Trước rằm Vu Lan ở Sài Gòn: Chữ hiếu thời nay!

 


Phùng Thức/Người Việt


 


Người Sài Gòn từ lâu đời chọn Tháng Bảy Âm lịch để ăn chay và đi chùa. Người ta hiểu tập tục này có xuất phát từ tinh thần văn hóa Phật Giáo. Nhưng ngày nay, cái cớ ăn chay đi chùa còn có nguyên nhân xa lánh thế tục hệ lụy.







Cảnh chùa Phật Cô Ðơn ở Sài Gòn trong mùa Vu Lan năm Nhâm Thìn. (Hình: Phùng Thức/Người Việt)


Một nữ diễn viên điện ảnh tên A. ngồi trong bàn nhậu, tán chuyện thời sự cùng dân văn nghệ, cô giữ mình không đụng vào bia và mồi. Khi được hỏi là cô ăn chay để giữ dáng hay tu tâm. Cô cho biết cả hai và nói thêm, “ăn chay còn tốt cho chuyện giữ mồm và giữ cái đầu trước vấn nạn thế sự Việt Nam lúc này”.


Thời trước, chuyện ăn chay đi chùa trong Tháng Bảy thường có giá trị là báo hiếu trong mùa đại lễ Vu Lan.


Vì sao người Sài Gòn lúc này ít ai mở miệng minh định giá trị báo hiếu như người xưa thì chẳng ai biết. Có một anh bạn trẻ làm nghề nhà báo ‘lề phải’ mời chúng tôi ra góc đường uống cà phê để nói chuyện bầu Kiên bị bắt và những ai tiếp theo sẽ bị bắt, rồi anh mời chúng tôi đi ăn trưa ở quán cơm chay cũng chỉ để nói chuyện bầu Kiên sẽ khai gì và lời cung khai sẽ tạo nên biến động gì…


Chúng tôi hỏi. “Thế T. ăn chay cả Tháng Bảy để báo hiếu à?” Anh T. nói. “Tháng cô hồn loạn lắm, bố mẹ em bảo chẳng cần em báo hiếu gì, con nên ăn chay mà giữ lấy thân.”


Với những người trẻ, có lẽ tinh thần ăn chay thanh tâm báo hiếu trong mùa vu lan đã thay đổi. Không thay đổi sao được khi mà chuyện cắt cổ bà để lấy vài phân vàng, mê trai giết mẹ ruột, chém cha vì phê thuốc… nhan nhản trên các trang báo.







Bà Bảy Cỏ Ống ở tuổi 92 vẫn hàng ngày mua bán mưu sinh ở chùa Phật Cô Ðơn. (Hình: Phùng Thức/Người Việt)


Hội chứng ‘cướp, giết, hiếp’ từ gia đình đã trở thành phổ biến thì với một số người trẻ mất căn cơ, hẳn nhiên đạo hiếu nghĩa chỉ còn là chuyện tuồng tích cổ lỗ xỉ.


Dạo một vòng Sài Gòn trong Tháng Bảy ăn chay và mùa đại lễ Vu Lan, sẽ bắt gặp một sự thật hiển nhiên đến mức có nhắm mắt cũng thấy đó là; chưa có thời đại nào mà người già, người tàn tật bán vé số, bán hàng rong nhiều bằng thời đại cộng sản thị trường. Có cảm giác như tất cả những vùng quê nghèo trên khắp đất nước này đang ném người già vào cuộc mưu sinh ở Sài Gòn.


Ở bất cứ quán cà phê, quán ăn, vỉa hè… chỉ cần 5 phút là bạn có thể được ít nhất một người già mời mua vé số hay mời món hàng rong nào đó. Nếu tìm hiểu về số tuổi của các vị cao niên lang thang kiếm sống này, hẳn sẽ được các cụ tăng thêm vài tuổi để động lòng thương cảm, đa số đều ở tuổi ngoài tám mươi. Người không đi được thì ngồi xe lăn, xe tự chế để con cháu kéo đi, có người được cõng, được ẵm. Người chân chất thì mời mua hàng lịch sự, người lanh lợi thì dựng một màn diễn khổ nạn đau lòng để hút khách.


Một bà nội trợ cho biết. “Tôi ở quận 10, trước có thấy hai bà già ăn mặc tươm tất ngồi ôm nhau ở góc đường, nhìn hai cụ neo đơn, nghe gia cảnh hai cụ bị con cháu hất hủi, bất nhẫn nên có giúp đỡ vài lần, sau mới biết rằng hai cụ này giả bộ. Thôi cũng chả trách hai cụ, thời buổi khốn khổ quá mà, con cháu ném hai cụ ra đường thế này chắc cũng gặp cảnh khổ lắm.”


Nói về chuyện người già nghèo khổ mà không nói chuyện người già giàu mà khổ thì cũng thiếu sót. Người già giàu ở đây vốn là những người nghèo cắm dùi ở các vùng đất ngoại thành Sài Gòn trước 1975. Nay làn sóng đô thị hóa ập tới, những thửa đất phèn chua, nước mặn hoang vu bỗng biến thành vàng, vậy là bi kịch cũng ập tới. Chồng già thì biến thành ‘tay chơi’, bồ nhí, bia ôm, cá độ đá banh. Con cái thì xâu xé đòi chia đất, chia tiền…


Có một bà bán rau ở Chợ Lớn, có ba công đất vừa bán vừa bị qui hoạch được ít tiền chia cho con 5 đứa. Hai vợ chồng già còn lại một nền nhà với một ít tiền gởi ngân hàng, vậy mà tới tháng đi lãnh tiền lãi cũng bị con theo dõi phải nói dối là đi đám, đi khám bệnh để con khỏi biết có tiền gởi ngân hàng.


Bà kể “Tui nói với ông chồng là mình không biết chữ. Tụi nó mà âm mưu bán căn nhà từ đường này thì mình ra đường bán vé số chớ chống đỡ gì được.”


Có một chuyện khác về người già có của còn thê thảm hơn là chuyện một bà mẹ ở quận 6 vì giận con trai lớn tham lam muốn ôm hết của cha để lại nên bà tuyệt thực đến chết. Khi người hàng xóm qua khuyên bà nên ăn, bà mẹ đau khổ này nói. “Ðể tôi chết khuất mắt rồi tụi nó bán nhà, bán xác tôi cho hả dạ tham lam.”


Nhân mùa Vu Lan, chúng tôi ghé qua một ngôi chùa nổi tiếng ở khu Lê Minh Xuân, chùa Phật Cô Ðơn. Có một thời, ngôi chùa heo hút này là điểm hành hương nhộn nhịp của giới lao động Sài Gòn. Nhưng giờ đây khu đồng chua nước mặn, vốn là khu kinh tế mới vào những năm sau 1975, đã bắt đầu trở thành thị tứ, ngôi chùa Phật Cô Ðơn cũng khang trang hơn, không còn có cái vẻ là ngôi chùa có “ông Phật nghèo cô đơn”.


Hình ảnh quen đầu tiên mà chúng tôi bắt gặp trên con đường đầy hàng quán dẫn vào chùa là những người già, rất nhiều người gia đang mưu sinh.


Các cụ bán các thẻ nhang đốt cúng và những món linh tinh khác, trong đó món linh tinh mà không ai nghĩ bán được như rau đọt chạy (một loại cây họ dương sĩ, mọc hoang) rau chùm bao, rễ hà thủ ô…


Trò chuyện với bà cụ bán những thứ “đặc sản bưng biền” ấy; bà cho biết, trong mùa đi chùa ăn chay này mỗi ngày bà vừa bán vừa được người động lòng cho tiền cũng được bảy tám mươi ngàn.


Mỗi sáng người con rể ẵm bà ra đây, bà đã 92 tuổi chân yếu không đi được, nên người con rể hái những thứ rau này cho bà bán.


Bà nói: “Tui đại phước mới có được thằng con rể như nó. Ðau ốm gì cũng một tay nó lo, bệnh hoạn nó ngồi một bên năn nỉ đút má từng muỗng cháo. Nó nghèo nhưng có hiếu lắm. Tui không có con trai, nhưng thời buổi này có nó còn hơn có chục thằng con trai.”


Ðược biết quê bà cụ ở Rạch Giá, lên Sài Gòn đã được hơn 11 năm. Khi hỏi tên, bà nói: “Ông nhà tôi chết lâu rồi, người ta kêu theo ổng là bà Bảy Cỏ Ống.”


Trong mùa Vu Lan báo hiếu, thật mừng cho trường hợp của bà Bảy Cỏ Ống và những người già còn lang thang kiếm được ít tiền để còn nhận được sự báo hiếu.


Nhưng với những người già Việt Nam trong gia cảnh đói khổ khác, liệu giá trị đạo hiếu được vun bồi nghìn đời của người Việt có cứu giúp đỡ đần được gì cho họ trong một thời đại mà thể chế cầm quyền đang mở cửa cho một thứ chủ nghĩa tư bản hoang dã, cắn xé không thương tiếc mọi giá trị truyền đời của dân tộc.

Hoa Kỳ không nên bán rẻ nhân quyền tại Việt Nam

 


 


Allen S. Weiner
Lê Quốc Tuấn X-CafeVN
chuyển ngữ


 


Tháng trước, Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố tại Hà Nội rằng cuối năm nay, Hoa Kỳ sẽ ký một thỏa tuận mới về thương mại trong khu vực, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, với Việt Nam. Mong muốn thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc mở rộng thương mại của Việt Nam là dễ hiểu, và quyền lợi của Hoa Kỳ trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế cho Việt Nam là đáng khen ngợi. Nhưng ngay cả khi Việt Nam tìm cách tiến lên phía trước bằng kinh tế, hệ thống chính trị của họ vẫn còn sa lầy trong một quá khứ độc tài và áp bức.


Thật vậy, tuyên bố của bà Clinton đến ngay trước kỷ niệm một năm giai đoạn mở màn việc chính phủ Việt Nam giam giữ các nhà hoạt động, những nhà đấu tranh mà “tội ác” của họ từng là sự bênh vực trên một phạm vi rộng lớn các quyền con người và các vấn đề công bằng xã hội, bao gồm sức khỏe, môi trường, những quan ngại về pháp lý, chính trị, đất đai và tham nhũng từ chính phủ Việt Nam. Hơn một năm sau, hầu như tất cả các nhà tranh đấu này vẫn còn bị giam giữ, một người bị quản thúc tại gia. Các tiến bộ thực sự tại Việt Nam sẽ chỉ đến khi cải cách chính trị và việc tôn trọng các quy định của pháp luật được đi kèm với tiến bộ kinh tế.


Trong năm qua, chính phủ Việt Nam đã bắt giữ các thành viên của một mạng lưới các nhà hoạt động xã hội và chính trị. Những người bị bắt giữ này là những người có liên hệ với Dòng Chúa Cứu Thế của Giáo Hội Công Giáo La Mã tại Việt Nam – một phản ánh của mô hình phân biệt đối xử chống lại các tôn giáo thiểu số ở quốc gia này.


Mười một người kiến nghị bị cáo buộc là thành viên của Việt Tân, một đảng ủng hộ dân chủ cho Việt Nam. Những người bị bắt đã phải chịu một loạt các vi phạm về nhân quyền, bao gồm các hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ như quyền bày tỏ, quyền tụ tập và lập hội.


Ngoài ra, các vụ bắt bớ và giam giữ các nhà hoạt động đã vi phạm các quyền về xét xử công bằng và đúng thủ tục theo Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị cùng các thỏa thuận về luật quốc tế khác; các vi phạm tiêu chuẩn quốc tế bao gồm việc bắt giữ không có trát tòa và giam giữ kéo dài không quy kết tội trước khi xét xử. Sau khi bị bắt, người bị giam đã bị biệt giam trong nhiều tháng. Một số thậm chí còn bị kết án qua các “phiên tòa xét xử” mà họ không được phép có một luật sư. Ngày nay, hầu hết những người khiếu kiện đang tiều tụy trong tù mà không được liên lạc bên ngoài hoặc không được hiểu biết cơ bản gì đến việc tại sao họ đã bị bắt và bị giam giữ. Họ đã bị giới hạn liên lạc với người thân, hoặc trong một số trường hợp, hoàn toàn không được tiếp xúc với thân nhân.


Trong một mô hình gia tăng về sự lạm dụng quyền con người của chính phủ Việt Nam, các nhà hoạt động này đã bị bắt vì phạm luật hình, vốn ngăn cấm các “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “phá hoại đoàn kết quốc gia” và tham gia “tuyên truyền chống lại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.


Tất cả những người bị giam cầm đều là các nhà báo trực tuyến, người viết blog hay những người khác đã tham gia vào các hoạt động đào tạo liên quan đến báo chí công dân. Họ đã viết bài đăng trên blog, ký kiến nghị và tham gia các cuộc biểu tình bất bạo động liên quan đến một loạt các vấn đề, bao gồm cả những lời kêu gọi dân chủ đa đảng và chống lại quy mô lớn của dự án khai thác bauxite vốn có thể gây ra những thiệt hại không thể khắc phục được về môi trường và nơi sinh sống của người dân địa phương. Tóm lại, họ đang tham gia vào các hình thức hợp pháp của quyền bày tỏ chính kiến.


Những biểu hiện về chính trị ấy được bảo vệ theo Hiến pháp Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền con người, vốn được cung cấp trong Ðiều 53 rằng công dân “có quyền tham dự trong việc quản lý nhà nước và xã hội và trong việc tranh luận về các vấn đề chung của cả nước hoặc địa phương. “Ðiều 69 của Hiến pháp Việt Nam quy định rằng các công dân” có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí “và có “quyền hội họp, lập hội và biểu tình theo quy định của pháp luật”. Nhưng, thay vì bảo vệ các quyền này, chính phủ Việt Nam đã sử dụng luật pháp để ngăn cấm quyền tự do cơ bản về hội họp và lập hội.


Bằng ảnh hưởng của mình, trong chuyến đi gần đây, bà Clinton đã nêu ra mối quan ngại về thành tích nhân quyền của Việt Nam, bao gồm cả việc bắt giam các nhà hoạt động, các luật sư và các blogger mà tội duy nhất của họ là bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa. “Tôi biết có một số người cho rằng để phát triển kinh tế cần phải ưu tiên về kinh tế trước khi lo lắng đến cải cách chính trị và dân chủ, nhưng đó là một tính toán thiển cận”, bà nói.


Hoa Kỳ phải đi xa hơn khỏi việc bảo vệ có tính hoa mỹ về nhân quyền ở Việt Nam. Ðất nước chúng ta không nên đóng góp vào cuộc “tính toán thiển cận” mà bà Clinton đã cảnh báo qua việc thúc đẩy quan hệ thương mại sâu hơn mà không đồng thời nhấn mạnh rằng Việt Nam cần phải tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền. Các quan chức Mỹ nên yêu cầu Việt Nam khởi sự bằng cách trả tự do cho các nhà hoạt động bị bắt năm ngoái và những người khác từng bị giam giữ chỉ vì muốn lên tiếng về tương lai của đất nước. Hoa Kỳ không nên ban thưởng cho Việt Nam bằng cách đặt họ trong quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương trong khi chính phủ ở Hà Nội sử dụng hệ thống pháp luật của mình để bóp nghẹt giới bất đồng chính kiến và thực hiện các quấy nhiễu, vi phạm về nhân quyền.


Tác giả, Allen Weiner là một giảng viên cao cấp tại trường Luật Stanford, nơi ông là giám đốc Chương trình Luật Quốc Tế. Ông đã đệ đơn kiến nghị với Ủy ban Ðiều tra về Giam giữ tùy tiện của Liên Hiệp Quốc về việc bắt giữ và tạm giam 17 nhà hoạt động Việt Nam hồi năm ngoái.


Nguồn: Washington Post

Tính chính trị của ngôn ngữ trong phạm vi quốc gia

 


 


Nguyễn Hưng Quốc (VOA)


 


Trong phạm vi quốc gia, việc hình thành ngôn ngữ chính thức bao giờ cũng đi liền với việc hình thành quốc gia. Tinh túy của quốc gia bao giờ cũng là ý niệm về một bản sắc chung. Ý niệm về bản sắc ấy được xây dựng từ nhiều yếu tố như một lịch sử chung, một truyền thống chung, một thị trường chung hoặc thậm chí, một huyết thống chung.


Tất cả những cái gọi là chung ấy, thật ra, không hẳn đã là chung: Chúng trở thành chung, nghĩa là được phổ cập rộng rãi và trở thành niềm tin của quần chúng, từ đó, hình thành nên cái Benedict Anderson gọi là “cộng đồng tưởng tượng” (imagined community), chủ yếu nhờ ba yếu tố chính: Một, sự phát triển của kỹ thuật xuất bản và báo chí; hai, sự thịnh phát của văn hóa bình dân; và ba, tiềm ẩn đằng sau cả hai yếu tố vừa kể, là vai trò của một ngôn ngữ chung, thường được gọi là ngôn ngữ chính thức, hoặc đơn giản hơn, quốc ngữ (national language). “Tiếng Anh ở Anh, tiếng Pháp ở Pháp cũng như các ngôn ngữ ở các quốc gia Âu Châu khác đều được chuẩn hóa, hợp thức hóa và trở thành ngôn ngữ thống trị trong xã hội cùng lúc với quá trình hình thành quốc gia ở những nơi ấy.” (1)


Xin lưu ý: Ngôn ngữ chính thức của quốc gia là một chọn lựa. Quốc gia nào cũng là sự kết hợp của nhiều bộ tộc và nhiều sắc tộc với những văn hóa và ngôn ngữ khác nhau, do đó, quốc gia, tự bản chất, bao giờ cũng có tính chất đa chủng tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ. Ví dụ, ai cũng biết, ở Việt Nam hiện nay, có trên 50 sắc tộc với trên 50 ngôn ngữ khác nhau, tuy nhiên, chỉ có văn hóa và tiếng nói của người Kinh mới được xem là chính thức và chính thống (2).


Mà không phải chỉ ở Việt Nam. Ở đâu cũng thế. Ở Trung Quốc có đến 292 ngôn ngữ khác nhau nhưng chỉ có tiếng Hán được xem là ngôn ngữ quốc gia. Ở Mỹ có đến khoảng 337 ngôn ngữ khác nhau nhưng chỉ có tiếng Anh được xem (một cách mặc nhiên) là ngôn ngữ chính thức (3). Ở Úc cũng vậy, cũng chỉ có tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức trong khi hàng trăm thứ tiếng khác, trong đó có khoảng 70 thứ tiếng của người thổ dân (nguyên thủy, trước thế kỷ 20, là khoảng 400), những người sinh sống trên quốc gia – lục địa này cả mấy chục ngàn năm trước khi người da trắng đến lập nghiệp.


Không hoài nghi gì cả, quá trình từ một trong nhiều ngôn ngữ trở thành một ngôn ngữ chính thức duy nhất trong cả nước là một quá trình tranh giành quyền lực gay gắt và dai dẳng.


Gay gắt: Ở một số nơi, cuộc tranh giành quyền lực ấy có thể dẫn đến nạn kỳ thị chủng tộc, hoặc có khi, họa diệt chủng: Ở Mỹ và ở Úc trước đây, có một thời gian khá dài, trẻ em thổ dân không được sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ trong các trường nội trú. Từ năm 1940, sau khi sát nhập ba nước Estonia, Latvia và Lithuania vào khối Liên bang Xô Viết, với bạo lực và các biện pháp hành chính, Nga biến tiếng Nga thành ngôn ngữ chính thức trong cả ba nước này. Nửa thế kỷ sau, khi hệ thống xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ và khối Liên bang Xô Viết bị tan rã, cả ba nước trên trở thành độc lập: Một trong những việc họ làm đầu tiên là tuyên bố ngôn ngữ truyền thống của họ mới là ngôn ngữ chính thức chứ không phải tiếng Nga dù lúc ấy trong xã hội số người nói tiếng Nga rất nhiều (4).


Không những gay gắt, cuộc đấu tranh để thành một ngôn ngữ chính thức còn vô cùng dai dẳng, đầy khúc khuỷu, ở nhiều nơi, cơ hồ không hứa hẹn kết thúc sớm. Ở Sri Lanka, sau khi giành được độc lập từ Anh, hầu hết các chính khách đều đồng ý sử dụng một ngôn ngữ bản địa để thay thế tiếng Anh với tư cách một ngôn ngữ chính thức trong cả nước. Nhưng ngôn ngữ bản địa nào?


Ở Sri Lanka, có hai ngôn ngữ bản địa chính: Tiếng Tamil và tiếng Sinhala. Trong mấy chục năm, từ đầu thập niên 1940 đến nay, Quốc Hội Sri Lanka thông qua nhiều đạo luật khác nhau, với những nội dung khác hẳn nhau, lúc thì thiên về tiếng Sinhala, lúc thì thiên về tiếng Tamil, tùy theo tương quan lực lượng chính trị từng thời kỳ. Cuối cùng, chính phủ phải tìm cách thỏa hiệp: Tất cả các văn kiện hành chính quan trọng đều được viết bằng ba thứ tiếng: Tamil, Sinhala và tiếng Anh!


Ở Ireland, mặc dù tiếng Anh là ngôn ngữ thống trị hầu như toàn bộ đời sống xã hội nhưng trên nguyên tắc, được Hiến pháp công nhận, ngôn ngữ chính thức của quốc gia gần năm triệu dân này vẫn là tiếng Irish, một thứ tiếng chỉ phổ cập trong khoảng 40% dân số, chủ yếu là những người sống ở thôn quê. Lý do: Ðó là ngôn ngữ truyền thống, yếu tố tạo nên bản sắc của dân tộc.


Ở Nam Phi, một nước có 50 triệu dân, thường xuyên bị chia rẽ bởi các vấn đề sắc tộc, đã tìm sự thỏa hiệp bằng cách công nhận đến 11 ngôn ngữ chính thức khác nhau: Afrikaans, Ndebele, Bắc Sotho, Sotho, Swazi, Tswana, Tsonga, Venda, Xhosa, Zulu và tiếng Anh. Trên nguyên tắc, tất cả 11 ngôn ngữ này đều bình đẳng với nhau, dù, đóng vai trò chủ đạo, trong lãnh vực thương mại và khoa học, vẫn là tiếng Anh; trong sinh hoạt gia đình, vẫn là các tiếng Zulu, Xhosa và Afrikaans.


Ngay ở một nước phát triển giàu mạnh và có nền dân chủ cao như Canada, cuộc tranh chấp giữa tiếng Anh và tiếng Pháp với tư cách ngôn ngữ chính thức trong địa phương, đặc biệt ở Quebec, vẫn còn dằng dai, có lúc có nguy cơ dẫn đến những phân hóa trầm trọng về chính trị, đặc biệt về cơ chế: Không ít người dân ở Quebec từng lên tiếng đòi quyền độc lập, hoặc ít nhất, quyền tự trị.


Ở mỗi quốc gia, ngoài sự chọn lựa ngôn ngữ chính thức, ở một số ngôn ngữ chính thức còn có vấn đề lựa chọn giữa các văn tự.


Ở Ấn Ðộ, sau khi độc lập, ngoài tiếng Anh, người ta chọn tiếng Hindi làm ngôn ngữ chính thức. Nhưng tiếng Hindi lại có ít nhất 13 phương ngữ khác nhau. Quan trọng hơn, tiếng Hindi lại có đến hai văn tự: Một, được viết dựa trên chữ Sankrit (gọi là chữ Devanagiri) và một, dựa trên chữ Ả Rập (thường được gọi là Urdu, phổ biến chủ yếu trong cộng đồng người Hồi Giáo).


Cuộc tranh giành ngôi vị chính thức giữa hai kiểu chữ viết này không những gắn liền với các cuộc tranh giành quyền lực giữa các địa phương trên lãnh thổ Ấn Ðộ mà còn với cuộc tranh giành ảnh hưởng của những người Hồi Giáo và những người theo các đạo khác – chủ yếu là Ấn Ðộ Giáo, cuối cùng, dẫn đến những tranh chấp khốc liệt giữa Ấn Ðộ và Pakistan (nơi có nhiều người Hồi Giáo và quyết định chọn hẳn thứ chữ Urdu).


Tiếng Séc và tiếng Croat, thật ra, chỉ là hai biến thái của một ngôn ngữ duy nhất, thường được gọi chung là tiếng Serbo-Croatian. Sự khác biệt chủ yếu là ở văn tự: Tiếng Séc được viết theo mẫu tự Cyrillic – giống như tiếng Nga – trong khi tiếng Croat thì được viết theo mẫu tự Latin – như tiếng Anh hay tiếng Việt hiện nay. Ðằng sau sự lựa chọn ấy là lịch sử và tôn giáo: Quốc gia sử dụng tiếng Séc theo Chính Thống Giáo trong khi quốc gia sử dụng tiếng Croat lại theo Thiên Chúa Giáo. Và đằng sau cả vấn đề lịch sử và tôn giáo ấy lại là vấn đề chính trị: Mỗi quốc gia đều muốn khẳng định bản sắc của mình bằng một ngôn ngữ riêng.


Ở Việt Nam cũng vậy.


Ngày xưa, cha ông chúng ta đối diện với hai lựa chọn chính về văn tự: Chữ Hán và chữ Nôm. Tất cả các triều đại đều quyết định chọn chữ Hán. Lý do cũng vì chính trị: Chữ Hán gắn liền với Nho giáo trong khi Nho giáo lại gắn liền với các học thuyết chính trị có lợi cho nhà cầm quyền, trong đó, có hai điểm quan trọng nhất là: Tư tưởng thiên mệnh và đạo trung hiếu. Với chữ Hán, các triều đình Việt Nam có một yếu tố thiết yếu để được “thiên triều” Trung Quốc xem là “đồng văn”, do đó, nhìn nhận là một vũ khí đắc lực để giữ khoảng cách với dân chúng – khoảng cách giữa học thức và mù chữ; và với khoảng cách ấy, giới cầm quyền tiếp tục được linh thiêng hóa, một điều kiện quan trọng để làm nảy nở và duy trì huyền thoại và, từ đó, quyền lực.


Từ đầu thế kỷ 20, chính quyền thực dân Pháp quyết định chọn chữ quốc ngữ thay vì chữ Nôm hay chữ Hán cũng lại vì chính trị nữa: Với chữ quốc ngữ, người ta, một mặt, tách đất nước Việt Nam ra khỏi quỹ đạo của Trung Quốc, tách người Việt Nam ra khỏi sự ràng buộc của truyền thống vốn kéo dài cả hàng ngàn năm và được kết tinh chủ yếu qua chữ Hán, và cô lập hóa giới trí thức Nho học vốn vừa quật cường vừa bảo thủ, vừa sùng bái Trung Quốc vừa khinh ghét người Tây phương; mặt khác, kéo Việt Nam lại gần hơn với Pháp. Gần về văn tự: Cả chữ quốc ngữ lẫn tiếng Pháp đều sử dụng mẫu tự La Tinh.


Gần cả về phương diện lịch sử: Thứ chữ quốc ngữ ấy là do người Tây phương, trong đó có rất nhiều người Pháp, tạo nên.


Hầu hết các nhà cách mạng và các trí thức tân học, kẻ sớm người muộn, đều đồng ý với việc chọn chữ quốc ngữ làm văn tự chính thức của tiếng Việt. Sự lựa chọn ấy cũng lại là một lựa chọn mang tính chính trị: Nó gắn liền với chủ nghĩa quốc gia (nationalism). Xin lưu ý: Mặc dù Việt Nam có lịch sử cả mấy ngàn năm, nhưng khái niệm quốc gia, và đặc biệt, chủ nghĩa quốc gia chỉ ra đời từ đầu thế kỷ 20 khi người Việt thoát khỏi ý thức trung quân, ở đó, khái niệm nước bị đồng nhất với khái niệm vua, và khi người Việt chớm có ý thức công dân, tự xem mình như một chủ thể của đất nước, ở đó, họ có trách nhiệm trực tiếp đối với vận mệnh của đất nước.


Yếu tính của đất nước, thoạt đầu, nằm ở “hồn nước” vốn gắn liền với huyền thoại (dòng giống Lạc Hồng, con Rồng cháu Tiên); sau, ở ngôn ngữ; và sau nữa, ở chữ quốc ngữ (Nhóm Ðông Kinh Nghĩa Thục: “Chữ quốc ngữ là hồn trong nước / Phải đem ra tính trước dân ta”). Ðó là lý do tại sao Phạm Quỳnh lại đồng nhất hai khái niệm nước và tiếng: “Tiếng Việt còn, nước ta còn” và cũng là lý do tại sao Nguyễn Văn Vĩnh lại xem tương lai của Việt Nam lại nằm ở chữ quốc ngữ: “Nước Nam ta mai sau này, hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ.”


Sau năm 1945, chính quyền Việt Minh cương quyết loại trừ tiếng Pháp, chỉ sử dụng tiếng Việt, và trong tiếng Việt, chỉ sử dụng chữ quốc ngữ trong hệ thống hành chính và học đường cũng là vì lý do chính trị: Thứ nhất, thực hiện chiêu bài dân tộc hóa họ đã đặt ra ngay từ thời Văn hóa Cứu quốc; thứ hai, lực lượng của họ chủ yếu đến từ công nhân và đặc biệt nông dân, những người ít học và có vốn văn hóa thấp. Ðể tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các tầng lớp ấy, ngay sau Cách mạng tháng Tám, họ tung ra ngay hai chiến dịch: Một, xóa nạn mù chữ một cách gấp rút (5); hai, chủ trương nói và viết một cách nôm na, đơn giản, thật dễ hiểu đối với mọi người. Cả hai đều nhắm đến một mục tiêu duy nhất: Làm sao cho đông đảo quần chúng có thể đọc được cái tờ truyền đơn tuyên truyền của đảng Cộng sản.


Cuối cùng, ở phạm vi liên cá nhân, ngôn ngữ cũng có tính chính trị rõ rệt. Lý do: Mọi giao tiếp liên cá nhân đều gắn liền với văn hóa. Mà văn hóa, tự bản chất, là một thứ quyền lực. Thứ nhất, văn hóa nào cũng được xây dựng trên truyền thống; truyền thống nào cũng được xây dựng trên quán tính; quán tính nào cũng được xây dựng trên sự sùng bái cái cũ và sự kế thừa: Tính sùng bái là một quyền lực. Thứ hai, về mục đích, văn hóa nào cũng nhằm, trước hết, xây dựng và củng cố sự hài hòa và trật tự trong xã hội. Cả sự hài hòa lẫn trật tự đều mang tính đẳng cấp. Do đó, ngôn ngữ cũng có tính đẳng cấp. Ngày xưa, vua chúa và giới quý tộc có những kiểu nói riêng, dân chúng có kiểu nói riêng. Trong quan hệ giao tiếp giữa vua chúa – quý tộc và dân chúng, ngôn ngữ, một mặt, được nghi thức hóa; mặt khác, phản ánh quyền lực – hoặc không quyền lực – của từng thành phần.


Ngày xưa, cha ông chúng ta hiểu rất rõ điều đó. Ca dao và tục ngữ Việt Nam cung cấp cả một kho tàng triết lý về việc nói năng. Chẳng hạn, xem ngôn ngữ như một thứ quyền lực: Miệng nhà quan có gan có thép, có ảnh hưởng trực tiếp đến số phận con người: Lời nói đọi máu. Do đó, càng ít nói bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu: Lời năng nói năng lỗi. Trước khi nói nên suy nghĩ chín chắn: Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy; kẻ thất thế càng nên nói ít: Khó nhịn miệng, bồ côi nhịn lời. Nếu phải nói, nên nói, đừng viết: Lời nói gió bay, bút sa gà chết. Nếu viết, nên chọn hình thức phù du nhất: Khôn văn tế dại văn bia. Không nên nói thật: Lời thật mất lòng. Và chỉ nên nói khéo: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, v.v.


Nói một cách tóm tắt, ở cả ba phạm vi: Quốc tế, quốc gia và liên cá nhân, bao giờ ngôn ngữ cũng gắn liền với ý niệm về quyền lực, do đó, đều có tính chính trị. Giới làm chính trị hiểu rõ điều đó và không ngừng tận dụng ngôn ngữ như một thứ vũ khí để giành giật, và sau đó, bảo vệ quyền lực.


(Còn tiếp)


Chú thích:


1. Jurgen Jaspers, Jan-Ola Ostman & Jef Verschueren (2010), Society and Language Use, Amsterdam: John Benjamins Publishing Company, tr. 180.


2. Ở Việt Nam, khái niệm “ngôn ngữ chính thức” chỉ được sử dụng lần đầu tiên trong Luật giáo dục tiểu học ngày 10/12/1998 (“Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường”), tuy nhiên, trên thực tế, việc này đã được áp dụng một cách mặc nhiên ngày từ sau năm 1945.


3. Hiện nay, vào tháng 8, 2012, Quốc Hội Mỹ, lần đầu tiên, mới bàn thảo về đạo luật (H.R. 997) xem tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức trong cả nước. Xem bài “English can unify America” trên báo Politico: http://www.politico.com/news/stories/0812/80054.html


4. Catrin Norrby & John Hajek (2011), Uniformity and Diversity in Language Polity: Global Perspectives, Bristol (England): Multilingual Matters, tr. 37-52.

Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 25)

 





Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969. – Nguyễn Hữu Hiệu





 


Kỳ 25


 


Zorba cười.


– Tại sao bác lại cười, Zorba?


– Ðiều đó không cần phải nói. Dĩ nhiên là lập gia đình rồi. Nó cũng không phải là đứa đần độn gì. Hồi đó tôi đang làm việc tại một mỏ đồng ở Pravishta miền Chalcidice. Một hôm tôi nhận được thư của em Yanni tôi. À quên! Tôi chưa nói với ông là tôi có một đứa em, thuộc loại người khôn ngoan, biết phân biệt phải trái, ngồi nhà cho vay lãi, hay đi nhà thờ, giả đạo đức, một người rất phải phép, một rường cột của xã hội. Em tôi bán tạp hóa ở Salonica. “Anh Alexis, nó viết cho tôi, con Phrosco con gái anh đã hư hỏng rồi. Nó đã làm ô danh của chúng ta. Nó có một thằng nhân tình, nó đã có với thằng kia một đứa con. Danh tiếng nhà ta thế là đi đời. Tôi sắp về làng vặn họng nó.”


– Và bác đã làm gì, Zorba?


Zorba nhún vai.


– Hừ! Ðàn bà! Tôi nói rồi xé bức thư.


Hắn ghế cơm, cho thêm chút muối rồi cười khẩy.


– Nhưng đợi chút ông sẽ thấy khía cạnh khôi hài của câu chuyện đó. Hai tháng sau, tôi lại nhận được một lá thư thư hai của thằng em ngốc nghếch: “Chúc anh mạnh giỏi và vui vẻ, anh Alexis thân mến”, thằng ngốc đó viết. “Danh dự nhà ta đã được phục hồi, bây giờ anh có thể ngẩng cao đầu lên, người đàn ông đó đã cưới con Phrosso rồi!”


Zorba quay lại và nhìn tôi. Nhờ ánh sáng của điếu thuốc lá, tôi thấy hai mắt hắn long lanh. Hắn lại nhún vai.


– Hừ! Ðàn ông! Hắn nói với vẻ khinh miệt khó tả.


Một lát sau, hắn tiếp:


– Người ta có thể mong đợi gì ở đàn bà? Họ phải có con với người đàn ông đầu tiên. Người ta có thể mong đợi gì ở đàn ông? Họ phải sa vào bẫy. Ông hãy nhớ điều tôi nói, ông chủ.


Hắn bắc nồi xuống và chúng tôi bắt đầu dùng bữa ăn chiều.


Zorba lại chìm đắm vào suy tưởng. Một mối lo âu nào đó đang dầy vò hắn. Hắn nhìn tôi, mở miệng ra rồi lại ngậm lại. Qua ánh đèn dầu, tôi nhận thấy rõ ràng vẻ lo lắng sầu muộn trong mắt hắn.


Tôi không chịu nổi nhìn thấy hắn như vậy. Tôi hỏi.


– Zorba, bác có điều gì muốn nói với tôi, cứ nói đi. Dặn ra đi sau đó bác sẽ thấy dễ chịu ngay.


Zora vẫn lặng thinh. Hắn nhặt một hòn sỏi, cố ném lọt qua cửa sổ.


– Ðể yên mấy cục đá đó đi! Nói đi nào!


Zorba vươn dài khuôn cổ nhăn nheo ra.


– Ông có tin tôi không, ông chủ? Hắn hỏi, lo lắng nhìn vào mắt tôi.


– Có, Zorba, tôi đáp. Dù bác làm bất cứ điều gì, bác cũng không thể sai lầm. Dù bác có muốn lầm đi nữa, bác cũng không thể lầm lạc được. Bác giống như một con sư tử hay một con sói. Loại thú này không bao giờ xử sự như những con cừu hay con lừa, chúng không bao giờ đi ngược lại bản chất chúng. Bác cũng thế; bác là Zorba đến tận đường tơ kẽ tóc.


Zorba lắc đầu:


– Nhưng tôi mù tịt không biết chúng ta sẽ đi đâu! Hắn nói.


– Tôi biết, bác đừng lo âu gì về điều đó. Cứ việc tiến tới!


– Hãy lập lại điều ấy một lần nữa đi, để tôi thêm can đảm, ông chủ! Hắn la lên.


– Tiến tới!


Cặp mắt Zorba long lanh.


– Bây giờ tôi có thể nói ông, hắn nói. Từ mấy hôm nay, tôi có một dự định to tát trong đầu; một ý nghĩ ngông cuồng. Liệu chúng ta có thể thực hiện ý tưởng đó không?


– Bác cần gì phải hỏi tôi? Chính vì lý do đó chúng ta cần đến đây: để thực hiện những ý tưởng.


Zorba vươn cổ ra sung sướng và sợ hãi nhìn tôi:


– Ông hãy nói rõ, ông chủ! Hắn la to. Mình không đến đây vì than sao?


– Than là một cái cớ để dân địa phương khỏi thắc mắc. Ðể họ tưởng lầm mình là những nhà thầu đứng đắn và không tiếp đón chúng ta bằng cách liệng cà chua. Bác hiểu chưa, Zorba?


Zorba há hốc miệng sững sờ. Hắn cố gắng hiểu, hắn không dám tin tưởng vào một niềm hạnh phúc lớn lao nhường ấy. Ðột nhiên, hắn hiểu. Hắn lao tới và nắm lấy vai tôi:


– Ông có nhảy không? Hắn hỏi tôi một cách say sưa. Ông có nhảy không?


– Không.


– Không à?


Hắn buông thõng hai tay, sửng sốt.


– Ðược lắm, lát sau hắn nói. Thế thì tôi sẽ nhảy, ông chủ. Xin ông ngồi ra xa một chút để tôi khỏi đụng vào ông. Ô, ê! Ô, ê.


Hắn nhào lộn một cái rồi nhảy phóng ra khỏi lều, liệng cả giầy, áo ngoài, áo trong, xắn quần lên tới đầu gối và bắt đầu nhảy múa. Mặt hắn hãy còn than lem luốc. Lòng trắng mắt hắn sáng lên.


Hắn lao vào điệu vũ, vỗ tay, nhảy nhót, nhào lộn trong không gian, rơi xuống trên hai đầu gối rồi vọt lên, hai chân co lại như thể hắn là cao su. Thốt nhiên hắn phóng mình lên thật cao như muốn chế ngự những định luật lớn của thiên nhiên và bay bổng. Người ta nhận thấy rằng trong cái thân thể mọt đục ấy, tâm hồn đang phấn đấu để lôi cuốn xác thịt đi và lao mình vào bóng tối như một vẩn thạch. Nó lay động thân thể đang rơi trở lại vì không thể ở quá lâu giữa không trung, nó lay động thân thể lần nữa, một cách tàn nhẫn, lần này cao hơn một chút nhưng cái thân thể đáng thương hại lại rơi xuống, hổn hển.

Giáo Sư Tô Đồng

Giáo Sư Tô Đồng

Giáo Sư Tô Đồng

Giáo Sư Tô Đồng

Lướt Tin

Việt Nam


 


Công an địa phương vừa phát hiện hai xác voi chết trong khu vườn quốc gia Yok Ðôn, tỉnh Ðăk Lăk, và đang điều tra nguyên nhân.


 


Ông Lê Quý Nam, phó trưởng văn phòng đại diện Công Ty Xổ Số Khánh Hòa tại Huế, vừa bị bắt vì nhận tiền mua giùm gần 50 vé số trúng, nhưng sau đó không đưa vé số cho người muốn “rửa tiền.”


 


Công an tỉnh Quảng Trị hôm Thứ Bảy chặn một xe khách và phát hiện trên xe chở 15 thùng (khoảng 1 tấn) chân trâu, bò và nội tạng đang bốc mùi hôi thối không có giấy tờ hợp lệ.


 


Cộng Ðồng/Ðịa Phương


 


Một loạt động đất, lớn nhất là 5.5 độ Richter, xảy ra tại Imperial County, Nam California, hôm Chủ Nhật vào lúc khoảng 2 giờ chiều Chủ Nhật, nhưng không ai bị thương vong.


 


Một số công ty lớn bất ngờ đổ tiền ủng hộ Prop. 30, do Thống Ðốc Jerry Brown bảo trợ, trong cuộc bầu cử cuối năm, nhằm thu khoảng $8 tỉ tiền thuế cho tiểu bang.


 


Một người đàn ông, chưa xác định được danh tánh, bị xe lửa cán chết lúc 4 giờ sáng Chủ Nhật, tại địa điểm gần ngã tư Dale và Malvern, Buena Park.


 


Hoa Kỳ


 


Ðại Hội Ðảng Cộng Hòa tổ chức tại Tampa, Florida, theo dự trù khai mạc vào Thứ Hai, phải hoãn lại một ngày vì bão Isaac.


 


Bà Ann Romney, vợ cựu Thống Ðốc Mitt Romney, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa, chính thức được nhân viên Sở Ðặc Vụ Liên Bang bảo vệ.


 


Dân Biểu Ron Paul (Cộng Hòa-Texas) được đề nghị phát biểu tại Ðại Hội Ðảng Cộng Hòa, nhưng phải ủng hộ ông Mitt Romney, tuy nhiên, ông từ chối và nói “không hoàn toàn ủng hộ” đối thủ của mình.


 


Thế Giới


 


Tình báo Afghanistan xác nhận hôm Chủ Nhật đã hạ sát Badruddin Haqqani, con trai của nhà sáng lập lực lượng dân quân Haqqani rất quyền lực ở Pakistan, hồi tuần trước.


 


Khoảng 320 xác chết, bao gồm phụ nữ và trẻ em, vừa được phát hiện trong nhiều căn nhà ở Daraya, phía Tây Nam thủ đô Damascus, hầu hết bị chết theo kiểu “xử bắn,” giới hoạt động nhân quyền cho biết.


 


Tổng Thống Rafael Correa của Ecuador cho biết Anh đã rút lại đe dọa lục soát tòa đại sứ nước này ở London để bắt ông Julian Assange, đồng sáng lập WikiLeaks, đang trú ngụ bên trong.

Bão Issac ập vào Florida

 


 


 


 






KEY WEST, Florida – Bão Isaac ập vào Key West, Florida, thành phố cực Nam của Hoa Kỳ, hôm Chủ Nhật, sau khi đi qua Cuba. Các nhà khí tượng dự đoán bão có thể mạnh Cấp 2 khi đi vào vùng phía Bắc vịnh Mexico. Trong hình, một người đứng dưới mưa của cơn bão tại bãi biển Clarence Higgs, Key West. (Hình: AP Photo/The Miami Herald, Walter Michot)

Cha Con, Mẹ Con là máu mủ thiêng liêng

 


Về “‘Cha ơi! Bây giờ cha ở đâu?’”


 “Nhiều cô xướng ngôn viên phát thanh hay biên tập báo chí đã vô ý, không có kinh nghiệm về những vấn đề xã hội, đã đọc hay đăng nguyên lời nhắn tin với tên họ, gốc gác người cha, để khiến cho bao nhiêu cảnh dở khóc dở cười xảy ra. Thử tưởng tượng, một ngày nào đó tên, cấp bậc, đơn vị của bạn được réo gọi trên làn sóng phát thanh: “Cha ơi! Bây giờ cha ở đâu!” Bạn như đang ngồi trên đống lửa. Người vợ hiện nay của bạn có rộng lượng tha thứ cho sự việc bạn đã có một đứa con bỏ lại hay một đứa con rơi đang đi tìm cha. Bạn đã lừa dối, che giấu dĩ vãng không nói thật với người bạn đời vì sợ sự thật không được chấp nhận. Ðây là những ngày đen tối ập lên gia đình bạn. Bạn có can đảm nói với vợ: “Em bình tĩnh ngồi xuống đây, nghe anh nói, anh có một đứa con rơi trước khi gặp em, năm nay đã 40 tuổi, đang đi tìm anh!” Gia đình sẽ sóng gió đi đến chỗ tan vỡ: “Hoặc chọn gia đình này, hoặc chọn đứa con rơi của anh!”


Trời ơi!


Cha Con, Mẹ Con là máu mủ thiêng liêng. Con đi tìm cha, mẹ là việc vô cùng trọng đại. Nếu không đọc đúng tên tuổi, số quân, etc., thì làm sao mà tìm?


Không dám nhận con của mình vì sợ bị vợ/chồng ly dị, gia đình tan vỡ, là con người hèn nhát, vô lương tâm, không dám chịu trách nhiệm cho việc mình đã làm.


SF

‘Không ích kỷ lắm’

 


Về “Có bao nhiêu tư sản đỏ ở VN?” đăng trên Người Việt ngày 24 tháng 8


Tôi thấy không ích kỷ lắm vì nếu mình đếm trên đầu ngón tay thì chỉ có thành phố lớn như Saigon, Ðà Nẵng, Hà Nội, Cần Thơ thì mới có nhiều việc làm cho dân VN (việc làm lao động thôi, còn việc tốt thì cha con cán bộ nắm hết rồi, nhìn chung quanh thì thấy rất nhiều người nghèo bánn vé số, ăn xin, homeless dầy dẫy phố phường). Nếu chính quyền CSVN có tham nhũng hối lộ thì cũng phải để dành một chút óc thông minh lập ra những chỗ dạy nghề cho dân làng ấp xóm quê để dân nghèo có chút vốn đi xin việc làm. CSVN chỉ muốn dân nghèo mạt rệp để phải dành thời gian đi kiếm miếng ăn cho gia đình thì mới không thể lật đổ chế độ thối nát của chính quyền CSVN.


hung

“Gom hết tiền tip”

 


Về “Có trách là trách chủ nhà hàng”


 Ðồng ý với đọc giả Swan42 là, “có trách thì trách chủ,” bởi vì ngoài việc huấn luyện nhân viên phục vụ tốt khách hàng ra, nếu chủ nhà hàng không, “gom hết tiền tip” thì không đến nỗi có lối phục vụ như phản ảnh của đọc giả “hùng.” Bằng chứng cho việc 1 số chủ nhà hàng lấy tiền tip là chính cá nhân tôi đã đi ăn một tiệm bánh xèo khá nổi tiếng vùng Little Saigon, nhận thấy người hầu bàn phục vụ khá tốt, tôi định cho 1 số tip hậu, nhưng cẩn thận (vì nghe đồn chủ nhà hàng này thâu tiền tip) tôi hỏi người hầu bàn, “Ai thâu tip?” Thay vì trả lời, người hầu bàn xoay đầu đưa mắt láy về phía quầy thâu tiền, ngầm ra dấu là chủ nhà hàng. Thấy vậy, tôi bèn trao tiền tip vào tay người hầu bàn, nhưng người nầy bèn nói, “Cám ơn, cám ơn”, xua tay lia lịa và vội vã bỏ đi. Kể từ đó, tôi ít đi ăn tại nhà hàng nầy, và nếu vì một lý do nào đó phải đi ăn (thí dụ như bạn bè ở xa tới và yêu cầu) thì tôi cũng không cho tip, vì tôi nghĩ cho tip là cách đáp lại sự phục vụ của người hầu bàn, ở đây vào trường hợp nầy, người hầu bàn không được hưởng thì tại sao ta phải cho chủ nhà hàng? Do đó, nhận xét người Á Ðong cho tip không được hậu, không phải sai hẳn, nhưng cũng không được đúng, mà phần lớn còn tùy thuộc vào chủ nhà hàng thâu tip hay người hầu bàn.


Hoài Việt


 


Tôi rất đồng ý với độc già “Swan 42” là “Có trách là trách chủ nhà hàng” nhưng biết ai để trách đây và có dám nói thẳng với họ không hoặc là nói họ có nghe ý kiến xây dựng của khách không hay là lại bị tạt một câu là “không ăn thì xéo đi chỗ khác.” Khổ nỗi là đa số các tệ nạn này lại là nhà hàng VN chứ rất hiếm khi xảy ra ở các nhà hàng Á Ðông khác. Vì sao? Bởi vì những chủ nhà hàng đó không có trình độ kiến thức về việc làm business nên làm theo kiểu VN là có tiền thì cứ mở nhà hàng rồi cho con, cháu hay mướn đại một số tiếp viên trả tiền mặt (cash) với giá rẻ mạt rồi không dám bảo họ phải làm thế này thế nọ. Theo luật pháp Mỹ là muốn làm nhà hàng dù là tiếp viên hay đầu bếp đều phải có thẻ kiểm tra của Health Department. Nội vấn đề này thôi thử hỏi có bao nhiêu nhân viên nhà hàng VN hội đủ điều kiện này. Còn về chủ nhà hàng thì cũng phải có giấy phép của Health Department chứng minh mình đủ khả năng làm manager. Mà muốn có được các giấy phép này mọi người đều phải qua một lớp học ít nhất là 3 đến 4 giờ đồng hồ kể cả làm test, nếu không đậu thì phải học lại. Do thiếu trình độ như vậy nên những nhà hàng VN loại này không biết tôn trọng khách hàng mà ngược lại còn mong khách hàng phải “tip” một cách hào phóng nữa. Họ quên một điều là doanh nghiệp của mình khá hay không là do khách hàng mang tới nếu không có khách thì sẽ thê thảm ngay. Tôi còn nhớ những ngày mới đến Mỹ cách đây hơn 20 năm lúc tôi làm cashier cho một tiệm bán Hamburger, ông manager còn treo một tấm poster trên tường những câu nói lịch sự mà mọi nhân viên phải dùng khi tiếp khách.


Nói tóm lại làm chủ mà không biết huấn luyện nhân viên trong việc phục vụ khách thì người chủ đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.


Ngươi Linh Gia KQ


 

Ðại Lễ Vu Lan, mùa hiếu hạnh tại chùa Ðiều Ngự

 


 


 


 


Ngọc Lan/Người Việt


 


WESTMINSTER (NV) Khi tiết trời vừa chớm Thu, nhìn thấy đây đó những bông hồng đỏ, bông hồng trắng cài trên ngực áo, người ta biết rằng mùa Vu Lan, mùa của lòng báo ân và cứu độ, lại về.







Hơn 3,000 Phật tử và đồng hương gốc Việt từ khắp nơi đổ về chùa Ðiều Ngự, Westminster, dự Ðại Lễ Vu Lan-Mùa Hiếu Hạnh 2012. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Trong tinh thần đó, hơn 3,000 Phật tử và đồng hương gốc Việt từ khắp nơi đổ về chùa Ðiều Ngự, Westminster, từ sáng Chủ Nhật để tham dự Ðại Lễ Vu Lan-Mùa Hiếu Hạnh 2012.


Từ sáng sớm, nhiều Phật tử đã đứng sẵn ngay cửa chùa để cài hoa hồng lên áo cho tất cả những ai bước chân vào cửa từ bi. Không có hoa hồng trắng hay hoa hồng đỏ, chùa Ðiều Ngự chọn hoa hồng vàng – gọi là Hoa Hiếu Hạnh – dành tặng cho tất cả mọi người, bởi vì “hoa hồng vàng tượng trưng chung cho sự biết ơn, hiếu hạnh, thương yêu cha mẹ (không phân biệt còn mất) và nhớ ơn Phật.”


Nói với phóng viên nhật báo Người Việt trước giờ khai mạc đại lễ, Thượng Tọa Thích Viên Huy, đại diện chùa Ðiều Ngự, cho biết, “Chùa Ðiều Ngự rất mới so với những ngôi chùa trong vùng và đây là lần thứ ba chùa tổ chức Ðại Lễ Vu Lan báo hiếu cha mẹ. Tuy mới, nhưng Phật tử biết đến chùa rất nhiều nên đến rất là đông. Chánh điện của chùa có sức chứa 3,000 người nhưng rất nhiều người phải đứng vì không đủ chỗ ngồi.”







Lễ cung nghinh chư tôn đức quang lâm trong chương trình Ðại Lễ Vu Lan chùa Ðiều Ngự. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


“Mỗi mùa Vu Lan có một sắc thái riêng, dù biết rằng nội dung chính đều là báo ơn cho cha mẹ. Trước đây một tuần, chùa bắt đầu tổ chức tụng kinh, giảng kinh Vu Lan, nói về công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha. Ðặc biệt trong ngày đại lễ này, ngoài đọc thông bạch Vu Lan của Hội Ðồng Lưỡng Viện Viện Hóa Ðạo, còn có những bài giảng về Vu Lan báo hiếu. Ðặc biệt chùa còn trình bày dự án xây cất ngôi chùa Ðiều Ngự, đã được thành phố Westminster đồng ý cho xây cất. Hy vọng nếu mọi chuyện thuận tiện. cuối năm hoặc đầu năm tới sẽ bắt đầu khởi công xây dựng, dự trù chùa sẽ xây trong ba năm.” Thượng Tọa Thích Viên Huy nói thêm.


Người đến chùa tham dự Ðại Lễ Vu Lan không phân biệt tuổi tác và giới tính. Có những cụ ông, cụ bà sắp bước đến tuổi 100. Có những em bé chưa tròn một tuổi còn nằm trong nôi. Có những người mẹ, người cha được con đưa vào cổng chùa trên chiếc xe lăn. Có những tà áo dài màu lam, màu trắng, màu hồng. Có cả những người với chiếc quần short, áo thun, kéo đôi dép lê lẹt xẹt. Ðủ mọi âm thanh. Ðủ mọi màu sắc. Nhưng tất cả giống nhau ở một điều: Sự thành tâm trên nét mặt khi hướng về đức tin.


“Giữa bối cảnh các giá trị truyền thống bị chối bỏ, phẩm giá bị khinh rẻ, quyền con người không được tôn trọng, với đầy dẫy hoài nghi, phân hóa làm xói mòn đức tin và suy giảm tiềm năng phục vụ, Giới Luật và Lục Hòa Kính là chìa khóa cho vấn nạn thời đại, đồng thời cũng chính là giải pháp đáp ứng cho nhu cầu thống họp của thất chúng Phật tử hiện nay. Mỗi người tự sống bằng Giới Luật, bản thể thanh tịnh của Tăng Già sẽ tỏa sáng, Thiện Tín sẽ an hòa, các xu hướng chính trị sẽ không thể chi phối, lũng đoạn, Phật Pháp nhờ thế mà xương long, Giáo Hội nhờ vậy mà hưng phục, sứ mệnh hoằng hóa cũng nhờ đó mà thành tựu.” Ðó là điều Hòa Thượng Thích Viên Lý, viện chủ chùa, nêu lên trong phần Thông Bạch Vu Lan của Hội Ðồng Lưỡng Viện GHPGVNTN.







Cụ bà Bùi Bội Thừa, 94 tuổi (trái) được con gái Vũ Bội Trang đưa đến dự lễ Vu Lan và chúc thọ tại chùa Ðiều Ngự. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Ngoài phần tụng kinh nhân mùa Vu Lan, nghi lễ phóng sanh cũng được người tham dự quan tâm.


Ðặc biệt, lễ chúc thọ dành cho những đồng hương Phật tử từ 75 tuổi trở lên cũng được tổ chức một cách trang trọng trong chương trình đại lễ, khiến cụ bà Bùi Bội Thừa, 94 tuổi, cư dân Westminster, thừa nhận, “Vui và cảm động lắm!”


Con gái cụ là cô Vũ Bội Trang vừa đưa mắt nhìn mẹ đầy thương mến, vừa nói, “Năm nào chùa có lễ Vu Lan, lễ Phật Ðản, tôi đều đưa bà đi để gặp gỡ cộng đồng Việt Nam bà vui lắm. Hôm nay, nghe nói ở đây có lễ chúc thọ nữa nên ghi danh cho bà cụ được dự lễ chúc thọ nhân lễ Vu Lan này luôn.”


“Vẫn còn có mẹ để đưa mẹ đi như thế này, để thấy mẹ vui, tôi cũng thấy vui luôn.” Cô Trang nói thêm.


Bên ngoài chánh điện, chị Chi Phạm, cư ngụ ở Fountain Valley, cùng con trai Khôi Âu, 13 tuổi, thắp nhang trước bàn thờ Phật Quan Âm trước khi hòa vào buổi lễ.


Chị Chi cho biết, “Mỗi năm đến mùa Vu Lan cả gia đình đều đi chùa, cầu xin ơn trên ban cho mọi người sống trên trái đất này gặp nhiều may mắn.”


“Ba mẹ tôi hiện còn ở chung với gia đình tôi, nên đi chùa mùa Vu Lan cũng là cầu cho cha mẹ được bình an, khỏe mạnh.” Chị Chi Phạm nói tiếp.







Em Ethan Ðinh, 12 tuổi, được ba ẵm lên xem quang cảnh lễ Vu Lan. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Trong khi đó, em Khôi Âu cho biết em “không đi chùa nhiều” nhưng mỗi lần đến chùa, em “đốt nhang cầu cho con học giỏi, lớn lên đi làm nhiều tiền.”


Khi nghe phóng viên hỏi, “Khi cầu cho học giỏi thì thấy con thấy mình có giỏi thêm không?” Khôi trả lời không chút ngập ngừng, “Dạ có.”


Từ thành phố Riverside, anh Ðinh Bá Tài đưa con trai Ethan Ðinh, 12 tuổi, xuống chùa Ðiều Ngự, trước là để “thắp nhang cho ông nội, sau là cho biết lễ Vu Lan.”


Vừa vào chánh điện, trong lúc mọi người còn đứng đọc kinh cầu nguyện mừng lễ, em Ethan chắp ngay tay lên ngực, với gương mặt thành kính. Rồi em nhờ ba ẵm cao lên để nhìn thấy được hết khung cảnh đại lễ bên trong, vẫn tay chắp trước ngực.


Ba em nói em không biết ý nghĩa lễ Vu Lan, nhưng em muốn biết người ta đang làm gì.


Nhìn gương mặt em ngây thơ và đầy thành tâm, cùng hai tay chắp trước ngực, những ai đang ngùn ngụt trong lòng ngọn lửa của thù hận, sân si, có lẽ cũng chùng lòng.


Ngoài sân chùa, những em bé được cha mẹ cầm tay tung chân sáo, những cha mẹ mái đầu trắng phau, nắm tay con trẻ chầm chậm bước, trên áo ai cũng có hoa hồng. Yêu thương, an bình.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Hiệp sĩ không chơi đòn thù như thế

 


 


Bùi Tín (Nguồn: VOA)


 


Vladimir Putin, tổng thống lần thứ 3 của liên bang Nga, từng tự nhận mình là một hiệp sĩ, có tinh thần hiệp sĩ, dấn thân cho sự nghiệp cao quý là cứu nhân độ thế, hy sinh cho nước mình và cho cộng đồng nhân loại.


Vào năm 2000, sau khi được bầu là tổng thống liên bang Nga ở tuổi 48, ông Putin sang thăm chính thức nước Pháp, được giới thiệu là một con người hùng của nước Nga, còn được giới truyền thông Pháp nhận định là mang tinh thần thượng võ của một hiệp sĩ đa năng – multi chevaleresque – cực kỳ quý hiếm.


Trong tiểu sử của ông Putin, có ghi rõ ông từng là sĩ quan, đại tá ở trong quân đội Xô Viết và ngành An Ninh KGB, lập nhiều thành tích trong các ngành thể thao mũi nhọn, mang đai 6 trong các môn võ Sambo, Judo và Karate, đánh box, đua ngựa, trượt tuyết, đua xe đạp đều cừ, còn tham gia đua xe gắn máy phân khối lớn tốc độ cao, có chân trong đội hockey trứ danh của Leningrad.


Vẫn chưa hết, nhà hiệp sĩ Putin còn lặn xuống dưới đáy đại dương, còn trưng ra bức ảnh ngồi trong buồng lái của chiếc máy bay ném bom chiến lược Tupolev TU-160, chứng tỏ ông là một nhà lãnh đạo văn võ toàn tài, xứng đáng làm tổng thống lần thứ 3 và còn có thể là tổng thống lần thứ tư nữa, khi hiện ông chưa đến 60 tuổi.


Vậy mà đã có 3 cô gái Nga cả gan chống lại tham vọng của ông. Ðó là các cô sinh viên Nadejda Tolokonnikova, 22 tuổi, Ekaterina Samoutsevitch, 30 tuổi, và Maria Alekhina, 24 tuổi, họ tự đặt ra một bài hát rất ngắn chỉ có một câu là “Cầu nguyện Thượng đế không để Putin làm tổng thống nữa,” và rủ nhau vào Nhà thờ Chúa Cứu Thế giữa thủ đô Moscow để hát và cầu nguyện theo bài hát ấy.


Thế là 3 cô bị bắt tại chỗ, bị xích tay, bị truy tố và đưa ra xét sử trước tòa án Moscow ngày 17 tháng 8, 2012 vừa qua, và trước tòa, bà Chánh án Marina Syrova tuyên án 2 năm tù ở trại cải tạo cho 3 cô gái Nga nói trên, với tội trạng vu vơ: “Xúc phạm tình cảm của những người tín ngưỡng có mặt trong nhà thờ.”


Lập tức cả một phong trào phản đối nổ ra khắp thế giới, từ các tổ chức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ quyền tự do phát ngôn, quyền tự do báo chí truyền thông, từ các nguyên thủ quốc gia, các bộ ngoại giao, các đoàn thể phụ nữ, tôn giáo, sinh viên, giáo dục… lên tiếng cho rằng nước Nga đã trở lại thời cộng sản kiểu Stalin, với các trại cải tạo Kulag rùng rợn, rằng bản án là vô cùng nặng nề, quá đáng, không cân đối với sự vi phạm. Huống gì bài hát ngắn không hề nói xấu, kể tội gì đương sự là ông Putin, chỉ nói lên một ước vọng là ông ta thôi chức tổng thống đã vào khóa thứ ba.


Luật sư Nga bảo vệ 3 cô sinh viên cho rằng tòa án đã tuyên án không phải theo luật hiện hành và tập quán tố tụng quốc tế, mà là theo lệnh trên, ông cho là do đích thân Tổng thống Putin ra lệnh, nhằm ra oai, trả thù 3 cô gái yếu ớt tay không, không có quyền hành gì, đã dám dùng quyền công dân nói lên một cách độc đáo và thông minh ước vọng yêu nước của mình.


Dư luận nước Nga và gia đình 3 cô gái đang nỗ lực vận động công luận toàn liên bang Nga yêu cầu Tổng thống Putin sử dụng quyền ân xá đặc biệt của tổng thống để hủy bỏ bản án không công bằng, càng không sạch sẽ này. Ðể xem ông Putin cuối cùng nghĩ lại và sẽ động tĩnh ra sao. Nếu không đây sẽ là một vết nhơ bám chặt suốt nhiệm kỳ này của ông Putin.


Dư luận báo chí Pháp bàn tán rất sôi nổi về bản án không cân đối, mang tính phục thù thấp kém này.


Ông Putin từng hãnh diện mình là một nhà hiệp sĩ, ắt phải là một “hiệp sĩ không sợ ai, cũng không bao giờ phạm sai lầm” – un Chevalier sans peur et sans reproche.


Một hiệp sĩ chân chính dấn thân cho nghĩa lớn trên đời không bao giờ chơi đòn trả thù hiểm ác và thấp hèn đối với bất cứ ai. Huống chi đây lại là 3 cô gái chỉ có sáng tác một câu hát, còn ít tuổi hơn 2 cô con gái Aline và Anna của nhà hiệp sĩ đa năng Putin.

57% thầy cô giáo tương lai khó dằn cơn giận

 


 


SÀI GÒN (NV) Một phúc trình của trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn mới công bố hôm 23 tháng 8 cho thấy có đến 57% giáo sinh sư phạm thú nhận “không thể kềm chế cơn nóng giận.” Khoảng 62.4% giáo sinh tự nhận “dễ dàng để cho cảm xúc tác động xấu đến việc học tập và công việc của mình.” Khoảng 56.4% thì cho rằng họ “không biết cách giải tỏa cảm xúc không lành mạnh, ảnh hưởng xấu đến công việc.”







Ðoạn phim thầy bắt trò nằm trên bàn, dùng roi quất vào mông được tung lên mạng. (Hình: VietnamNet)


Các con số kể trên được trích từ phúc trình của giảng viên trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, ông Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu cho rằng các thầy cô giáo tương lai của trường ông đang gặp nhiều nguy cơ đáng tiếc, hơn là thuận lợi trong “sự nghiệp gõ đầu trẻ.”


Báo Tuổi Trẻ còn nói rằng, một số giáo sinh sư phạm thiếu bản lĩnh nghề nghiệp, mà người trong giới sư phạm gọi đó là “kỹ năng mềm đặc trưng, tương thích với ngành sư phạm.”


Dư luận chưa quên vụ thầy giáo đánh một nhóm học trò xảy ra cách nay hai năm tại Sài Gòn được bí mật quay phim tung lên mạng đã khiến dư luận phẫn nộ.


Nhân vật chính của đoạn phim này là thầy giáo TPQ, giáo viên Sử của trường trung học tư thục Phan Châu Trinh ở quận Bình Tân, Sài Gòn. Thầy giáo TPQ. đã bắt bảy học sinh lớp 11 gồm 5 nam, hai nữ nằm dài trên bàn. Sau đó, thầy cầm cây roi màu đen giống cây ma trắc lần lượt quất vào mông của học sinh để trừng phạt về tội không chép bài.


Âm thanh từ đoạn băng cho thấy tiếng roi quất vụt vụt vào mông làm học sinh la hét thất thanh. Thầy giáo TPQ còn cầm roi chỉ vào mặt học sinh để dọa nạt.


Mới đây, hồi tháng 7 năm 2012 là vụ một thầy giáo đánh học sinh xảy ra tại trung tâm bồi dưỡng kiến thức cấp II ở thành phố Thái Nguyên. Ông thầy này tên Nguyễn Trung Thành, dạy môn toán được giao phận sự dạy kèm một nhóm 10 học sinh lớp 7 chuẩn bị lên lớp 8.


Ông Thành đã dùng roi đánh hai học sinh và biện minh rằng đó là mục đích “giúp học sinh tiến bộ.”


Dư luận cho rằng các vụ thầy cô giáo đánh đập học sinh xảy ra tại Việt Nam thời gian gần đây ngày càng nhiều cho thấy bạo lực tăng vọt không chỉ ở gia đình mà cả khu vực trường học vì đạo đức suy đồi nghiêm trọng.

58 thợ cao su trúng thực

 


 


ÐỒNG NAI (NV)Bữa ăn trưa với món canh khổ qua, đậu đũa xào và chả cá đã khiến gần 60 thợ cao su phải vào bệnh viện cứu cấp. Vụ trúng độc hàng loạt này xảy ra tại huyện Thống Nhất, tỉnh Ðồng Nai chiều ngày 25 tháng 8.









Thịt cóc làm chết người. (Hình: Báo Lao Ðộng)


Theo báo Tuổi Trẻ, khoảng 58 công nhân công ty cao su Ðồng Nai đã dùng bữa cơm trưa tại nhà ăn của công ty như thường lệ, sau đó nghỉ trưa rồi mới trở ra nông trường làm việc. Khoảng ba tiếng đồng hồ sau bữa cơm trưa, tất cả 58 công nhân này đều bị chóng mặt, mờ mắt… Nhiều người còn bị đau bụng, tiêu chảy, ói mửa dữ dội… Các nạn nhân được đưa vào bệnh viện cứu cấp, một số trở bệnh nặng thì được đưa vào phòng hồi sức, thở máy…


Cũng theo báo Tuổi Trẻ, ban giám đốc nông trường cao su Ðồng Nai từ chối việc cung cấp nguyên nhân gây nên vụ trúng độc hàng loạt nói trên.


Tuy nhiên, dư luận cho rằng có thể công nhân bị trúng thực vì ăn phải thức ăn có quá nhiều thuốc trừ sâu. Người ta cho rằng nông dân thường dùng một liều lớn hóa chất xịt vào trái khổ qua và đậu đũa để diệt sâu rầy. Trong số này, có nhiều loại hóa chất đã bị cấm sử dụng và hầu hết do Trung Quốc sản xuất.


Mới đây, người ta còn khám phá rằng khoảng 90% gia vị dùng để chế biến thực phẩm là hàng nhập cảng từ Trung Quốc không tên tuổi, không ghi rõ thành phần cấu tạo, rất độc hại cho người tiêu thụ.


Báo Lao Ðộng cũng cho hay đêm 25 tháng 8, một người đàn ông tên VDB 37 tuổi, cư dân tỉnh Quảng Bình thiệt mạng vì ăn thịt cóc trước đó khoảng 2 tiếng đồng hồ.

Việt Nam: Ba vụ cháy lớn, một người chết, bạc tỉ ra tro

 


 


HÀ NỘI (NV) Chỉ trong vòng hai ngày, ba vụ cháy lớn xảy ra tại Hà Nội, Mỹ Tho và Sóc Trăng làm một người chết, hàng chục ngôi nhà, sạp chợ ra tro.







Ba mươi sáu ngôi nhà gỗ giữa phố Hà Nội ra tro vì nổ bình gas. (Hình: Báo Người Lao Ðộng)


Báo Người Lao Ðộng cho biết vụ cháy ở Hà Nội xảy ra khoảng 7 giờ rưỡi sáng ngày 26 tháng 8 tại phố Ngọc Hà. Lửa bắt cháy đầu tiên tại một căn nhà ở khu tập thể Hàm Tử Quan rồi lan sang các căn nhà kế cận. Khoảng 36 ngôi nhà, phần lớn là nhà gỗ đã bị cháy rụi. Mất ba tiếng đồng hồ sau, ngọn lửa mới được dập tắt hoàn toàn.


Chủ nhân ngôi nhà phát hỏa đầu tiên là ông Hoàng Văn Quy 58 tuổi cho biết hỏa hoạn xảy ra vì bình gas nổ, bắt lửa cháy các vật dụng kế cận trong nhà. Mẹ của ông Quy là cụ Hoàng Thị Răm 91 tuổi chạy không kịp nên bị chết ngộp. Những người khác may mắn thoát nạn nhờ phá hàng rào kín ở lầu hai nhảy ra ngoài.









Chợ Mỹ Tho cháy lớn. (Hình: Báo Người Lao Ðộng)


Vụ cháy thứ hai xảy ra khoảng 3 giờ chiều cùng ngày nói trên tại một tiệm bán túi nylon thuộc khu chợ Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.


Theo báo Người Lao Ðộng, đây là vụ cháy lớn nhất thành phố Mỹ Tho trong nhiều năm nay. Con số thiệt hại về nhân mạng cũng như của cải trong vụ cháy này chưa được xác định.


Báo Người Lao Ðộng cũng cho hay, vào chiều ngày trước đó, hỏa hoạn xảy ra tại chùa Bưng Cóc thuộc huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Ngọn lửa hoành hành ngôi chùa suốt hai tiếng đồng hồ mới bị dập tắt. Các vật dụng được thờ phượng trong chánh điện nhà chùa đều bị thiêu rụi.


Theo cuộc điều tra ban đầu, chùa Bưng Cóc dùng đèn cầy to để thắp sáng nhân mùa Vu Lan. Không may một cây đèn cầy ngã làm lửa phừng cháy lan sang 24 cây đèn cầy khác, gây nên hỏa hoạn.


 

Ngồi ở Việt Nam sát phạt như ở sòng bài Cambodia

 


 


SÀI GÒN (NV) Vài tháng gần đây, một số trùm casino người Việt Nam ở Cambodia thiết lập mạng lưới cờ bạc trên Internet tại nhiều vùng ở Việt Nam và cả Trung Quốc. Mạng lưới này ngày càng mở rộng và thu hút nhiều tay chơi từ Tây Ninh cho đến quận 5, Bình Chánh, Bình Tân vì dân cờ bạc chỉ cần ngồi nhà sát phạt, không cần qua bên kia biên giới.







Sát phạt nhau trên mạng nối liền Cambodia, Việt Nam và Trung Quốc. (Hình: Việt Nam Net)


Một trong những trùm cờ bạc đầy thế lực này là bà Lâm Mạnh Nhi. Bà này có giấy tờ trú ngụ tại casino Mộc Bài, thường xuyên có mặt tại Cambodia, thỉnh thoảng mới trở về Việt Nam chỉ huy mạng casino của mình.


Bà trùm Nhi cho biết đã lắp đặt hai chảo antenna phát sóng tại Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh và thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh dành cho dân chơi ở Việt Nam và Trung Quốc vào mạng sát phạt như đang ngồi tại casino ở Cambodia.


Báo mạng VietnamNet cũng cho biết thêm, bà trùm cấp tài khoản cho các tay chơi ở trong nước để họ không cần xuất ngoại, chỉ cần tụ lại thành nhóm sát phạt.







Tang vật tịch thu tại quận 5, Sài Gòn của mạng cờ bạc quốc tế. (Hình: Việt Nam Net)


Cuộc điều tra của công an cộng sản Việt Nam nói rằng bà trùm Nhi đã mở một số đường dây cờ bạc qua mạng tại Sài Gòn, Cần Thơ, Tây Ninh… và dự liệu sẽ mở rộng mạng lưới khắp nước, cũng như tại các tỉnh Trung Quốc thuộc vùng biên giới Việt Nam.


VietnamNet cũng cho hay, hôm 24 tháng 8, công an cộng sản Việt Nam bắt được hai con bạc tên Lê Văn Ngỡi 29 tuổi, cư dân Bình Chánh và Dương Văn Sơn 43 tuổi, cư dân Bình Tân trong lúc đang sát phạt qua mạng với các con bạc ngồi tại casino ở Cambodia.


Cũng theo VietnamNet, đây là mạng cờ bạc đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam từ trước đến nay.

Việt Nam siết truyền hình cáp: Từ 50 còn lại 10

HÀ NỘI (NV)Theo Bộ Thông Tin cộng sản Việt Nam, thời gian tới sẽ khai tử và sáp nhập hàng loạt để Việt Nam chỉ còn 10, thay vì 50 hãng truyền hình cáp như hiện nay.







Ðài truyền hình cáp Việt Nam từ 50 sẽ còn 10 và cuối cùng chỉ còn… 3 cho đúng “chuẩn.” (Hình: Kiến Thức)


Báo mạng Kiến Thức dẫn lời của phó tổng giám đốc công ty viễn thông quân đội Viettel – Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng “các nhà kinh tế đã khám phá ra quy luật chung là tất cả các lĩnh vực kinh tế quy mô thường cuối cùng chỉ còn 3 đơn vị chiếm lĩnh thị trường.” Vì vậy, theo ông này, Việt Nam cũng chỉ nên có “con số 3 cho đúng chuẩn.”


Còn ông Phạm Khắc Lãm, cựu tổng giám đốc đài Truyền Hình Việt Nam cho rằng Việt Nam “nghèo mà chơi sang.” Ông này khoe đã đi Thái Lan và thấy nước này cũng chỉ có một đài quốc gia cho cả nước, và “không có nước nào nhiều đài truyền hình cáp như Việt Nam.”


Cũng theo Kiến Thức.net.vn, Việt Nam hiện có 50 đơn vị cung cấp sóng truyền hình cho người dân trong nước, kinh doanh theo kiểu rừng nào cọp nấy. Thấy có ăn là “đại gia đỏ” nhào vào kiếm chác, tranh phần.


Con số đó là quá nhiều, theo ông Trần Minh Tuấn, phó viện trưởng Viện Chiến Lược thuộc Bộ Thông tin CSVN, và đó là con số “phát triển manh mún.”


Ông Phạm Khắc Lãm cũng cho rằng việc khai tử và sáp nhập sẽ diễn ra trong thời gian tới vì “lợi ích toàn cục.”


Trong khi đó, theo ông Mai Sông Bé, giám đốc đài phát thanh-đài truyền hình tỉnh Ðồng Nai, việc “quy hoạch” lại dịch vụ đài truyền hình sẽ đẩy các đài truyền hình địa phương đến chỗ “ngóc đầu lên không nổi.”


Mặt khác, dư luận ở Việt Nam cho biết cho đến nay việc phát các đài truyền hình ngoại quốc vẫn nằm trong tay của nhà nước CSVN. Tư nhân tiếp tục bị cấm tiệt việc lắp antenna parabol để thu hình các đài truyền hình ngoại quốc từ sóng vệ tinh.

Tin mới cập nhật