cùng!Qua đò ngang là tới làng cũ. Nơi mà Bích muốn đưa tất cả con cháu nội ngoại quay về. Quay về nơi chốn Bích đã lớn lên. Quay về cái thời thơ ấu mộng mơ, ngọt ngào, từng bước chân lấm tấm cát vàng trên bến nước sông quê.


Bước lên đầu dốc bên đò, đã thấy cổng làng. Tim Bích như thắt lại khi nhìn thấy ba chữ “làng Ðại Bình.” Bích vội vàng nắm lấy tay đứa con gái, cúi xuống giấu đi nỗi xúc động đang tràn ngập trong lòng. Con đường bê-tông dẫn vào làng, nắng sớm lung linh chiếu xuyên qua những cành lá. Hai bên đường làng, những khu vườn xanh biếc nặng trĩu cây trái. Ðâu đây thoang thoảng hương hoa bưởi nở muộn trong vườn nhà ai. Vẫn con đường ấy, con đường dẫn Bích đến trường, cát vàng lấm tâm gót chân son. Ngày nay đã thay đổi đến thế sao! Lớp người xưa ai còn ai mất? Bích nóng lòng muốn tim lại khu vườn có nền nhà cũ của mẹ. Chốn ấy, đã nâng niu, vỗ về tuổi thơ. Nơi ấy Bích lớn lên, trong vòng tay của mẹ, bao dung và che chở như mảnh hồn quê ấp ủ tuổi thơ. Bích nói với đám con cháu: “Chỗ nầy là nhà của ngoại, của cố. Phía bên kia là nhà ông bà Thích. Bên kia con đương nhỏ ấy là nhà Ông Ba Liệu có cây vải sum suê. Các cháu có biết không, chỗ con dốc nầy là nơi bà và các cô bạn của bà thường ngồi đánh nẻ, chơi nhà chòi… Bây giờ đã xa vắng! Mùi hoa dủ dẻ đâu đây, như đưa Bích trở về những ngày tuổi thơ yêu dấu. Bích kéo các con cháu ngồi xuống bên vuông sân cạnh nền nhà cũ, Bích kể cho cả gia đình nghe về tuổi thơ của mình, tràn ngập những kỷ niệm nhớ nhung. Bích không cầm được nước mắt.


Dưới bóng cây hoàng lan trước sân nhà. Trời đã sang Thu. Vài chiếc lá vàng rơi trong gió sớm. Bích ngồi uống trà một mình, nghe tâm hồn như se lại, chân trời xa lạnh rớt chút heo may. Bích đã quay về tìm lại dấu chân đầu dòng sơ ngộ. Ngọn phù vân thổi suốt một đời người.


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Chiều mưa quê ngoại

 


Huỳnh Ngọc Nga


 


Ðặt chân lên thành phố Saigon lần thứ hai này cùng má tôi sau mười năm cách biệt, chàng trai “hăm mốt” tuổi với hai dòng máu Ý-Việt trong tôi không hiểu mình đang là người tìm về nguồn cội hay chỉ là một khách du hành Âu Châu bình dị.


  Hình như tất cả nơi đây đều mới lạ, không chỉ riêng tôi nhận xét mà ngay cả má tôi cũng xác nhận điều này. Thành phố quê mẹ tôi sinh động và tươi đẹp hơn nhưng cũng mù mịt khói bụi lưu thông hơn. Duy chỉ một điều không thay đổi mà tôi nhớ lại được chốn này đó là những cơn mưa sáng, mưa chiều luôn hăm dọa những ai chưa từng quen hai mùa mưa nắng ở Việt Nam.


Sau bao ngày thăm viếng nơi này nơi nọ, hôm nay là ngày chay lạt của má tôi, dì Xuân – bạn thân của má tôi – đưa hai mẹ con tôi đến tiệm cơm chay Bồ Ðề ở đường Phạm Ngũ Lão để dùng cơm trưa. Tiệm đông khách ra vào nườm nượp, chúng tôi khó khăn lắm mới tìm được một bàn trống gần cửa ra vào. Trong khi chúng tôi kêu và đợi món ăn, tôi tò mò nhìn ngắm chung quanh như thói quen của khách lạ phương xa và tôi bỗng thấy một hình ảnh đặc biệt. Một người đàn bà tàn tật cụt nửa chân, bà đang dùng hai đầu gối di động trên nửa đôi chân còn lại, lê lết khắp từ bàn này đến bàn khác để bán những tập lưu ảnh cảnh đẹp Việt Nam cho khách ăn trong các tiệm quán. Nét phong sương in hằn trên khuôn mặt, với bộ quần áo thô sơ nhưng bà có dáng vẻ tự tin, tự tại. Khi bà đến bàn chúng tôi, má tôi hỏi giá và dù biết hơi mắc hơn giá bán ở tiệm sách má tôi cũng mua hai tập ảnh để gửi bạn bè, bà con bên Ý.


Tôi chợt ngó sang trước tiệm đối diện khoảng cách không xa bên kia đường, có một tiệm bán thức ăn Ý và món pizza truyền thống của nơi tôi chào đời. Nhìn những món ăn chay mới được dọn ra tôi chợt thấy chán nản và nhớ làm sao một dĩa spaghetti hay một bánh pizza thân quen thường nhật. Tôi bỗng hiểu ra lý do vì sao những lần ở nhà tôi thấy má tôi thỉnh thoảng bảo thèm tô canh chua cá lóc, dĩa rau muống luộc xanh om, v.v… Thì ra hương vị thức ăn cũng là cái tình quê hương vô hình tiềm ẩn trong mỗi con người chúng ta, nhất là khi chúng ta bước chân đi xa rời nơi chốn cội nguồn.


Má tôi nhìn tôi và quả đúng là đôi mắt của người mẹ, người nhận ra liền sự thèm muốn đó trong tôi. Dúi vài tờ giấy bạc vào tay tôi, má tôi bảo tôi cứ tự nhiên sang tiệm bên kia ăn hoặc ở đó kêu món gì tôi thích rồi nhờ họ đem sang bên này bàn của chúng tôi. Thấy nơi ấy có nhiều khách phương Tây đang líu lo chuyện vãn, tôi đứng dậy bước sang chọn bàn ngồi gần để nghe ngóng xem họ có cùng giống tộc của Cesare như tôi không, nếu phải thì thực may biết mấy vì đi xa mà gặp đồng hương thì còn gì thú hơn. Và tôi nghe thất vọng khi thấy họ nói toàn tiếng Ðức, nhưng đã lỡ ngồi rồi, tôi không rời về bàn cùng má tôi và dì Xuân nữa.


Người đàn bà tàn tật cụt chân đang tiến vào tiệm ăn tôi đang có mặt và hướng về phía sau lưng tôi, nơi có vài ba người ngoại quốc ở đó. Tôi không biết họ có mua không, chỉ thấy một lúc sau bà đi về phía chúng tôi. Có thể đã nhận ra tôi là người bên kia tiệm với má tôi nên bà không ghé bàn tôi mà dừng chân nơi bàn của những người khách Ðức. Họ không ngước nhìn bà, cứ như sự hiện diện của bà chẳng có gì dù bà đang chìa ra một cọc bưu ảnh để mời họ mua. Bà cứ đứng đó chờ, có lẽ sự kiên nhẫn của bà làm họ bực bội nên một người trong bọn móc bóp rút ra tờ bạc mười ngàn đồng rồi ném lên bàn về phía bà mà không cần nhìn bà dù chỉ một ngước mắt để chọn bưu ảnh, họ muốn ngầm bảo với bà rằng tiền đó, bà hãy đi đi, họ không cần mua. Tôi cũng ngỡ là bà sẽ nhận tiền và bước đi, nhưng ngạc nhiên làm sao, bà cất tiếng rõ ràng, tiếng Việt với những từ ngữ mà tôi dễ dàng hiểu được:


– Tôi bán bưu ảnh chứ không ăn xin. Nếu không mua, các ông hãy cất tiền của các ông đi, tôi không nhận.


Những ông khách da trắng đó ngẩng đầu lên ngó bà, họ chẳng hiểu bà nói gì, nhưng thấy bà đẩy tiền trả lại, họ bình thản cất tiền vào rồi tiếp tục nói chuyện với nhau, không màng nhìn đến bà nữa. Người đàn bà tàn tật khập khễnh trên đôi đầu gối lặng lẽ bước ra khỏi tiệm và đi về đầu ngõ. Tôi nhìn theo và chợt nghe xúc cảm dâng đầy. Người dân của quê ngoại tôi tự trọng đến thế sao? Vậy mà bấy lâu nay nghe má tôi thở than hoài về một quê hương khốn khổ sau hơn phần tư thế kỷ chiến chinh, tôi cứ ngỡ trong sự khốn cùng đó người ta có thể mất tất cả để đổi lấy miếng ăn. Ít ra giờ đây tôi đã thấy tận tường cái khí thanh cao trong mảnh áo nghèo của người phương Nam nước Việt, cái khí khái đó sao hao hao giống hình ảnh cậu bé Ý Ðại Lợi của văn hào Edmondo De Amicis khi thảy tiền vào mặt những kẻ đã khinh thị nước Ý của cậu. Và trong giây phút xúc cảm đó, tôi nghe sung sướng tự hào rằng mình mang trong người hai dòng máu của hai dân tộc chỉ biết ngẩng cao đầu. Buổi ăn tàn, tôi trở về bàn cùng má tôi và dì Xuân, kể lại chuyện vừa nghe thấy, tôi chép miệng nói với má tôi:


– Nếu gặp lại bà ấy lần nữa, con sẽ làm một cái gì đó có tình hơn cho bà.


Một tuần lễ trôi qua, tôi theo má tôi ruổi rong từ thành phố nầy sang thành phố khác. Những chuyến xe liên tỉnh, những khách sạn lạ xa cho tôi thấy rõ hơn khác biệt của Việt Nam hôm nay và của mười năm về trước. Và hôm nay chúng tôi và dì Hai – chị bà con của má tôi – đang trên xe trở lại Saigon sau một ngày về Bến Tre thăm xứ dừa miền Tiền Giang sông nước. Trời lại đổ cơn mưa, tôi nghe bụng dạ lao xao đói, chỉ mong đến nơi sớm để cùng má và dì tôi ghé một tiệm quán nào đó ăn chiều. Xe Du Lịch Sinh Café bỏ chúng tôi xuống trước cửa công ty đường Phạm Ngũ Lão, mưa vẫn chưa dứt hột. Má tôi thường bảo mưa nhiệt đới dai dẳng như mối tình dai dẳng của má đối với quê hương, tôi không biết sau những chuyến đi tham quan như vầy cái tình đó của má tôi có truyền sang được chút nào cho tôi hay không, chỉ biết rằng tôi mong mưa dứt hột để tôi không bị ướt trên đường về khách sạn vì từ nơi xuống xe đến nơi ở của chúng tôi chỉ cách hai con đường ngắn và bao nhiêu xe taxi đã được các khách tham quan đồng hành xuống trước tranh mất rồi. Nhưng khổ nỗi má tôi chỉ đem theo có một cây dù trong khi chúng tôi có ba người. Tôi để dù cho má tôi và dì tôi che, còn tôi, tôi phóng nhanh người đi trước cho mau về đến nơi. Ngang qua khúc quẹo đường Bùi Viện để về khách sạn, tôi chợt dừng lại, không phải để đợi má và dì tôi mà vì tôi vừa thấy người đàn bà tật nguyền hôm nào. Bà đang lê đôi gối trước cửa một tiệm ăn, không dù che cũng chẳng phủ áo mưa. Tôi nhìn bà quên cả nước mưa đang từng giọt rơi nhanh xuống người tôi. Và như nghĩ ra được điều gì, tôi chạy ngược về phía má và dì tôi đang còn chậm chạp phía sau. Tôn chắn ngang trước mặt má tôi, vội vã nói:


– Má cho con mượn cây dù.


Má tôi ngạc nhiên nhìn tôi chưa kịp đưa thì tôi đã nhanh nhẩu cầm như giựt chiếc dù trên tay người rồi chạy nhanh về phía người đàn bà tàn tật, lòng thầm mong bà đừng biến vào một ngõ hẻm nào. May mắn thay, bà vẫn còn đúng đó, ướt sũng, co ro. Tôi đến bên bà, đưa chiếc dù tận tay và nói mau:


– Chiếc dù này của bà đó, bà che cho bớt lạnh.


Người đàn bà khốn khổ nhìn tôi ngơ ngác, và như chợt hiểu ra, bà cầm dù, nói tiếng cám ơn và mỉm cười hoan hỉ. Tôi thấy mắt bà long lanh ướt, không biết nước mưa hay nước mắt tình người. Tôi sung sướng thấy bà không từ chối như đã từ chối những tờ giấy bạc miệt khinh của những khách da trắng hôm nào. Má tôi và dì tôi cũng vừa đi trờ tới, hai người nhìn cảnh trước mặt và cũng mỉm cười hiểu chuyện, tôi thấy vẻ hài lòng của má tôi, điều đó làm tôi nghe hạnh phúc. Chúng tôi cùng bước dưới mưa, nhưng tôi nghe lòng ấm áp lám sao. Từ giây phút nầy tôi không nghĩ mình là một du khách tìm thăm xứ lạ nữa. Những giọt nước trong cơn mưa chiều đang tưới mát hồn tôi để tôi nghe nữa dòng máu Việt đang luân lưu đưa tôi trở lại nguồn bằng một chuyến hồi hương về thăm quê mẹ.


(Nguồn: Mach Song News; [email protected])

Chiếc lá sạch

 


Hiểu Kỳ


 


Có một thanh niên từ ngàn dặm xa xôi tìm đến đại sư Thích Tế chùa Nhiên Ðăng, thưa rằng:


– Con là một thư sinh luôn biết Tam cương-Ngũ thường… từ xưa đến nay không bao giờ biết nói những lời vu khống bịa đặt, không gây ra chuyện thị phi, nhưng không hiểu vì sao luôn có người dùng lời ác độc chưởi bới con, dùng lời bịa đặt dơ bẩn sỉ nhục con.



 Ðến hôm nay, con thật sự không chịu nổi nữa, nên con muốn vào chùa cạo tóc làm tăng để xa lánh chốn bụi hồng, xin đại sư hãy thâu nhận đệ tử!


Ðại sư Thích Tế yên lặng nghe chàng trai nói xong, bèn mỉm cười bảo rằng:


– Thí chủ hà tất vội vã, đợi bần đạo vào trong sân nhặt một chiếc lá sạch, thí chủ sẽ có thể biết được tương lai của mình và mình nên sẽ làm gì.


Ðại sư dẫn chàng trai đến bên một con suối nhỏ chảy ngang qua chùa, tiện tay hái một lá trên cây xuống và bảo với một chú tiểu đi lấy giùm cho mình một cái thùng và một cái gáo múc nước.


Chú tiểu vội vàng mang thùng gỗ và chiếc gáo hồ lô đến trao cho đại sư.


Thích Tế kẹp lấy chiếc lá sạch trong tay và bảo chàng trai:


– Thí chủ không gây ra chuyện thị phi, xa rời bụi trần, cũng giống như chiếc lá sạch trong tay bần đạo vậy.


Vừa nói, Thích Tế vừa đặt chiếc lá vào trong thùng, xong chỉ vào thùng nói:


– Nhưng hôm nay thí chủ không may gặp phải những lời chưởi bới, sỉ nhục vây hãm vào trong giếng sâu khổ đau trần thế, có phải giống như chiếc lá sạch bị bỏ vào trong tận đáy thùng này hay không ?


Chàng trai thở dài gật đầu thưa:


– Thưa vâng, con chính là chiếc lá dưới đáy thùng.


Ðại sư Thích Tế đặt thùng nước lên trên một tảng đá bên cạnh bờ suối, khom người múc một gáo nước dưới suối lên, nói:


– Ðây là một câu chưởi bới dành cho thí chủ, với ý đồ muốn nhấn chìm thí chủ.


Vừa nói, vừa dội gáo nước lên trên chiếc lá trong thùng, chiếc lá chao động mạnh, sau đó lặng lẽ nổi lại lên mặt nước.


Ðại sư khom lưng múc thêm một gáo nước kế tiếp, bảo rằng:


– Ðây là câu chưởi bới độc ác của loại người thô lỗ thấp hèn dành cho thí chủ, vẫn với một mưu đồ là muốn nhấn chìm thí chủ như trước, vậy thí chủ hãy nhìn xem lần này chiếc lá sẽ như thế nào?


Theo cách đã làm, đại sư dội gáo nước lên chiếc lá, nhưng chiếc lá chỉ lắc lư và lại nổi lên trên mặt nước như cũ.


Chàng trai hết nhìn nước trong thùng, rồi lại nhìn chiếc lá nổi bềnh bồng, thưa với đại sư:


– Chiếc lá không hề bị tổn hại, chỉ là nước trong thùng sâu, chiếc lá theo mực nước mà cách miệng thùng càng lúc càng gần..


Ðại sư Thích Tế nghe xong, mỉm cười gật đầu, lại múc thêm một gáo dội lên chiếc lá, bảo chàng trai rằng:


– Lời nói bịa đặt hay sỉ mạ thấp hèn… không có cách nào đánh chìm được một chiếc lá sạch. Chiếc lá sạch bị chao động bởi những lời nói vu khống, hủy báng dội lên thân nó, nhưng nó không những không bị chìm xuống dưới đáy, ngược lại tùy theo mức gia tăng của nước (những lời nói vô bổ, tùy tiện và thô lỗ), khiến nó càng nổi lên cao, từng bước từng bước xa rời đáy thẳm.


Ðại sư vừa nói, vừa tiếp tục đổ nước vào thùng, thoáng chốc nước tràn đầy, chiếc lá rốt cuộc đã nổi lên trên mặt thùng.


Chiếc lá rực rỡ, giống như một chiếc thuyền lá nhỏ, nhẹ nhàng nhấp nhô, lắc lư theo dòng nước.


Ðại sư Thích Tế ngắm nhìn chiếc lá cảm thán rằng:


– Nếu lại có thêm những lời vu khống thô lậu, hủy báng thấp hèn, thì càng tuyệt.


Chàng thanh niên nghe xong, không hiểu thâm ý, bèn thưa với Ðại sư rằng:


– Vì sao ngài lại nói như thế ?


Thích Tế cười, múc thêm hai gáo nước, dội lên chiếc lá trong thùng, nước trong thùng tràn ra bốn phía, lôi theo chiếc lá xuống tới dòng suối, chiếc lá nhập dòng ung dung trôi đi.


Ðại sư bảo chàng trai:


– Những lời bịa đặt, vu khống, sỉ mạ thấp hèn bỉ ổi… rốt cuộc sẽ giúp cho chiếc lá vượt thoát được vòng kiềm tỏa, hướng đến sông dài, biển lớn và những phương trời cao rộng thênh thang.


Chàng thanh niên hốt nhiên tỏ ngộ, vui mừng khấu tạ Thích Tế:


– Thưa đại sư, con đã hiểu rõ rồi, một chiếc lá sạch sẽ không bao giờ bị nhấn chìm xuống đáy nước. Những lời nói vu khống bịa đặt, hủy báng sỉ nhục chỉ có thể giúp gội rửa một tâm hồn vốn đã trong sạch, lại càng trong sạch thêm mà thôi.


Ðại sư Thích Tế mỉm cười hoan hỷ.


(Nguồn: [email protected])

Doanh số xe hơi đạt mức cao nhất trong vòng 4 năm qua

 


NEW YORK (CNNMoney) – Dân Hoa Kỳ kéo nhau đi coi và mua xe vào Tháng Chín, giúp cho tổng doanh số bán xe đạt mức cao kỷ lục trong vòng 4 năm.









Chrysler, một trong những hãng xe có doanh thu tăng mạnh trong năm nay. (Hình: Joe Raedle/Getty mages)


Theo tin của công ty chuyên theo dõi tình hình thị trường xe hơi Autodata, so với năm ngoái, tổng số doanh thu của ngành kinh doanh xe hơi đã tăng 13%. Số lượng bán xe của năm nay đạt mốc gần 15 triệu xe. Những con số đáng chú ý này dễ dàng vượt qua những dự đoán của nhiều chuyên gia trong ngành. Doanh thu của năm nay thậm chí còn vượt xa con số bán đỉnh điểm vào 3 năm trước khi Tổng Thống Obama ra chương trình thu mua xe cũ “Cash for Clunkers.”


Khoảng bốn năm trước, vào tháng 2 năm 2008, thị trường mua bán xe bắt đầu giảm sút liên tục vì giá xăng tăng trong khi nền kinh tế chìm sâu trong suy thoái.


Tuy số liệu của ngành mua bán xe hơi tại Hoa Kỳ phát đi tín hiệu đáng mừng, hai hãng xe lớn ở Detroit không mấy hài lòng với doanh thu riêng của họ. General Motors tường trình rằng doanh thu tăng chỉ 1.5% so với năm ngoái, trong khi số bán của Ford bị giảm 0.1%. Cả hai hãng xe này đều không đạt được con số bán từ dự đoán của giới chuyên môn đưa ra. Hãng Chrysler, ngược lại, có một năm mua bán thành công hơn mong đợi, tăng 12% so với năm trước.


Hai hãng xe Nhật Toyota và Honda có mức tăng cao nhất trong ngành kinh doanh xe hơi. Toyota cho biết số xe bán ra tăng 41.5% trong khi Honda tăng 30.9%. Cả hai hãng xe đều gặp khó khăn trong việc sản xuất từ vụ động đất và sóng thần năm ngoái ở Nhật. Tuy vậy, kết quả kinh doanh của hai hãng xe đều cao hơn nhiều so với dự tính.


Không chỉ các hãng xe Nhật vực dậy thị trường mua bán xe của Mỹ. Các hãng xe khác cũng có một năm kinh doanh thành công như Volkswagen, với dòng xe VW và Audi, hay Hyundai Motor, với dòng xe Huyndai và Kia, bán nhiều hơn năm ngoái khoảng 20%. (T.A.)

Nhân viên tố lãnh đạo đòi chia tiền hối lộ

VĨNH LONG (NV) – Một ổ tham nhũng vừa bị phanh phui tại tỉnh Vĩnh Long, có thể vì chia chác không đều. Cố ý để công ty “phe ta” trúng thầu cùng lúc 6 công trình xây dựng, các sếp lớn ở sở Văn Hóa-Thông Tin bỏ túi hàng tỉ đồng tiền hối lộ.










Cán bộ nhận tội nhận tiền hối lộ. (Hình: VNExpress)


Theo VNExpress, nội vụ đổ bể khi giám đốc một công ty tư nhân tên Phạm Tiến Ngọ, cư dân huyện Bình Minh bị bắt quả tang đang chung tiền hối lộ trước đó hai tháng.


Từ lời khai của ông Phạm Tiến Ngọ, người ta mới biết ra, sau mỗi lần trúng thầu, ông Ngọ phải chung 10% tổng giá trị gói thầu. Số tiền này được trao cho một cán bộ Sở Văn Hóa-Thông Tin tỉnh Vĩnh Long là ông Bùi Hữu Trí 33 tuổi.


Tính ra, ông Ngọ đã trúng thầu tổng cộng 6 dự án xây dựng, trùng tu các khu di tích. Trong đó, riêng khu tưởng niệm ông Võ Văn Kiệt, cố thủ tướng cộng sản Việt Nam ở huyện Vũng Liêm đã lên tới 20 tỉ đồng, tương đương 1 triệu đô. Ông Trí nhận trên 1.5 tỉ đồng, tương đương 75,000 đôla chỉ riêng công trình này.


Ngày 12 tháng 7, cả hai ông Trí và Ngọ bị bắt để điều tra.


Ông Trí lại khai rằng chính ông Nguyễn Tố Tranh, giám đốc Sở Văn Hóa-Thông tin tỉnh Vĩnh Long ký duyệt các hồ sơ đấu thầu xây dựng. Ông Trí cho biết đã phải chia tiền đều đặn cho “sếp” khi đệ trình hồ sơ, xin chữ ký.


VNExpress cho biết thêm, ông Nguyễn Tố Tranh đã bị ngưng chức.


Cũng không lâu trước vụ này, ngày 13 tháng 9, một đội trưởng của Chi Cục Thuế quận 1 tên Trần Văn Báu cũng đã bị bắt về tội nhận tiền hối lộ tại một quán cà phê ở quận 10.


Theo người đưa hối lộ tên D., một giám đốc công ty ở quận 1, ông Báu là cán bộ xem xét tình hình kinh doanh và nộp thuế của công ty ông. Ðể không bị quấy rầy trong việc làm ăn, ông D. nộp cho ông 10 triệu đồng, tương đương 500 đôla.


Tuy nhiên, theo dư luận, ông D. đã bị hạch hỏi và đòi tiền hối lộ trắng trợn. Vì vậy, ông này bí mật tố cáo ông Báu và mặt khác đưa ông này vào bẫy. (PL)

Ngọn lửa tâm can Nguyễn Chí Thiện

 


Ngô Nhân Dụng


 


Nguyễn Chí Thiện đã nhìn thấy Cái Ác. Và anh đã gọi thẳng tên nó ra. Có lẽ vì tên anh là Chí Thiện, cho nên suốt đời anh lo vạch mặt Cái Ác.


  Không bao giờ nghỉ. Anh là người chững chạc. Một người thành thật, hồn nhiên, có tư cách, đáng kính trọng. Anh luôn luôn khích lệ, góp ý kiến, không chờ được hỏi, không khách sáo.


Gặp nhau hôm hội Bắc Ninh ở đây, anh chỉ cho mấy chỗ sai chính tả trong bài tôi viết về quá trình “Hán hóa miền Nam Trung Quốc.” Tôi nói với anh đó là một bài trong cuốn sách đang viết giở về thời Bắc thuộc; với câu hỏi chính là vì sao dân Việt Nam bị đô hộ một ngàn năm vẫn không mất nước; anh đề nghị ngay: Nếu vậy thì anh phải đề cập đến những thắc mắc như thế này, thế này…


Lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau là ngày giỗ Ðỗ Ngọc Yến vừa qua, tôi đã nhờ anh đọc hộ hơn trăm trang bản thảo cuốn sách; như anh đã hứa. Năm 1995, Ðỗ Ngọc Yến gõ cửa phòng, báo tin “Có khách;” mở cửa ra, không ngờ thấy anh Nguyễn Chí Thiện đang cười tươi, đưa tay ra bắt: “Tôi muốn gặp ông vì tuần trước mới ngồi ở Hà Nội với mấy anh ấy, nghe ông nói trên đài BBC.” Anh kể tên mấy người bạn cùng nghe đài, những người tôi đã nghe tên mà chưa bao giờ gặp. Gặp anh, giống như gặp một người từ thế giới bên kia. Từ đó, chúng tôi là bạn.


Một lần Giáo Sư Trần Quốc Vượng đã hỏi tôi và bạn Nguyễn Hữu Chung: “Các cậu có biết tại sao những người đồng canh, đồng tuế lại dễ thân nhau hơn không?” Và ông trả lời: “Vì họ cùng chịu những hoạn nạn giống nhau. Cùng trải qua những cuộc cách mạng, những cuộc chiến tranh, những nạn đói như nhau …” Tôi cùng tuổi với anh Nguyễn Chí Thiện. Nhưng quả thật, chúng tôi trải qua những kinh nghiệm cuộc đời khác hẳn nhau. Năm 1954, mẹ tôi đã dẫn các con vào Nam. Sau cuộc di cư, cuộc đời của anh và tôi đã đi theo những con đường khác.


Năm chúng tôi sống ở tuổi 20 thì nhiều thanh niên ở miền Nam và miền Bắc cũng nuôi những hy vọng giống nhau. Trong bài thơ Ðồng Lầy, anh viết:


 


“Ngày ấy, tuy xa mà như còn đấy


Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời


Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi


Bốn phía bao la chỉ thấy


Chân mây, rộng mới tuyệt vời!


… Tuổi hai mươi tuổi của không ngờ.


Không sợ!


Viển vông đẹp tựa bài thơ


Mơ ước


Ðợi chờ


Vĩ đại.”


 


Nhưng sau đó, Nguyễn Chí Thiện đã gặp Cái Ác. Ðã nhìn thấy rõ mặt Cái Ác. Anh gọi đích danh Cái Ác. Từ đó, định mệnh của anh là vạch mặt chỉ tên Cái Ác. Nguyễn Chí Thiện đã vạch tội Cái Ác trong những trò giáo giở:


 


Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại


Ngỡ cờ sao rực rỡ.


Tô thắm màu xứ sở yêu thương


Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường.


 


Năm 22 tuổi tôi làm nghề dạy học, vẫn làm thơ, mơ mộng yêu đương, còn anh đã vào tù vì vạch mặt chỉ tên Cái Ác. Năm 25 tuổi ở miền Nam chúng tôi đang đi biểu tình đả đảo Hiến Chương Vũng Tàu, nuôi hy vọng xây dựng một chế độ tự do dân chủ; còn anh được tự do chưa đầy một năm thì lại bị bắt giam hơn 11 năm nữa. Năm 1965 chúng tôi đi làm trại công tác xã hội, cùng các sinh viên, học sinh đi giúp đồng bào nông thôn; còn anh đã nhìn thấy, như trong bài thơ Ðất Này:


 


Ðất này chẳng có niềm vui


Ngày quệt mồ hôi, đêm chùi lệ ướt


Trại lính, trại tù người đi không ngớt


Người về thưa thớt dăm ba…


Trẻ con đói xanh như tàu lá


… Buồn tất cả


Chỉ cái loa là vui!”


 


Ở một nơi mà cả nước phải suy tôn “Cha Già Dân Tộc,” Nguyễn Chí Thiện vạch ra:


 


Mi ngu si, mi chăng biết gì!


Cha mẹ mi là dân tộc Việt


Anh chị mi là dân tộc Việt


Mi ngủ với ai mà là cha già của họ, hỡi Hồ Ly!


 


Cái Ác không phải chỉ hiện hình trong một con người gian trá, mà trong cả một chế độ, một chủ nghĩa, một guồng máy. Cái Ác lớn đẻ ra nhiều Cái Ác nhỏ.


 


Ðạo lý tối cao của xứ đồng lầy.


Là lừa thầy phản bạn


Và tuyệt đối trung thành vô hạn.


Với Ðảng, với Ðoàn, với lãnh tụ thiêng liêng.


Hạt thóc, hạt ngô phút hóa xích xiềng.


Họa phúc toàn quyền của đảng.


Chúng trưởng sinh trong đêm tối nhiều năm.


Nên chúng tưởng màu đen là ánh sáng!


Ếch nhái vẫn đồng thanh đểu cáng


Chửi bới mặt trời, ca ngợi đêm đen.


 


Năm 1980 Nguyễn Chí Thiện đã viết những lời phê phán mà ngày nay các nhà tranh đấu cho dân chủ ở nước ta cũng lên tiếng tố giác. Vì sau hơn 30 năm cuộc sống đất trước mặt vẫn như vậy:


 


“Mấy cái đầu


Mấy cái đầu bé tẹo


Quản lý nước, nước nghèo


Cai trị dân, dân khổ


Chỉ được cái lỳ ra, không xấu hổ!”


 


Nguyễn Chí Thiện đã chỉ rõ mặt Cái Ác. Anh đã dùng cả cuộc đời anh để vạch trần Cái Ác. Cái Ác của Lê Nin đã được nhập khẩu vào nước ta. Một bài thơ viết năm 1983, khi cả nước bị nạn đói, ở Thanh Hóa có người đã chết đói:


 


“Ðể mãi mãi được làm chúa tể


Ðể đánh bật đào tung gốc rễ


Giá trị tinh thần đạo lý bền sâu


Ðể bắt dân đen quỵ gối, cúi đầu


Ngậm đắng, nuốt sầu


Chịu trói!


Biện pháp hàng đầu: cái đói!


Biện pháp nhiệm mầu: cái đói!


Khi người ta đói


Xin đừng có nói văn hoa


Cùng đạo lý cao xa!


Vì những lời hay ý đẹp


Cái dạ dầy lép kẹp không nghe!


Ðể bắt nó nghe


Ðể bắt nó làm


Phải có trại giam, cái cùm, khẩu súng


Cùng muôn thủ đoạn gian hùng


Dồn ép nó lâm vào thế kiệt cùng


Không thể cựa!


Bắt nó phục tùng, hóa thành trâu ngựa


Phải tuân theo


Mọi yêu cầu của chế độ hùm beo!


Lúc đó, ăn uống mới ban cho một tí!


Tem phiếu mới phân chia từng tí!


Lê nin nói vô cùng có lý


Khi căn dặn bọn tay chân đồng chí:


“Không kỷ luật nào bằng kỷ luật đói, chớ nên quên”


Còn chúng ta cũng chớ nên quên


Phải ghi nhớ điều này:


Khống chế dạ dầy là chiến lược dài lâu


Chiến lược hàng đầu của đảng!”


 


Nguyễn Chí Thiện dùng thơ như một vũ khí chiến đấu với Cái Ác:


 


Thơ của tôi không phải là thơ


Mà là tiếng cuộc đời nức nở


 


Nhưng anh cũng ca ngợi công dụng của thơ. Anh Nguyễn Thanh Hải, mới bị kết án tù 12 năm, chắc sẽ thích thú những câu thơ viết năm 1972, Nguyễn Chí Thiện đã tiên tri, nhắc đến biệt hiệu Ðiếu Cầy của anh:


 


Nhà thơ có khả năng biến chiếc điếu cày thành bất tử


Biến đám cầm quyền nghiêng ngả non sông


Thành lũ hề nhố nhế lông bông


 


Phải sống với Cái Ác một nửa cuộc đời, nhưng Nguyễn Chí Thiện vẫn nói lên những tiếng của hy vọng:


 


Dù thể xác lao tù héo khô muốn đổ


Dù đau lòng dưới năm tháng vùi chôn


Ta đã sống và không xấu hổ


Vì ta cứu giữ được linh hồn


 


Nguyễn Chí Thiện đã ra đi. Một nạn nhân của Cái Ác nhưng vẫn giữ được tâm hồn Thiện. Những ai gần gũi anh chắc đều thấy anh tính tình hồn nhiên, giản dị. Tôi chưa nghe anh nói xấu về một người nào bao giờ, trừ Cái Ác. Tôi rất mừng trước khi qua đời anh đã tìm thấy một tôn giáo. Ðứng trước ngưỡng cửa giữa sự sống và sự chết, một niềm tin sẽ giúp anh ra đi trong bình an. Nguyễn Chí Thiện từ nay sẽ không còn bị Cái Ác quấn lấy nữa. Nhưng Ngọn Lửa Tim Gan của anh sẽ còn cháy mãi trong lòng chúng ta:


 


Vang mãi vô hạn


Tiếng lòng chứa chan!


Sáng mãi vô hạn


Ngọn lửa tâm can!

Chút kỷ niệm với nhà thơ, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện

J.B Nguyễn Hữu Vinh


(Viết riêng cho báo Người Việt)


 


Nghe tin ông Nguyễn Chí Thiện từ trần, mình thấy thảng thốt. Vậy là một cuộc đời kết thúc, một con người đã ra đi. Ðơn giản, nhẹ nhàng nhưng đau xót.










(Hình: Tác giả cung cấp)


Một buổi chiều ở Nam California nắng vàng rực rỡ, cái nắng không gắt gao như ở quê mình, bởi không khí vẫn cứ lạnh nếu bạn đứng vào trong bóng râm. Mình đang ngồi ở nhà một người bạn, bỗng một chiếc xe đậu ở cửa, một người đàn ông gầy gò ăn mặc theo lối mùa Ðông, đầu đội mũ phớt bước vào, người đi cùng giới thiệu: “Ðây là anh Nguyễn Chí Thiện.”


Mình giật mình, quả là không bao giờ nghĩ rằng mình có thể gặp “Ngục sĩ” ở đây. Ở Hà Nội, vài lần ngồi với anh bạn quê Hải Phòng, anh say sưa nói về Nguyễn Chí Thiện, một con người đã đi vào huyền thoại vì những năm tháng tù đày của một thời khắc nghiệt. Thỉnh thoảng đọc những bài thơ trong tập thơ Hoa Ðịa Ngục, mình thấy chí khí một con người khá mạnh mẽ vào thời buổi đầy sắt và máu. Nghĩ vậy, đọc vậy và biết vậy chứ chưa bao giờ mình nghĩ có thể gặp được ngục sĩ bằng xương, bằng thịt hẳn hoi. Mình chào hỏi và ngồi nghe ông nói chuyện.


Ông nói nhỏ nhẹ, bình thản về những năm tháng tù đày của mình ở Việt Nam, những trại giam nào ông đã đi qua, những ai ông đã từng gặp… nhiều thứ mình không thể nhớ nổi. Nhưng nhớ nhất là thái độ của ông khi nói về những chuyện đó, cứ nhẹ nhàng kể lại những sự việc khủng khiếp mà như kể câu chuyện nào đó xảy ra bình thường trong cuộc sống. Không có hận thù, không có căm giận, ông điềm tĩnh và bình thản lạ thường khi giải thích những điều mà mình lần đầu tiên được nghe và tự rùng mình.


Kể về những năm tháng trong tù ngục của ông, mình nhớ nhất câu chuyện về những ngày sau khi cuốn Hoa Ðịa Ngục của ông được xuất bản tại nước ngoài. Khi đó, ông vẫn cứ sống trong trại giam, mà ở trại giam khi đó, điều kiện để tiếp tế đồ ăn, thức uống từ gia đình là điều không thể có đối với ông, cuộc sống hết sức khốn khổ. Nhiều khi chỉ một điếu thuốc lá, một cốc nước chè là cả một mơ ước của tù nhân.


Ông kể lại rằng: Kể từ khi đưa cuốn sổ thơ vào Ðại Sứ Quán Anh trở ra để bị bắt vào nhà ngục, mọi thông tin về tập thơ hầu như không có phản hồi, không hề biết tập thơ của mình đã đi đến đâu và số phận mình sẽ ra sao.


Một hôm, có cán bộ đến hỏi ông về tập thơ Hoa Ðịa Ngục. Trong thâm tâm, ông sung sướng khi biết rằng: Như vậy, tiếng nói của ông đã vang lên từ bên ngoài biên giới.


Khi cán bộ hỏi ông về tập thơ, ông công nhận rằng đó là tập thơ của mình, nhưng làm đã lâu. Cán bộ hỏi ông có thể nhớ được những bài thơ trong đó và có thể chép lại không? Ông bảo: “Có thể, nhưng cần có thời gian và điều kiện như ở nhà tù này thì không thể nào nhớ được.”


Thế là từ đó trở đi, hàng ngày ông được đưa về một nơi khá tươm tất, được phục vụ nước, thuốc, ăn uống đầy đủ để… chép lại thơ mình. Ông mỉm cười nhỏ nhẹ: “Nhiều khi, cuộc sống tù đày khắc nghiệt cũng làm cho mình có vài chút mẹo vặt. Khi đó cho dù có thuộc nằm lòng từng bài thơ, thì mình vẫn cứ mỗi ngày chép ra một vài bài mà thôi, vì nếu đã chép hết thì lại trở về những ngày đói khát và giam cầm trong trại. Nhờ đó, mình được một thời gian khá dài không đến nỗi vất vả.”


Thời gian gặp nhau không dài, ngồi nghe những câu chuyện của ông nhiều khi cười ra nước mắt. Biết ông vẫn sống một mình kể từ khi sang Mỹ đến nay, mình hỏi ông chuyện gia đình, ông nói: Có lẽ cuộc sống của ông gắn với nhà tù và chính vì thế ông không có thời gian để lấy vợ, khi ra khỏi nhà tù thì đã 53 tuổi, thân hình ốm yếu lại cuộc sống bơ vơ rồi sang Mỹ mấy năm sau đó, chấp nhận một cuộc sống một mình. Vậy là cuộc đời của ngục sĩ đơn côi cho đến hôm nay khi nhắm mắt lìa đời.


Chia tay ông, biết mình từ Việt Nam sang, ông nhờ một việc: Năm 1991, trước khi ra tù, ông được điều trị tại bệnh viện 198 của Bộ Công An. Ở đó, có một gia đình làm ông nhớ đến nay nhưng không thể có tin tức, nay muốn tìm lại thông tin từ họ. Ðó là gia đình một sĩ quan phục vụ trong bệnh viện 198, khi đó giám đốc bệnh viện là Hoàng Tuấn. Gia đình viên sĩ quan này có một cô gái là Mai Thanh Hà mới 14 tuổi, ông đã dạy học cho cô bé một thời gian. Sự tận tình của ông đã được gia đình cô bé trân trọng và quý mến. Thế rồi ông ra tù đến nay đã 20 năm không có tin tức từ họ nay nếu có thể thì tìm thông tin cho ông. Mình cứ nghĩ là có thời gian để tìm hộ ông những thông tin đó, đã cố gắng hỏi vài ba người nhưng thế hệ sau này họ không biết được. Tưởng còn thời gian, nào ngờ ông đã ra đi.


Người bạn cho tôi biết, ông sống trong một căn hộ nhỏ ở Quận Cam với cuộc sống đơn giản, đạm bạc vì ông không ăn uống được nhiều. Bạn bè ông quý mến lo lắng cho ông nhiều thứ. Nhưng ông luôn nhớ về quê hương, về những người đã cùng cảnh ngộ với ông, nên thỉnh thoảng với những đồng lương còn lại, ông dành dụm gửi về giúp đỡ những người đó. Thật khó có thể nói hết tấm lòng của ông nếu chứng kiến ông với thân hình gầy gò và hoàn cảnh đơn độc ở một đất nước xa xôi vẫn nhớ về những người tâm huyết ở trong nước.


Thế rồi chia tay nước Mỹ, chia tay ông đã hơn 1 năm.


Hôm trước, nhận được tin ông ốm nặng chưa kịp hỏi thăm, nhưng mừng cho ông đã chính thức trở thành người con của Chúa. Ông đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy để trở nên con cái Chúa. Ông đã đáp lại lời Chúa mời gọi ông từ mấy chục năm qua. Lời mời gọi đó thông qua cuộc sống và cảm nghiệm của ông với các chứng nhân, qua những tấm gương của những linh mục, tu sĩ và giáo dân ở các trại giam ông đã từng nếm trải.


Hôm nay ông rời bỏ trần thế, nơi ông đã có cuộc sống nhọc nhằn và đầy vất vả. Cuộc sống đó không đem lại cho ông sung sướng về vật chất, về cơm ăn, áo mặc hoặc danh vị, tiền tài… Nhưng ở đó, sau 73 năm trên đời, ông để lại một tấm gương, nghĩa khí của một CON NGƯỜI.


Vĩnh biệt ông, cuộc gặp gỡ giữa chúng ta dù ngắn ngủi, giữa hai con người thuộc hai thế hệ khác nhau, nhưng qua đó, đã thấy đậm tình người và một chí khí cao cả, đầy nhân ái.


Xin Chúa đón nhận linh hồn Thomas More Nguyễn Chí Thiện được sớm về nơi thanh nhàn sau những năm tháng đớn đau nơi trần thế.


Là những tín hữu Công Giáo, chúng ta tin tưởng và xin hẹn gặp lại nhé, ngục sĩ Thomas More Nguyễn Chí Thiện.


(Hà Nội, đêm 2 tháng 10, 2012)

Khóc anh Nguyễn Chí Thiện

 


Trương Anh Thụy


 


Nghe tin anh bị bệnh nặng mà bạn bè anh khắp nơi cứ xốn sang cả lên! Long và Thụy cũng không ngoại lệ, sốt ruột quá gọi anh Nguyễn Công Giân mấy lần mà không ai trả lời.










Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. (Hình: Uyên Nguyên/Người Việt)


Nếu có ai mở được hộp thư HMDC ra xem sẽ được chứng kiến một cảnh thật cảm động: Mấy ngày hôm nay chả thấy bài vở gì cả, chỉ thấy các trao đổi qua lại với cái tựa đề: Anh Nguyễn Chí Thiện bệnh nghiêm trọng! Anh Nguyễn Chí Thiện bệnh nghiêm trọng! Anh Nguyễn Chí Thiện bệnh nghiêm trọng…! Trong đó có cả Ca Dao với sáng kiến độc đáo và thực tế là thu tiếng nói của một số bạn bè rồi gửi sang cho anh để anh có thể nghe trong lúc nằm dưỡng bệnh.


Trời Hoa Thịnh Ðốn đã bắt đầu vào Thu, thời tiết se se lạnh làm chúng tôi nhớ quá đi thôi, cái hình ảnh anh Thiện năm nào còn ở vùng HTÐ. Anh trong chiếc áo măng tô dài màu đen, khiến anh đã cao lại càng thêm cao, với chiếc khăn quàng len và chiếc mũ phớt bằng dạ. Trông anh giống vai người hùng trong các phim trinh thám ghê! Và nhớ nhất là những buổi tối, một số bạn bè xúm lại, say xưa nghe anh đọc thơ tù và kể chuyện tù… thế mà thấm thoát đã gần hai chục năm trời…


Trong gần hai chục năm trời đó anh cũng đã đóng góp được một số công việc thật đáng kể cho cộng đồng hải ngoại mà anh nên hãnh diện! Anh đến bao nhiêu đại học, bao nhiêu tiểu bang trên đất Mỹ và cả hàng chục nước tự do nữa để giải độc cho thiên hạ… đánh đổ cái mù mờ, hoang tưởng của họ về cái chế độ phi nhân Cộng Sản đang ngự trị trên quê hương chúng ta. Anh có những Hoa Ðịa Ngục, Giọt Máu Thơ, do anh Nguyễn Ngọc Bích dịch sang tiếng Anh, rồi Hỏa Lò nữa, đều cho Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ xuất bản.


Theo đạo Phật thì mọi sự ở đời đều “sắc sắc không không.” Con người thì ai cũng phải qua các thời kỳ “sinh, lão, bệnh, tử,” nào có ai thoát cái luật đó bao giờ! Tuy nhiên, những thơ văn, những vốn sống của anh để lại cho đời, cho các thế hệ mai sau, mới là những cái gì làm cho anh bất tử.


Thế mà tin anh mất đến như sét đánh. Anh ra đi trong lúc quê hương đang ở trong thời kỳ đen tối nhất, cần những tiếng nói như của anh nhất. Ôi quê hương, ôi Việt Nam, bao giờ thì ta mới nói được lên hết cả những gì ta cần nói, để 90 triệu dân lấy lại được tự do thanh bình như anh hằng mong ước!

Hoa Ðịa Ngục

 


LTS – Nội dung dưới đây là đoạn trích trong “Lời Nhà Xuất Bản” của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ trong tập thơ Hoa Ðịa Ngục, xuất bản năm 2006.


***


Tuy mới được công chúng biết đến hơn một phần tư thế kỷ, tác phẩm Hoa Ðịa Ngục của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã mau chóng trở thành một tập thơ tiêu biểu của nền thi ca Việt Nam hiện đại.










Bìa tác phẩm Hoa Ðịa Ngục, do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ xuất bản năm 2006. (Hình: Người Việt)


Tiêu biểu bởi vì đó là một tập thơ mang đầy máu và nước mắt, mồ hôi, khổ nhục – phản ánh một thế giới trong đó con người Việt Nam, vốn hiền lành là thế, đã vì một ý thức hệ ngoại lai biến thành một con vật với chính đồng loại, đồng bào – nhưng cũng chính vì thế mà cuộc đấu tranh đầy vinh quang khi con người tìm lại được nhau và khẳng định tính người của mình:


 


Sẽ có một ngày con người hôm nay


Vất súng


Vất cùm


Vất cờ


Vất đảng


Ðội lại khăn tang


Ðêm tàn ngày rạng


Quay ngang vòng nạn oan khiên…


Sống sót về đây an nhờ phúc phận


Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân


Ðứng bên nhau trên mất mát quây quần


Kẻ bùi ngùi hối hận


Kẻ bùi ngùi kính cẩn


Ðặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông


Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cờ hồng


 


Ðã tưởng một tác phẩm lạc quan như thế thì phải được đón nhận một cách hân hoan. Ấy vậy mà cuốn sách đã phải ba chìm bảy nổi mới đến được tay chúng ta trọn vẹn như ta có ngày hôm nay. Có lẽ cũng tại hoàn cảnh ly kỳ đã mang tác phẩm đến cho chúng ta.


Xuất hiện một cách kỳ bí, không tên sách, không tên tác giả, tập thơ đã được công bố lần đầu vào tháng 9 năm 1980 do Thời Tập ở Arlington, Virginia in ra, dưới tên “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” (là một câu lấy trong “Những Ghi Chép Vụn Vặt”). Gần như ngay sau đó, báo Văn Nghệ Tiền Phong lại đưa ra một bản in khác mang tên “Chúc Thư Của Một Người Việt Nam,” vẫn tác giả vô danh.


Tuy không rõ ai là tác giả nhưng từ khởi thủy tập thơ đã có một tiếng dội vang lừng khắp năm châu. Liền lập tức, nhiều nhạc sĩ đã đem một số bài trong tập ra phổ nhạc mà thành công nhất có lẽ phải kể Phạm Duy (ở Cali) Phan Văn Hưng (ở Úc) Trần Lãng Minh (ở Virginia)… Nhờ vậy, thơ của tác giả “vô danh” (mà có lúc được mệnh danh là “Ngục Sĩ”) đã như không cánh mà bay.


Bài giới thiệu đầu tiên tập thơ với thế giới (vì viết bằng tiếng Anh) lần này có biết rõ tên tác giả là Nguyễn Chí Thiện, được đăng trong báo Index on Censorship Bộ II, số 3 (tháng 6, 1982) bởi ông Lek Hor Tan với sự tiếp tay của Nguyễn Hữu Hiệu (dịch 5 bài thơ ngắn trong tập). Song có lẽ gây tiếng vang hơn là bài “A voice from the Hanoi Underground” (“Một Tiếng Nói Chui Từ Hà Nội”) được tạp chí Asiaweek ở Hong Kong đăng tải trong số ra ngày 30 tháng 7, 1982 rồi BBC chuyển đi ra khắp thế giới.


Tập thơ phổ nhạc đầu tiên do Phạm Duy, Mười Bài Ngục Ca/Ten Prison Songs, trong bản dịch nghĩa của Nguyễn Hữu Hiệu, được in ra ngay từ năm 1980. Ðến tháng 9 thì Hội Văn Hóa VN tại Bắc Mỹ (VICANA trong tiếng Anh) tung ra cuốn sách mỏng song ngữ Ngục Ca/Prison Songs (gồm 20 bài với lời Anh hát được của Nguyễn Ngọc Bích). Cũng sách này lần đầu tiên ghi tên tác giả các bài thơ là Nguyễn Chí Thiện. Ðầu năm 1983, cuốn sách được nhà xuất bản Quê Mẹ ở Pháp in lại thành một tập tam ngữ mang tên Chants de Prison/Prison Songs/Ngục Ca sau khi tăng bổ thêm phần dịch thuật sang tiếng Pháp của Võ Văn Ái và sang tiếng Anh của Ỷ Lan Penelope Faulkner. Tập này cũng ghi lại nhiều nhận định của các nhà văn, nhà báo, khoa học gia quốc tế về thơ Nguyễn Chí Thiện.


Tập tuyển dịch đầu tiên sang tiếng Anh, The Will of a Vietnamese, do Nguyễn Thị Hằng (New York: Carleton Press, 1984) thì rõ ràng là dựa trên bản tiếng Việt của Văn Nghệ Tiền Phong. Tập tuyển dịch sang tiếng Anh của Huỳnh Sanh Thông, Flowers from Hell (New Haven: Yale University Council on Southeast Asia Studies, 1984) đã khẳng định tên chính thức của tập thơ là Hoa Ðịa Ngục và tên tác giả đích xác là Nguyễn Chí Thiện dựa trên một bức thư tiết lộ của GS P. J. Honey ở Anh.


***


Dù như mọi sự được tuần tự đưa ra ánh sáng như vậy, một số người vẫn không muốn tin, thậm chí còn viết bài rồi viết cả sách để “chứng minh” rằng tác giả những bài thơ lạ lùng kia chỉ có thể là Lý Ðông A, cha đẻ của thuyết Duy Dân vào thập niên 40 của thế kỷ trước. Ném lao rồi thì phải theo lao, những người này nhất định ngoan cố trong niềm xác tín kỳ dị của họ ngay cả sau khi nhà văn Nguyễn Hữu Hiệu về Hà Nội chụp hình chung với Nguyễn Chí Thiện bằng da bằng thịt và bạn bè của ông, rồi chính Nguyễn Chí Thiện cũng được Hà Nội cho đi Mỹ (tháng 11, 1995) trong một cử chỉ thân thiện với Hoa Thịnh Ðốn.


Năm 1991, Tiến Sĩ Bùi Hạnh Nghi ở Ðức đưa ra bản dịch đầu tiên và đáng kể của ông sang tiếng Ðức, Echo aus dem Abgrund/Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực (Frankfurt-am-Main: R.G. Fischer, 1991) và bản song ngữ này đã cũng được in lại năm sau – để rồi được đưa vào chương trình “đọc sách hay” trong các trường trung học đệ nhị cấp ở tiểu bang Bayern, Ðức quốc. Một số bản dịch trong này cũng được mang ra đọc trong Hội Nghị Văn Bút Quốc Tế ở Madeira, Tây Ban Nha (1993) và Praha, Tiệp Khắc (1994). Một nhạc sĩ thời danh của Áo, ông Gunter Mattitsch, cũng đã chuyển 14 bài thơ trong bản dịch Bùi Hạnh Nghi thành một “suite” trình bày lần đầu trước công chúng ở Klagenfurt, Áo quốc (20 tháng 10, 1995).


Bản dịch tương đối đầy đủ nhất sang tiếng Anh là cuốn Flowers of Hell/Hoa Ðịa Ngục của Nguyễn Ngọc Bích đưa ra năm 1996 (Arlington, VA: Tổ Hợp XBMÐ Hoa Kỳ) đính kèm với một bản tuyển dịch Hạt Máu Thơ (tức Hoa Ðịa Ngục II) mà tên trong tiếng Anh là Blood Seeds Become Poetry. Hai tập này về sau được dùng làm gốc cho một số bản dịch sang các thứ tiếng: Tiệp do Jachym Topol; Pháp do Dominique Delaunay; Hòa Lan do Bloemen uit de hel… Cùng năm này nhân dịp nhà thơ được cộng đồng NVTD mời đi một vòng nước Úc, GS Nguyễn Ngọc Phách ở Melbourne cho in ra một tuyển tập mỏng thơ Nguyễn Chí Thiện mang tên A Selection of Flowers from Hell (Melbourne: Hoa Niên, 1996). Cũng nhóm Hoa Niên xin in lại tập Ngục Ca/Prison Songs của Hội Văn Hóa VN tại Bắc Mỹ in ra năm 1982.


Sang tiếng Pháp, thơ của Nguyễn Chí Thiện cũng đã được dịch bởi một cựu đại sứ của Việt Nam (ở Canada), GS Bùi Xuân Quang (trong tập san Ðường Mới ở Paris), song đáng kể nhất là tập Fleurs de l’enfer (Paris: Institut de l’Asie du Sud-Est, 2000) do BS Nguyễn Ngọc Quỳ và nhà thơ Dominique Delaunay.


Thơ của Nguyễn Chí Thiện còn được dịch sang một số tiếng khác nữa như Trung Hoa và Nhật Bản, song chúng tôi không có đầy đủ chi tiết ở đây. Thơ của ông cũng được chọn để đưa vào nhiều tuyển tập thơ quốc tế như:


-War and Exile: A Vietnamese Anthology (Nguyen Ngoc Bich, chủ biên, Springfield, VA: Vietnameses PEN Abroad, East Coast USA, 1989).


-Another Way to Dance: Contemporary Asian Poetry from Canada and the United State (Cyril Dabydeen, chủ biên, Toronto: TSAR Publications, 1996).


-This Prison Where I Live, the PEN Anthology of Imprisoned Writers (Siobhan Dowd, chủ biên, với tựa do Joseph Brodsky, New York, 1996).


-Ecrivains en Prison (bản tiếng Pháp của tuyển tập trên đây, Genève: Labor et Fides, 1996).


Và tên tuổi của ông được đưa vào tự điển Who’s Who in Twentieth-century World Poetry (Mark Wiihardt, chủ biên, London & New York: Routledge, 2000, bản in lần 2 ở Ðức năm 2002). Ngoài ra một số bài thơ lẻ của ông cũng đã được đưa vào sách giáo khoa ở Mỹ và hiện có một website trên Mạng Lưới Toàn Cầu dành chỗ trang trọng cho thơ ông mang tên www.vietnamlit.org (GS Dan Duffy ở North Carolina thực hiện).


Là hội viên danh dự của nhiều trung tâm Văn Bút Quốc Gia (Pháp, Hòa Lan,…) ông đã được tặng nhiều giải thưởng cao quý như giải thưởng Thơ Rotterdam (1984), Giải thưởng “Tự Do Ðể Viết” (”Freedom to Write” Prize) của Trung Tâm Văn Bút Hoa Kỳ (1989) và ba năm làm khách của Nghị Viện Quốc Tế Các Nhà Văn (International Parliament of Writer). Ông cũng được ba lần đề cử để lãnh giải Nobel về Văn Chương.


***


Tuy “Hoa Ðịa Ngục” là tác phẩm lớn về thơ của Nguyễn Chí Thiện, thiết tưởng cũng không nên quên: ông còn viết truyện và (đang viết) hồi ký nữa. Tập truyện Hỏa Lò của ông, do Tổ Hợp XBMÐ in ra năm 2001, phải được xem là một trong những tác phẩm văn học thành công nhất ở hải ngoại (in ra 5000 cuốn trong vòng 6 tháng). tập truyện này đã được dịch sang Anh ngữ và sẽ ra mắt độc giả trong nay mai do Southeast Asian Literature Program của Yale University xuất bản.


Dù như giờ đây ông đã trở thành một nhân vật tiếng tăm quốc tế, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vẫn là một con người thật bình dị. Người ta gọi ông là “anh hùng,” ông gạt ngay: “Trong máu [tôi] không có một tí chất anh hùng nào cả.”


Ông chỉ là một con người hoàn toàn dành cho văn học. thơ, ông muốn được như Baudelaire, nghĩa là chỉ mong được người đời nhớ ông qua một tác phẩm lớn: Nếu cả đời Baudelaire có độc một tập “Ác Hoa” (“Le fleures du Mal”) thì ông cũng mong được biết đến như là tác giả của độc nhất một tập, Hoa Ðịa Ngục. Khi cho in hai tập Hoa Ðịa Ngục I và II (còn có tên Hạt Máu Thơ) làm thành một như trong sách này là Tổ hợp tôn trọng ước muốn đó của ông.

Tiễn biệt nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

 


Trần Trung Ðạo


 


Một chứng nhân bất khuất


Trong chương sử điêu tàn


Tội ác còn chưa dứt


Nên thơ còn dở dang


 


Giọt máu nằm im lặng


Trên vết thương năm nào


Ðời lưu vong cô độc


Tâm sự cùng trăng, sao


 


Một cành hoa địa ngục


Vừa nở giữa thiên đàng


Mười ngàn đêm khổ nhục


Chợt sáng về thênh thang


 


Chuyến xe rời quá vội


Không kịp nói năng gì


Dù ngàn lời tiễn biệt


Cũng một lần ra đi.

Một du học sinh Việt Nam chết đột ngột ở Singapore

 


VIỆT NAM (NV) – Một du học sinh Việt Nam 17 tuổi chết đột ngột khiến ban giám đốc và bạn bè ở ký túc xá nhà trường nơi cậu đang học tại Singapore bị “sốc” nặng.










Ký túc xá Oldham Hall, Singapore. (Hình: Báo Người Lao Ðộng)


Báo Người Lao Ðộng trích loan báo của trường ACS ở Singapore nói rằng thi thể của nạn nhân được tìm thấy trong phòng trọ của ký túc xá Oldham Hall, đường Barker của đảo quốc nhỏ bé này. Danh tánh của nạn nhân, một sinh viên năm thứ tư của trường vẫn còn được giữ kín theo yêu cầu của gia đình tại Việt Nam.


Theo ông hiệu trưởng trường ACS, sinh viên 17 tuổi này không có dấu hiệu đau yếu, cũng không mắc “vấn đề sức khỏe” nào trước khi qua đời đột ngột. Giám đốc ký túc xá Oldham Hall còn mô tả nạn nhân là một học sinh có nếp sống và sinh hoạt hết sức mẫu mực, thích chơi đàn piano và nghe nhạc.


Cảnh sát Singapore đang xúc tiến cuộc điều tra về nguyên nhân gây chết người đột ngột và cho rằng đây là một cái chết bất thường.


Cũng theo báo Người Lao Ðộng, thi hài của du học sinh 17 tuổi đã được đưa về quê quán để chôn cất.


Báo Người Lao Ðộng cũng cho hay, cuối tháng 6 vừa qua có một du học sinh Việt Nam ở Nhật bị nghi dùng dao đâm vào bụng tự sát. Anh này tên Toàn, du học sinh Việt Nam đang theo học năm thứ hai tại trường Ðại Học Osaka.


Theo nhân viên trường đại học, Toàn đến Nhật du học với học bổng của chính phủ Nhật Bản. Cho đến ngày xảy ra vụ Toàn bị đâm bằng dao, học bổng này đã hết trong khi Toàn chưa tìm được học bổng mới.


Nhà chức trách Nhật nói không tìm được chứng cứ cho thấy nạn nhân bị đâm. Cho đến nay, người ta vẫn cho rằng du học sinh này đã dùng dao đâm vào bụng mình để tự tử vì đang gặp khó khăn về tài chính.


Nạn nhân sau đó được đưa đến bệnh viện cứu chữa và đã qua cơn hiểm nghèo. (PL)

Tòa Ðại Sứ Pháp bị tấn công vì cuốn phim xúc phạm Hồi Giáo

 


TEHRAN, Iran (AP) – Cả trăm người dân Iran giận dữ về cuốn phim xúc phạm Hồi Giáo thực hiện ở Mỹ cũng như các hình hí họa về Nhà Tiên Tri Muhammad đăng tải trên một tuần báo ở Pháp, đã tấn công tòa Ðại Sứ Pháp ở Tehran.










Cảnh sát Iran dàn hàng để bảo vệ Tòa Ðại Sứ Pháp tại Tehran, Iran. (Hình: Vahid Salemi/AP)


Người dân chung quanh nơi này nói rằng người biểu tình đập phá một trạm canh gác của cảnh sát bên ngoài tòa đại sứ và nơi niêm yết các thông cáo trên tường tòa đại sứ.


Có khoảng 30 người bị bắt tiếp theo cuộc tấn công vào sáng ngày Thứ Ba này.


Người dân Iran trong thời gian qua đã mở các cuộc biểu tình tuần hành ôn hòa để phản đối cuốn phim và các hình hí họa. Ðài truyền hình nhà nước cũng chiếu các cuộc biểu tình tại một số thành phố trên khắp nước hôm Thứ Ba nhưng vụ biểu tình trước tòa Ðại Sứ Pháp rõ ràng là không được nhà nước cho phép và cũng không được đề cập trong bản tin. (V.Giang)

‘Tai biến sản khoa’, gần 90 người chết trong 6 tháng

VIỆT NAM (NV) – Trong vòng sáu tháng qua, gần 90 người thiệt mạng, không mẹ thì con, vì cái gọi là “tai biến sản khoa” tại Việt Nam.









Thân nhân của sản phụ Nguyễn Thị Hằng chụp với nạn nhân lần cuối. (Hình: Báo Kiến Thức)


Phúc trình của Vụ Sức Khỏe Bà Mẹ và Trẻ Em trực thuộc Bộ Y Tế Việt Nam mới đây thừa nhận trong 88 vụ “tai biến gây tử vong mẹ hoặc con” tại các bệnh viện sản khoa trong toàn quốc sáu tháng qua, chỉ có 28 trường hợp được cho là vì sản phụ hoặc trẻ sơ sinh có mắc bệnh trước đó.


Ðiều này có nghĩa là ít nhất 60 người bị chết oan, bởi sự sơ suất, tắc trách của các y bác sĩ sản khoa tại Việt Nam.


Theo VietNamNet, đáng trách là phúc trình chính thức của Vụ Sức Khỏe Bà Mẹ và Trẻ Em nói trên không xác định được bao nhiêu vụ xảy ra vì lỗi của các y bác sĩ. Báo này còn cho rằng giọng điệu của cán bộ lãnh đạo các bệnh viện làm chết người trong gần 90 trường hợp nói trên đều đổ thừa cho một nguyên nhân duy nhất là “tắc mạch ối, tắc mạch phổi.”


VietNamNet nói rằng đó là nguyên nhân làm chết người thuộc nhóm “hiếm gặp” lại trở thành nguyên nhân thường xuyên được ngành y tế nại ra.


Cũng theo VietNamNet, hàng chục vụ người dân bao vây bệnh viện đòi mạng người gây chấn động dư luận suốt thời gian qua tại Năm Căn, Cà Mau, Hà Nội, Quảng Ngãi… không phải là vô lý.


Người dân phẫn nộ vì cho rằng sự can thiệp không kịp thời và thái độ tắc trách của các y bác sĩ là nguyên nhân làm chết mẹ hoặc con khi sản phụ lâm bồn.


Sự kiện đau lòng vừa xảy ra hôm 29 tháng 9 tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương ở Hà Nội làm chết sản phụ 20 tuổi tên Nguyễn Thị Hằng, cư dân Hà Nội, khiến dư luận chưa hết xúc động.


Trước khi tắt thở, nạn nhân nhắn tin dồn dập vào điện thoại di động của chồng kêu cứu và đòi được “mổ gấp vì đau, chảy nhiều nước ối…” Trong khi người nhà của bệnh nhân nóng lòng đến nỗi như “cháy bỏng ruột gan” thì các y bác sĩ ca trực vẫn biệt vô âm tín.


Ðáng nói là trước đó bà Hằng đã được chẩn đoán “cần mổ để lấy thai” nhưng bác sĩ khám bệnh lúc bà chuyển dạ lại ra lệnh cho bà sanh mà không cần phải mổ. Người nhà của bà Hằng cho rằng chính quyết định này đã lấy đi sinh mạng của sản phụ xấu số.


Nguyên nhân dẫn đến cái chết thương tâm của nạn nhân cho đến nay vẫn chưa được xác định.


Trong khi đó theo báo Thanh Niên, vụ sản phụ tên Nguyễn Thị Hồng 42 tuổi, cư dân tỉnh Gia Lai thiệt mạng chiều ngày 24 tháng 9 tại bệnh viện Gia Lai cũng đã gây bất bình dư luận không ngớt. Chồng của nạn nhân quả quyết rằng bác sĩ khám thai sáu lần, nhưng không chịu mổ sớm, để thai nhi chết trong bụng mẹ. Ðó một bé gái nặng 2.5 kg trước đó được cho rằng “tim thai bình thường.”


Báo Thanh Niên cho biết, cán bộ lãnh đạo bệnh viện Gia Lai đến sáng ngày 1 tháng 10 chỉ mới đưa ra lời hứa hẹn “xử lý nghiêm.” (PL)

Một chủ trang trại ở tiểu bang Oregon bị heo ăn thịt

 


COQUILLE, Oregon (AP) – Giới hữu trách ở Oregon đang mở cuộc điều tra để tìm hiểu tại sao một chủ trại vừa bị ngay chính các con heo mình nuôi ăn thịt.









Heo ăn tạp và hiền hơn so với các loại gia súc khác, thế nhưng trong nhiều trường hợp vẫn có những hành động bất thường. (Hình: Peter Parks/Getty Images)


Ông Terry Vance Garner, 69 tuổi, không quay trở lại nhà sau khi ra chuồng nuôi heo để cho chúng ăn hôm Thứ Tư tuần qua tại trang trại của mình ở gần bờ biển tiểu bang Oregon, theo Biện Lý Quận Coos County hôm Thứ Hai.


Một thân nhân ông Garner sau đó tìm thấy bộ răng giả của ông cùng các mảnh thân xác ông mấy giờ sau đó, tuy nhiên phần lớn xác của ông đã bị ăn hết, theo Biện Lý Paul Frasier. Một số heo nuôi trong chuồng này nặng tới 700 pounds (khoảng 315 kg) hay hơn nữa.


Biện Lý Fraser cho hay có thể ông Garner bất ngờ bị bệnh, như bị lên cơn đau tim, rồi bị heo ủi té xuống và sau đó bị ăn thịt. Tuy nhiên giới hữu trách cũng điều tra xem có điều gì mờ ám trong vụ này hay không. (V.Giang)

Nhân viên Biên Phòng Mỹ bị bắn chết ở Arizona

 


PHOENIX (AP) – Một nhân viên Biên Phòng Mỹ bị thiệt mạng và một người khác bị thương trong vụ nổ súng vào sáng ngày Thứ Ba tại tiểu bang Arizona, gần đường biên giới giữa Mỹ và Mexico, theo tin từ cơ quan Biên Phòng.










Một xe của cơ quan Biên Phòng Hoa Kỳ. (Hình minh họa: Ross D. Franklin, AP file)


Các nhân viên này bị bắn khi cỡi ngựa tuần tiễu tại khu vực Naco, tiểu bang Arizona, vào lúc khoảng 1 giờ 50 phút sáng ngày Thứ Ba, theo cơ quan Biên Phòng trong bản thông cáo gửi đến báo chí.


Có ba nhân viên Biên Phòng trong toán tuần tiễu và người thứ ba không bị thương tích gì, theo ông George McCubbin, chủ tịch Hội Ðồng Biên Phòng Quốc Gia (NBPC), một nghiệp đoàn đại diện cho khoảng 17,000 nhân viên biên phòng.


Vụ nổ súng xảy ra sau khi có báo động từ một trong các máy cảm ứng (sensor) được gài dọc theo biên giới và ba nhân viên này được gửi đến nơi để xem xét, theo nữ phát ngôn viên Sở Cảnh Sát Quận Cochise, Carol Capas.


Nhân viên Biên Phòng thiệt mạng gần đây nhất là Brian Terry, chết trong cuộc chạm súng với băng cướp từ Mexico gần khu vực biên giới vào Tháng Mười Hai năm 2010. Trạm Biên Phòng ở Naco mới đây được mang tên của Brian Terry. (V.Giang)


 

Tàu, phà đụng tại Hồng Kông, 38 người chết

HONG KONG (AP) – Cảnh sát Hồng Kông hôm Thứ Ba bắt giữ để điều tra bảy người trong thủy thủ đoàn của hai chiếc tàu liên hệ trong tai nạn hàng hải khiến ít nhất 38 người thiệt mạng.










Nhân viên cứu cấp xem xét chiếc tàu bị chìm một nửa sau khi bị đụng ở gần đảo Lamma, phía Tây Nam của Hồng Kông tối Thứ Hai. (Hình: Kin Cheung/AP)


Giới hữu trách không hiểu tại sao hai chiếc tàu này đâm vào nhau trong một đêm trăng sáng ở nơi được coi là một trong những hải lộ an toàn nhất và kiểm soát kỹ càng nhất ở Á Châu.


Vụ đụng tàu tối hôm Thứ Hai là tai nạn hàng hải trầm trọng nhất ở Hồng Kông từ hơn 40 năm qua.


Giám đốc cảnh sát Hồng Kông, Tsang Wai-hung, cho hay có sáu người bị tạm giữ để điều tra vì tình nghi gây nguy hại.


Ông Tsang nói rằng cảnh sát nghi ngờ thủy thủ đoàn cả hai chiếc tàu “đã không có sự cẩn thận cần thiết đúng theo luật lệ,” tuy nhiên ông không cho biết chi tiết.


Tai nạn xảy ra khi một chiếc phà chở hành khách đụng vào chiếc tàu mang tên Lamma IV, chở theo hơn 100 nhân viên công ty điện lực Power Assets Holdings Ltd. và gia đình họ ra khu vực cảng Victoria Harbor để xem bắn pháo bông mừng ngày quốc khánh Cộng Sản Trung Quốc và Trung Thu.


Chiếc phà bị hư hại nhưng vẫn vào được bến, một số hành khách trên phà được điều trị vì các vết thương nhẹ. (V.Giang)

Mỹ bỏ hy vọng thương thảo với Taliban

 


WASHINGTON (Stars & Stripes) – Các tướng lãnh và chính trị gia Mỹ nay coi như từ bỏ hy vọng về một trong những mục tiêu phải đạt được trong chiến lược của họ nhằm chấm dứt cuộc chiến Afghanistan, đó là gây nhiều thiệt hại cho Taliban để phải ngồi vào bàn hội nghị.









Các tướng lãnh Mỹ bỏ hy vọng có thể gây nhiều thiệt hại cho quân Taliban để buộc họ phải ngồi vào bàn hội nghị. (Hình: AP)


Nay, tờ New York Times cho hay chiến lược này sẽ được thay thế bằng chiến lược khiêm nhường hơn, chỉ là để tạo hoàn cảnh thuận tiện để người Afghanistan tự tìm ra giải pháp trong những năm tới sau khi quân đội ngoại quốc rút đi, và cũng để bảo đảm là Pakistan đồng ý với những gì được thỏa thuận ở quốc gia này.


Trong khi đó, việc rút quân ngoại quốc khỏi Afghanistan có thể xảy ra sớm hơn dự liệu, dù rằng từng có nhiều khẳng định ngược lại.


Tổng thư ký NATO, ông Anders Fogh Rasmussen, nói với tờ Guardian ở Anh trong bài báo đăng tải hôm Thứ Ba rằng sự kiện có hàng loạt các vụ lính Afghanistan bắn vào quân đội đồng minh đã làm suy sụp tinh thần trong hàng ngũ NATO và các giải pháp rút quân sớm hơn dự liệu đang được nghiên cứu, để có thể đưa ra trong khoảng 3 tháng tới đây.


“Từ nay cho đến cuối năm 2014, chúng ta sẽ thấy có những loan báo về việc tái phối trí, rút quân hay giảm quân,” ông cho tờ Guardian hay. “Nếu tình hình an ninh cho phép, tôi cũng không loại bỏ khả năng là ở một số địa phương chúng ta sẽ đẩy mạnh tiến trình rút quân.” (V.Giang)

Cựu tổng thống Philippines tranh cử chức đô trưởng Manila

 


MANILA, Philippines (AP) – Cựu tổng thống Phillipines từng bị buộc phải từ chức trước đây, ông Joseph Estrada, hôm Thứ Ba nộp đơn ứng cử chức vụ đô trưởng Manila, bên cạnh hàng ngàn ứng cử viên khác tham dự các cuộc tranh cử cử giữa khóa, với đa số ứng viên là thành phần thuộc các gia đình chính trị lâu đời, thành phần nổi tiếng trong xã hội, cũng như là giới giàu có, quyền thế.









Ông Joseph Estrada, một cựu diễn viên từng là tổng thống, thượng nghị sĩ và thị trưởng của thành phố San Juan vừa nộp đơn tranh cử chức đô trưởng Manila. (Hình: AP)


Cuộc bầu cử diễn ra ngày 13 Tháng Năm 2013 tới đây cũng cho thấy một hiện tượng rõ rệt trong chính trường Philippines: đó là cả gia đình, dòng họ tham gia chính trị.


Trong số những người dự trù tranh cử gồm bà Imelda Marcos, quả phụ cố Tổng Thống Ferdinand Marcos, vào Hạ Viện Philippines. Con gái của bà, Imee, cũng tái tranh cử để giữ chức thống đốc Ilocos Norte, quê quán của họ. Con trai bà Marcos, Ferdinand Marcos Jr., hiện là nghị sĩ.


Về phía Tổng Thống Benigno Aquino III, một người em họ của ông, Paolo Benigno Aquino, và một người dì, Margarita Cojuango, cũng ra tranh cử vào Thượng Viện, tuy rằng ở hai phía khác nhau.


Người dì đứng vào hàng ngũ phía đối lập.


Nhà vô địch quyền anh và cũng là đương kim dân biểu, Manny Pacquiao, cũng nộp đơn tái tranh cử. Người em của ông Pacquiao ra tranh cử chức thống đốc, và vợ của ông Pacquiao ra tranh cử chức phó thống đốc, tại vùng Sarangani là nơi quê quán của họ.


Phân tích gia chính trị, ông Ramon Casiple, cho hay sau sự sụp đổ của chế độ độc tài Marcos năm 1986, chính trường Philippines nay bị chi phối hoàn toàn bởi thành phần thượng lưu trong đó “các phe nhóm chính trị lâu đời đang chia quyền hành với nhau.” (V.Giang)

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH

 


Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


(Disabled Veterans and Widows Relief Association)


A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492


P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799


Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967


Email: [email protected]; [email protected]


Website: http://www.camonanhtb.com


Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ


Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


 


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 6:


(Tính đến ngày 23 tháng 9, 2012)


 


Cúc Nguyễn, Myrtle Beach, SC $100


Thoa Nguyễn, Dorchester Center, MA $200


Vincent Trac, Garden Grove, CA $100


Phạm, Ra Thị, Oakland, CA $100


Tom Trần, El Cerrito, CA $200


Ô. Dan Vo, Seattle, WA $100


Tan C. Vu, Beaverton, OR $100


Hà Văn Bài, San Leandro, CA $100


Ô. Nghi Ðặng, Fremont, CA $100


Xuân Dân Lý, Brooklyn, NY $100


Susan Nguyễn, Houston, TX $100


Ngô Thành, San Jose, CA $100


Bửu Nguyễn, San Jose, CA


Larryta & Cindy Bùi, Milpitas, CA $100


Bang Nguyễn, San Jose, CA $200


ÔB. Lương Lan Phạm, San Jose, CA $100


Triệt Bùi & Lorna Hà, Anaheim, CA $100


Nga Ðỗ & Lorna Ut Văn Trần, Riviera Beach, FL $100


Sau Nguyễn, Boise, ID $100


Kim Ha Thị Nguyễn, Newark, CA $100


Bà Tung Ennis, Leeburg, FL $100


Hien Ðỗ & Cam Võ, Tamaqua, PA $200


Khuyen T. Mai Phan, Simi Valley, CA $100


Hoai Trịnh, Biloxi, MS $100


Vu Phan, Charlotte, NC $100


Hung Ðặng, Barbourville, WV $100


Phan Thị Nghiem, Toronto, CAN $200


Son Thị Le Thái, Fremont, CA $100


Cong Nguyễn, Daytona Beach, FL $100


Son Bùi, Orange Park, FL $100


John Minh D. Nguyễn, Thu Yen Trần, Tukwila, WA $100


Binh Hồ & Anh Lê, San Jose, CA $100


Dung Cao, San Jose, CA $100


Janis Y. Nguyễn, Haltom City, TX $100


Anh Huỳnh, Sachse, TX $100


Nhương Văn Nguyễn, White Settlement, TX $100


Phu Mai & Thi Hoàng, Alameda, CA $100


Vinh Văn Ðào, Pinellas Park, FL $100


Hong T. Nguyễn, Ontario, CA $100


Tri Nguyễn, Saint Petersburg, FL $100


Nguyễn Thị Yến, North Charleston, SC $100


Hong V. Lê, Seattle, WA $100


Ðặng V. Ngôn, Dorchester, MA $200


Wilson Lu (Lư VănThao), Riverside, CA $100


Truc Nguyễn & Thanh Nguyễn, McKinney, TX $100


Du Lê, Katy, TX $100


Ô. Xuân Thao Phạm, Garden Grove, CA $100


Bà Nguyễn Tường Anh, Fountain Valley, CA $100


Bi Nguyễn, Panama City, FL $200


Thuc Ðinh Vu & Thu Vu, Seattle, WA $100


Thạch Ngọc Lợi, Greensboro, NC $100


Bay Nguyễn, Greensboro, NC $100


Vang T. Nguyễn, Garden Grove, CA $100


Hien Lê, Garden Grove, CA $100


Kim Trịnh, Orange, CA $100


Quả phụ Lê Ðình Ẩn, Beaverton, OR $100


Nguyễn Tùng Sơn, Lawrenceville, GA $100


Tham & Mary Nguyễn, Lacey, WA $200


Khanh Minh Nguyễn, Henderson, NY $100


A Nguyễn, San Marino, CA $300


Bien Nguyễn & Cam Nguyễn, Sacramento, CA $100


Lê Thị Mỹ Dung, Tucson, AZ $200


Ô. Thach N. Nguyễn, Burke, VA $100


Cô Thu Hong Trần, Springfield, WA $100


ÔB. Luc Phạm, Pensacola, FL $100


Ha Hong Lê, Tustin, CA $200


Nguyễn Ni, Amarillo, TX $100


Bà Gia Huan H. Võ, San Diego, CA $100


Rot Van Ho & Loc Tran Ho c/o Trần Văn Phước, Chicago, IL $100


Phan Nghi Nghiêm, Fort Worth, TX $200


Nga Văn Nguyễn, Santa Ana, CA $100


ÔB. Binh N. Lê, Costa Mesa, CA $200


Nguyễn Thị Lệ (Lẩu Dê, Kansas City), Kansas City, MO $100


Hoa C. Hồ, Montgomery, TX $100


Wilson Nguyễn, Oakland, CA $100


Hien Boase, Vancouver, CAN $200


Dương Hải Nam, Chicago, IL $200


Hoàng V. Nguyễn, Chanhassen, MN $100


Linh Văn Lý, Silver Spring, MD $100


Trần Bá Lễ, Venice, FL $100


Thinh Hoàng, Fountain Valley, CA $100


Tranh Văn Cao, Fontana, CA $200


Thiêu Thông (Hương Linh), Garden Grove, CA $100


Kim Oanh, Huntington Beach, CA $200


Ô. Duc T. Hà, Anaheim, CA $100


Hung Viet Hoàng, Montgomery, AL $100


Mau Phu, Atlantic City, NJ $100


Tung Nguyễn, Rockledge, FL $100


Trang Văn Phạm, Guyton, GA $100


Muoi V. Huỳnh & Nguyệt Thị Ðoàn, c/o Hướng Ðạo Cao Ðài Florida, Bradenton, FL $200


Cúc Thị Trương, Buffalo, NY $200


Thanh Lương, Lancaster, PA $100


Ngọc Dung Thị Lê, Belmont, NC $100


Dao Phạm, Springfield, VA $100


Hoa Quy Tăng, Garland, TX $100


Chi Nguyễn, Norcross, GA $200


Phương T. Lê, Dorchester, MA $100


Hoa Thị Nguyễn, Duluth, GA $100


Tanh T. Trần, Fullerton, CA $100


Pauling Tô Phương Nguyễn, Fullerton, CA $100


Annie Lưu, Hawthorne, CA $100


Sacred Mountain Monastery (Linh Sơn Temple), Warren, MI $200


Con Trần, Littleton, CO $100


Cu NC Nguyễn, Ottawa, ONT, CAN $100


Hien Trương, Laurel, MD $250


Quy Thị Nguyễn, San Rafael, CA $200


Thịnh T. Ðinh, Avondale, AZ $100


Them Vương, Kirkland, WA $200


Lương Vũ, Westminster, CA $100


Sơn Lê & Nguyệt Lê, Broussard, LA $150


ÔB. Phan Văn Cự, San Jose, CA $100


Ba Ðức Võ, Liberal, KS $100


Nguyễn Văn Tư, Charlotte, NC $100


An Kieu, The Villages, FL $100


Tiet Phạm, Tuyen Minh Vũ, Denise D. Phương c/o Giang Thị Từ, Albuquerque, NM $200


Long Trần, Vancouver, WA $100


Liên Thanh Trương, New Orleans, LA $125


Phạm Văn Mạnh, San Diego, CA $100


Nghiêm Phú Nhuận, Landsdale, PA $250


Nho V. Nguyễn, Wenatchee, WA $100


Ai & Hương Lê, Bronx, NY $200


Chanh V. Nguyễn, North Pole, AK $100 (xin bảo lãnh 1 hay 2 gia đình TPB VNCH)


Thuy Mai Thị Trần, Elk Grove , CA $100


Liên Hương Lưu, Mays Landing, NJ $100


Lan Chi Bùi, Cypress, CA $100


Hoàng Vương, Austin, TX $100


Cô Chi Trần, Murfreesboro, TN $100


ÔB. Doc Thiên Lê, Van Buren, AR $100


Son T. Huỳnh & Dung T. Trần, c/o Huỳnh, Englewood, CO $300


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trần Hay, Quảng Nam, NQ Sq: 183.671. Cụt chân phải.


Trần Ðức Phúc, Quảng Ngãi, CLQ Sq: 200.686. Cụt chân trái.


Trương Văn Thành, Ðà Nẵng, ÐPQ Sq: 299.582. Cụt chân phải.


Lê Xuân Tuế, Quảng Nam, TS CLQ Sq: 221.437. Cụt chân phải.


Nguyễn Mùi, Quảng Ngãi, HS CLQ Sq:200.387. Gãy chân trái. 2 chân so le.


Lê Tân, Quảng Nam, NQ Sq:113.852. Cụt chân trái.


Phạm Tri, Quảng Nam, B1 CLQ Sq:207.536. Cụt chân trái.


Nguyễn Linh, Bình Phước, TS CLQ Sq:141.944. Mù mắt phải.


Ðoàn Trung, Quảng Nam, HS HQ Sq:700.251. Liệt tay phải.


Nguyễn Bi, Quảng Ngãi, B2 CLQ Sq:216.232. Cụt bàn chân trái.


Huỳnh Mai, Quảng Nam, HS ÐPQ Sq:349.566. Cụt chân phải.


Huỳnh Ngọc Anh, Khánh Hòa, Biêt Kích. Cụt chân phải.


Nguyễn Phú Lộc, Bình Thuận, HS CLQ Sq: 675.906. Cụt 1/2 bàn chân trái.


Cao Phùng, Daklak, HS CLQ Sq:203.276. Cụt chân phải.


Ðoàn Lý, Quảng Ngãi, HS CLQ Sq:698.449. Cụt chân trái.


Nguyễn Thanh, Quảng Nam, TU ÐPQ Sq:216.881. Cụt tay trái.


Huỳnh Sơn Lâm, Quảng Nam, NQ Sq:185.830. Cụt chân phải.


Nguyễn Liệp, Quảng Nam, HS CLQ Sq:202.264. Cụt chân phải.


Mai Văn Năm, Quảng Nam, NDTV. Mù mắt phải. Cụt tay phải.


Khúc Thừa Chiến, Quảng Nam, CLQ Sq:204.966. Cụt chân phải.


Trần Kim, Quảng Nam, CLQ Sq:215.026. Cụt chân phải.


Ngô Ðình Chỉ, Quảng Ngãi, B1 ÐPQ Sq:511.553. Liệt 2 chân.


Nguyễn Xuân Linh, Quảng Ngãi, B2 CLQ Sq:201.261. Cụt chân phải.


Trần Tâm, Thừa Thiên, TU CLQ Sq:200.166. Gãy chân phải. Bị thương ở đầu.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trịnh Thị Ðào, Ðồng Nai, Quả phụ Cố B1 Trịnh Văn Cay. Tử trận năm 1964.


Phạm Thị Mơ, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Văn Ðức Tử trận năm 1965.


Nguyễn Thị Tài, Quảng Nam, Quả phụ Cố ÐU Dương Hiển. Tử trận năm 1975.


Nguyễn Thị Nhạn, Bình Phước, Quả phụ Cố NQ Lê Lô. Tử trận năm 1973.


Lê Kim Em, Vĩnh Long, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Thố. Tử trận năm 1968.


Bùi Thị Nguyên, Khánh Hòa, Quả phụ Cố HS1 Lê Ðào. Tử trận năm 1970.


Trần Thị Quý, Khánh Hòa, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Văn Trọng. Tử trận năm 1971.


Nguyễn Thị An, Cần Thơ, Quả phụ Cố B2 Cao Văn Tạo. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Kỷ, Tiền Giang, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Thành Nghi. Tử trận năm 1973.


La Thị Liêm, Bến Tre, Quả phụ Cố TS Lê Văn Liễu. Tử trận năm 1972.


Cao Thị Xinh, Bến Tre, Quả phụ Cố TS ÐPQ Sq:109.810. Tử trận năm 1971.

Về quả bom thả trong trận Long Khánh đã xóa tên nửa sư đoàn Cộng quân

Trần Lý


 


Trong Trận Long Khánh (tháng 4 năm 1975), Không Quân Việt Nam Cộng Hòa có thả một quả bom đặc biệt, tiêu diệt cả sư đoàn (?)quân CSBV, chặn đứng được cuộc tiến quân của chúng. Cho đến nay hãy còn nhiều câu hỏi quanh quả bom này và nhiều câu trả lời chưa được chính xác.


– Ðại Tá Hùa Yến Lến (tham mưu trưởng hành quân SÐ 18 BB) gọi nó là CBU 82 (Daisy Cutter), cho rằng do Tướng Lê Minh Ðảo (tư lệnh SÐ 18 BB) đề nghị, và được Bộ TTM QLVNCH chấp thuận qua trung gian của Tướng Nguyễn văn Toàn (tư lệnh Quân Ðoàn 3) để được sử dụng.


– Tướng Trần Quang Khôi (tư lệnh Lực lượng Xung Kích QÐ3) ghi lại rằng: chính ông sử dụng 2 quả bom CBU của KQ Biên Hòa trên chiến trường Long Khánh để chặn đứng quân địch và giải cứu Chiến Ðoàn 52/SÐ 18 BB của ÐT Dũng khỏi bị tiêu diệt.


– Khi trả lời các câu hỏi của nhà báo Vũ Mạnh Hùng trong cuộc phòng vấn dành cho đài truyền hình Little Saigon TV tại Santa Ana và hệ thống truyền hình VN VBN tại New Jersey, Tướng Lê Minh Ðảo cho biết: Ông không cần biết VNCH còn mấy quả bom loại này, CQ cứ tấn công thì ông sẽ… tiêu diệt chúng; và các cấp chỉ huy CSBV đã nhiều lần đến trại tập trung để hỏi ông về quả bom này… mà họ cho là bom neutrons của Mỹ (?).


– Nhà báo Mỹ Alan Dawson trong “55 days-The Fall of South VN” thì ghi rằng đây là các quả bom CBU được đưa từ Utapao đến Biên Hòa vào tháng 4 năm 1975.


– Tác giả Chính Ðạo (tiến sĩ Sử học), trong tập sách “55 ngày đêm, cuộc sụp đổ của VNCH” ghi rằng VNCH đã sử dụng cả CBU lẫn ‘Daisy Cutter’ (nghĩa là 2 loại bom… khác nhau!) tại mặt trận Long Khánh.


– Tác giả Nguyễn Ðức Phương trong ‘Những trận đánh lịch sử trong chiến tranh VN 1963-1975 cho rằng: Tướng Toàn đã ra lệnh thả 2 quả Daisy Cutter tại trận Long Khánh và giải thích lý do chỉ 2 quả được thả (trong số 5 quả còn lại) vì Hà Nội phản kháng (!).


 


– Tác giả Trọng Ðạt trong bài “Trận Xuân Lộc chiến thắng cuối cùng” (Nguyệt San Việt Nam Online) có ghi khá nhiều chi tiết về các quả bom này kể cả tên (viết tắt) của các phi công đã thả (xin xem phần dưới) các quả bom đặc biệt này.


– Viện Khoa Học Quân Sự của CSVN thì ghi lại (theo tài liệu của Dawson) là KQ VNCH đã thả 1 quả bom CBU-55 xuống Ngã ba Dầu Giây Long Khánh vào ngày 21 tháng 4 năm 1975.


-áNhư vậy quả bom thả tại Long Khánh là bom gì? Tác dụng của các quả bom này đã khiến CS phải la hoảng, thì tại sao lại chỉ thả 1, 2 quả… và ai thả?


 


Từ CBU…


 


Chiến trường Việt Nam đã được xem là nơi Hoa Kỳ thử nghiệm rất nhiều loại võ khí, từ võ khí quy ước đến những võ khí điện tử tối tân. Cũng tại VN, Hoa Kỳ đã tiêu thụ được khá nhiều bom-đạn còn tồn trữ từ sau Thế Chiến Thứ 2. Một trong những vũ khí được KQ HK sử dụng nhiều nhất là bom, và bom còn được chia thành 2 nhóm: Bom khôn (Smart bomb) và Bom… ngu (Dumb bomb). Bom ngu, dĩ nhiên là do phi công thả và do tài của phi công để bom rơi trúng mục tiêu, còn bBom khôn thì được điều khiển bằng laser, radar… để tự tìm đến mục tiêu.


Một trong những sáng kiến về bom mà các kỹ sư võ khí HK đưa ra áp dụng tại VN là CBU hay Cluster Bomb Unit. Thật ra CBU chỉ là một áp dụng của việc nghiên cứu về loại võ khí có tên là Rổ Bánh Mì Molotov (Molotov bread basket) dùng năm 1937 trong trận nội chiến Tây Ban Nha. Rổ bánh mì, đơn giản, chỉ là một thùng lớn chứa nhiều quả bom nhỏ để khi phi cơ thả xuống, thùng mở ra và rải các quả bom nhỏ trên một diện tích rộng lớn. Như thế Cluster Bomb hày bom chùm chỉ có mục đích là mở rộng vùng sát thương của bom khi thả xuống mục tiệu. Tại chiến trường VN, nhiều loại CBU đã được chế tạo: loại chống Bộ Binh là loại thường được dùng nhất, rồi đến loại chống chiến xa, chống các tiếp liệu quân sự… có loại chứa đầy mìn và có loại chứa nhiên liệu đặc gây cháy.


– CBU chống Bộ Binh cũng có nhiều loại như CBU-24 chứa 600 quả bom nhỏ cỡ trái banh golf, mỗi quả golf nhỏ này khi nổ còn phóng ra 300 mảnh thép nhỏ chứa bên trong; CBU-46 bom chùm dạng như quả dứa, khi nổ còn tung mảnh ra xa hơn, vùng sát thương rộng hơn… Các loại CBU này thường được KQ HK sử dụng khi bay tấn công đường mòn HCM.


– Một trong những loại CBU chống chiến xa được dùng tại VN là MK-20 Rockeye, khi nổ sẽ phóng ra những bom nhỏ hình mũi tên dài 9 inches, chứa đầu nổ có thể xuyên phá lớp vỏ thép của chiến xa.


– Về CBU chứa mìn: 2 loại chính dùng trên chiến trường VN là Dragonteeth và WAAPM (Wide Area Anti Personnel Munition). Dragonteeth chứa những mìn nhỏ có khả năng gây mất chân binh sĩ địch khi nổ, nhưng không gây chết người còn WAAPM, được giữ rất bí mật trong chiến tranh VN: WAAPM được thả xuống trong các thùng nhựa plastic, khi chạm đất sẽ phóng ra các sợi thép mỏng manh như chân nhện, nếu chạm vào sợi thép, mìn sẽ nổ… Bom được dùng thể thả vào các ổ phòng không của CSBV.


– Loại CBU thứ tư là là loại bom chùm gây cháy (Cluster bomb incendiary device). Loại bom này cũng có tên là Fuel Air Explosives CBU-55 là bom thuộc loại này, chứa nhiên liệu propane: CBU-55 nặng 750 pound (khoảng 340 kg) gồm 3 ngăn: một ngăn chứa propane, một ngăn chứa hỗn hợp khí khác và một ngăn chứa ngòi nổ. CBU-55 dài khoảng 2.3 m, đường kính 0.36 cm. Có 2 loại CBU-55: Loại thứ nhất CBU-55/B chứa 3 bom BLU-73A/B đặt chung trong Hệ thống chứa SUU-49/B và loại thứ nhì là CBU-55 A/B chứa 3 BLU-73A/B trong thùng SU-49 A/B. Sự khác biệt là SUU-49B chỉ có thể thả bằng trực thăng hay phi cơ bay chậm, trong khi đó SUU-49A/B có thêm vi đuôi xếp lại nên có thể thả bằng các phi cơ bay nhanh như A-37, OV-10… Các bom BLU nhỏ nặng khoảng 45 kg chứa ethylen oxyde lỏng. Khi nổ bom sẽ làm văng các giọt ethylen, tạo thành một đám mây nhiên liệu đường kính từ 17-25 m ở độ cao 2-3m. Ðám mây này được kích hỏa bằng một ngòi nổ… tạo thành một quầng lửa gây ngạt do thiếu oxy cho các sinh vật trong vùng.


Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam của Hà Nội thì tại Việt Nam CBU-55 đã được sử dụng tại chiến trường Quảng Trị (1972) và tại Bến Tre (tháng 8, 1972) thả xuống ấp 1, xã Tam Phước và giữa tháng 7, 1973, thả xuống Giồng Chôm… Cũng theo CSBV, thì CBU-55 cũng là quả bom thả xuống Xuân lộc trong tháng 4 năm 1975?!


Trong bài: “Kỷ niệm nhỏ với đồng đội chiến trường xưa” trên Nguyệt San Việt Nam On-line, Tác giả NgyThanh ghi lại như sau: “Khi chiến xa T-54 của Cộng sản từ tỉnh lộ 8B ở thôn Cam Võ trên bờ Bắc tràn qua sông Miếu Giang, Bộ TTM QL VNCH bí mật cho phép sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN loại bom CBU-55. Trưa 1 tháng 5 năm 1972, sau khi ném ‘trái bom nguyên tử bỏ túi’ vào đoàn xe tăng đang vượt cầu Ðông Hà và làm cả đoàn xe chết khựng ngay trên cầu, Thiếu úy phi công Nguyễn Hàn mang chiếc A-37 về lại Phi Ðoàn 528 ở Ðà Nẵng bình an. (Thiếu Úy Nguyễn Hàn sau đó đã hy sinh trong một phi vụ yểm trợ cho TÐ 8 TQLC vào đầu tháng 10, 1972 tại Chợ Sài (Quảng Trị)


 


… đến Daisy Cutter:


 


Chiến trường VN được các nhà quân sự Mỹ xem là chiến trường của trực thăng, vì trực thăng giữ nhiều vai trò quan trọng như đổ quân, chuyển tiếp liệu, tản thương… Trực thăng rất cần có được những bãi đáp an toàn, đủ rộng để xoay trở tại những vùng rừng rậm nơi chiến trường. Nhu cầu được đặt ra cho Bộ Chỉ Huy QLHK là tìm một loại bom nào có đủ sức công phá để tạo ra một khoảng trống càng rộng càng tốt có thể dùng làm bãi đáp cho trực thăng.


Năm 1968, khi kiểm soát lại các kho tồn trữ võ khí, một sĩ quan KQHK đã tìm được một số bom loại 4.5 tấn (10,000 lb) lưu trữ tại trung tâm tồn trữ võ khí của KQ tại Căn cứ Kitland (New Mexico). Ðây là những quả bom của thập niên 50, khi Bộ Chỉ huy Không quân Chiến thuật HK còn sử dụng các pháo đài bay B-36 làm lực lượng răn đe chính. B-36 đã được thay thế bằng các B-52 trong thập niên 60. KQHK đã nghĩ rằng các quả bom 10,000 lbs này có thể sẽ đáp ứng được nhu cầu của Lục Quân cho lực lượng trực thăng?


Nhưng vấn đề quan trọng nhất được đặt ra là: làm cách nào để thả những quả bom khổng lồ này?


Không Quân, trên nguyên tắc, sẽ là quân chủng đảm nhận việc thả bom, nhưng ngay lúc này KQHK không có loại phi cơ phóng pháo nào để thả được quả bom cỡ này: Bom không thể đưa vào khoang bụng của B-52, còn các phi cơ loại phóng pháo- chiến đấu như F-100, F-105… lại không chở nổi loại bom quá nặng này, và biện pháp sau cùng là dùng các trực thăng hạng nặng hay phi cơ vận tải để thả chúng. Có thể dùng trực thăng, nhưng với sức nặng của quả bom thì chỉ một vài loại trực thăng có đủ khả năng để chở nổi chúng: Trực thăng cần cẩu khổng lồ của US Army loại CH-54 Skycrane có thể đeo được 1 quả, nhưng bay quá chậm và mỗi phi vụ chỉ thả đưỡc 1 quả nên chi phí để thả quả bom tăng lên quá cao.


Biện pháp thứ nhì là dùng phi cơ vận tải C-130: C-130 đã được dùng trong các phi vụ thả dù tiếp tế, khoang bụng đủ lớn để có thể chở một lúc 2 quả bom và hơn nữa tầm hoạt động của phi cơ cũng rất thích hợp… nhưng vì Lục Quân muốn dùng trực thăng nên họ dành quyền thả trước và không đạt được kết quả mong muốn!


Ðến tháng 6 năm 1968, chương trình dùng C-130 để thả những quả bom này được giao cho Không đoàn Vận tải Chiến thuật 463 tại Căn cứ KQ Clark (Philippines) nghiên cứu thực hiện. Thiếu Tá Robert Archer, thuộc Phi Ðoàn 29 (KÐ 463) là người đã thử thả những quả bom đầu tiên tại căn cứ Kirtland.


Tháng 10 năm 1968, những quả bom đầu tiên được thả thử tại Vùng 1 CT dùng hệ thống Radar MSQ-77, hướng dẫn mục tiêu, đặt dưới đất tại PleiKu và Huế. Từ tháng 12, 1968, bom được thả thử theo sự hướng dẫn của các hệ thống radar thuộc TQLCHK, và từ mùa Xuân 1969, bom 10,000 lbs đã được thả thường xuyên với tên gọi là hệ thống võ khí M121


Ngay từ đầu, việc chọn C-130 để thả bom đã được xem là rất thích hợp. Một phi cơ C-130 có thể cất cánh từ Cam Ranh, chở 2 quả bom, có thể thả tại bất cứ mục tiêu tại Nam VN chỉ sau 1 giờ bay. Các phi công của KÐ 463 có lẽ là những nhà thả bom chuyên nghiệp nhất, thả theo sự chỉ dẫn của radar MSQ-77 và theo tín hiệu của các nhân viên điều hành dưới đất.


Ðể biến đổi một phi cơ vận tải C-130 bình thường sang thành phi cơ thả bom 10,000 lbs, cần phải sửa đổi hệ thống liên lạc trên phi cơ để chuyên viên kỹ thuật “chất và thả hàng” (loadmaster) ở trong khoang hàng hóa, có thể theo dõi được các làn sóng phát đi từ đài đặt dưới đất. Mỗi C-130 còn được trang bị thêm Hệ thống thả hàng 463L: gồm những đường rày đôi đặt trong khoang bụng phi cơ để giúp kiểm soát ‘hàng’ đặt sẵn trên một giàn gỗ (pallet), và khi thả thì sẽ thả cả… giàn. Bom đặt trên giàn và được đưa trực tiếp vào khoang bụng phi cơ.


Giàn bom được thả bằng dù, khi ra khỏi bụng phi cơ, dàn tự vỡ tung ra và bom được rơi tự động, giữ chậm lại bằng một dù nhỏ hình tam giác. Một ngòi nổ xuyên qua cây cối gắn nơi mũi bom sẽ được khởi động bằng một chong chóng nhỏ: khi bom chạm đến cây sẽ phát nổ, đốn ngã hết cây cối trong vùng như… chém hoa cúc (daisy cutter), và kết quả là tạo ra một khu vực tròn, trụi cây, có thể rộng đủ để 1 đến 3 trực thăng đáp xuống. Nhưng nếu ngòi nổ gắn nơi đầu bom bị tịt, thì ngòi nổ thứ nhì gắn nơi đuôi bom sẽ giúp gây nổ. Bom thường được gây nổ ở độ cao khoảng 6 m trên mặt đất và tạo ra một bãi đất trống đường kính khoảng 100 feet (33 m).


Như thế: Daisy Cutter là tên, đầu tiên, đặt cho hệ thống võ khí M-121 này


 


… và những quả bom thả tại Long Khánh


 


Ðến 1970, loại bom 10,000 lbs còn lại từ thập niên 50 đã được sử dụng hết. Trung Tâm Võ Khí HK đã chế tạo loại bom mới, khác hơn, dùng nhiên liệu lỏng, pha trộn với thuốc nổ TNT, đặt trong những ngăn khác nhau (do đó có thể xem là một loại CBU).


Loại bom này với ký hiệu BLU-82 nặng đến 15,000 lbs, hình dạng như một bình chứa gaz propane khổng lồ dài 141.6 in, đường kính 54 in và được thả theo cùng phương thức như thả M-121. Ðầu đạn của BLU-82 chứa 12,600 lbs nhiên liệu gây nỗ gồm ammonium nitrate, bột nhôm và nhựa dẻo polystyren.


BLU-82 được sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường VN vào ngày 23 tháng 3 năm 1970 và KQ Chiến Thuật HK đặt tên cho chiến dịch thả bom này là Commando Vault BLU-82 đã được dùng trong cuộc hành quân qua Campuchia (70), để tạo các bãi đáp cho trực thăng, pháo binh. Trong cuộc hành quân Lam sơn 719 của QL VNCH qua Lào, một số BLU-82 cũng đã được thả. Năm 1971, khi Không đoàn 463 HK giải tán, việc thả BLU được giao cho KÐ 374 Chiến thuật và đây là KÐ C130 sau cùng của HK hoạt động tại Ðông Nam Á.


Khi sử dụng để đánh nơi tập trung quân của CQ, BLU-82 được thả, lúc rơi xuống cao độ 30 m, nhiên liệu rải tỏa thành đường dài đến 300m, và đám mây nhiên liệu này được kích nổ, khi cháy nổ sẽ hút hết dưỡng khí trong một vùng, gây ngạt thở và tạo ra một chấn động theo sau..


 


Ai thả và ai… cho phép thả?


 


Không Quân VNCH có 2 chiếc C-130, trang bị hệ thống thả BLU-82. Tổng cộng số BLU được giao cho KQ VN là 17 quả (trong một lớp huấn luyện cấp tốc bên Hot Cargo, thuyết trình viên cho biết sẽ mang từ Thai Lan sang… 15 trái (?).


Chiếc phi cơ sau cùng của KQHK bị tổn thất tại VN là một chiếc C-130 bay từ căn cứ Clark đến TSN, chở 2 quả BLU-82 để giao cho VNCH.


Theo tài liệu của tác giả Trọng Ðạt trong bài “Trận Xuân Lộc, chiến thắng cuối cùng” trên Nguyệt San Việt Nam Online thì qua cuộc phỏng vấn Ðại Úy NHL, phi công VN đầu tiên thả Daisy Cutter thì:


Ðại Úy NHL đã thi hành 3 phi vụ thả 3 trái bom:


– Trái thứ nhất thả ở Bắc Khánh Hòa


– Trái thứ 2 ở phía Tây Nha Trang


– Trái thứ 3, không nhớ địa điểm, nhưng nhớ là thuộc phi vụ sáng 24 tháng 4, 1975 (?)


Ðại Úy NHL cho biết: Khoảng 10 ngày trước khi Sài Gòn thất thủ, phía Mỹ yêu cầu Không Ðoàn 53 Chiến Thuật (thuộc SÐ5 KQVNCH) cử 2 sĩ quan thả bom cao độ xuất sắc để thả bom Daisy Cutter mục đích làm chậm lại cuộc tiến quân của CSBV. KÐ53 CT cử 2 sĩ quan trưởng phi cơ xuất sắc nhất trong việc thả bom cao độ là Ðại Úy NHL thuộc PÐ 437 và Thiếu Tá ÐQA thuộc PÐ 435.


Ngoài ra đại úy cũng cho biết KQVNCH đã thả tổng cộng 10 quả Daisy Cutter, nhưng không nhớ thả lúc nào và thả tại đậu Các quả bom do Th/t ÐQA và Th/t HN thả.


Tuy nhiên, một thân hữu KQ qua e-mail riêng có cho biết:


“…Theo tôi biết, quả thả vào Xuân lộc 90% là do Th/T Nguyễn Tấn Minh PÐ 435. Thiếu tá Nhân, Th/tá Ngô Xuân Nhật PÐ 437 cũng đã thả BLU nhưng không chắc có phải tại Xuân Lộc không?”


Một thân hữu khác cho biết phi công NHL có thể (?)là Ð/u Mạc Hữu Lộc và ngoài ra còn các phi công Nguyễn Quế Sơn và Ð/u Của cũng có khả năng thả các BLU-62.Về con số bom BLU-62 giao cho VNCH: các tài liệu hiện có vẫn chưa đồng ý với nhau:


– Tập “Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa” trang 197 viết:


“…Trận Xuân Lộc: Trong trận này các vận tải cơ C-130 Hercules thực hiện 150 phi xuất oanh tạc, sử dụng bom xăng ‘tự chế’ (gồm nhiều thùng xăng 200 lít có gắn ngòi nổ), bom chùm (gồm 3, 4 trái bom nổ liên kết lại), và đặc biệt là bom CBU loại 7 tấn (15,000 lbs) Daisy Cutter, có sức công phá bình địa một vùng đường kính 150 m và sức sát hại trên một quy mô rộng lớn. Trái CBU đầu tiên được thả xuống cách Xuân Lộc 4 km, đã khiến cả thành phố bị rúng động và mất điện, đưa tới những tin đồn B-52 oanh tạc trở lại, kết quả trọn Bộ Chỉ Huy SÐ 341 của CSBV bị tiêu diệt. Trước sau đã có 9 trái CBU được thả xuống Xuân Lộc và các khu vực phụ cận.


– Tác giả Robert Mikesh trong ‘Flying Dragons: The South Vietnamese Air Force’ ghi lại (trang 141): “Việt Nam được cung cấp tất cả 17 quả Daisy Cutter, đã thả 15 quả, chỉ còn lại 2 quả.”


 


Ai ra lệnh thả…


 


Cho đến nay, sau hơn 30 năm các quả bom được thả… câu hỏi ai ra lệnh thả những quả bom này vẫn chưa có câu trả lời chính thức!


Theo hệ thống quân giai thông thường, quyết định thả bom sẽ được Bộ TTM ban hành theo yêu cầu của vị tư lệnh chiến trường và KQ sẽ thi hành quyết định này. (Trong hồi ký của ÐT Cao văn Viên thì đây là những yêu cầu bình thường theo hệỳ thống chỉ huy của QLVNCH) nhưng trên thực tế chiến trường VN vào những ngày cuối cùng của VNCH có nhiều điều phi lý và… khó giải thích!


– Tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh Quân Ðoàn 3 cho biết:


“…Sau khi phòng tuyến của Chiến Ðoàn 52 BB tại Ngã Ba Dầu Giây Long Khánh bị vỡ vào đêm 15 tháng 4 năm 1975, ông đã xin Bộ TTM cho ném bom Daisy Cutter để ngăn sức tiến quân của CSBV. Sáng 16 tháng 4 vào lúc 11 giờ sáng 2 trái bom đã được thả xuống khu vực đóng quân của CS BV tại khu vực từ Ðịnh Quán xuống Ngã Ba Dầu Giây, loại khỏi vòng chiến hơn 10 ngàn quân CS, phá hủy nhiều chiến xa và đại pháo của CS… Tôi đã đề nghị thả thêm 5 bom Daisy Cutter nữa nhưng được thông báo là tuy còn bom nhưng… không còn đầu nổ!”


 


Quà tặng cho Việt Cộng – Trái CBU không ngòi nổ


 


– Tướng Trần Văn Nhật (Tư lệnh SÐ 2), viết trong hồi ký:


“…Chính Tướng Toàn là tư lệnh chiến trường đã chấp thuận cho sử dụng 2 trong số 6 trái bom (vì chỉ còn có 2 đầu đạn) Daisy Cutte thả xuống yểm trợ cho mặt trận Xuân Lộc… Ðáng lý ra chúng ta có đến 27 trái bom này theo quyết định của ÐT Weyand trong chuyến viếng thăm VN vào tháng 2, 1975 cùng với ông phụ tá bộ trưởng QP Eric Von Marbod… Rất tiếc chỉ có 6 trái đến được VN vào cuối tháng 4, 1975 và không hiểu tại sao chỉ có 2 ngòi nổ.”


– Vào những ngày cuối cùng của VNCH, hệ thống chỉ huy quân sự của QLVNCH đã gặp nhiều trắc trở, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, tuy không còn chức vụ chính thức trong KQ, đã tự động trở về quân đội và vẫn ra lệnh được cho các phi công! Trong ‘The Buđha’s Child’ (trang 331) ông ghi lại:
“…vì quả bom có sức công phá mạnh, nên TT Thiệu sợ rằng sẽ có kẻ ném quả bom này vào dinh, do đó chỉ được phép sử dụng bomádo chính ông ta quyết định (?)…á Một hôm Phòng Hành Quân yêu cầu yểm trợ… Tôi không có sẵn võ khí trong tay, nên yêu cầu vị chỉ huy KQ cho thả, ông cho biết không có thẩm quyền. Tôi yêu cầu vị tổng tham mưu trưởng… câu trả lời tương tự… Tôi gọi nhiều vị tướng khác, tất cả đều cùng câu trả lời. Tôi biết nếu tôi gọi Thiệu, ông ta sẽ… còn phải suy nghĩ, do đó tôi gọi Thủ Tướng Khiêm. Ông trả lời… tùy tôi và sau khi tôi giải thích nhu cầu của tình hình. Ông Khiêm cho biết: Ðồng ý. Tôi gọi lại cho vị chỉ huy hành quân và nói: OK, thả các quả bom. Ông này chấp nhận thi hành lệnh của tôi và các quả bom được thả.”


Bây giờ có ai kiếm cho Lý Tống 2 quả bom như thế này để về drop xuống Hà Nội là xong!

Tin mới cập nhật