Bệnh ‘lạ’ thế giới không thiếu ở Việt Nam

VIỆT NAM (NV) – Một phúc trình của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho biết, Việt Nam có đủ các loại bệnh “lạ” xảy ra trên hành tinh và tăng vọt trong thời gian gần đây.










Bệnh “lạ” tay-chân-miệng đang tiếp tục hoành hành tại Việt Nam. (Hình: VietNamNet)


Phúc trình còn liệt kê các loại bệnh “lạ” của thế kỷ gồm bệnh bò điên, HIV/AIDS, cúm H5N1, nhiễm E Coli gây tiêu chảy, sốt xuất huyết, tay-chân-miệng…


Cũng theo WHO, các loại bệnh nói trên gây nguy hiểm cho người dân ở Việt Nam vì số người bị nhiễm và người thiệt mạng tăng vọt.


Phúc trình này còn đề cập đến loại bệnh lạ hiện nay chưa biết được nguyên nhân, được coi là “bệnh viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân” xảy ra hai năm nay tại tỉnh Quảng Ngãi.


Phúc trình được công bố tại cuộc hội nghị của WHO diễn ra ở Hà Nội sáng ngày 24 tháng 9 cho rằng sự xuất hiện các loại bệnh “lạ” nói trên đang là thách thức quan trọng của các nhà khoa học khắp thế giới.


Thuyết trình trước các đại diện ngành y tế toàn cầu, Bộ Trưởng Y Tế Việt Nam Nguyễn Thị Kim Tiến thừa nhận rằng nhiều loại bệnh “cũ” nhưng đã “bị lãng quên” cũng có cơ hoành hành tại Việt Nam như bệnh giun sán, bệnh cùi, kể cả bệnh sởi… Ðó là chưa nói đến các loại bệnh phát sinh từ tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, và cả người lớn tại Việt Nam.


Theo VietNamNet, bệnh “lạ” đáng kể nhất Việt Nam là bệnh “viêm da dày sừng bàn tay, bàn chân” bùng phát tại tỉnh Quảng Ngãi từ hai năm nay. Ít nhất 215 người mắc bệnh “lạ” này, trong đó có 23 người thiệt mạng tại tỉnh Quảng Ngãi.


Bệnh “lạ” này tiếp tục là vấn đề gây hoảng loạn khiến chính quyền huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nghĩ đến phương cách di tản cư dân đến vùng khác để trú ngụ. (PL)

Người Trung Quốc vào Việt Nam bán hàng thối, mua hàng tươi

VIỆT NAM (NV) – Ðà Nẵng gần đây xuất hiện nhiều người Trung Quốc lẫn lộn trong các nhóm thương buôn săn lùng đồ lòng các loại gia súc để chuyển qua bên kia biên giới.










Người Trung Quốc du lịch sang Việt Nam săn lùng lòng heo đưa về nước. (Hình: báo Thanh Niên)


Tin của báo Thanh Niên cho biết có ít nhất 9 người Trung Quốc bị bắt trong khi đang bỏ tiền ra gom mua nửa tấn lòng heo tại các lò giết mổ ở quận Liên Chiểu, Ðà Nẵng. Chín người này trong độ tuổi từ 17 đến 46 tuổi khai đã được cấp thị thực nhập cảnh Việt Nam mới hồi tuần rồi với mục đích du lịch.


Sáng ngày 25 tháng 9 tại đồn công an Ðà Nẵng, những người nói trên thú nhận từ Trung Quốc sang trú ngụ tại một nhà trọ. Ban ngày, họ lùng sục các lò mổ để mua lòng heo, đóng thùng chuyển liền về Trung Quốc, cung cấp cho các nhà hàng, quán ăn… đang khát hàng. Họ cho biết trung bình mỗi tháng có hơn 5 tấn lòng heo từ Ðà Nẵng và các tỉnh phụ cận được mua gom, chuyển đi.


Bị coi là người ngoại quốc nhập cảnh Việt Nam làm việc phi pháp, cả chín người nói trên bị tạm giữ, chờ ngày trục xuất.


Tuy nhiên, theo báo Thanh Niên, có dư luận cho rằng số người Trung Quốc nói trên có thể mua lòng heo tại thành phố Ðà Nẵng cung cấp ngay cho các “đầu mối” tiêu thụ tại Việt Nam nhằm mục đích kiếm lời.


Có người nói rằng người Trung Quốc mua bán nhanh nhạy nên thành công hơn nhiều so với thương nhân Việt Nam tại địa phận Việt Nam.


Trong ba tháng trở lại đây, chính quyền một số địa phương khám phá nhiều chuyến xe chở lòng heo, bò bị thiu ôi lưu thông trên đường. Trong số này có một chiếc xe vận tải chở đến 1.2 tấn lòng heo, bò bị bắt giữ tại tỉnh Nghệ An. Tài xế chiếc xe vận tải khai được thuê chở 24 thùng xốp đựng đầy lòng heo, bò đi từ Bắc Giang đến Sài Gòn không có giấy tờ, cũng không được kiểm dịch của tổ chức thú y địa phương. Người ta nghi số lòng bò heo này được chuyển về Việt Nam từ Trung Quốc vì trên xe còn có nhiều loại pháo do Trung Quốc sản xuất.


Nếu không bị phát giác, số lòng bò, heo đã bốc mùi nói trên lần lượt được dọn lên bàn ăn các quán nhậu, nhà hàng ở Sài Gòn để “phục vụ quý khách.” (PL)

Giá cả tăng vọt chưa từng có ở Việt Nam

HÀ NỘI (NV) – Chưa hết tháng 9, Việt Nam công bố chỉ số giá cả tăng tới 2.2% so với tháng rồi. Theo Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, đây là mức tăng cao nhất từ trước đến nay trong hơn một năm qua.










Giá cả Việt Nam tăng vọt chưa từng có trong lịch sử. (Hình: Báo Lao Ðộng)


Một số chuyên viên kinh tế tại Việt Nam cho rằng việc điều hành giá cả ở Việt Nam đang “có vấn đề.” Nhiều người cho rằng Việt Nam đang đứng trước nguy cơ lạm phát tăng vọt chưa từng có trong lịch sử.


Theo VNExpress, dư luận ồn ào chỉ trích Bộ Công Thương Việt Nam sai lầm khi cho phép tăng mạnh giá xăng dầu trong tháng 9. Giá xăng tăng vọt đồng thời với việc học phí, tăng viện phí… khiến giá hầu hết các sản phẩm khác khác trên thị trường đều dồn dập tăng theo.


Tuy nhiên, VNExpress dẫn lời của một chuyên viên kinh tế ở Việt Nam cho rằng nguyên nhân trực tiếp của tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay là vì nhà nước tung ra khoảng 100 ngàn tỉ đồng, tương đương với 5 tỉ đô la ra thị trường để chi tiêu trong mấy tháng qua. Ông này cũng cho rằng tỉ lệ lạm phát năm 2012 có thể lên tới 10%.


Nhiều người còn đề nghị nhà nước Việt Nam áp dụng những biện pháp chống “sốc” vì hậu quả của tình trạng tăng vọt giá cả. Không cần nhìn đâu xa để nhận biết hậu quả của một nền kinh tế bất ổn, nạn trộm cướp tràn lan, dã man đến mức khó thể chấp nhận đang đặt xã hội Việt Nam trong tình thế hỗn loạn chưa từng có.


Báo Tiền Phong trích dẫn tuyên bố của phó giám đốc Trung tâm Thông tin kỹ nghệ và Thương mại thuộc Bộ Công Thương Việt Nam, Lê Quốc Phương, thừa nhận Việt Nam đang đứng trước nguy cơ lạm phát trầm trọng. Tỉ lệ chỉ số giá trong tháng 9 tăng vọt, bằng 5 tháng trước đó cộng lại là một điều “bất thường,” theo ông Phương.


Còn ông Vũ Ðình Ánh của Viện Nghiên Cứu Khoa Học Thị Trường thuộc Bộ Tài Chính Việt Nam thì đó là mức tăng giá đáng lo vì “chưa năm nào tăng cao như thế.”










Biểu đồ giá cả ở Việt Nam từ đầu năm đến nay. (Hình: Báo Lao Ðộng)


Cũng theo VNExpress, giới nội trợ ở Hà Nội và Sài Gòn bác bỏ nhận định của Tổng Cục Thống Kê cho rằng tỉ lệ tăng giá các loại thực phẩm, dịch vụ ăn uống là “không đáng kể,” khoảng 0.08%. Có bà còn kêu lên rằng đó là những con số thống kê “láo khoét.”


Bà Nguyễn Hoàng Giang, cư dân quận Thanh Xuân, Hà Nội nói rằng giá cả các loại hàng hóa ở chợ tăng đến chóng mặt. Bà cũng nói, cầm “100,000 đồng, tương đương 5 đô la, không biết mua gì cho hai bữa ăn một ngày” mặc dù đó là 5% lợi tức của bà. Bà tâm sự, để mua được giá “nới” hơn, chỉ còn cách phải “lội” đến các chợ đầu mối từ lúc 5-6 giờ sáng để mua được một ít rau và thịt. (PL)

Cơn sóng đòi tự do dân chủ

 


Ngô Nhân Dụng


 


Lịch sử nền tư pháp Việt Nam sẽ ghi tên cô Tạ Phong Tần, anh Nguyễn Văn Hải, tức Ðiếu Cày, và anh Phan Thanh Hải, như những nạn nhân tiêu biểu của tình trạng tòa án làm nô lệ cho chính trị. Ðặc biệt, ở đây là chính trị thuộc cấp độ thấp nhất.


Trong phiên tòa diễn ra chỉ có vài giờ trong buổi sáng Thứ Hai ngày 24 tháng Chín, tòa án xử ông Nguyễn Văn Hải 12 năm tù, cô Tạ Phong Tần 10 năm tù và ông Phan Thanh Hải bốn năm tù. Cả ba người còn sẽ tiếp tục bị quản chế với thời hạn lần lượt năm năm, ba năm và ba năm.


Luật sư của ông Ðiếu Cày vừa nói rằng chính quyền không đưa ra được chứng cứ nào trong phiên xử để kết tội ba blogger này về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước;” tòa không cho ông Nguyễn Văn Hải chất vấn những người làm chứng; và cũng không cho luật sư tranh luận với phía công tố là Viện Kiểm Sát.


Trong bản lên tiếng đòi trả tự do cho ba nhà báo mạng (blogger), bà Catherine Ashton, đại diện của Liên Hiệp Châu Âu, nhấn mạnh là những bản án tù từ bốn đến 12 năm là quá nặng nề đối với các ông Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và cô Tạ Phong Tần.


Ðây cũng là nhận xét chung của những người từng theo dõi các cuộc tranh đấu cho dân chủ tự do ở Việt Nam. Ba nhân vật trên chưa bao giờ đòi lật đổ chế độ cộng sản. Họ cũng không tham dự một vụ bạo động nào. Tất cả chỉ lên tiếng nhắc nhở đồng bào phải bảo vệ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; và tham dự các cuộc biểu tình với mục đích đó. Ông Phan Thanh Hải từng chủ trương trang mạng (blog) AnhBaSaigon; cô Tạ Phong Tần, vốn là một sĩ quan công an, đã lập ra blog Công Lý và Sự Thật; ông Nguyễn Văn Hải đã nổi danh với blog Ðiếu Cày. Trong tháng trước, thân mẫu của cô Tạ Phong Tần, ở Bạc Liêu, đã tự thiêu phản đối công an dọa nạt, sách nhiễu gia đình bà. Công an đã ép bà và các con phải kết tội cô con gái đang bị tù; nhưng cả gia đình từ chối nên họ bị dọa sẽ mất kế sinh nhai và sẽ bị đuổi đi nơi khác sống. Việc tự thiêu của bà Ðặng Thị Kim Liêng là hành động tuyệt vọng của một người dân Việt Nam bị đẩy tới bước đường cùng, không khác gì việc anh Ðoàn Văn Vươn dùng chất nổ chống cự bọn tham nhũng cướp đất của anh ở Hải Phòng.


Tại sao Ðảng Cộng Sản Việt Nam lại kết án ba blogger nặng hơn hẳn các nhà tranh đấu dân chủ đã bị đưa ra tòa trước đây? Những bản án họ đã dành cho Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Cù Huy Hà Vũ, ông Trần Huỳnh Duy Thức, và các thành viên những Ðảng Thăng Tiến, Ðảng Dân Chủ Nhân Dân, Ðảng Việt Tân, cùng các đảng và nhóm khác không lâu tới 10 và 12 năm như vậy. So sánh với những hành động của các nhà tranh đấu dân chủ trên thì ba nhà báo mạng Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải đáng lẽ chỉ bị kết án hai, ba năm tù vì hành động của họ không chống đối chính quyền cộng sản hoặc có ảnh hưởng mạnh hơn.


Tất nhiên, lý do duy nhất là tòa án chịu áp lực chính trị của đảng cộng sản. Nhưng lý do chính trị nào khiến đảng cộng sản quyết định như thế? Ai cũng nghĩ đến sức ép của sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội. Ba nhà báo tự do không đòi cải tổ chính trị ở Việt Nam, cũng không kêu gọi lật đổ chế độ cộng sản; nhưng họ đã chống chính sách bành trướng của Trung Cộng. Họ đều nhắm vào việc Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974, đánh Trường Sa năm 1988; và kêu gọi mọi người Việt Nam đòi lại chủ quyền dân tộc. Ai cũng còn nhớ hình ảnh Ðiếu Cầy, Tạ Phong Tần trong những cuộc biểu tình đòi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.


Nhưng liệu Bắc Kinh có cần tạo áp lực trên Cộng Sản Việt Nam về những chuyện như xử án ba nhà báo hay không? Có thể họ không cần, và chưa chắc đã muốn. Mục tiêu cuối cùng của họ là làm sao đảng Cộng Sản Việt Nam phải ép cả nước phải im lặng chịu đựng mối nhục mất đất. Họ có những khí cụ mạnh hơn để thực hiện mục tiêu đó, và đã đạt được nhiều rồi. Bản án quá nặng cho ba nhà báo tự do sẽ chỉ gây cho nỗi oán hận của người Việt thêm nặng nề, bất lợi cho Bắc Kinh. Ba nhà báo không tác động dân chúng mạnh bằng những nhà trí thức và thanh niên đã tổ chức các cuộc biểu tình ở Hà Nội trước sứ quán Trung Quốc.


Một lý do khác được giải thích là những bản án nặng này cốt nhắm vào dư luận của đồng bào trong và ngoài nước, cùng chính phủ các nước Tây phương. Họ muốn chứng tỏ rằng các lời lên tiếng đòi trả tự do cho ba nhà báo và kết tội cộng sản vi phạm nhân quyền chỉ gây tác dụng ngược, khiến cho ba nhà báo tự do phải chịu những bản án nặng nề. Ðây có thể là một thông điệp, báo tin cho các chính phủ khác và người Việt trong và ngoài nước từ nay hãy giảm bớt các lời nói và hành động kết tội họ; nếu không thì chính những người được bênh vực sẽ lãnh hậu quả.


Nhưng lối giải thích này khó đứng vững. Dư luận lên án chính quyền cộng sản về tất cả những vụ vi phạm nhân quyền, không riêng đối với ba nhà báo tự do này. Ông Obama hay bà Clinton lên tiếng đòi trả tự do cho ông Ðiếu Cầy, cô Tạ Phong Tần, vì đó là việc họ phải làm, dù đó là người Việt Nam hay người Congo. Lên án chính sách vi phạm quyền làm người vì nguyên tắc; không ai có thể thể giảm bớt hành động chống đàn áp chỉ để mua sự an toàn cho các nạn nhân. Chính những người can đảm đứng lên tranh đấu như Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, hoặc trước đó là Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Ðịnh, Cù Huy Hà Vũ, vân vân, họ cũng chỉ làm bổn phận đối với đất nước. Họ hãnh diện và sẵn sàng chấp nhận hậu quả. Không ai trong số những vị trên lại đánh đổi lấy sự an thân của mình, muốn thế giới bên ngoài giảm áp lực buộc Cộng Sản Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền.


Cho nên, cuối cùng chúng ta chỉ thấy một thứ ảnh hưởng chính trị trên người xử án ở Sài Gòn trong bản án nặng nề này là cuộc tranh giành quyền lực ngay trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam.


Như chúng ta đều biết, những tay đầu sỏ trong chế độ đang công khai chống phá lẫn nhau. Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang đang tìm cách giảm bớt quyền hành của Nguyễn Tấn Dũng. Họ chống nhau bằng các hành động và lời nói, một cách công khai hoặc dùng những thủ đoạn ngấm ngầm. Bản án dành cho ba nhà báo tự do không phải do những cấp thừa hành quyết định. Nếu cấp thừa hành quyết định thì chắc chắn họ sẽ “theo lệ cũ,” ra lệnh cho tòa án phạt tù ba năm hoặc năm năm. Khi tăng số năm tù lên tới 10 hay 12 năm, những người phụ trách giật dây tòa án sẽ phải xin chỉ thị riêng. Chỉ thị riêng có thể do một trong những người cấp gần nhất với Bộ Chính Trị đưa ra. Trong lúc ba tay đầu sỏ Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang đang tìm các kẽ hở của nhau để tấn công thì cả ba người hay đám tay chân của họ thấy phải tỏ ra cứng rắn hơn, để chứng tỏ họ vẫn đặt quyền lợi của đảng cộng sản lên trên hết. Trong cuộc tranh giành quyền lực của mấy người lãnh đạo cộng sản, các nhà báo tự do đã trở thành nạn nhân. Nhưng các bản án dành cho họ đã làm cho dư luận thế giới khinh thường cả nước Việt Nam.


Bà Catherine Ashton đã lên tiếng yêu cầu chính quyền Hà Nội trả tự do ngay tức khắc cho ba nhà tự do báo trên mạng. Bà nhắc nhở chính quyền cộng sản là tất cả mọi con người phải có quyền tự do phát biểu. Cộng Sản Việt Nam phải chứng tỏ họ tuân thủ những công ước quốc tế mà họ đã cam kết thi hành như bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, và Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị.


Ðại Sứ Quán Mỹ tại Hà Nội đã lên tiếng yêu cầu “Chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho Ðiếu Cày và các blogger Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần.” Lấy trường hợp Ðiếu Cày làm tiêu biểu, họ nhấn mạnh, “ông bày tỏ quan điểm chính trị của mình một cách ôn hòa,” là một quyền tự nhiên của mọi con người, được ghi rõ trong những bản văn mà chính quyền Hà Nội đã ký kết tôn trọng và bảo đảm thi hành. Thông cáo của sứ quán Mỹ phê phán phiên tòa và bản án đã vi phạm hai quyền tự do căn bản ghi trong công ước quốc tế, là quyền tự do ngôn luận và quyền được xét xử theo đúng thủ tục pháp lý của loài người.


Những lời nhắc nhở trên cho thấy cả thế giới kết án hành động đàn áp tự do ngôn luận của chính quyền cộng sản ở nước ta. Hành động biến tòa án thành một công cụ chính trị, những bản án bất công đang làm nhục cả dân tộc trước mặt thế giới văn minh.


Trong một bài thơ gửi ra ngoài trước phiên tòa, nhà báo Ðiếu Cầy viết:


Sóng biển trào dâng đòi tự do dân chủ,


Sóng cuốn phăng đi thành lũy lũ độc tài.


Ðó là những lời tiên đoán. Một chế độ khinh thường dân sẽ không thể nào tồn tại được. Cơn sóng đòi tự do dân chủ sẽ cuốn phăng đi thành lũy cuối cùng của bọn độc tài.

Ông Đồng Sỹ Chương

Mẫu hạm của Trung Quốc chỉ là ‘cọp giấy’

 


Triệu Phong/Người Việt (tổng hợp)


 


BẮC KINH –Chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc vừa được hạ thủy hôm Thứ Ba. Lễ hạ thủy có sự tham dự của các lãnh đạo nhà nước như Hồ Cẩm Ðào và Ôn Gia Bảo, theo báo The New York Times.









Thủy thủ Hải Quân Trung Quốc dàn chào trên mẫu hạm Liêu Ninh trong buổi lễ hạ thủy tại cảng Ðại Liên vào hôm Thứ Ba, 25 Tháng Chín. (Hình: AP/Zha Chunming)


Trước sự kiện này, Trung Quốc muốn tỏ cho thấy quân đội của họ tăng cường thêm sức mạnh, trong khi đang có sự leo thang căng thẳng giữa Bắc Kinh với các nước láng giềng về vấn đề lãnh hải.


Mặc dù quảng cáo rầm rộ về ngày hạ thủy và đánh giá cao về tầm quan trọng của chiếc mẫu hạm, con tàu vẫn chỉ được dùng cho việc huấn luyện và thử nghiệm. Theo các chuyên gia về vấn đề Trung Quốc và quân sự, số “16” sơn trước mạn tàu cho thấy hoạt động của nó chỉ trong giới hạn của việc tập luyện. Trung Quốc chưa có máy bay đủ khả năng đáp xuống một hàng không mẫu hạm và mãi đến nay họ chỉ mới tập đáp xuống tàu ở mô hình trên mặt đất.


Dù sao, việc ra mắt chiếc Liêu Ninh, tên của hàng không mẫu hạm này, ở cảng Ðại Liên, phía Ðông Bắc Trung Quốc, là một cơ hội để Trung Quốc kích động lòng ái quốc, vốn đang lên cơn sốt trong 10 ngày qua về vụ tranh chấp lãnh hải giữa họ với Nhật tại đảo Senkaku/Ðiếu Ngư ở biển Hoa Ðông.


Bộ Quốc Phòng Trung Quốc tuyên bố rằng chiếc mẫu hạm này “làm tăng thêm sức mạnh của Hải Quân Trung Quốc,” đồng thời giúp “Trung Quốc bảo vệ chủ quyền quốc gia một cách hữu hiệu hơn.”


Ðại Hội Ðảng CS Trung Quốc tổ chức vào mỗi thập niên, dự trù được tổ chức vào tháng tới để chuyển giao quyền lãnh đạo, và việc trình làng công khai chiếc hàng không mẫu hạm, dường như là một phần nỗ lực nhằm củng cố sự đoàn kết quốc gia, trước khi bắt đầu đại hội.


Về mặt quốc tế, việc ra mắt công khai con tàu có vẻ như để tỏ dấu hiệu với các nước nhỏ ở trong khu vực biển Ðông, gồm Philippines, một đồng minh của Mỹ, và Việt Nam, thấy rằng Trung Quốc có dồi dào nguồn sức mạnh để triển khai.


Trong khi đó, các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đánh giá thấp tầm quan trọng của việc hạ thủy chiếc Liêu Ninh. Một số viên chức Hải Quân Hoa Kỳ còn nói rằng không những thế mà họ còn khuyến khích Trung Quốc cứ tiến tới trong việc đóng riêng hàng không mẫu hạm của mình cùng các chiến thuyền hộ tống, vì làm như vậy họ sẽ tiêu phí hết tiền của.


Ông You Ji, một khách mời khảo cứu tại đại học National University of Singapore, phát biểu trong cuộc phỏng vấn: “Thực tế là chiếc mẫu hạm này hoàn toàn vô dụng đối với Hải Quân Trung Quốc. Nếu nó được dùng để đối đầu với Hoa Kỳ thì nó sẽ sớm bị tiêu diệt. Trong khi nếu đem ra để chống lại các nước láng giềng thì đó là dấu hiệu ‘lớn ăn hiếp nhỏ.’”


Ông You tiếp rằng, Việt Nam, một nước láng giềng mà Trung Quốc đã nhiều lần có chiến tranh, có các chiến đấu cơ Sukhoi 30 do Nga chế tạo. Những chiến đấu cơ này sẽ là mối đe dọa đối với chiếc hàng không mẫu hạm. Ông nhận định: “Ở biển Ðông, một khi mà chiếc mẫu hạm Liêu Ninh bị Việt Nam gây hư hại thì sự mất mặt của Trung Quốc quả không phải nhỏ. Thật không đáng chút nào.”


Ông You cho biết, mãi tới nay, phi công Trung Quốc chỉ mới thực tập đáp xuống mẫu hạm qua những đường băng bê tông trên mặt đất, bằng những chiếc J-8 do Trung Quốc chế tạo, mô phỏng theo chiếc Mig-23 do Liên Xô sản xuất cách đây 23 năm. Theo ông You, phi công Trung Quốc chưa có khả năng đáp xuống một hàng không mẫu hạm đang di chuyển vì họ chưa có được loại phi cơ thích ứng.


Khi được hỏi liệu Trung Quốc có tiến đến việc tự đóng lấy một chiếc và liệu họ có chế được phi cơ đáp được lên đó hay không, ông đáp: “Muốn đóng được một con tàu như vậy cần phải qua một quá trình dài, hết sức dài.”


Ngược lại, với suy nghĩ hoài nghi như trên, ông Li Jie, một nhà nghiên cứu tại Viện Khảo Cứu Hải Quân Trung Quốc, phát biểu trong cuộc phỏng vấn của báo Nhân Dân rằng chiếc mẫu hạm này làm thay đổi nếp suy nghĩ truyền thống của Hải Quân Trung Quốc, đồng thời mang lại những thay đổi phẩm chất về hoạt động cũng như cơ cấu của quân chủng này.


Mặc dù Trung Quốc không minh bạch về chi tiêu quốc phòng, các chuyên gia quân sự ngoại quốc nói rằng hải quân của Trung Quốc không được cấp nhiều ngân khoản bằng lục quân và không quân. (TP)

Cụ QP Vũ Bá Dương

Cụ QP Vũ Bá Dương

Bà QP Phạm Hữu Vĩnh

Giáo Sư Trịnh Quốc Thông

Giáo Sư Trịnh Quốc Thông

Ông Đồng Sỹ Chương

Thơ Thi-San

 


 Vào Thu lưu bút


 


Lật trang lưu bút làm thơ


Này đây hoa bướm trải tờ giấy đôi


Ừ ta vẫn chỉ một thời


Thoáng đâu phấn trắng bạc trời tóc xanh


 


Quê hương chìm sóng lênh đênh


Nhìn bày chim nhỏ chuyền cành tạm dung


Sáng thu sương lạnh mịt mùng


Tựu trường lan cúc ngập ngừng hàn huyên


 


Ðông, xuân, hè đến bên thềm


Cỏ thơm gót nhỏ, nắng mềm tóc mây


Ve đâu sầu khúc chia tay


Ngàn năm mây trắng, còn ai lầu vàng.


__________


 


Bên rừng ẩn lan


 


Qua đây chiều đổ bên tường


Hắt hiu ngọn cỏ cây vương nắng hè


Mới niềm hy vọng đường ve


Sầu đông quạnh quẽ vương thề tóc bay


 


Ngày đông rét ngọt lòng tay


Bên rừng lan ẩn giữa trời nhạc vui


Ðợi nhau không thể hẹn lời


Trộm em sợi tóc kết vùi cơn mơ


 


Ðêm về bật khóc thành thơ


Ghép vàng trang sách chẳng chờ hồi âm


Nghe hoang vắng lặng buồng tim


Nghe trăng giá buốt nghe thầm mênh mang


 


Thính phòng u uẩn khuôn trăng


Tóc thề nghiêng mái khói sương cuối dòng.

Thơ Phượng Các Vũ Thị Mưu

 


Tháng Ngày Xưa


 


Chiều đông về làm bao gợi nhớ


Khoảng thời gian cắt nát bên đường


Quay lưng đi mà lòng tắt ngấm


Cả khung trời rêu cũ hắt hiu.


 


Ném nụ hôn thời gian đơn lẻ


Dấu mòn xưa quen biết đi về


Hơi ấm nồng còn hương bám víu


Cả một thời âu yếm yêu đương


 


Thương cho ai để khô dòng lệ


Tiếc cho ai lạc lối quay về


Nửa chiều tà tan hoài mắt nhớ


Chuông giáo đường gầy guộc tiễn đưa


 


Cuộc tình như cầu xưa đã gẫy


Ðứng bên này mãi ngóng bên kia


Làm sao kêu cho người quay lại


Một cái nhìn đủ ấm hồn ai


 


Thơ ngây nào giờ đong lại đếm


Trách gì thủa hoang phí tình yêu


Buồn tênh hênh bóng ngả bên chiều


Còn ai nữa mà chờ với đợi.


______


 


Quê Cũ


 


Quán vắng bên đường mờ sương khói


Một phút dừng chân ngắm quê xa


Bao năm cách xứ buồn ly biệt


Thấp thoáng hương nhà dạ xót xa


 


Bãi gió sông xưa giờ vắng lặng


Ðâu rồi bờ đá mái tóc nghiêng


Còn không đường cũ hồn thu nhỏ


Nhìn cánh diều bay mãi ước mơ


 


Mộng ước ngày xưa đời xô ngã


Cả trái tim hồng cũng nát tan


Chiều nay về cả màu hoang tím


Nhớ cánh hoa rừng hương ngát bay.

California, mùa Thu

 


* Nguyễn Ðông Giang


 


Cali mưa nắng thất thường


Người ta vẫn ở, vẫn thương xứ nầy


Thu về, theo lá vàng bay


Cali nắng vẫn, ấm ngày lạnh đêm


 


Tôi đến đây, thân rách mền


Có thêm ấm lạnh, có thêm bụi đời


Thu về lá rụng, vàng rơi


Gió thu nhẹ nhắn, những lời tình yêu


 


Em, Mỹ trắng, đẹp, mỹ miều


Nhìn em thì dễ, còn yêu khó chừng!


Em ơi! tôi là người dưng


Người dưng ở Mỹ, nhớ chừng Việt Nam


 


Cali, tháng 11, 2010


(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Thơ Lý Kiến Trúc

 


Thơ Lý Kiến Trúc


 


Zen 20


 


Bỏ đôi dép đỡ đần vào bãi cỏ


Về với chân trần với đất đi em


Áo bà ba gợn sóng lũy tre xanh


Hương đồng nội tô màu chân kỳ diệu.


 


Kìa đàn gà cục tác chui bờ giậu


Tan chợ chiều vai quẩy gánh long đong


Này bờ ao, này mái giạ, này chuồng trâu


Này bếp lửa – đàn con – bát cơm rau vội vã.


 


Chùa ở đâu ngân dài chuông đến lạ


Áo nâu sồng nở rộ gánh hàng hoa


Trèo lên non lần xuống biển băng hà


Trầm diện bích tìm cho ra diệu ảo.


 


Chân đất ơi!


Ðón tôi về giữa thinh không tối mật


Tôi sẽ đến, và sẽ đi bình thản


Hôn chân người, y hệt đất hôn chân.


(riêng gởi tặng tập thơ The Love of Centuries)


__________


 


Zen 22


 


Khoác vội chiếc áo lính cũ mèm


áo ngày xưa tôi thường phủ lên vai em


lính quýnh


đi lên đi xuống


đầu con dốc này, nhọc nhằn


cuối con dốc nọ, gian nan


rủ em


làm quen phố núi.


 


Dẫn em đi trong chiều nắng nhạt túa qua đồi ngẩn ngơ


hết con đường ta đi không tên mà vẫn thuộc


tận con phố không đèn mà vẫn tưởng chưa khuya.


 


Rốt cuộc


cái buổi ban đầu ngây ngô ấy


gia tài thô sơ chia cho em hơi hám manh áo trận trây-zi


đẫm mồ hôi hành quân xa từng bước: tình tôi.


…….


Giây phút hoàng hôn lặn vội cho e ấp dâng lên


cho áo bụi đời che khuất má hây hây bừng bừng cả thẹn


cho xõa tóc thuyền từ vắt qua đồi ái ân kín đáo


mỗi khi tôi tìm cách xích lại gần em hơn nữa, ngại ngần.


 


“Áo anh nồng mùi thuốc lá”


“Áo anh ấm cả tình em”


“Em ưa giây phút này ư ?”


Giây phút nhẹ như tình yêu hai ta gởi lại bên đường.


…….


Nằm dài bên nhau lau lắt trên sườn đồi nồng nồng gốc cỏ


chúng ta chưa biết nói với nhau những điều chưa bao giờ nghĩ tới


chúng ta yên lặng nghe sóng từ xa đập liên hồi kỳ trận


vẽ trong đáy mắt em màu hè hạt lựu: tim tôi


ghì chặt lưng ong vào lòng ong bướm, mềm: rợn nóng


hơi thở, lần mò, lan truyền thân thể dạt hơi sương.


…….


Em


biêng biếc


lộng gió bốn bề


cỏ run run


và lao chao


“xích lại gần anh tí nữa đi em!”


 


Vứt chiếc áo sang một bên


“Áo anh nồng mùi thuốc lá!”


 


Vứt chiếc áo sang một bên


Giọt sương đêm ướt đẫm áo trây-zi.


 


(trích từ tập thơ “Zen, Tim Cổ Ðại Khắc Thơ Trên Ðá” / chưa xuất bản)

Thơ Lan Ðàm

 


Tháng Chín ở Huntington Beach


 


Và tháng chín, nhớ người, theo lối biển,


Chiều mênh mang, bờ cát sóng đong đưa.


Bầy chim trắng thẩn thơ trên bãi mịn,


Ðếm bóng mình hay tìm dấu chân xưa.


 


Ngày cuối hạ, nắng ngập ngừng phố cũ,


Hàng cây buồn, vòm lá gió xôn xao.


Có tiếng nói vang âm từ quá khứ,


Thoáng ngậm ngùi, dĩ vãng cũng hư hao.


 


Và tháng chín, rồi đêm về rất muộn,


Thèm chút mưa cho kỷ niệm vơi đầy.


Ly rượu đỏ, quán khuya, không hò hẹn,


Biển thầm thì, trăng lạnh, trĩu sầu mây.


(Tháng 9, 2012)


____


 


Buổi trưa ở Lake Mead/Nevada


 


Chờ em ta đứng giữa trời,


Mênh mông núi xám, dốc ngời nắng trưa.


Hồ xanh, bờ đá nghìn xưa,


Có không những dấu chân vừa qua đây.


Gọi em gió động cây gầy,


Thấy trăm năm chẳng thêm đầy trần gian.


Về thôi, cát bãi ngút ngàn,


Hồn ta thiên cổ đã tan chốn này.


____


 


Khi em về


 


Em về, gió ngẩn ngơ theo,


Vườn tôi đầu hạ chợt heo may đầy.


Cuối ngày phố núi giăng mây,


Áo mong manh, dáng buồn gầy bước xiêu.


 


Em về, quạnh vắng thêm chiều,


Tôi ngây ngô đếm trăm điều nhớ quên.


Cồn ngực nhỏ ấm giữa đêm,


Gối chăn thơm, má môi mềm hương đưa…


 


Em về, trăng lạnh song thưa,


Tôi nghêu ngao đợi đời thừa tháng năm.


(Tháng 7, 2012)

Nhớ ngày tựu trường

 


* Thảo Nguyên


 


Các bạn ơi, chớm thu rồi đấy, mùa tựu trường bắt đầu…


Bh (Nguồn: [email protected])


 


Mỗi đời người được cắp sách, có lẽ không ai là không nhớ tới ngày tựu trường. Ở đó, có trái bàng thu rơi bất ngờ làm giật mình con trẻ, có cái nhìn ngơ ngác của đôi mắt trong veo, có cái níu tay mẹ với hai hàng mi ướt nhòe nước mắt…










Em, ngày tựu trường. (Nguồn: Google)


Tất cả đều thân thương, hồn nhiên đến lạ và đã làm điểm tựa cho mỗi người vượt qua bao sóng gió của dâu bể cuộc đời.


“Tôi quên làm sao được buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp. Con đường này tôi đã đi lại nhiều lần nhưng lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học…”


Những câu văn tài hoa ấy của nhà văn Thanh Tịnh không thể nào thiếu được trong mùa tựu trường,đã in dấu trong tâm hồn bao thế hệ học trò.


Chính cảm xúc ngọt ngào thơm ngát từ những ngày thơ dại cắp sách đến trường đã làm dịu đi bao nỗi nhọc nhằn đời thường.


Khi mùa Thu về với lá vàng rơi đầu ngõ, giật mình chợt nhớ da diết một khoảng trời cũ, thấy ấm áp niềm vui thuở học trò. Ðể thấy chùm phượng vĩ đỏ muộn một góc sân trường cứ ngời lên bao điều nuối tiếc, như cháy mãi những điều vấn vương chưa nói hết nỗi niềm thương nhớ.


Nhớ mãi ngày còn nhỏ, sau kỳ nghỉ hè đầy thi vị với quê nhà bát ngát cánh đồng, con diều no gió vi vút trên cao, chỉ còn khoảng vài ngày nữa là đến ngày khai trường, bọn trẻ chúng tôi lúi húi lục tìm những tờ giấy báo cũ để bao sách vở, vẽ nhãn tên đủ màu sắc, dặn mẹ đi chợ mua những viên mực tím be bé về ngâm trong bình mực nhỏ nhắn, thay những ngòi viết lá tre đã hoen gỉ bằng những ngòi bút mới. Rồi còn giục mẹ may cho bộ quần áo mới, tươm tất hơn, chúng tôi háo hức chờ đợi ngày khai trường.


Ðã xa rồi những mùa tựu trường năm cũ, còn đâu quê nghèo với con đường rợp bóng tre mát rượi. Còn đâu những ngày xưa yêu dấu cùng chúng bạn đi trên con đường bùn đất, để nghe trong gió từ đồng xa về hương lúa thơm ngào ngạt…


Hôm nay, tôi đưa con tới trường, như ngày nào mẹ dắt tới lớp. Trong tôi lại tràn ngập cảm xúc lo lắng, bồi hồi. Lo biết bao nhiêu khi con mình lần đầu tiên đến trường, một ngôi trường mới, khang trang và cao rộng hơn với thầy cô, bạn bè mới. Buổi học đầu tiên của con hôm nay, vẫn là nét chữ i tờ ngộ nghĩnh trên trang giấy trắng tinh. Mùa thu, trời trong xanh thoáng đãng, nghe gió thu xào xạc, lá rơi nhè nhẹ cùng những trái bàng chín thơm thơm.


Bồi hồi cùng con bước trên sân trường loang nắng. Thoáng đâu đây nghe thầm thì những câu thơ thuở nào:


“Có cả cuộc đời rồi bỗng nhớ


Những đoạn đường xa lắc tuổi thơ đi


Bàn chân nhỏ len qua bờ ruộng nhỏ…”

Hương Dạ Lan

 


* Ngọc Cường


(Ðể tặng NBÐ)


 


Chiếc phi cơ quân sự C-130 đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất thì đã hơn sáu giờ chiều. Thành vội với lấy xe ôm về nhà. Ra khỏi cổng trại Phi-Long, chiếc xe Honda chạy băng qua Làng Cha Cả rồi rẽ về phía Bộ Tổng Tham Mưu để hướng đi Gia-Ðịnh.



(Nguồn: Google)


Xe đang lao nhanh qua đường phố chớm lên đèn. Ngồi sau, Thành nắm chặt một tay vào yên xe để khỏi ngã, còn tay kia ghì vào ba-lô. Hôm nay là ngày gần Tết. Cảnh tượng hai bên đường nhộn nhịp hơn hẳn cách đây hai tuần khi chàng lên đường ra Ðà-Nẵng trong chuyến công tác cuối năm của đơn vị.


Một cơn gió mát chợt tạt qua mặt, Thành đưa tay lên giữ vành nón lưỡi trai. Chàng ngước nhìn lên cao, bầu trời thấp như chìm xuống mặt đất và phủ lên bởi một màn mây trắng nổi gợn sóng như từng cuốn bông gòn khổng lồ ai treo lơ lửng một cách yên lặng; một sự yên tĩnh khác hẳn với vẻ náo nhiệt ở mặt dưới đất khiến Thành nghĩ miên man… và có cảm giác mơ hồ là đã chứng kiến cái cảnh tượng này một lần rồi… Hình như, vào cái thời xa xôi nào đó, đã rất lâu, khi chàng còn nhỏ, cũng đứng nhìn những đám mây trên một bầu trời giống như chiều nay. Những đám mây cũng đã làm xao xuyến thằng bé mồ côi, mà chiều chiều ra sân sau nhà cô đơn nhìn mây trôi…


Trong cuộc sống, chàng đã từng trải qua cái cảm giác khi đứng trước một cảnh vật, hay khi gặp một người lạ mà tưởng như đã gặp rồi, đã xảy ra cho mình rồi, và nay đã gặp lại… nhưng không nhớ rõ cho lắm… Tất cả chỉ mơ hồ, như chỉ hiện diện trong một cơn mộng, một đoạn phim nào đó mà mình đã có lần được xem qua…


Hai bên đường, cảnh hàng chợ Tết đang được bày ra tấp nập. Xem như ai trên đường cũng có vẻ vội vã. Họ qua lại… và xe cộ chạy ào ào như tâm trạng của Thành lúc này là chỉ muốn mong về nhà cho sớm… Cảnh vật cuối năm, cái không khí tưng bừng của mấy ngày tất niên năm nào đang mang đến cho chàng một cảm giác xao xuyến mông lung , nó đượm cái háo hức… nhưng cũng chớm một thoáng buồn nhẹ nhàng như một cơn gió thoảng qua.


***


Bất giác, Thành mỉm cười khi chợt nghĩ đến Dung, người vợ mới cưới và đang mang bầu của chàng: Dung sẽ ngạc nhiên và vui mừng biết bao khi nhìn thấy chàng bước vào nhà một cách bất ngờ. Ðáng lẽ giờ này chàng phải ở Ðà-Nẵng cho đến qua Tết mới được về.


Hai ngày trước đây, lúc còn ở Ðà-Nẵng, buổi sáng khi vào trình diện bộ Tư-Lệnh Quân Ðoàn I như mọi khi cùng phái đoàn đi công tác thì Trung Tá Ðức, ông trưởng đoàn của chàng, gọi lại và nói: “Tôi biết vợ cậu sắp sanh, thôi đặc biệt lần này tôi cho cậu về Sàigòn ăn Tết. Cậu cầm Sự Vụ Lệnh qua bên Không Quân xin máy bay ngay đi. Qua Tết sẽ đi làm lại.” Thành rất ngạc nghiên và sững sờ và không biết nói gì ngoài mấy lời cám ơn ông. Chàng ngạc nghiên vì ông Ðức nổi tiếng là một đơn vị trưởng khó đến độ đã mang tiếng là hắc ám. Thành tự nhủ: Trong quân đội, có khi làm dưới quyền một ông sếp mang tiếng là khó mà bất ngờ lại được vài đặc ân nho nhỏ chăng?…


Chiếc xe ôm đột nhiên phóng nhanh khi băng qua đường Chi-Lăng. Thành nghĩ thầm, cũng như mình, có lẽ anh tài xe ôm muốn đi gấp để còn về nhà vui Tết với gia đình? Và Thành nhớ lại: Mấy anh lính Không Quân này chắc cũng nghèo và cần kiếm thêm chút tiền nuôi vợ con nên khi phi cơ đáp xuống tới bến, chàng thấy rất nhiều xe ôm đang chờ sẵn ở khu bãi đáp. Cái cảnh này khác hẳn bên phía phi trường dân sự: Phía đó thì có cả dẫy xe hơi bóng loáng đi đón khách hàng sang trọng…


Thành đã từng chạm trán với thực tế đời lính khi vào một hôm, có việc tạt qua trại gia binh để kiếm anh lính dưới quyền, chàng sững sờ khi thấy căn nhà của gia đình anh ta chỉ gồm một cái mái tôn dựa vào bức tường nhà của một sĩ quan cao cấp bao bọc bởi vài tấm ván gỗ. Trong nhà chỉ sơ sài có một cái giừơng liền với cái tủ nhỏ cũ kĩ.


Thành càng thấu hiểu cái nghèo và thiếu thốn của đời lính: Khi lấy vợ, đồng lương trung úy của chàng đã không đủ nuôi gia đình. Rất may cho Thành là sau đó, cha mẹ Dung lại muốn hai đứa về ở chung nhà. Thế là chàng đã về ở nhà Dung. Bạn của Thành đã từng đùa chàng bằng câu: “Kẻ ở rể thì cũng như một con chó nằm gầm trạm mà thôi.”


***


Thành và Dung quen nhau đã hai năm nay. Lần đầu tiên hai đứa gặp nhau là ở nhà cô bạn của Dung, và cũng là em gái một người làm chung đơn vị với Thành. Tình cờ gặp nhau, Thành chú ý ngay đến đôi mắt to và đen của Dung. Ở Dung toát ra một vẻ sinh động và tươi mát của người con gái tràn đầy nhựa sống, như một bông hoa sơ khai chớm nở vào một buổi sáng mùa Xuân.


Sau khi được giới thiệu và có lẽ nhờ có sự khuyến khích ngầm của người bạn của mình, Dung xem ra cũng có cảm tình với Thành… Chàng chưa bao giờ quên được cái buổi gặp gỡ đầu tiên đó, y hệt như câu thơ của một chàng thi sĩ tiền chiến: “Cái thủa ban đầu lưu luyến ấy…” Nhưng chàng nhớ mãi chính là đôi mắt của Dung và cái vẻ ngây thơ của nàng, như một cái gì khó tả được. Phải chăng đó là sự trong sáng của tâm hồn nàng? Với nước da trắng và thân hình tròn trĩnh, Dung vừa mang một vẻ ngây thơ, vừa đồng thời cũng tóat ra một chút xa lạ, như một bức tường vô hình ngăn cách nàng với Thành. Chàng thắc mắc là cái gì đó ở Dung đã thu hút chàng: cái vẻ dịu dàng mà lại bí ẩn như một kho tàng đang được giấu kỹ… Rồi dần dần, chàng đến nhà Dung thường xuyên. Mối tình hai đứa càng ngày càng nảy nở, sâu đậm. Nhưng có điều là cái dáng vẻ bí ẩn của Dung vẫn còn nguyên đó. Thành biết Dung cũng yêu chàng; nhưng đối với Thành, chàng luôn tự hỏi: Như vậy có đúng là tình yêu… hay còn là cái gì khác nữa? Hay tất cả chỉ là do một xúc cảm mãnh liệt tồn tại mãi mãi, khiến Thành cứ phải suy nghĩ mông lung?


Rồi cứ thế… vào nhiều buổi tối, sau bữa cơm chiều, Thành thường hẹn Dung ở ngoài ngõ, bên cạnh một hàng rào dâm bụt. Ngõ hẻm nhà Dung tuy nhỏ mà vắng vẻ và yên tĩnh, dù bên trái ngõ là phía trước nhà nàng nhưng bên phải kia chỉ là những bức tường dâm bụt phía sau của một dãy căn nhà khác. Gặp nhau, Thành nói nhiều hơn, mặc dù cả hai đều đã trao đổi với nhau đủ thứ chuyện. Gần Dung, chàng thấy hứng khởi và nô nức như đứa trẻ được quà. Nhưng cũng có đôi lúc chàng cảm thấy bức rức vì một chuyện không đâu. Nhiều đêm, khi đã khuya, chỉ còn hai đứa với nhau trong bóng tối, bên hàng rào dâm bụt, Thành luôn thấy hớn hở trong lòng, ước gì trên thế gian này chỉ còn có hai đứa, chẳng còn chiến tranh, không còn giàu nghèo hay đau khổ gì nữa… Có một đêm, tự nhiên hương thơm của hoa dạ lan ở đâu đó lan tỏa ra dịu dàng, ngạt ngào. Thành có cảm tưởng như mùi thơm ấy từ từ quyện lấy cả thân thể chàng và đưa chàng vào một cõi mơ hồ thần tiên nào đó…


Có thể, Thành đã yêu cái tình yêu mà mình đã tạo ra, hơn là yêu chính Dung… Và khi mối tình của hai đứa đã không xảy ra giống như chàng đã mường tượng trong tâm trí mình. Thành trở nên ray rứt đến dằn vặt: Hay cũng có thể chính nội tâm của chàng đã đến hồi xung đột gay gắt. giữa tình cảm và lý trí… Một hôm, Thành thấy rằng, nếu mình không có ý định cưới Dung thì có lẽ chàng nên phải ngưng gặp nàng, để cho Dung cơ hội khác… Ðêm đó, Thành lấy can đảm nói với Dung: “Anh thấy là chúng mình gặp nhau mà không đi đến đâu… Hay là anh tạm không đến nhà em một thời gian. Xem sao…” Thanh hồi hộp lén nhìn phản ứng của Dung và thấy nàng vẫn yên lặng, không lộ một vẻ gì buồn bã. Nhưng trong ánh mắt Dung có vẻ gì khác lạ. Thành tự nghĩ: Sao Dung không khóc hay nói một đều gì đấy? Bởi vì nếu Dung thể hiện như vậy thì chàng sẽ đổi ý ngay. Nhưng không, tất cả chỉ là một tình trạng yên lặng kéo dài… Thành đã vội phóng xe về nhà và, không buồn thay quần áo, Thành nằm vật xuống giường mà nghĩ đến Dung. Chàng thấy tim mình đập mạnh: Chàng cảm thấy ray rứt, hồi hộp. Ðầu óc chàng quay cuồng. Và một cảm giác buồn bã xâm chiếm khiến như chàng đang đánh mất đi một vật gì vô cùng quý giá. Hình ảnh đôi mắt của Dung cứ ám ảnh chàng. Rồi Thành tưởng tượng ra đến buổi chiều mai, khi tan sở, Dung sẽ không thấy chàng đón; và rồi sẽ không có ai đưa nàng về nhà, Dung sẽ phải đi bộ một mình. Dung sẽ không còn nụ cười tươi tắn trên môi như hàng ngày khi gặp Thanh đến đón… Ðột nhiên chàng thấy mình đang chảy nước mắt. Và lập tức, Thành ra xe phóng đến nhà Dung… Chỉ ít lâu sau chàng cưới Dung; và nay thì chàng lại sắp có đứa con đầu lòng…


***


Chiếc xe ôm đã vừa chạy qua chợ Bà Chiểu và sắp đến ngõ nhà Dung. Bên cạnh chợ, những dẫy hàng quán Tết đã mở lan ra bên đường và kéo dài đến rạp cinê Cao Ðồng Hưng. Thành thấy lòng mình nôn nao, hồi hộp nghĩ đến Dung. Chàng mường tượng ra cảnh Dung chạy ra ngõ đón mình, và hai đứa ôm nhau say đắm như trong một đoạn trong phim Zhivago hai đứa mới xem…


Khi xe rẽ vào ngõ thì đột nhiên Thành kêu ngừng lại cho chàng xuống. Thành muốn đi bộ một quãng trong hẻm để về nhà. Trời đã nhá nhem tối và quãng đường này vắng vẻ. Khi tới trước cửa nhà, chàng không thấy có ai. Băng qua phòng khách, chàng dừng lại ở cửa bếp và thấy Dung đang ngồi nhặt rau. Nàng vừa ngước nhìn lên. Và trong bầu không gian nhá nhem tối, Thành chỉ thấy rõ đôi mắt đen của Dung. Dừng tay, nàng khẽ reo lên: “Anh đã về.” Một niềm vui nhẹ nhàng len lén xâm chiếm Thành. Và cũng không biết từ đâu đến, một hương thơm nhẹ nhàng của hoa dạ lan đã tỏa rộng trong không gian. Thành nhìn vào đôi mắt to của Dung… Và hình như nàng đang mỉm cười lại với chàng.

Cà phê Sài Gòn… xưa

 


*Lương Thái Sỹ-An Dân


 


“Sài Gòn” một thời để yêu và một thời để nhớ.


Cho những ai đã lớn lên và cắp sách đến trường ở Sài Gòn…


 


Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó. Cà phê loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả?










Một tiệm cà phê ở đại lộ Lê Lợi xưa.


Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút ‘bretain’ vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà.


Ðậm làm sao? Giống như uống coca thì phải có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá cho giống khác người, cho đẳng cấp. Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm nhận lấy.


Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không? Bạn đã có đủ những gì bạn cần, sao lại cứ thích đi uống cà phê tiệm? Tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970.


Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng.


Ðối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Ðình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ðịnh.


Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.


Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công.


Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông,” “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử Ðịa, Bách Khoa, Văn và vân vân…


Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Ðình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur).


Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạn phô bày vừa như thẹn thùng, che giấu.


Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi. Tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt,” một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức) – đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.


Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Ðộ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài.


Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị. Những năm 1980, Cà phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào?


Viện Ðại Học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Ðại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Ðại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng.


Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.


Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến: Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Ða Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.


Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay dắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà.” Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại.


Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ.


Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi – nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.


Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà phê Hạ Trắng, Lệ Ðá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Ðào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Ða La. Ða La là Ðà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Ðà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Ða La mang sắc thái rất… Ða La.


Ngày khai trương, Ða La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Ða La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Ða La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.


Cà phê Hân ở Ðinh Tiên Hoàng, Ða Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si.


Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự-Cường Ðể còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Ða Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.


Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ.


Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Ðịnh. Phá lấu đã có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Ðằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Ðể. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một họa sĩ tên Vị Ý.


Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu.


Cuộc sống SV cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng. Tống Biệt Hành, Ðôi Mắt Người Sơn Tây sống chung với Cô Hái Mơ. Ðại Bác Ru Ðêm sánh vai với Thu Vàng. Ảo Vọng và Thực Tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm chút Tội Ác Hình Phạt, Zara đã nói như thế! Che Guervara, Garcia Lorca.


Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.


(Nguồn: www.khoahocsaigon.com)

Tin mới cập nhật