Thơ Hạc Thành Hoa

 


Chia tay với núi


 


Sáng nay người thức dậy rồi


Núi còn ngái ngủ giữa trời mờ sương


Rồi mai trong cõi vô thường


Giữa người với núi biết còn gặp nhau


Sáng nay trời lạnh mưa mau


Hình như núi cũng bạc màu sáng nay.


(4-9-2012)


____________


 


Về lại đồng bằng


 


Giờ không còn biển ru tôi


Vẫn nghe tiếng sóng bồi hồi thiết tha


Tưởng như núi mọc quanh nhà


Ngờ đâu núi biếc lại là cây xanh


Trở về sóng lúa reo quanh


Lại ru tôi với âm thanh ngọt ngào.


___________


 


Tiếng ve sầu


 


Giã từ núi thẳm người về


Còn mang theo những tiếng ve trong đầu


Tiếng ve chìm tận hang sâu


Bên trong như chứa cả bầu trời riêng


Lâu rồi tưởng đã dần quen


Tiếng ve đã tắt tiếng chim đã ngừng


Bỗng dưng nhớ núi quá chừng


Tiếng ve lại chuốt nên từng cây kim.


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Thơ Hoàng Lộc

 


Khất thực


 


ta từng mặc áo cà sa – bưng bình bát


đi quanh cõi đời những được và thua


một lần qua nhà em, anh đứng lại


nghe nặng đôi tay, anh quay về chùa


 


mở bình bát ra


trang thư tình em thơm ngát


anh mới hay mình là đứa chân tu…


_________


 


Cho dẫu phù vân


 


mùa đã khô rồi – sông hết nước.


và ta, cây đã không còn cây.


mặt trời cứ tận cùng sức nóng.


như muốn thiêu tan trái đất này?


 


em vẫn thương ta – lòng muốn tưới.


lòng muốn mưa năm bảy lần chiều.


cứ ước làm sao hồ mương rạch.


và ước làm cả hạt sương khuya


 


không thể rồi em, đời cạn kiệt.


không còn những thứ để nuôi nhau.


để nuôi ta – nuôi tình một thuở.


để xanh em khi ta bạc đầu


 


nắng rát mặt mùa – đất đã nứt.


cây ta duỗi thẳng những cành trơ.


cả những mạch ngầm – nước cũng tắt.


chỉ mắt em còn mấy giọt khô…


__________


 


Xứ xa nhớ Tây Giang


và cô bạn nhỏ


 


thời tuổi nhỏ anh rất nghèo rất nghịch


như bu lên cửa sổ ngó em nằm


cũng có bắt gà nhà em làm thịt


nấu cháo gà và xé trộn rau răm


 


lớn hơn chút anh hồi cư phố Hội


còn em thì trôi dạt tới Cà Mâu?


anh rất nhớ và lắm khi rất tiếc


khi biết yêu, chẳng còn thấy em đâu


 


đời xô đẩy để anh đi làm lính


chiến tranh và anh, tuổi trẻ long đong


anh vác súng qua bao miền sông rạch


nghe có em đâu đó ở trong lòng


 


không thể níu nhau của thời tuổi nhỏ


cửa sổ nhà em và bữa cháo gà…


anh với em phải bao trời tứ xứ


chắc chi cùng ngồi ngó lại quê xa?


28 tháng 8, 2012


(Nguồn:[email protected])

Thơ DanHuynh


Vội


(Riêng tặng T.)


 


Em vội đi như chưa bao giờ tới


Vội quên dấu vân tay nhạt nhòa anh cứ ngỡ đâu đây


Anh nhớ đêm ta cùng không gian hơi thở


Vội nhìn mà cũng vội mông lung


 


Dường như đời đôi ta luôn vội


Vội hạnh ngộ vội tương tư


Vội như cơn gió vô tình


Thoảng se sắt, thoảng có điều tiếc trông


 


Em vội đi chắc không còn để nhớ


Phút giây vô ngần nốt nhạc đêm thâu


Em vội quá bỏ rơi tiếng dương cầm lạc lõng


Bỏ quên đêm thâu quên sợi tóc bạc màu


 


Em vội qua đời anh như đóm sao băng


Chưa kịp ước đã vội chìm tắt lịm


Em vội đi quên cả giã từ


Quên phút giây bỡ ngỡ như lần đầu gặp mặt


 


Em vội như vội vô tình


Vội đôi môi, vội mái tóc buông trôi


Vội quên ánh mắt nụ cười


Em quên ban tặng những quãng đời quanh em.


 


                                              Cali Thu 2012

Thơ Cao thị Vạn Giả

 


Khúc Ly Ðình


 


Tiễn chân anh tận phi trường


Lỗi đi. Lỗi ở. Mười phương lỗi về


Mù sương phi cảng não nề


Thôi anh. Ở lại buồn về em mang


Tiễn anh một chén rượu tàn


Một bàn tay nắm. Một hàng lệ mau


Cuộc cờ thế sự binh đao


Phút giây tái ngộ ngàn sau biết còn!


Một em trong cảnh hao mòn


Một anh đất khách nhớ tròn tháng năm


Trời Tây rẽ bước âm thầm


Ngàn năm mỏi cánh chim bằng tha hương.


_________


 


Khi trời xanh trong mắt


 


Khi trời xanh trong mắt


Người đi vào tình yêu


Bằng một cánh tay thần


Năm khởi đầu yêu dấu


Anh đi vào đời em


Bằng tiếng nói thiên thần


Ðôi mắt ấy đượm buồn


Giọng nói ấy bi thương


Bên nhau hồn cúi xuống


Nghe buồn im nắng trưa


Ngày chia tay mùa ấy


Lá vàng bay trên đàng


Chiều năm tàn gió động


Người yêu thì mông mênh


Khi trời phai sắc cũ


Mắt dõi bốn phương trời


Bằng một chút hoang vu


Tựa vai người trong mộng


____________


 


Ðời cây cối


 


Khi chiều mây bay ngang giáo đường


Như sương


Nhà thờ đỏ


Hỡi đời buồn cây cối


Một con đường đá đen


Khi ngày gió đi ngang giáo đường


Thoáng bóng mơ huyền diệu


Lẫn điệu buồn


Chuông vọng hồi trong sương


Nôi tình yêu hư ảo


Mai chiều hoang vu phần giáo đường


Những mây trời vẫn cũ


Và một cánh chim bay


Còn có phận cây buồn


Thương yêu từ giã biệt.


___________


 


Ðầu thu


 


Khi rừng mới sang thu buổi chiều tôi đứng yên


Người ấy bây giờ mùa xuân không còn vang tiếng cười


Khi đưa tôi về lời tiễn chân rất chậm mùa


thì buồn trên vai áo xuống làn môi


 


Ðêm giới nghiêm như một canh buồn


Vầng trăng ra đi xa dần xa dần


Người ấy bây giờ chong ngọn đèn tàn


Ðọc bài thơ và ngắm ảnh


Hiền hòa trong trái tim


Giấc mơ tôi thành khách chuyến xe đầu


Khởi chạy suốt đường liên tỉnh


Người ấy bây giờ mùa xuân không còn vang tiếng hát


Buổi chiều đầu thu


ngoài trời sương mù bay ngang bay ngang.


 


(Nguồn: tranhoaithux.wordpress.com)

Tôi không phải dân Bắc

 


* Trần Mộng Lâm


 


Em còn nhớ rằng năm 2010, anh bị về VN vì buộc phải hộ tống chị về dự đám cưới T.M. Trong đêm 30, anh tình cờ dự một tiệc rượu đêm trừ tịch, mừng năm mới sắp tới! Trong khi trò chuyện, anh có dùng câu nói: “Người Nam chúng tôi…”!



(Nguồn Google)


Tức thì mấy người VC trong bàn tiệc đồng thanh, mỉa mai phản đối: “Ông mà là người Nam?” Lúc ấy, anh “nực gà” quá, bèn nói với họ: “Mấy anh tưởng cứ hễ sanh ra ở Bắc thì là người Bắc hay sao?! Tôi sinh ra ở đất Bắc, nhưng dzô Nam từ hồi nhỏ. Tôi được nuôi dưỡng, học hành, lập gia đình, sanh con cái, cầm súng bảo vệ Miền Nam, chịu khổ nhục cùng đồng bào Miền Nam khi bị người Bắc cướp phá, đè nén, bóc lột, hành hạ… Tóm lại tôi là người Nam chính cống!… Có những người Bắc trong thái độ đối xử họ lại không coi tôi là người cùng quê hương với họ. Riêng tôi, tôi chỉ có sinh ra ở đất Bắc! Thế thì tôi là người Nam đích thị, chứ còn chi nữa!” Tác giả Trần Mộng Lâm đã viết thay cho anh, và cho bao nhiêu người gốc xứ Bắc! Ông viết hay quá! Cảm ơn ông vô cùng! ([email protected]”)


Nhân sắp đến ngày ký Hiệp Ðịnh Genève 20 tháng 7…


Trên giấy tờ, tôi sinh ra tại tỉnh Nam Ðịnh.Và trên thực tế, tôi nói tiếng Việt giọng Bắc, không uốn lưỡi khi phát âm những tiếng bắt đầu bằng “tr.” Những chữ bắt đầu bằng “V,” tôi nói rất rõ, nhưng may mắn không lầm chữ “L” với chữ “N.”


Nhưng tôi không phải người Bắc: Hiệp Ðịnh Genève đưa tôi vào miền Nam rất sớm, ngay khi tôi vừa lên trung học. Tôi lớn lên tại miền Nam, học theo chương trình bộ Giáo Dục Miền Nam, đọc sách miền Nam, học và thành tài tại Miền Nam.


Trong những năm sống tại Miền Nam, tôi nổi trôi theo những thăng trầm của miền Nam. Tôi biết thế nào là Bình Xuyên, thế nào là Ðệ Nhất Cộng Hòa, ông Diệm, ông Nhu, ông Thục, rồi sau đó, ông Khánh, ông Thiệu, ông Kỳ, ông Trí Quang, ông Tâm Châu, ông Dương Văn Minh…


Lớn lên, như tất cả những người thanh niên miền Nam, tôi đi lính. Khi nhập ngũ, tôi thấy mình làm rất đúng, trốn lính mới là làm sai, là hèn nhát. Sau 7 năm quân ngũ, Miền Nam bại trận.


Kẻ thắng trận Miền Bắc đưa chúng tôi vào tù. Trong tù tội, người ta sỉ nhục chúng tôi đủ điều, nào là quân bán nước, nào là “ngụy,” nào là bọn “hiếp dâm đàn bà, thủ tiêu con nít”…


Câu chuyện của đời tôi sau đó cũng như cuộc đời của rất nhiều người thanh niên Miền Nam, sau tù tội, là vượt biên, là trại tỵ nạn tại Mã Lai, là làm lại cuộc đời từ con số không, là kiếp lưu đầy nơi đất người.


Năm nay, bước vào lớp tuổi cổ lai hy, nhìn lại cuộc đời mình, tôi nhận thấy một điều, là tuy được sinh ra tại Miền Bắc, tôi không phải là người Bắc, hiểu theo cái nghĩa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Cộng Sản. Tổ Quốc của tôi Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Kể từ sau Hiệp Ðịnh Genève năm 1974, người Việt sống tại Miền Nam và Miền Bắc không cùng một văn hóa.


Họ cùng một nguồn gốc, tôi đồng ý. Nhưng người Anh và người Mỹ, người Úc, cũng cùng một nguồn gốc. Người Pháp và người dân Québec, nơi tôi định cư, cũng cùng một nguồn gốc. Nhưng không ai có thể nói người Mỹ là người Anh, người Québec là người Pháp.


Tôi là người Miền Nam, tuy tôi nói giọng Bắc.


Một anh tập kết, là người Bắc, tuy anh ta nói giọng Nam.


Dù người ta có lý luận trên lý thuyết thế nào chăng nữa, với tôi, biến cố 1975 chỉ là một quốc gia thôn tính một quốc gia khác.Thử tưởng tượng nước Anh đem quân qua đánh Hoa Kỳ rồi gọi dân Hoa Kỳ là “ngụy,” nghe được không?


Không, tôi không phải là người Bắc. Dân Sài Gòn không phải dân Bắc.


Gọi Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh, bắt dân Sài Gòn chịu sự độc tài đảng trị, không nhân quyền, không dân quyền, không tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp), thực là ép nhau quá đáng. Văn Hóa Miền Nam không phải như vậy. Rồi đây, người Miền Nam sẽ phải nổi dậy để bảo vệ văn hóa của mình, làm những gì mà người Hồng Kông đang làm.


Miền Nam đã, đang và sẽ giải phóng Miền Bắc, vì văn hóa Miền Nam tốt đẹp, và văn minh hơn.


Ngày 18 tháng 7, 21012


(Nguồn: [email protected])

Người Việt nói tiếng Anh


* Nguyễn Tài Ngọc


 


Tiếng Pháp, tuy không độc vận như tiếng Việt, nhưng dễ phát âm vì thấy sao nói vậy. Trong khi tiếng Anh thì cùng một chữ nhưng lại phát ngôn ba, bốn nẻo khác nhau, chẳng biết đường nào lần.










Hình minh họa.


Cùng một chữ a, trong chữ apple thì đọc là áp-pồ, nhưng trong chữ gate thì đọc là ghết(ơ), trong chữ national thì lại đọc là na-shô-nôl, và trong chữ bare thì lại đọc là ber. Ðã thế, mẫu tự cuối của một chữ phải nói ra hơi gió, không thì người Mỹ không hiểu. Người Việt chúng ta đại đa số khi nói tiếng Anh ai cũng nuốt âm gió. Thí dụ như chữ good, đọc đúng là gúđ (ơ) với vần cuối đơ uốn lưỡi trong miệng, thì người mình chỉ nói gút, làm người Mỹ nghe muốn điên cả đầu. Hầu hết chúng ta nếu sống ở Việt Nam từ bé đến lớn chừng 16, 17 tuổi rồi sang Mỹ ở thì mặc dù nói tiếng Anh trẹo quai hàm cho đến 50 năm sau cũng chẳng bao giờ phát âm đúng như người Mỹ.


Cộng với việc uốn lưỡi trẹo quai hàm, nếu mình đánh dấu nhấn sai chỗ, người Mỹ nghe sẽ không hiểu. Ngày xưa khi mới sang là dân tỵ nạn, tôi đến tiểu bang Pensylvania. Khi vào học trung học ở California, bạn Mỹ trong lớp hỏi tôi trước đó ở đâu, tôi trả lời là ở Pen-sôl-vê-Ní-a. Họ lắc đầu không hiểu chỉ vì tôi đọc nhấn mạnh sai ở vần “Ní.” Vần nhấn đúng là ở chữ “Vế”: Pen-sôl-Vế-ni-a.


Tôi sang Mỹ từ năm 17 tuổi, bây giờ phát âm tiếng Anh vẫn còn dở ẹc. Có ở thêm chục năm nữa thì vẫn là anh Mít nói tiếng Mỹ. Ấy là tôi không phải là người thất học vì ngày xưa từ bé bố tôi đã dậy tôi tiếng Pháp ở nhà. Vào trung học lớp 6 tôi chọn chọn sinh ngữ chính Pháp văn. Ðến năm lớp 9 thì như bao học sinh khác, tôi phải học thêm tiếng Anh là sinh ngữ phụ thứ hai. Tôi nói vòng vo tam quốc như thế để nhấn mạnh một điểm là tôi không đến nỗi ngu lắm khi học ngoại ngữ, thế mà sau 37 năm sinh sống ở Hoa Kỳ, tiếng Anh của tôi vẫn còn bập bẹ như chị bán bar trong xóm Bàn Cờ của tôi ngày xưa. Có trình độ học vấn mà tôi còn thấy chới với, do đó hầu hết người Việt Nam sang Mỹ khi đã trưởng thành, nhất là những người ít học hay vào lứa tuổi 30, 40, thì không tài nào nói tiếng Anh được chuẩn. Không đọc được tiếng Anh nên họ phát âm chữ Mỹ theo tiếng Việt nhiều khi vô tình nghe rất buồn cười.


Khi con tôi còn nhỏ, chúng tôi thuê một bà Việt Nam săn sóc vào ban ngày khi chúng tôi đi làm. Dĩ nhiên là bà ta hoàn toàn không nói tiếng Anh. Nếu nghe bà ta phát âm tên con đường Kuehner (Kiu-nơr) gần nhà tôi thì bảo đảm người Mỹ sẽ há hốc kinh ngạc: đường Cu Nó. Ðường Cu Nó ở phía Tây thành phố. Phía Ðông thành phố nơi bà ta ở có một con đường tên Culver (Kôn-vơr) thì bà ta biến nó thành đường Cu Dơ. Thành ra bà ta ở đường Cu Dơ, nhưng mỗi sáng đi làm đến nhà tôi ở gần đường Cu Nó.


Con đường chính yếu gần nhà tôi là Yosemite (Dzồ-xé-mi-ti) thì bà ta đọc là Dô Xe Mít, thành phố kế bên Burbank (bơr-beenk) thì bà ta đọc là Bấp Bênh. Ði trên đường Dô Xe Mít (Yosemite) gập ghềnh nên nó kế bên thành phố Bấp Bênh (Burbank) là phải lắm!


Những cặp vợ chồng Việt trẻ sinh con ở Hoa Kỳ phần lớn đặt tên tiếng Mỹ cho con vì chúng nó xem như là dân Mỹ, chẳng còn liên hệ gì đến Việt Nam. Bố mẹ có thể gọi được tên con, nhưng đối với ông bà nội/ngoại, gọi cháu mình với tên Mỹ là cả một cực hình.


Hơn chục năm trước tôi có quen một anh bạn. Khi vợ sinh đứa con trai đầu lòng, anh ta đặt tên con là Kirt (Kơrt). Vài năm sau tôi đến ăn sinh nhật, gặp bà ngoại cháu bé thì bà ấy nói với tôi:


– Cái thằng Liêm thiệt hết sức nói. Tiếng Dziệt Nam mình có biết bao nhiêu là tên, nó hổng đặt tên con nó tiếng Dziệt để tui dễ gọi, mà nó lại đặt tên tiếng Mỹ, tui giận hết sức.


– Tiếng Mỹ với tiếng Việt cũng như vậy thôi, có gì đâu mà bác giận? Tôi hỏi và nói tiếp: Mình ở Mỹ thì nên đặt tên con nít tiếng Mỹ, chứ nếu không mai sau nó vào trường học, bạn bè không gọi được tên tiếng Việt thì tội cho nó.


– Trời ơi, tội cho nó nhưng ai tội cho tui? Nó đặt tên con tiếng Mỹ thì làm sao tui kêu? Mà có đặt tên Mỹ thì cũng kiếm cái tên gì cho tui gọi được. Ðằng này nó đặt tên thằng cháu tui là cái gì… “Cứt,” “Cứt.” Ngày nào tui cũng gọi thằng cháu tui tên “Cứt,” “Cứt,” nghe kỳ quá!


Ðứa bé tên là Kirt (Kơrt), bà ta đọc không được tên cháu của mình nên gọi nó là “Cứt”!


Thời đại đặt tên con là “Cái Tĩn” hay “Thằng Tủn” đã xa xưa lắm rồi. Bây giờ thì bố mẹ nào cũng tìm tên thật đẹp để đặt cho con. Michelle (mi-sheo) hay Sally (sa-ly , tên con gái ở Mỹ nghe thật hay nhưng nhiều ông bà nội/ngoại không phát âm được nên đổi tên cháu Michelle ra… “Mì xào,” Sally gọi là “Xá-lị.”


Một cô bạn gái nói cho tôi biết có một anh bạn, vợ sinh con trai, đặt tên là Christopher. Người nào cùng lứa tuổi tôi có thể nhớ trước 1975 có phim “Tình thù rực nắng,” phim Mỹ nhưng không hiểu sao ở Việt Nam tựa đề phim lại là tiếng Pháp“Meutre au Soleil”( tựa tiếng Mỹ là “Summertime Killer”). Sở dĩ tôi còn nhớ vanh vách phim này vì hai tài tử chính, cô đào Olivia Hussey và anh chàng Christoper Mitchum đều đẹp. Tôi còn nhớ rõ Christopher Mitchum với bộ tóc mầu vàng, trông rất lạ vì tóc Á Ðông của chúng ta mầu đen. Anh chàng này tóc vàng, da trắng, người Âu Mỹ trông thấy đã đẹp, tên anh ta Christopher nghe cũng đẹp nữa. Ấy thế mà bà nội Việt Nam ở Mỹ vì không nói được chữ Christopher (Khris-tô-phơr) tuyệt đẹp tên của cháu mình nên gọi nó là… “Tô Phở!”


Anh này có một cậu em trai, cũng lấy vợ, và cũng sinh con trai. Hai vợ chồng người em đặt tên con là Tommy (tom-mi). Tên này thì quá dễ để cho ông bà gọi cháu, ấy thế mà bà cũng gọi trại ra theo âm Việt Nam: “Tô Mì.” Hai đứa cháu, một đứa là “Tô Phở,” một đứa là “Tô Mì,” bây giờ nó trở thành tên quá dễ để cho bà nội gọi cháu.


Tên đường sá ở Mỹ thì những người Việt tha hồ gọi theo tiếng của mình, chẳng quan tâm đến việc người Mỹ có hiểu hay không. Ðây là một vài thí dụ tên đường sá, thành phố ở Mỹ, chữ trong ngoặc là phát âm đúng theo tiếng Mỹ, và chữ kế bên cạnh là người mình đổi sang tiếng Việt để đọc:


– Magnolia (mặec-noó-li-a): Mặt ngó lia


– Cullen (kơ-lân): Cù lần


– McFadden (mặec-pha-đân): Mất phải đền


– McLaughlin (mặec-láph-lân): Mắt láo liên


– Brookhurst (brúk-hơrst): Bốc hốt


– McKee (mặec-ki): Mặc kệ


– Tully (tu-li): Tú lỳ


– Bascom (bas -com): Bát cơm


– Saratoga (sa-ra-tô-ga): Xỏ lá to gan


– Piedmont (píd-mont): Bịt mông


Sau đây là một người Việt nói một câu dùng tiếng Mỹ trà trộn thêm vào:


– Ông đi tới bảng tốp (stop), quẹo phải thì thấy đất to (drug store -drấg-stor: nhà thuốc Tây) mua cho tôi hộp ếch rình (aspirin), nghe nói ếch rình là thần dược còn chữa cô rồ (cholesterol) nữa!


Ðây là một câu chuyện cũng về người Việt đọc tiếng Anh, lưu truyền trên Internet, tôi không biết ai là tác giả, xin chép lại nguyên văn:


“Tui xin kể một chuyện vui có thiệt 100 %, xảy ra cho chính tui:


Cách đây vài tháng, một người bạn nhờ tui ra phi trường đón giùm một cô ca sĩ rất rất ư là nổi tiếng bên VN (xin cho phép tui tạm giấu tên cô ca sĩ đó). Nàng là thần tượng của giới trẻ bên đó và cũng như bên đây. Nàng rất ư là dễ thương và very cute! và thông minh luôn. Nàng sang đây hát show theo lời mời của nhóm bạn của tui. Anyway, trên xe, nàng hỏi tui là nàng có thể xài thẻ tín dụng bên đây được không? Tui hỏi lại là thẻ loại gì? Của nhà băng nào? Thì nàng nhỏ nhẹ bảo là thẻ của nàng là thẻ “Con mẹ xin ăn”! Và cứ thế, suốt cả giờ, nàng huyên thuyên kể về cái thẻ “Con mẹ xin ăn” của nàng có rất nhiều tiền trong đó, nàng có thể dùng nó bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào trên thế giới.


Tui không dám hỏi. Cũng không dám ngắt lời nàng để hỏi. Trong lòng cứ ấm ức và thắc mắc – Ngộ thiệt đó nha! Cớ sao nhà băng bên Việt Nam lại lấy một cái tên nghe oái oăm thiệt. Tại sao lại đi lấy tên nhà băng là “Con mẹ xin ăn”nhỉ? Thiếu gì tên đẹp mà sao hổng lấy. Mà lạ, nàng bảo là cái “Con mẹ xin ăn” băng này là lớn lắm đó nha… Em được họ cho em muốn xài bao nhiêu cũng được cả. Vì họ biết em có dư khả năng trả cho họ hàng tháng!” Chở nàng đến khách sạn, tui ngần ngừ rồi năn nỉ: “Em cho anh xem thử cái thẻ… của em được không? ”


Mèng đét ui, té ra nó là cái thẻ Commercial Bank! Tui phá ra cười khom cả cái lưng còm ốm yếu củÔa tui. Mà tất nhiên là hổng dám giải thích cho nàng hiểu tại sao mình cười. Hi hi hi. Suốt đời chắc hông bao giờ quên được cái kỷ niệm đó, kỷ niệm mà tui hông bao giờ dám kể lại cho nàng nghe cả!


(Ghi chú: Chữ “Commercial“nếu phát âm theo tiếng Anh thì không nghe giống “Con mẹ xin ăn” nhưng nếu phát âm theo tiếng Pháp hoặc theo lối VN thì đúng là“Con mẹ xin ăn”).


Dùng tiếng Anh sai cũng tai hại không kém. Một chị bạn kể cho tôi nghe chị có một bà láng giềng người Việt Nam. Một buổi sáng chục năm trước bà ta ra xe thì gặp ông láng giềng Mỹ. Khi ông ấy hỏi: “Bà đi đâu thế?” thì bà ta trả lời: “Sáng nay tôi đi tìm mua một cái condom.” Ý bà ta nói là muốn mua một cái condo (con-đô, không có m), chữ viết tắt của chữ condominium, có nghĩa tương tự như chữ apartment, nhưng bà ta lại nói nhầm là condom (con-đâm). Condom là bao cao su cho đàn ông dùng để ngừa thai!


Câu chuyện sau đây cũng là người Việt nói tiếng Mỹ.


Có một anh Việt Nam ngày xưa ở dưới Rạch Giá, sang đây làm nghề thợ ráp ở hãng tôi. Cũng giống như bao nhiêu người Việt mê nhạc Việt Nam, hát karaoke và tổ chức nhảy đầm ở nhà, anh ta rất rành rẽ những điệu nhạc như Valse, Cha-Cha-Cha, Tango, Bolero, Rumba… Một hôm anh ta xuống Santa Ana vào một tiệm bánh để mua bánh paté chaud.


Rất tự tin, anh ta ung dung nói với cô bán hàng: “Cô bán cho tui ba cái bánh ‘ba-sô-đốp.’”


Cô bán hàng ngẩn tò te nhìn vì không hiểu anh ta muốn gì, mà anh ta cũng không biết tại sao cô ta nhìn mình: Thay vì nói muốn mua bánh paté chaud, anh ta nói muốn mua pasodoble, một loại điệu nhẩy!


Ðọc đến đây quý vị chắc sẽ có vài nụ cười và nói với tôi “Thank you” đã viết bài này. Tôi định trả lời “Không có chi” bằng tiếng Anh cho quý vị: “You are welcome”; nhưng thay vì phát âm đúng như người Mỹ nói: “You Arr Gweo Kâm,” tôi bắt chước một bà Việt Nam lớn tuổi ở tiểu bang Mả-Cha-Chú-Chệt (Massachusetts – Más-sa-chú-sệt) nói câu “You are welcome” với giọng An Nam Mít đặc sệt: “Giò heo hầm.”


Ngày 28 tháng 9, 2012


(Nguồn: truc le; [email protected])

‘Việt Cộng Con’

 


* Nguyễn Khắp Nơi


(Viết theo lời kể của một cô gái người Bắc)


 


Ðương nhiên, tên của tôi không phải là “Việt Cộng Con” rồi. Và tôi cũng không phải là Việt Cộng, xin bảo đảm một trăm phần trăm.










Một cảnh thăm nuôi tù ở các trại tù miền Bắc vào các năm cuối thập niên 1970. (theo: Google)


Tên tôi là Trinh, Trần Thị Ngọc Trinh. Tôi lấy chồng là một người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Con trai tôi tên là Nam, cháu nay đã được năm tuổi rồi. Mỗi lần về thăm nhà, cháu luôn luôn hãnh diện khoe với ông bà ngoại: “Ông ơi, bà ơi, cháu là con của Lính Cộng Hòa đấy. ”


Tức là tôi không có dính dáng gì đến Việt Cộng cả. Vậy thì tại sao tôi lại có cái tên…“ Việt Cộng Con”?


Theo lời bố tôi kể lại, bố mẹ tôi quê quán ở Phú Thọ, sau chuyển về Hà Giang. Ðến năm 1979 thì mới về Hà Nội ở. Lúc đầu, gia đình tôi không có “hộ khẩu,” phải sống tạm bợ ở gầm cầu. Hàng ngày, ba mẹ tôi đi ra chợ, bến xe hàng hay là bến xe lửa xuyên Việt đứng chờ công việc làm, ai nhờ việc gì thì làm việc nấy, thông thường là khuân vác, đẩy xe, cưa cây… Kiếm được việc làm không phải dễ, vì ba mẹ tôi là dân mới tới, thường bị đám người sống lâu năm ở chợ tranh giành đuổi đi đừng ở nơi xa chứ không cho đứng ở gần chợ.


Một hôm, có một đoàn người gồm đa số là đàn bà từ miền Nam vào, nhờ đẩy hàng đi Hà Giang. Hà Giang cách Hà Nội cả trăm cây số, đám đầu nậu không biết địa thế, hơn nữa, vì Hà Giang gần núi, có nhiều sơn lam chướng khí, nên không ai dám nhận đi hàng, bọn chúng mới gọi bố mẹ tôi đến mà bố thí cho việc làm. Tưởng đi đâu chứ Hà Giang thì bố mẹ tôi sống ở đó từ nhỏ, biết từng góc rừng, từng con đường mòn xuyên qua núi. Thì ra đó là những người vợ người con của Lính Cộng Hòa bị đi tù cải tạo. Từ Hà Nội đến Hà Giang thì có xe hàng, nhưng từ Hà Giang tới các trại tù thì phải gánh hàng đi bộ nhiều ngày mới tới.


Bố mẹ tôi chịu cực khổ đưa những người khách hàng đến tận nơi, chờ họ gặp người thân xong xuôi rồi lại đưa họ trở về ga Hàng Cỏ Hà Nội. Những người này cám ơn bố mẹ tôi và tặng tiền nhiều lắm. Sau chuyến đi đó, bọn đầu nậu đứng bến có vẻ nể nang bố mẹ tôi, không dám giành mối như trước nữa. Thực ra, cũng vì không có đứa nào biết đường đi nước bước ở Hà Giang và những vùng xa xôi có trại tù cải tạo, nên bố mẹ tôi hầu như được độc quyền đưa đón thân nhân những người tù cải tạo. Những người này vừa tử tế lịch sự, vừa cho tiền thưởng khá; vì thế, cuộc sống của gia đình tôi mới đỡ vất vả. Nhờ có ít tiền, bố mẹ tôi mới… mua được hộ khẩu ở Hà Nội và cho anh em chúng tôi đi học. Trong thời gian đưa đón những người miền Nam này, bố mẹ tôi đã được họ tin tưởng, vui vẻ nói chuyện và còn chỉ dẫn cách nấu những món ăn ở miền Nam, như là bánh xèo, bánh phồng tôm, chả giò… Ðã có một lần, một nhóm người vì phải mang theo nhiều hàng, lại già yếu bệnh tật, nên đã nhờ bố mẹ tôi vào Nam để mang hàng từ đó ra ngoài Bắc cho họ. Nhân dịp này, họ đã đưa bố mẹ tôi đi chợ mua những món hàng cần thiết và đãi bố mẹ tôi ăn một bữa no say.


Ðến khi những người đi thăm thân nhân tù cải tạo vơi đi dần, bố mẹ tôi liền giải nghệ mà mở một quán ăn nhỏ, chuyên bán những“Món Ngon Miền Nam.” Thời gian đó, bất cứ món hàng nào có xuất xứ “Miền Nam” đều được dân miền Bắc thèm muốn, mua bằng hết, từ cây kim sợi chỉ, nói chi tới những Món Ngon Miền Nam. Cửa hàng của bố mẹ tôi vì thế mà lúc nào cũng đông khách.


Học xong đại học, tôi xin đi làm cho chính phủ, thời gian rảnh thì phụ bố mẹ tôi trông coi công việc. Cửa hàng bán những món ăn Miền Nam của bố mẹ tôi càng ngày càng phát triển, không những chỉ bán hàng ăn, bố mẹ tôi còn mở công ty, mua nhiều loại hàng ở Miền Nam đem ra Bắc bán nữa.


Trong thời gian làm việc, tôi đã được tiếp xúc với một số bạn bè đi du học trở về, đa số đều nói ngoại ngữ rất khá, và đều vào Sàigòn làm việc, chứ không chịu ở lại ngoài Bắc, dù rằng Hà Nội mới là thủ đô. Tôi bắt chước bạn bè, xin bố mẹ tôi cho vào Nam làm việc, nhân tiện làm đầu cầu mua hàng trong Nam đem ra Bắc.


Vào tới Sàigòn rồi, đi làm một thời gian rồi, tôi mới thấy là giữa những người giữ chức vụ cao, được gọi là “lãnh đạo cơ quan” mặc dù là học thức kém, tầm mức hiểu biết về việc làm rất là hạn chế, nhưng lại là những người ngồi mát ăn bát vàng, hống hách với dân chúng nhiều nhất. Càng tỏ ra khó khăn, họ càng được hối lộ và lấy được nhiều tiền trong công quỹ. Những người có bằng cấp, biết làm việc và phải tiếp xúc với dân chúng nhiều như chúng tôi thì lại bị đẩy cho làm việc thật là nhiều. Và cũng vì sự hống hách quan liêu của cấp trên, mà chúng tôi bị vạ lây, bị dân chúng Miền Nam ghét bỏ. Thậm chí, chỉ nhìn thấy chúng tôi, hoặc chỉ cần nghe giọng nói của chúng tôi thôi, họ đã bỏ đi, không quên nói nhỏ với nhau: “Cái đồ Bắc Kỳ… thấy ghét.” Mặc dù những điều kiện mà chúng tôi giải thích, là do cấp trên đòi hỏi, chứ chúng tôi không hề muốn làm như vậy.


Một vài lần, tôi được dịp may tiếp xúc với những người ngoại quốc tới làm việc chung với chúng tôi, họ có kiến thức rất cao nhưng lại nói chuyện rất lịch sự. Cũng có những lần tôi được tiếp xúc với vài du khách đến nhờ làm thủ tục, tôi thấy họ nói chuyện cũng thật là hòa nhã và rất hiểu biết. Tầm mắt và kiến thức của tôi được mở rộng ra, tôi muốn được đi du học để mở mang trí tuệ, và cũng để có thể giúp cho công việc làm ăn của gia đình tôi được phát triển hơn. Tôi đem việc này ra bàn với bố mẹ tôi, cả hai đều đồng ý, nhất là ông bà nội của tôi. Chọn nơi học mới là điều khó khăn hơn cả. Ða số các bạn bè của tôi chọn đi học ở Mỹ (nhất là những đứa có cha mẹ có quốc tịch đảng), tôi lại thấy Úc là xứ sở hiền hòa có nhiều nét về văn hóa nghệ thuật, nên tôi đã chọn môn học về tài chánh ở trường Ðại Học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), Melbourne, nước Úc.


Dù là đã có một ít vốn liếng tiếng Anh đã học ở trường học cũng như trường đời, nhưng ngày đầu tiên đến giảng đường nghe giảng bài, thú thực là tôi như con vịt nghe sấm, chẳng hiểu ông giảng viên tóc vàng nói cái gì cả, vì giọng của ông hoàn toàn là giọng Úc, khác xa với những phát âm theo tiếng Mỹ mà tôi đã từng nghe ở Việt Nam. Môn học kế tiếp thì tôi lại còn thua nặng hơn nữa, vì giảng viên này gốc người Ấn Ðộ, tiếng Anh của ông còn pha nhiều âm thanh R R R thật là khó nghe.


Hai năm trời trôi đi thật nhanh, ngoài giờ học, tôi xin đi làm thêm ở những nhà hàng ăn ở đường Victoria, khu vực Richmond. Những nhà hàng này tuy bán món ăn Việt Nam nhưng đa số khách hàng lại là người da trắng, nên nhờ đó mà tiếng Anh của tôi đã khá hơn trước và cách phát âm cũng vì thế mà đổi hoàn toàn theo giọng Úc.


Cuối cùng, tôi đã học xong cái bằng Master và sửa soạn khăn gói về nước. Bạn bè của tôi đa số xin ở lại Úc làm việc và sinh sống, tôi không có ý định ở lại, chỉ muốn về phụ giúp gia đình mà thôi.


Tôi mua vé máy bay về Sàigòn trước, nghỉ ở đó một ngày gặp bạn bè rồi mới về Hà Nội ở luôn. Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông trung niên, ông không bắt chuyện với tôi mà chỉ ngồi im lặng, lâu lâu lại nhìn vào cái hộp sắt gắn kín đang cầm trên tay. Mãi khi xuống phi trường Changi để nghỉ hai tiếng, ông mới mở miệng nhờ tôi cầm giùm cái hộp sắt để đứng lên lấy hành lý để trên khoang xuống. Cái hộp tưởng là bằng sắt nhưng lại là hộp bằng nhôm rất nhẹ.


Ngồi trên ghế chờ đợi, ông mới cho tôi biết đó là cái hộp đựng tro của vợ ông. Vợ ông mới qua đời tuần trước, đã được hỏa táng và ông đem về Việt Nam để ở nhà mẹ vợ, theo lời trăng trối của vợ ông trước khi chết.


Tới phi trường Tân Sơn Nhất, ông chào và cám ơn tôi một lần nữa rồi ai về nhà nấy. Tôi không biết tên ông là gì và ông cũng chẳng biết tôi là ai?


Một năm sau, tôi quay trở lại Úc để dự lễ phát bằng cấp cho đứa em tôi. Ðang đi trên đường Victoria, thật là ngạc nhiên, tôi đã gặp lại ông khách đi chung máy bay hồi nào. Ông cho tôi biết đã đem tro tàn của người vợ về xong xuôi rồi, đã đi làm trở lại. Tôi cũng cho ông hay là tôi đã xin được việc làm và đang làm việc ở Sàigòn, nhân dịp dự lễ phát bằng cấp cho đứa em, tôi xin nghỉ một tháng để đi thăm những thắng cảnh Úc mà trong suốt hai năm đi học tôi không có thì giờ đi đâu cả. Lần này ông cho tôi số điện thoại và nói nếu tôi muốn đi chơi thăm phong cảnh, ông sẽ xin nghỉ đưa tôi đi cho vui.


Thế là chúng tôi quen nhau. Ông tên Thanh, là Lính Cộng Hòa, ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông là một chuẩn úy 18 tuổi mới ra trường, đánh trận đầu tiên và cũng là trận cuối cùng của đời lính. Ông có hai đứa con nhưng chúng nó đi làm ở tiểu bang khác, lâu lâu mới về thăm nhà, còn tôi, tôi ba mươi lăm tuổi rồi, và chưa có ý định gì về tương lai cả.


Về lại Sàigòn, chúng tôi vẫn tiếp tục emails qua lại với nhau. Có một lần ông về Việt Nam thăm tro tàn của vợ và nhân dịp đó đi chơi uống cà phê với tôi. Qua năm sau, tôi muốn trở lại Úc một lần nữa để đi thăm Ðảo San Hô ở Queensland, Thanh cũng xin nghỉ để đi chơi cùng với tôi.


Thanh đã ngỏ lời muốn cưới tôi làm vợ. Suy đi nghĩ lại, tôi tuy còn độc thân nhưng đã lớn tuổi rồi (so với Thanh thì tôi còn nhỏ lắm), nên đồng ý làm vợ Thanh.


Thanh làm bữa tiệc gia đình để ra mắt tôi với hai đứa con và bạn bè. Hai đứa con của Thanh nói toàn tiếng Anh, tụi nó không có ý kiến gì, miễn thấy ba nó vui là được rồi. Lần đầu tiên gặp những người bạn của Thanh, tôi vui miệng kể lại cuộc đi chơi ở Ðảo San Hô: “Thật là… hoành tráng chưa từng thấy. Ði xem đảo xong, chúng em đi phố mua hàng, chỗ nào cũng bán khuyến mãi, thích ghê…”


Cả nhà đang ồn ào, tôi chợt thấy không khí có vẻ im lặng sau khi tôi nói chuyện, những người bạn của Thanh nhìn tôi có vẻ e dè lắm, họ vẫn nói chuyện, nhưng hình như không có nói chuyện với tôi. Một bà vợ của người bạn thân của Thanh đã hỏi thẳng tôi: “Cô là… du học sinh hả? Lấy chồng già để… được ở lại Úc hả?”


Khi vào trong bếp lấy thêm đồ ăn, tôi thoáng nghe một người nào đó nói nhỏ với Thanh: “Mày lấy… Việt Cộng Con đấy à?” Tôi nghe Thanh trả lời: “Ðâu phải ai nói giọng Bắc cũng đều là Việt Cộng hết đâu!”


Tiệc cưới của chúng tôi mới là phiền phức, mặc dù chúng tôi chỉ tổ chức đơn giản thôi, nhưng bạn bè của Thanh nhận thiệp mời, họ đều có vẻ ngại ngùng, không muốn tham dự. Thanh nói với tôi: “Ông hội trưởng của anh họp cả hội lại để lấy quyết định… có dự tiệc cưới của anh hay không? Họ quyết định… đi với tư cách cá nhân mà thôi, vì dù sao cũng là bạn bè.”


Tôi ngần ngừ nói với Thanh: “Anh ơi… nếu thấy khó khăn quá, hay là… mình đừng có lấy nhau nữa… Sao họ lại… kỳ thị với em như vậy?Em nói tiếng Bắc, vì em sinh đẻ ở ngoài Bắc, chứ em đâu có tội tình gì đâu?” Thanh an ủi tôi: “Em cũng phải hiểu cho họ, họ cũng như anh, đều là những người bị bọn Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm đất nước, bắt tù bắt tội sống chết đủ điều. Suốt ngày họ nghe cái giọng Bắc kỳ mạt sát họ, nó thấm vào đầu nên không thể có cảm tình với cái giọng Bắc được. Anh hiểu em, nhưng họ chưa hiểu và chưa thông cảm cho em. Cứ để một thời gian, họ sẽ hiểu em đó mà.”


Tôi sinh đứa con trai đầu lòng, đặt tên cháu là Nam. Ngày thôi nôi, anh chị nó đến dự, vui vẻ thay phiên ẵm em, đứa con gái út của Thanh ẵm em vừa cười vừa nói: “My… baby brother.” Những người bạn chúc mừng Thanh… “Ðáo Mã Thành Công. ”


Khi tôi tháo chiếc dây chuyền hộ mạng của tôi đeo vào cổ cho Nam, một bà ngạc nhiên nhìn sợi dây mà hỏi tôi: “Cái gì vậy?”


“Dây chuyền hộ mạng của em đấy. ”


“Ðẹp quá nhỉ! Ai khắc mà đẹp quá, hình như là hai cái mặt chữ khắc trên gỗ đen thì phải.”


Chồng tôi biết tôi có sợi dây chuyền này, nhưng coi đó là đồ nữ trang của tôi thôi, nên chẳng để ý đến. Khi thấy ai cũng nhìn vào nó, tôi vui miệng kể lại lai lịch của sợi dây chuyền cho tất cả cùng nghe: “Tôi sinh ra ở Hà Giang. Nói là Hà Giang chỉ để cho có nơi có chốn trên bản đồ mà thôi, chứ thực ra, nơi tôi sinh ra không có tên trên bản đồ miền Bắc. Ðó là một nơi ở giữa rừng núi âm u không có vết chân người.


“Theo bố tôi kể lại, vào thời năm 1954, khi mọi người dân đều muốn di cư vào Nam, gia đình tôi gồm có ông bà nội, ba mẹ tôi và gia đình của các bác các chú đã gồng gánh từ quê lên Hải Phòng, để xuống tầu di cư vào Nam. Khi đang ở trên đường thì gặp một đám người khác cũng nhận là đi di cư và biết có một con đường tắt đi Hải Phòng rất gần, thế là cả bọn theo chân đám người này. Ðến chiều tối thì có xe hàng tới chở tất cả, nói rằng đi xe cho chóng đến nơi. Xe chở đi tới một vùng rất xa, tài xế cho mọi người xuống mà nói rằng, nghỉ đỡ đêm nay, sáng mai sẽ có xe khác tới chở thẳng đến Hải Phòng. Ai cũng vui mừng trải chiếu ra ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, có xe tới đón thật, nhiều xe lắm, xe nào cũng chở đầy người. Mọi người vui mừng kéo nhau lên xe đi Hải Phòng. Xe đi cả ngày trời vẫn không tới vùng biển như mọi người mong đợi, trái lại, xe chở mọi người tới một nơi đầy lính canh có súng. Những người lính này chĩa súng bắt tất cả ngồi im không dược hỏi han gì cả, họ khiêng từng miếng vải nhà binh tới phủ kín xe rồi bắt đầu chạy suốt đêm. Ðến sáng mới tói nơi, cả bọn được đẩy xuống xe để bị chĩa súng bắt đi bộ vào trong rừng. Tới nơi, cán bộ tập họp mọi người lại, kết tội cả nhóm là đã phạm tội phản lại nhân dân, bỏ trốn vào miền Nam, bị đầy vào đây đến bao giờ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, sẽ được về với nhân dân.


“Ðến lúc đó, mọi người mới biết rằng đã bị bọn Cộng sản đưa người ra dụ dỗ đi theo chúng để rồi bị đi đầy vào vùng rừng núi âm u không biết ngày về. Lâu lâu lại có từng đoàn người khác hoặc được xe chở, hoặc bị xiềng xích đi bộ ngang qua để tới những nơi xa xôi hoang vắng khác được gọi là ‘Cổng Trời.’


“Vào khoảng năm 1960, có thêm một nhóm tù nữa được đưa tới Cổng Trời, đám người này thỉnh thoảng được ra ngoài làm rừng, họ tự xưng là ‘Biệt Kích Miền Nam’ được thả ra Bắc để hoạt động, chẳng may bị bắt.


“Tôi sinh ra vào năm 1973 ở cái vùng rừng núi âm u, trại tù của những người muốn di cư vào Nam năm 1954 và trải qua thời thơ ấu ở giữa nơi núi rừng trùng điệp không bóng người này. Khi tôi được năm tuổi, một hôm đi theo cha chặt mây, đã bị ngã xuống hố sâu. Bố tôi bất lực nhìn thân xác của tôi mà không có cách nào để cứu. May thay, một nhóm Biệt Kích đi ngang, thấy vậy đã thòng dây đu xuống tận vực sâu mà cứu tôi lên và đưa cả hai bố con tôi về tận nhà. Từ đó, lâu lâu những người Biệt Kích này lại đi ngang vào thăm gia đình tôi. Người Biệt Kích cứu tôi nhận tôi làm con nuôi và đã gỡ sợi dây chuyền ông đang đeo để đeo vào cổ tôi mà nói: ‘Tặng cho cháu cái bùa hộ mạng đó.’


Ông giải thích cho bố tôi biết, sợi dây chuyền này do ông đẽo gỗ trong rừng mà khắc thành hai chữ BK tức là Biệt Kích. Các chú này đã khuyên bố mẹ tôi nên tìm cách về thành phố mà sống, chứ đừng ở mãi nơi rừng hoang cô quạnh này mà bỏ phí cuộc đời của những dám con cháu.


Năm 1979, khi Trung Cộng bắt đầu đánh Miền Bắc, những Biệt Kích đã bị đem đi nơi khác, bố mẹ tôi nhớ lời các Biệt Kích mà tìm đường trốn về Hà Nội, vì thế, tôi mới được đi học và sống cho đến ngày hôm nay.


Khi tôi kể xong câu chuyện, mọi người đều thay nhau cầm lấy sợi dây chuyền của con tôi một cách trân trọng và quý mến. Người bạn mà trước đây gọi tôi là “Việt Cộng Con” là người đầu tiên hỏi tôi:


“Gia đình của chị bị đưa đi… vùng kinh tế mới Cổng Trời đấy à? Chỉ vì muốn di cư mà bị đầy ải suốt hơn hai mươi năm trời đấy sao? Bọn Việt cộng chúng mày sao mà tàn ác thế! Cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho gia đình chị, những người Việt Nam yêu tự do, còn sống được cho đến ngày hôm nay. ”


Tôi mỉm cười nói thêm vào: “Tôi cảm ơn Trời Phật và cảm ơn Chúa nữa. Ông bà chúng tôi không đi tìm tự do vào năm 1954 được, thì đến đời cháu tức là đời của chúng tôi, chúng tôi đã tìm được tự do rồi đấy. Nhờ các anh Biệt Kích Miền Nam mà tôi được cứu sống, nhờ lời khuyên của các anh mà bố mẹ tôi mới dám trốn vùng cải tạo để về được tới Hà Nội. Cũng nhờ những bà mẹ, bà vợ của những người Lính Miền Nam bị tù cải tạo mà bố mẹ tôi mói có cuộc sống đáng sống. Các anh chị thấy không, nhờ tình người, nhờ những người Miền Nam mà chúng tôi mới sống đến ngày hôm nay, chứ đâu có bác nào đảng nào cứu giúp chúng tôi đâu? Cũng vì thế mà dù có ai nói gì thì nói, tôi cũng cứ lấy người Lính Cộng Hòa mà tôi quý mến.”


Từ hôm đó, tôi thấy tất cả bạn bè của Thanh đã thay đổi thái độ với tôi. Các anh đã gọi tôi là“Chị Thanh” và các bà đã gọi tôi bằng “Trinh” hoặc là “Cô Em Gái Bắc Kỳ.”


Con tôi đã được năm tuổi rồi, cháu đã đi học mẫu giáo, tôi có thì giờ đi tìm một công việc tạm thời. Tôi tìm đến một văn phòng luật sư của người Việt để xin làm điện thoại viên. Ông luật sư phỏng vấn tôi xong, nói với tôi: “Ðể chú sắp xếp cho cháu làm hồ sơ nhé, còn công việc nghe điện thoại, chú sẽ tìm người khác.”


Tôi thông cảm với ông luật sư, mọi người vẫn còn… ác cảm, còn… kỳ thị với giọng nói Bắc Kỳ của tôi.


Tôi xin lỗi đã nói như vậy, nhưng thật sự tôi không biết dùng chữ gì để nói về hoàn cảnh của tôi.


Chồng tôi đã thông cảm với tôi, anh Thanh đã nói với tôi: “Người ta nói ‘Cái áo không làm nên ông thầy tu.’ Nhưng thực sự cái áo đã làm cho người ta nhìn lầm người mặc nó là thầy tu. Em không những nói giọng Bắc, em còn dùng những từ ngữ mà cái đám Việt Cộng thường dùng, ngay cả những người Miền Nam hay những người Lính Cộng Hòa mà nói cái giọng đó, cũng bị ghét, nói chi là Bắc Kỳ rặt như em. Em cứ giữ cái giọng Bắc Kỳ của em, nhưng em đừng… hoành tráng, đừng… bức xúc nữa, có được không?” Tôi suy nghĩ… Ðúng! Chồng tôi nói đúng. Nhập Gia Tùy Tục – Nhập Giang Tùy Khúc.


Tôi đã lấy chồng Lính Cộng Hòa rồi, mà tôi lúc nào cũng có cái giọng Bắc Kỳ Hai Nút (75, Bắc kỳ chín nút tức là Bắc kỳ 54) thì ai mà chịu nổi.


Bây giờ, tôi không còn…“ xử lý” nữa, mà tôi phân tích, tôi tìm hiểu từng trường hợp mà giải quyết cho thỏa đáng. Mỗi khi đi ra ngoài đường, nghe tôi nói chuyện, không còn ai quay lại nhìn tôi rồi bỏ đi chỗ khác nữa.


Ðôi khi, những ông bà bạn của anh Thanh vẫn gọi tôi là “Việt Cộng Con.” Nhưng họ nói chỉ để mà đùa giỡn mà thôi, chứ không còn châm chọc như trước nữa.


Riêng phần con tôi, cháu Nam, lúc nào cháu cũng khoe: “Con là con của ‘Lính Cộng Hòa’ mà!”

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 96)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 96


 


Zorba xuống cho tôi một tách trứng, hai trái cam lớn và một cái bánh ngọt Phục Sinh nhỏ. Hắn lặng lẽ và sung sướng hầu tôi, như một bà mẹ săn sóc con trai chinh chiến trở về. Hắn nhìn tôi một cách âu yếm và bỏ đi:


– Ðể tôi đi dựng mấy cột trụ.


Tôi bình thản nhai nuốt đồ ăn trong ánh sáng mặt trời và cảm thấy một nguồn hạnh phúc xác thịt sâu xa như thể tôi đang lướt trên mặt biển mát lạnh và xanh ngắt. Tôi không để cho tâm trí tôi lủng loạn niềm hân hoan xác thịt này và nhét vào khuôn của nó, biến nó thành tư tưởng. Tôi để toàn thể thân thể tôi hoan lạc từ đầu tới chân, tựa một con thú. Tuy nhiên, thỉnh thoảng trong cơn xuất thần, tôi nhìn quanh tôi, trong tôi, cái phép lạ của cuộc đời nào. Tôi tự nhủ: “Cái gì đang xẩy ra? Làm sao thế giới có thể thích nghi với chân tay và bụng chúng ta một cách hoàn hảo đến thế.” Một lần nữa, tôi lại nhắm mắt và lặng thinh. Ðột nhiên, tôi đứng dậy, đi vào lều, cầm lấy tập bản thảo “Ðức Phật” và mở ra. Tôi đã hoàn tất nó. Cuối cùng, Ðức Phật nằm dưới gốc cây đang trổ hoa. Ngài giơ tay lên và ra lệnh cho ngũ đại đã làm nên ngài – địa, thủy, hỏa, phong, không, tan biến.


Tôi không cần khuôn mặt này của nổi dày vò của tôi nữa, tôi đã vượt qua nó, tôi đã hoàn thành công việc của tôi đối với Ðức Phật – tôi cũng giơ tay lên và ra lệnh cho Ðức Phật tiêu hủy trong tôi.


Vội vã, với sự giúp đỡ của những chữ và sức mạnh phù thủy của chúng, tôi liền tiêu hủy thân ngài, tâm ngài và tinh thần ngài. Tôi viết nguệch ngoạc những dòng chữ cuối cùng trên tờ giấy một cách không thương tiếc, thốt lên tiếng kêu cuối cùng và viết tên tôi bằng nét bút chì đỏ. Thế là xong.


Tôi lấy một sợi dây lớn buộc chặt tập bản thảo lại. Tôi cảm thấy một niềm hân hoan kỳ lạ, như thể tôi đang trói chặt chân tay một kẻ thù đáng sợ, hay như những kẻ mọi rợ khi họ buộc chặt thân thể những kẻ thương yêu để họ khỏi bò ra khỏi mồ và biến thành ma quỷ.


Một cô bé con, chân đất chạy đến tôi. Nó mặc một chiếc váy vàng và nắm chặt trong tay một trái trứng đỏ. Nó dừng lại nhìn tôi, sợ hãi.


– Sao! Tôi vừa hỏi nó vừa mỉm cười khuyến khích, em muốn gì nào?


Nó thở hổn hển và trả lời bằng một giọng đứt hơi.


– Bà sai tôi đi mời ông tới. Bà nằm liệt giường. Có phải ông là Zorba không?


– Ðược rồi. Tôi sẽ tới.


Tôi dúi một trái trứng đỏ vào bàn tay nhỏ bé kia của nó; nó nắm tay lại và chạy biến.


Tôi đứng dậy và đi theo con đường làng. Tiếng ồn ào trong lòng ngày càng lớn lên: những âm thanh dịu dàng của đàn thất huyền, những tiếng la hét, súng nổ, những bài hát vui nhộn. Khi tôi tới công trường, các thanh niên và thiếu nữ đã hợp nhau dưới những tàn lá mới của những cây bạch dương và đang sửa soạn khiêu vũ. Những bô lão ngồi trên những chiếc ghế dài xung quanh, cằm chống lên gậy, ngắm nhìn. Những bà cụ già đứng đằng sau lưng. Fanurio, tay chơi đàn thất huyền thiện nghệ, một bông hồng tháng tư dắt sau tai, đi đi lại lại giữa những người đang khiêu vũ, bàn tay phải kéo cung đàn có gắn những cái lục lạc ồn ào.


– Chúa đã sống lại thật! Tôi nói to khi đi qua.


– Chúa đã sống lại thật! Tất cả đồng thanh vui vẻ trả lời.


Tôi đưa mắt nhìn quanh một vòng thật nhanh. Những thanh niên cường tráng, thon, mặc quần cụt phồng và tấm khăn choàng đầu mà những tua rủ xuống trán và thái dương tựa những búp tóc quăn. Những thiếu nữ, với những đồng tiền vàng quanh cổ, khăn quàng cổ trắng thêu, mắt nhìn xuống run lên vì chờ đợi.


– Ông không thèm ở lại đây với chúng tôi à, một vài người cất tiếng hỏi. Nhưng tôi đã đi qua.


Mụ Hortense nằm trong chiếc giường rộng của mụ đồ đạc duy nhất trung thành của mụ. Gò má mụ đỏ ửng lên vì cơn sốt và mụ ho. Khi nhìn thấy tôi, mụ thở dài một cách não ruột:


– Còn Zorba đâu? Zorba đâu?


– Hắn không được khỏe. Từ hôm mà bà bị đau, hắn cũng ốm luôn. Hắn cầm ảnh bà trước mặt và thở dài mỗi khi nhìn.


– Nói nữa đi, nói nữa đi… mụ ngư nữ già vừa nói vừa khép mắt lại một cách sung sướng.


– Hắn nhờ tôi đến hỏi xem bà có cần gì không. Tối nay thế nào hắn cũng tới, hắn nói vậy, mặc dầu hắn chưa được khỏe. Hắn không thể chịu xa cách bà lâu hơn nữa.


– Nói nữa đi, làm ơn nói nữa đi…


– Hắn đã nhận được một bức điện tín từ Nhã Ðiển gửi về. Áo cưới đã may xong, và những vòng hoa cũng vậy. Người ta gửi tầu và chẳng bao lâu sẽ tới đây…, những cây nến trắng và những giải bông hồng.


– Nói tiếp đi, nói tiếp đi…


Giấc ngủ chụp lấy mụ, hơi thở của mụ thay đổi; mụ bắt đầu mê sảng. Căn phòng có mùi eau-de-cologne, nước đái quỉ và mồ hôi. Qua khung cửa sổ mở rộng mùi nồng của phân gà và thỏ ngoài sân lọt vào. Tôi đứng dậy và lặng lẽ ra khỏi phòng. Tới cửa tôi đụng phải Mimitho. Hôm đó gã mang giầy và quần cụt mới tinh. Gã giắt sau tai một cọng hoắc hương. Tôi bảo gã:


– Mimitho, chạy tới làng Kalo và mời ông thầy thuốc lại đây!

Cử tri Hoa Kỳ tấp nập đi bỏ phiếu




LITTLE SAIGON (NV) –Sáng Thứ Ba, cử tri Hoa Kỳ đã đi bầu trong cuộc bầu cử Tổng thống gay go nhất và tốn tiền nhất từ trước đến nay. Chi phí cho cuộc vận động ước lượng khoảng $2.6 tỷ.










Cử tri Florida đội mưa đến một phòng đầu phiếu ở St. Petersburg. (Hình: Edward Linsmier/Getty Images)



Tiểu bang Maine ở cực đông nước Mỹ là nơi cử tri đi bầu đầu tiên. Theo dự trù các phòng bầu cử sẽ đóng cửa vào lúc 7 giờ tối. Như vậy bầu cử chấm dứt sớm nhất ở các tiểu bang miền Đông. Alaska và Hawaii là nơi những nơi cuối cùng phòng phiếu đóng cửa vào 1 giờ sáng Thứ Tư giờ miền Đông hay 10 giờ tối giờ California.


Tổng thống Obama bất ngờ ghé qua văn phòng trung tâm tranh cử của mình tại Chicago và từ đây dùng điện thoại di động nói chuyện với một số ủng hộ viên tình nguyện làm việc đến những giờ để vận động cử tri bầu cho ông.


Ông cũng gọi điện thoại cho Thống đốc Mitt Romney khen ngợi nỗ lực tranh cử gay go. Điều này không có ý nghĩa là sự công nhận chiến thắng của đối thủ vì hãy còn quá sớm để nói về kết quả và Tổng thống nói rằng ông tin tưởng vào thành công của mình.


Mitt Romney và Ann Romney đến phòng phiếu lúc 9giờ sáng, giờ miền Đông,ở Bedford, Massachusetts. Sau khi bỏ phiếu, Romney tuyên bố cảm thấy hy vọng thắng cử là rất cao. Ông sẽ đến Pennsylvania và Ohio với những chuyến vận động cuối cùng trong khi bà vợ ở lại Boston.


Tổng thống Obama kêu gọi “cử tri ủng hộ bất cứ bên nào hãy đến phòng đầu phiếu để thực hiện quyền quý báu của mình trong việc định đoạt kết quả mà nhiều người đã nỗ lực tranh đấu”.


Trước ngày bầu cử, trên toàn quốc gần 40 triệu người, nghĩa là khoảng 35% cử tri, đã bỏ lá phiếu của mình, bằng cách đến các phòng bầu cử sớm, hoặc bầu khiếm diện bằng thư hay qua e-mail ở một số tiểu bang chấp nhận hình thức này như tại New Jersey.


Căn cứ trên những dữ kiện của các kỳ bầu cử trước, người ta cũng dự đoán sẽ có 50 triệu dân Mỹ không đi bầu – vì không ghi danh hoặc ghi danh nhưng không muốn đi bầu với những lý do khác nhau. (HC)



Tin Luot

Việt Nam


Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam bị buộc nộp lại hơn $500 triệu để bổ sung ngân sách mà tập đoàn này đóng thiếu.


 


Từ năm 2009 đến nay đã có 14 con voi rừng ở tỉnh Ðắc Lắc bị giết chết để lấy ngà nhưng không có ai bị bắt và khởi tố.


 


Indonesia đang mua 300,000 tấn gạo của Việt Nam từ nay đến cuối năm để duy trì lượng dự trữ cần thiết khoảng 2 triệu tấn.


 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


Cuộc thăm dò bầu cử tổng thống do OC Political Pulse cho biết cử tri đảng Dân Chủ tin tưởng Obama sẽ đắc cử.


 


Stephen Thomas Foust, 45, cư dân Whittier hôm Thứ Hai bị tuyên án 28 năm ở tù tiểu bang vì chĩa súng vào nhân viên cảnh sát.


 


Bà Lucie Hoang-Ngo tức giận vì Học Khu Anaheim không có câu trả lời tại sao người con trai mắc bệnh tự kỷ của bà bị bỏ một mình trên xe bus hơn 6 tiếng rưỡi đồng hồ.


 


Hoa Kỳ


Nhà viết hòa âm nhạc cổ điển đoạt giải Pulitzer của Hoa Kỳ, với sự nghiệp kéo dài 75 năm vừa qua đời tại New York, hưởng thọ 103 tuổi.


 


Ngày thứ bảy sau khi cơn bão Sandy tàn phá tiểu bang New Jersey, Bruce Springsteen gọi phôn nói chuyện với Tổng Thống Obama, và nhờ Obama gọi cho Thống Ðốc Christie để cám ơn.


 


Một tổ chức ở Arizona thú nhận đã dùng mánh lới “rửa tiền” trong việc chuyển $11 triệu ủng hộ Small Businees Action Committee để vận đông Yes – Proposition 32 và No – Proposition 30 tại California.


 


Thế Giới


Ðệ nhất phu nhân Nam Hàn, bà vợ của Tổng Thống Lee Myung-bak sẽ bị thẩm vấn trong cuộc điều tra về sự mờ ám trong một vụ mua bán đất đai.


 


Iran đưa chiến hạm và hỏa tiễn đến một căn cứ hải quân mới thành lập tại eo biển Hormuz, trấn giữ hải lộ của các tàu dầu từ vịnh Persic ra Ấn Ðộ Dương.


 


Nam Hàn tạm đóng cửa 2 trong số 23 nhà máy điện nguyên tử vì đã sử dụng một số linh kiện chưa kiểm tra chất lượng an toàn từ 8 nhà cung cấp khác nhau.

Tại sao nhất định phải bầu cho ông Romney?

 


 


Tâm Việt


 


Mấy hôm nay, với ngày bỏ phiếu gần kề mà các con số thăm dò dư luận vẫn san sát giữa hai ứng cử viên tổng thống, đương kim Tổng Thống Obama và cựu Thống Ðốc Mitt Romney. Thậm chí đến các báo lớn, đầy kinh nghiệm ở xứ này cũng không báo nào dám ức đoán là ai sẽ thắng. Càng nhìn vào các con số đó càng rối trí.


 


Các cuộc thăm dò dư luận


 


Một cách tóm lược, cả năm trời trước cuộc tranh luận đầu tiên giữa hai ông vào ngày 3 tháng 10, 2012, ở Ðại Học Colorado ở Denver, có thể nói là ông Obama được xem là ăn trùm so với những con số người ta dành cho ông Romney. Qua cuộc tranh luận đầu tiên, người ta khám phá ra một ông Romney khác hẳn trong ý nghĩ của nhiều người: Ông tỏ ra quả quyết, nắm vững vấn đề, có chính sách kinh tế sáng sủa, hỏi đến đâu vanh vách trả lời đến đó. Ngược lại, ông Obama đưa ra một hình ảnh mù mờ, không nắm vững các câu hỏi, thậm chí có một chỗ còn nói: “Can we change the subject?” (“Chúng ta đổi sang đề tài khác được không?”)


Sau đó, dư luận đổi hẳn về hai ông. Các con số về phía ông Romney tăng hẳn trong khi các con số ủng hộ ông Obama xuống một cách nhanh chóng. Trên những khối cử tri lớn như phụ nữ, nếu trước đó ông Obama nắm đa số tưởng như không thể đảo ngược được, nghĩa là hơn hẳn ông Romney tới 18-19-20%, thì sau cuộc tranh luận đầu tiên, ông Romney đã bắt kịp tới độ chỉ cách nhau chừng 1-2 điểm (tỷ như 48% ủng hộ ông Obama còn 47% ủng hộ ông Romney), mà như ai cũng biết, phụ nữ là hơn một nửa dân số. Tóm lại, trong khi đàn ông da trắng vẫn đều đều ủng hộ mạnh ông Romney, hơn ông Obama cả chục điểm, thì về mặt phụ nữ ông Romney đã xóa hẳn được hố ngăn cách giữa hai người.


Như vậy, ông Obama chỉ còn nắm được ưu thế gần như tuyệt đối trong trường hợp lá phiếu của người da đen, phần nào ưu thế áp đảo trong trường hợp lá phiếu của người Latino (gốc Trung Nam Mỹ), và một phần của các nhóm gốc Á Ðông. Tóm lại, đa phần lá phiếu của các thiểu số. Ngược lại, những nhóm dân tộc gốc Á như Philippines hay Việt Nam nói chung vẫn còn ngả nhiều phần về bên Cộng Hòa.


 


Mấy cuộc tranh luận còn lại


 


Tiếp sau là cuộc tranh luận giữa hai ứng cử viên phó tổng thống vào ngày 11 tháng 10 giữa ông Joseph Biden bên Dân Chủ và ông Paul Ryan bên Cộng Hòa. Trong hai người này thì Phó Tổng Thống Biden là người được nhiều người biết đến trong khi ông Paul Ryan, một dân biểu ở tiểu bang Wisconsin, thì không được công chúng biết đến nhiều. Trong cuộc tranh luận này, cả hai bên đều tỏ ra là những người nắm được vấn đề và những con số nhưng ông Biden bị xem là có hai điểm phản cảm: Ông thích cắt ngang đối phương, cướp lời của ông Ryan, rồi lại tỏ ra khinh khỉnh với một cái cười nhe hai hàm răng rất vô duyên trong khi ông Ryan tìm cách trả lời câu hỏi của người điều hợp. Kết quả là khán thính giả đánh giá ông Ryan xử sự đẹp hơn, có tính cách “presidential” (“như một ông tổng thống”) hơn và từ một người ít được công chúng biết đến, ông đã trở thành một tranh luận viên có hạng và có tư tưởng.


Cuộc tranh luận thứ hai (16 tháng 10) giữa hai ứng cử viên tổng thống diễn ra ở Ðại Học Hofstra ở New York. Trong cuộc tranh luận này, ông Obama đã tập luyện kỹ hơn và cũng ở trong một môi trường ông quen thuộc hơn, như được đi đi lại lại, đến gần người hỏi (từ trong cử tọa chứ không phải từ một điều hợp viên). Kết quả hơi thất vọng vì những câu hỏi của cử tọa không được sâu sắc lắm nếu không muốn nói là có tính cách “cò mồi,” do đó ta không học được cái gì thực sự mới từ hai ứng cử viên. Hai ông chỉ nhắc lại những lập trường họ đã có sẵn và bà con đã được nghe từ cuộc tranh luận đầu. Chỉ có hai câu hỏi về chính sách ngoại giao nên vấn đề này cũng không được đào sâu. Tuy nhiên, vụ quân khủng bố Lybia giết ông Ðại Sứ Mỹ Christopher Stevens và ba nhà ngoại giao Mỹ ở Benghazi vào đêm 11 tháng 9 đã gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi giữa hai ông. Việc người nữ điều hợp viên hôm đó lại tranh cãi với ông Romney để bảo vệ ông Obama đã bị coi là một sự can thiệp vô lối.


Phải đợi đến cuộc tranh luận thứ ba và cuối cùng, ngày 22 tháng 10 ở Florida, tập trung vào các vấn đề ngoại giao người ta mới thấy ông Obama lấy lại được sự tự tin và không hiểu sao đêm đó, ông Romney lại không mạnh dạn đả kích ông Obama về biến cố Benghazi mà ông có thể nắm chắc phần thắng. Vì lý do đó, người ta cho là ông Obama đêm hôm đó có thể coi là thắng 48% so với 40% cho là ông Romney thắng (theo CNN).


Có thể nói là các cuộc tranh luận, nhất là cuộc tranh luận đầu tiên, đã làm cho các con số đổi thay một cách kịch tính. Các con số đổi thay này đã buộc cả hai đảng phải chuyển hướng cả cuộc vận động trong tuần cuối cùng như bên Cộng Hòa tập trung vào tiểu bang Pennsylvania, chẳng hạn, để có thể đánh đổi với cử tri đoàn bên tiểu bang Ohio có thể về tay ông Obama.


 


Những khác biệt chính giữa hai ông Obama và Romney


 


Nhờ các cuộc tranh luận và các bài phân tích ở trên các báo, Mỹ cũng như Việt, nếu chúng ta loại được ra những phần chủ quan của mình thì tôi cho là ta có thể tóm lược các khác biệt chính giữa hai ứng viên tổng thống là như sau.


Ông Obama là người “incumbent” đang cầm quyền nên chúng ta có thể thấy ngay là “sự đổi thay” mà ông xem là châm ngôn của ông khi tranh cử vào năm 2008, ông đã không giữ được những lời hứa như ông tuyên bố. Ông hứa cắt số người thất nghiệp xuống đến mức 5.2% nhưng ngày nay, mức thất nghiệp ở Mỹ vẫn là gần 8% (7.9%). Ông hứa cắt sự thâm thủng ngân sách thì chuyện này không hề xảy ra. Trong bốn năm, ông đã tiêu pha tới mức cộng thêm 5.2 nghìn tỷ vào công nợ của xứ này (bằng 50 tổng thống đầu tiên của nước Mỹ trên 200 năm cộng lại). Ông hứa tạo ra công ăn việc làm nhưng 23 triệu người Mỹ vẫn không có công ăn việc làm. Dưới trào của ông, 47 triệu người Mỹ phải dựa vào food stamps. Rõ ràng là nước Mỹ không thể mãi mãi đi gánh những món nợ này vậy mà ông xin một nhiệm kỳ 4 năm nữa.


Trái lại, bỏ ra ngoài những vấn đề như an ninh quốc phòng mà đảng Cộng Hòa bao giờ cũng lưu tâm hơn đảng Dân Chủ (như ông Obama thì đã dự tính cắt ngân sách quốc phòng hàng 400 500 tỷ trong khi ông Romney thì hứa sẽ không cắt), ông Romney tuy chưa là tổng thống song cũng đã tỏ ra là một nhà doanh nghiệp thành công và là một ông thống đốc có thành tích làm việc với lưỡng đảng. (Một tỷ dụ: Ðể thông qua được luật về bảo hiểm y tế ở Massachusetts, ông Romney đã làm việc với cả đảng Dân Chủ đối lập trong khi ông Obama đã dựa vào đa số của đảng Dân Chủ ở Thượng Hạ Viện Mỹ để đẩy xe hồ lô Obamacare của ông qua Quốc Hội, không thèm nói chuyện với phe Cộng Hòa để đạt được mục đích của ông.) Chính vì thế mà ông Romney đã tuyên bố sẽ tìm cách đẩy lui cái luật mà đến chính Tối Cao Pháp Viện của Mỹ cũng gọi là một thứ thuế đánh vào người dân.


Vì không có kinh nghiệm kinh doanh bao giờ nên ông Obama tiêu tiền vô tội vạ như chính quyền Việt Cộng ở quê nhà, cứ đầu tư vào đâu thì lỗ nặng ở đó (như vụ Solyndra mất đứt 300 triệu và nhiều vụ bỏ tiền vào các hãng khác nữa, nhưng hai cái gói kích thích trên 800 tỷ song chỉ nuôi các hãng xây cất mà không đẻ được ra bao nhiêu công ăn việc làm, như cứu các hãng xe hơi GM, v.v. bằng tiền của nhà nước…). Trái lại, ông Romney không những đã tạo ra hãng Bain Capital rất thành công đẻ ra nhiều công ty nổi tiếng (và công ăn việc làm) như Staples, v.v. Khi ông được giao cho vụ Thế vận hội ở Salt Lake City mà lúc bấy giờ đang lỗ vốn to vì quản trị bê bối, ông đã xoay chiều và không những làm cho thế vận hội ấy thành công mà khi kết thúc còn thừa được ra 100 triệu đô la.


Vẫn biết, ông Romney chưa làm tổng thống nên những lời tuyên bố của ông lúc này chỉ là hứa hẹn. Nhưng nhìn vào thành tích hoạt động của ông thì ông đã tỏ ra có nhiều khả năng thành công trên nhiều lãnh vực và đặc biệt biết làm việc với mọi người, ngay cả với người của đảng khác. Về mặt này những thành tích của ông vững vàng hơn những thành tích không cả có (như trong doanh trường) của ông Obama vào năm 2008. Thêm vào đó, ông Obama chỉ biết nghe mình, không cả nghe những người thân cận nhất như Ngoại Trưởng Hillary Clinton của ông.


Ðó, theo tôi, là những lý do chính đáng nhất để tôi và tôi nghĩ nhiều cử tri người Mỹ gốc Việt khác nên và có lẽ cần bỏ phiếu cho ông Romney lên làm tổng thống.

Việt Nam thu hồi mì gói Nam Hàn có chất độc

HÀ NỘI (NV)Bộ Y Tế Việt Nam vừa ra lệnh thu hồi hai loại mì gói của Nam Hàn bán trên thị trường vì tìm thấy chất benzopyrene có thể gây ung thư da, phổi…










Mì Neoguri do công ty Nongshim sản xuất. (Hình: onepanwonders.com)


Tin của VNExpress cho hay, “hai sản phẩm bị thu hồi có nhãn hiệu Neoguri do công ty trách nhiệm hữu hạn Nong Shim sản xuất”.


Bộ Y Tế Việt Nam ban hành lệnh này sau khi “nhận được công hàm của đại sứ quán Nam Hàn tại Việt Nam thông báo về việc thu hồi tự nguyện sản phẩm mì ăn liền trên”.


Ðối với vấn đề mì ăn liền được sản xuất bởi công ty Nong Shim, Nam Hàn Quốc cho biết mức benzopyrene trong bột gia vị của gói mì thấp hơn mức tối đa cho phép trong nguyên liệu thô.


Mặc dù, chất benzopyrene được phát hiện gần như không có tác động tới cơ thể con người, nhưng công ty Nong Shim đã sử dụng nguyên liệu thô vi phạm để sản xuất sản phẩm là không phù hợp với quy định của luật vệ sinh thực phẩm của Nam Hàn.


Tin cho hay, tại Việt Nam, có 2 sản phẩm mì ăn liền của công ty Nong Shim được Cục An Toàn Thực Phẩm cấp chứng nhận tiêu chuẩn tại Việt Nam. Ðó là sản phẩm Neoguri (Hot), hết hạn sử dụng trong khoảng từ 22 tháng 10 đến 11 tháng 11 và sản phẩm mì Neoguri (Mild), hết hạn sử dụng từ 28 tháng 10 đến 17 tháng 11.

Chương trình dinh dưỡng Olympic tại trường Fryberger

 


 


Linh Nguyễn/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) Gần 500 học sinh tham dự chương trình dinh dưỡng Olympic (Olympic Nutrition) vang tiếng reo hò theo điệu nhạc, vừa thôi thúc, vừa vui vẻ, trỗi lên từ sáng sớm hôm Thứ Năm, tại sân trường tiểu học Fryberger, 6952 Hood Drive, Westminster thuộc học khu Westminster.









Các em xếp hàng tại một trạm chuẩn bị trò chơi. (Hình: Fryberger School)


“Ðây là chương trình năm thứ tư được tổ chức tại tiểu học Fryberger. Mục đích nhắc nhở học sinh các nhóm thức ăn bổ dưỡng cho sức khỏe để tránh béo phì. Vì vậy, chúng tôi có chương trình hoạt động thể chất đi kèm cho các em đỡ chán,” Tiến Sĩ Hiacynth Martinez, hiệu trưởng, nói với phóng viên báo Người Việt.


“Các hoạt động thể chất được dùng dưới hình thức trò chơi và có các điệu nhạc đi kèm, nên các em rất thích,” bà nói.


Các hoạt động được chia thành từng trạm, có thầy cô giáo hay phụ huynh tình nguyện hướng dẫn.


“Chúng tôi nhấn mạnh cách ăn uống lành mạnh và chia làm ba nhóm học sinh. Từ 8:15 đến 9:15 sáng, chúng tôi có 10 trạm và dành cho các học sinh lớp 4 và 5. Các em tham dự các trò chơi tìm hiểu các nhóm thức ăn, như rau quả, trái cây, sữa, thịt cá. Thầy cô thì mặc áo quần như hình trái chuối, trái dâu hay dưa hấu… Cũng rất thích hợp cho ngày lễ Halloween!” Bà hiệu trưởng giải thích.


Từ 9:15 đến 10:15 dành cho các em lớp 2 và 3 và kéo dài một tiếng đồng hồ. Một tiếng sau cùng là dành cho học sinh mẫu giáo và lớp một.









Các em chơi đùa, hít đất… (Hình: Thọ Nguyễn)


“Cứ mỗi lần một nhóm tham dự, học sinh đều được ăn trái cây như táo, chuối và uống nước. Mục đích để nhấn mạnh và nhắc nhở các em về sự ích lợi của cách ăn uống lành mạnh,” bà Martinez nói.


“Rất may chúng tôi có khoảng 12 phụ huynh tình nguyện trợ giúp một tay. Chúng tôi dự trù sẽ tổ chức một năm hai lần,” bà hiệu trưởng cười, nói và nhấn mạnh “các em còn được học cách ăn uống trong bàn ăn cho lịch sự nữa”.


Anh Thọ Nguyễn, một phụ huynh có hai bé gái theo học lớp 5, tâm sự: “Tôi có hai cháu. Vi-tâm, 9 tuổi học lớp 4 và Jocelyn, 10 tuổi, lớp 5. Tôi tình nguyện được ba năm rồi. Hôm nay tôi phụ làm DJ, lo phần để nhạc cho các em exercise!”







Các lớp mẫu giáo và lớp 1 vui với trò chơi thảy vào lỗ của trái dâu. (Hình: Fryberger School)


Anh Thọ giải thích: “Có mặt phụ huynh, các em phấn khởi tham gia và thầy cô cũng thích lắm. Một phần khác là chương trình đặt tên Olympic Nutrition cũng khiến các em thích và tìm hiểu.”


Anh cho biết, các em vừa học, vừa chơi và làm quen cách ăn uống bớt dầu mỡ.


“Tôi cũng đang ‘diet’ cho đỡ mập. Các em còn nhỏ nên khỏe, chạy nhảy cả giờ mà không biết mệt. Nhạc disco, ‘rap’ kích động, mình theo mà hụt hơi!”


–-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tàu của Vinashin biến thành ‘tàu ma’

HẢI PHÒNG (NV) Con tàu mang tên New Sun của tập đoàn Vinashin trị giá hàng triệu đô la đang bị bỏ hoang ở Hải Phòng mà báo Lao Ðộng gọi là ‘tàu ma’.







Tàu New Sun, niềm tự hào một thời của Vinashin nay biến thành ‘tàu ma’. (Hình: Báo Lao Ðộng)


Báo Lao Ðộng hôm 4 tháng 11 trích dẫn nguồn tin từ Cảng Vụ Hàng Hải Hải Phòng cho biết, cơ quan này đã có công văn gửi công ty vận tải Viễn Dương Vinashin để “yêu cầu xử lý sự cố của tàu New Sun sau cơn bão số 8 trên vùng biển Hải Phòng”.


Theo nguồn tin này, “Tàu New Sun trọng tải toàn phần là 12,668 tấn với chiều dài 136m. Chủ tàu là công ty TNHH MTV Vận Tải Viễn Dương Vinashin, được neo tại khu vực Bến Gót (Cát Hải, Hải Phòng) từ ngày 13 tháng 3 năm 2012 trong tình trạng không có nhiên liệu, không có thuyền viên, không có các báo hiệu cảnh báo theo quy định nên không có đèn, điện, trông giống như một con tàu ‘ma.’”


“Cảng Vụ Hàng Hải Hải Phòng nhiều lần gửi công văn, tổ chức các cuộc làm việc với chủ tàu để yêu cầu khắc phục các thiếu sót trên, đưa tàu vào khu neo đậu an toàn, nhưng công ty Vận Tải Viễn Dương Vinashin không thực hiện các yêu cầu trên.”


Vẫn theo báo Lao Ðộng, sau cơn bão số 8 (Sơn Tinh), tàu New Sun bị sóng đánh, trôi dạt và bị cạn tại vị trí cách đèn biển Ba Lăng 0.5 hải lý. Vị trí tàu bị cạn là nơi rất nguy hiểm vì là khu vực giao nhau giữa luồng hàng hải và đường thủy nội địa giữa Hải Phòng-Quảng Ninh, nơi có rất nhiều tàu thuyền lưu thông.


Tàu New Sun vốn trước đó có tên là Vinashin Sun từng chạy các tuyến vận tải tới Thượng Hải, và nhiều nơi khác.


Hồi đầu năm 2004, báo chí Việt Nam ca ngợi rằng tàu Vinashin Sun đã hoàn tất chuyến hải hành “vòng quanh thế giới” với tư cách là “tàu đầu tiên có sức chở lớn nhất do Việt Nam đóng tại Bạch Ðằng, Hải Phòng” và cập cảng Sài Gòn. Hành trình “lập kỷ lục” và chở hơn 11 nghìn tấn gạo tới cho Cuba năm đó được ngợi ca là “chuyến đi lịch sử của ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam”.


Vụ tàu New Sun bị bỏ thành tàu ma được cho là hậu quả từ vụ đổ vỡ của tập đoàn Vinashin sau các bê bối về tham nhũng, nợ nần hàng tỉ đô la khiến chủ tịch tập đoàn này cùng nhiều quan chức vào tù, cũng như sự mất uy tín trầm trọng của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Việt Nam.

Dân Mỹ chăm chỉ đi bầu chọn tổng thống

 


 




GRAND JUNCTION, IA – Cụ bà Frances Schmidt, 91 tuổi, dân cư Greene County cẩn thận điền lá phiếu vào mùa bầu cử năm 2008 tại Grand Junction, tiểu bang Iowa. Hôm nay, dân chúng Hoa Kỳ trên toàn quốc đến nô nức đến phòng phiếu để chọn vị tổng thống cho nhiệm kỳ tới, nhưng những lá phiếu của cử tri Iowa nắm phần quan trọng vì đây là một tiểu bang tranh chấp khá gay go. (Hình: Steve Pope/Getty Images)

Little Saigon trước ngày bầu cử

Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV)“Tự tin,” “lạc quan”, và “hy vọng” thắng cử là tâm trạng của nhiều ứng cử viên gốc Việt trong lần bầu cử này.







Những cử tri đi bầu sớm vào ngày 5 tháng 11 tại Sở Ghi Danh Cử Tri Quận Cam, đặt tại số 1300 South Grand Avenue, Building C, Santa Ana, CA 92705. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Và “phải đi bầu,” “thích đi bầu” là ý kiến của nhiều cử tri gốc Việt bên cạnh những cử tri “không đi bầu vì bận đi làm” hay “không đi bầu vì không biết bỏ phiếu cho ai hết”.


Ðó là một số ghi nhận của phóng viên Người Việt đối với cử tri Little Saigon và các ứng cử viên gốc Việt trước giờ G.


 


Ứng cử viên gốc Việt trước giờ G


 


Bằng giọng nói tự tin và nụ cười sảng khoái, Trí Tạ, đương kiêm phó thị trưởng thành phố Westminster, người đang tranh cử chức thị trưởng thành phố Westminster lần này, cho biết tâm trạng hiện tại của mình là “rất vui và sảng khoái vì cuộc bầu cử đã đến ngày chót để cử tri quyết định người đại diện cho mình trong thành phố Westminster với chức vụ thị trưởng”.


“Thật khó mà trả lời chính xác phần trăm tôi sẽ thắng nhưng tôi rất tin vào sự thương yêu, ủng hộ của các cử tri và quý đồng hương đã dành cho tôi trong thời gian qua. Ðiều đó cho tôi hy vọng rất cao,” ứng cử viên thị trưởng Trí Tạ nói tiếp.







Bỏ phiếu bầu khiếm diện ngay tại Sở Ghi Danh Cử Tri Quận Cam ở thành phố Santa Ana. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Cùng tranh chức thị trưởng thành phố Westminster là ứng cử viên Hà Mạch.


“Tôi tin tưởng vào lá phiếu của cử tri. Mặc dù tôi đưa ra những hành vi không tốt của các ứng cử viên khác hơi trễ, khi mà nhiều cử tri đã bầu khiếm diện xong, nhưng tôi tin vào sự phán quyết sáng suốt của cử tri. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.” Ông Hà Mạch nêu tâm tình của mình.


Trong ngày bầu cử, 6 tháng 11, ông Hà Mạch cho biết ông sẽ “tiếp tục gọi điện thoại mời các cử tri đi bầu, và sẵn sàng đưa người đến chở những người không có phương tiện di chuyển đi đến các phòng bỏ phiếu”.


“Do qui định các ứng cử viên phải ở cách xa các phòng phiếu 100 feet nên đích thân tôi không thể chở mọi người đi bỏ phiếu được, chỉ có thể nhờ người khác chở thay thôi.” Ông Hà Mạch cho biết thêm.


Cũng là người ra tranh cử tại thành phố Wesmtinster là Nghị Viên Tyler Diệp.


Ðây là lần thứ hai Tyler tranh cử chức nghị viên thành phố. Anh chia sẻ, “Lần nào cũng vậy, khi ra tranh cử cho chức mới hay tái tranh cử cho chức cũ, tâm trạng tôi đều thấy hơi nôn nao, nhất là khi cận kề ngày bầu cử. Tôi nghĩ là ai cũng nôn nao chờ đợi kết quả ngày mai và hy vọng mùa bầu cử qua đi để tập trung vào công việc của mình là quản trị thành phố.”







Bầu sớm tại Sở Ghi Danh Cử Tri Quận Cam. Theo ông Neal Kelly, giám đốc Sở Ghi Danh Cử Tri Quận Cam Tính đến ngày Thứ Hai, 5 tháng 11, có khoảng 5,000 cử tri đã đi bầu sớm, con số này không đông như năm 2008. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Nghị Viên Tyler Diệp cũng tỏ ra “rất lạc quan” với kết quả sắp tới, “Tôi rất lạc quan với kết quả ngày mai vì sau 4 năm làm việc, mình tin tưởng những chuyện mình làm là những chuyện tốt và cử tri có thể đánh giá được sự thành công của những chuyện đó. Chính vì vậy nên tôi lạc quan hy vọng là cử tri sẽ tái tính nhiệm cho tôi một lần nữa.”


Là một trong ba ứng cử viên gốc Việt tham gia tranh cử chức nghị viên thành phố Garden Grove lần này, ông Phát Bùi khẳng định, “Mặc dù đây là lần đầu tranh cử chức vụ nghị viên thành phố nhưng tôi rất quen thuộc với vấn đề tranh cử, thành ra không có gì là ngạc nhiên, hồi hộp hết.”


“Cũng như mọi cuộc tranh cử khác, ứng cử viên phải cùng với ban tranh cử làm việc rất năng nổ để có thể làm tăng thêm phần trăm thắng. Hiện giờ, tôi vẫn tiếp tục làm việc và đi bộ thường xuyên để có thể gặp được nhiều cử tri càng tốt vào giờ phút chót.” Ông Phát cho biết.


Ðánh giá về khả năng thắng của mình, ứng cử viên Phát Bùi nói, “Dựa vào những tin tức mình có được khi đi tiếp xúc với các cử tri thì tôi thấy phần trăm thắng của tôi rất cao, nhưng dĩ nhiên đó không phải là một bản thăm dò thống kê chính thức nên tôi không cho rằng mình chắc chắn thắng mà mình vẫn có thể thua nếu mình không tiếp tục làm việc. Trong quan niệm đó, nên tôi vẫn cố gắng hết sức.”


 


Cử tri Little Saigon trước ngày bầu cử


 


Trưa ngày Thứ Hai, 5 tháng 11, tại Sở Ghi Danh Cử Tri Quận Cam, đặt tại số 1300 South Grand Avenue, Building C, Santa Ana, CA 92705, có rất đông cử tri thuộc nhiều sắc tộc đến đi bầu. Có người đến bỏ phiếu tại chỗ. Có người đến chỉ để “drop off” các phiếu bầu khiếm diện, vì thời gian gửi đi theo đường bưu điện đã quá hạn.


Tuy vậy, theo ông Neal Kelly, giám đốc Sở Ghi Danh Cử Tri Quận Cam, thì dù “số người đi bầu sớm có đông nhưng không đông như năm 2008”.


“Ðến thời điểm này có khoảng 5,000 cử tri đã đi bầu sớm.” Ông Kelly cho biết.


Cũng tại đây, theo ông Kelly, “Việc đếm phiếu bầu khiếm diện được bắt đầu từ 10 ngày trước. Ðến nay chúng tôi đã nhận được 402,301 phiếu bầu khiếm diện.”


Giám đốc Sở Ghi Danh Cử Tri Quận Cam cho rằng “con số này cao hơn 4 năm trước, nhưng cũng cần lưu ý là số phiếu bầu khiếm diện gửi ra cho cử tri lần này gấp đôi năm 2008”.


Trong vai trò của một cử tri, ông Ngô Văn Quy, cư dân thành phố Garden Grove, một gương mặt khá quen thuộc trong các sinh hoạt cộng đồng, nói một cách hóm hỉnh, “Chỉ có năm 2008 là tôi không đi bầu nên ‘người ta’ thắng.”


Tuy nhiên, một cách nghiêm túc, ông Quy cho rằng, “Mình đi bầu cho xong nhiệm vụ chứ thật ra bầu cử Hoa Kỳ là cuộc bầu cử kỳ quái nhất, bởi họ bầu theo cử tri đoàn, chứ lá phiếu của mình có là gì đâu.”


Chị Hồng Nguyễn, cũng một cử tri thuộc thành phố Garden Grove, làm thu ngân cho một ngôi chợ Việt Nam trong vùng, cho biết đây là lần đầu tiên chị đi bầu cử, sau khi trở thành công dân Hoa Kỳ vào năm 2011, “Thích đi bầu nên mới thi vào quốc tịch chứ!” Chị Hồng nói một cách vui vẻ.


Mặc dù chọn bầu bằng phiếu khiếm diện nhưng chị Hồng lại muốn đích thân ra thùng phiếu nơi văn phòng bầu cử để bỏ thư vì “không muốn lá phiếu của mình bị mất”.


Trả lời câu hỏi “có ủng hộ cho ứng cử viên gốc Việt không?” chị Hồng bảo, “Phải ủng hộ chứ, dù thực ra tôi biết mặt tổng thống chứ có biết mặt các nghị viên địa phương đâu, nhưng làm gì làm người mình cũng phải ủng hộ cho người mình.”


Ngược lại với tâm trạng háo hức được đi bầu của chị Hồng Nguyễn, thì chị Oanh Phan, cư dân Westminster, “không muốn đi bầu vì không có thời gian”.


“Mà có bầu mà chọn sai người thì cũng tức ói máu nên thôi, không đi bầu đâu,” chị Oanh nói chắc nịch.


Chị Oanh Phan cho biết thêm, “Chồng tôi lại rất muốn đi bầu. Ngày mai đi làm ra là ổng đi bầu luôn đó.”


Ông Quý Trần, cử tri thành phố Santa Ana, cho biết ông “bầu bằng thư khiếm diện nhưng ngày mai cũng ra văn phòng bầu cử cho có không khí cho vui, vì mình có thời gian rảnh mà”.


___


Liên lạc tác giả: ngoclan@ngươi-viet.com

Bà Maria Nguyễn Ngọc Trơn

Ông Lê Mộng Ngọ

Ông Nguyễn Văn Mãnh

Bà Nguyễn Thị Hai

Tin mới cập nhật