Về “Nước ao hồ Mỹ nóng sôi, hàng ngàn cá chết”
Nước ao hồ Mỹ nóng, không có sôi.
Andy Diep
(Bỏ cộng sản thì thoát)
Hà Sĩ Phu
Trong “Thư gửi người đang yêu” nhà văn Phạm Ðình Trọng đã nói với những bạn bè còn vương vấn chút “yêu đương” với Chủ nghĩa Cộng sản, rằng chủ nghĩa Cộng sản mà học thuyết Mác-Lê vạch đường là một chủ nghĩa sai lầm, chỉ gây ra tội lỗi với đất nước, không thể sửa chữa mà chỉ có cách duy nhất là xóa bỏ tận gốc.
Có một thực tế là trong nước cũng không ít người đã suy nghĩ gần giống như vậy nhưng còn đắn đo chưa nói hết ra thôi. Nhưng kẻ xâm lược đâu có chờ ta, chúng cứ khẩn trương lấn tới, ngày một nguy hiểm. Nay quân xâm lược đã riễu binh đến sát cửa nhà, thậm chí vào rất sâu trong nội tình, nội địa.Trước tình hình ấy, nhiều Blogger đã bày tỏ ý kiến rốt ráo quyết liệt hơn trước. Tôi xin liên kết nhiều ý kiến về lý luận và thực tiễn đã có trên công luận, từ gốc đến ngọn, nói gọn lại cho rõ ràng hơn.
1. Nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lê đã xong về lý luận:
Chủ nghĩa Mác-Lê [1] là một lý thuyết muốn làm điều tốt nhưng nội dung tư duy lại phi khoa học, hoang tưởng, nên sau những phấn khích ban đầu, cuối cùng chỉ tạo ra những xã hội phi lý, đảo ngược luân thường, kìm hãm và phá nát xã hội, tạo những cơ hội bằng vàng cho những kẻ cơ hội chính trị lợi dụng nhảy lên thành những bạo chúa mới, và gây những tai họa cực lớn cho nhân loại, vì thế cần phải vứt bỏ.
Trải hơn một thế kỷ và trên phạm vi toàn nhân loại, đến nay nhận thức khoa học đào thải chủ nghĩa hoang tưởng ấy đã hoàn tất. Quanh vấn đề phê phán chủ nghĩa này bây giờ nói gì cũng chỉ là lặp lại (hoặc nhai lại) những điều đã giải quyết xong. Với một chân lý đã hiển nhiên thì mọi lý luận dài dòng đều là thừa. Chân lý đã có (căn cứ vào nhân loại văn minh) thì mặc nhiên sử dụng đâu cần chứng minh lại? Chân lý nằm ở cộng đồng nhân loại 200 nước, trong đó có tất cả những những nước tiêu biểu nhất cho tri thức nhân loại, hay nằm ở 4 nước Cộng sản tàn dư đang cố biến thái để tồn tại?
Với người có tim óc bình thường, chân lý ấy khỏi cần bàn cãi. Còn với những luận điểm “chày cối” thì vấn đề lại sang một bình diện khác, không còn ở lý luận khoa học, càng lý luận khoa học bao nhiêu lại càng vô ích bấy nhiêu.
2. Vấn đề Mác-Lê chưa xong trong thực tế Việt Nam
Mặc dù chân lý đã hiển nhiên, nhưng ở Việt Nam, với 3 “típ” người này thì chân lý ấy vẫn cứ “có vấn đề” để tranh cãi mãi không dứt:
– những người quá yếu về tư duy khoa học nên lạc hậu về nhận thức,
– những người có tư duy nhưng còn nặng duy cảm hơn duy lý, nên lúng túng chưa biết xử lý ra sao với gánh nặng tình nghĩa và di sản trong quá khứ
– những kẻ cố tình cãi chầy cãi cối vì mục đích duy lợi.
Tổng số 3 “típ” người này đang còn rất đông và còn chi phối xã hội, nên trong thực tế câu chuyện Mác-Lê chưa thể chấm dứt.
Tùy theo mức độ và động cơ khước từ chân lý mà họ có thể còn những nét đáng yêu, đáng thông cảm, hoặc đã thành đáng trách, đáng giận, hoặc đáng ghét. Với những trường hợp ấy hoặc chỉ cần nói ngắn gọn, chỉ nói vào những chuyện thực tế, hoặc phải ứng xử bằng cách khác, tuyệt nhiên không cần lý luận bài bản dài dòng như một đề tài triết học chuẩn mực cho phí công.
Lại có người suy nghĩ đơn giản: Chính ÐCS ngày nay thực chất có theo Mác-Lê nữa đâu, ta nói Mác-Lê nữa làm gì? Xin thưa, ÐCS chỉ bỏ một phần trong “Mác Kinh tế” thôi, đâu có bỏ lề lối chuyên chính Mác-Lênin-Staline trong hệ thống chính trị? ÐCS còn cần đến Mác-Lê cả về danh nghĩa lẫn nội dung.
Chủ nghĩa Mác-Lê (và dẫn xuất là tư tưởng HCM) vẫn là cơ sở để một đảng CS độc quyền có thể tồn tại, vẫn là yêu cầu có tính chất sinh-tử để duy trì một xã hội với nhiều điều ngang trái như hiện nay, mất nó điều 4 Hiến Pháp sẽ không có lý do tồn tại, đảng phải giữ nó như giữ con ngươi của mắt mình chứ không phải chỉ là cái vỏ hờ bên ngoài. Có điều là cái mà người ta cần đặt lên bàn thờ để sử dụng chưa hẳn đã là cái người ta coi là thiêng liêng (như sẽ nói thêm ở phần sau).
Thực chất khẩu hiệu “Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” không phải nhằm cái đích XHCN xa xôi mà ai cũng biết là không có thật, mà phải hiểu một cách thiết thực đó là “Kinh tế thị trường kiểu Cộng sản,” tức là quá trình “tư bản hóa theo những bài bản có lợi nhất mà giới CS chóp bu độc quyền mong muốn,” là dùng chuyên chính vô sản độc tôn để độc quyền tích lũy tư bản, không loại trừ quyền buôn bán tài nguyên và lãnh thổ quốc gia. Chừng nào quá trình tư bản hóa ấy đã xong thì cái vỏ Mác-Lê sẽ hết tác dụng, và buộc phải hết tác dụng, nếu không thì những nguyên lý “có áp bức thì có đấu tranh” và “đào mồ chôn Tư bản” sẽ quay ngược mũi dùi vào chính giai cấp Tư bản đỏ do Mác-Lê đẻ ra.
3. Vua đã cởi truồng, dân làm sao còn giữ “Lễ”?
Tại sao sự giả dối lại phát triển thành căn bệnh phổ biến và trầm kha như hiện nay?
Một chủ nghĩa phi khoa học lại muốn được mọi người tôn vinh là duy nhất khoa học để cả xã hội tuân theo thì đương nhiên phải lừa bịp, kết hợp với bạo lực áp đặt. Nhưng trong hai biện pháp đó thì cách lừa bịp, ngụy biện, giả khoa học để ngụy tạo sự “tự nguyện” mới là chủ yếu, là sở trường, còn bạo lực với nhân dân chỉ là phương án 2, phương án bất đắc dĩ. Nhưng sang giai đoạn mạt kỳ, thực tế đã phơi bày hết thảy, sự mị dân mất tác dụng, thì phương án 2 dần trở thành chủ yếu, các ÐCS phải bỏ sở trường dùng sở đoản là dùng bạo lực với nhân dân. Uy tín không còn, chính danh không còn, ngai vàng còn giữ được nhờ hết vào đội Kiêu Binh khổng lồ, rải khắp hang cùng ngõ hẻm.
Công an thì ngang nhiên tuyên bố “chỉ biết còn Ðảng còn mình,” quân đội chẳng những tuyên thệ trung với Ðảng mà còn tuyên bố nhân dân nào theo đảng mới được coi là nhân dân! Tóm lại, dưới gầm trời Việt Nam thì công an, quân đội đã là của đảng mà dân cũng là của đảng luôn (nếu không chấp nhận điều ấy thì thành thù địch). Kiêu binh vừa gắn chặt với Ðảng của xã hội đỏ lại vừa công khai đi sóng đôi với côn đồ của xã hội đen trước thanh thiên bạch nhật, kiêu binh thản nhiên làm điều vô pháp luật, luật là tao, tao thích bắt là bắt cần gì phải lệnh, kiêu binh đánh chết người nếu thích, kiêu binh sẵn sàng văng cả đồ dơ vào mặt những vị đương quyền tối cao của họ nếu cần thiết,… khi kiêu binh đã muốn ra oai với dân thì mặt mũi các quan đương triều cũng chẳng là cái đinh gì, vì họ thừa biết lúc này ai đang cần đến ai?
Phơi hết sự tàn bạo bất cận nhân tình không cần che đậy, đấy là sự tự bóc trần, tự “khỏa thân chính trị” của chế độ chuyên chính trong nước. Ðồng thời, sự chuyên chính trong thế giới Cộng sản với nhau cũng “khỏa thân” luôn không che đậy: việc chính thức thành lập thành phố biển Tam Sa với đầy đủ quy chế hành chính và quân sự, việc kêu gọi đầu tư ngay trong thềm lục địa đương nhiên của Việt Nam, đưa 23,000 tàu đánh cá tràn vào vùng biển Việt Nam… đã tự lột trần cái bản mặt giả dối của chủ nghĩa quốc tế Cộng sản đến mức không còn một chút lá nho, cả những 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt, và cuộc thi ca khúc Việt-Trung và lời kêu gọi tri ân kẻ xâm lược cũng trở nên trơ trẽn, hèn hạ không thể chấp nhận. Làm những điều quá hạ sách ấy, cả thế giới Mác-Lê như muốn thách thức công luận rằng “ông vô lý, ông tàn bạo, ông ngang ngược thế đấy, ông cứ làm trái ý dân, cứ làm trái công pháp quốc tế thế đấy làm gì được ông?”
Thế là vua đã cởi truồng tồng ngồng giữa phố như trong truyện ngắn Andersen mà hết thảy vẫn cứ đeo mặt nạ để ca ngợi bộ áo choàng quang vinh vô địch muôn năm! Thực chất chế độ Cộng sản chỉ là một chế độ phong kiến biến tướng [2], nên suốt nửa thế kỷ nay, dù oan ức đến mấy người dân vẫn phải cư xử, ăn nói nhỏ nhẹ cho phải đạo, nói có chỗ dù không bao giờ được trả lời, chỉ nói râu ria cấm nói vào chỗ phạm. Ngay cả khi có báo chí “lề trái” ở trong nước thì lúc đầu cũng chỉ dám nói vào những việc cụ thể, không chạm đến Ðảng, nếu muốn chạm đến gốc rễ của chủ nghĩa và lãnh tụ thì nói theo kiểu “ám chỉ” xa xôi nhưng ai cũng hiểu… Tất cả những hành vi đeo mặt nạ giả dối ấy chẳng qua là giữ Lễ trong một thể chế phong kiến cho phải đạo, ăn nói ra vẻ cung kính nể nang nhưng trong lòng đã hết tin yêu rồi.
Trò xiếc dối trá lẫn nhau, cố giữ bộ mặt đúng quy cách ấy không thể kéo dài mãi. Phía vua quan đã “khỏa thân tới số” thì dân chúng còn cung kính giả vờ sao được? Dùng súng hoa cải uy hiếp kẻ cưỡng chế đất, bắt nhốt công an để hỏi cung, phụ nữ liều mạng khỏa thân để giữ đất… là những hành động “phá cách”! (Nhưng mẹ con bà Lài đã lầm, cái giới hạn nhân cách tuyền thống mà bà tưởng là ranh giới phòng vệ cuối cùng thì trong thế giới của những Nguyễn Trường Tô-Hô đâu có giá trị gì?).
Ðến giai đoạn này thì các blogger trong nước cũng không giữ Lễ nữa: không cần ám chỉ mà kể thẳng tên người tên việc dù là thủ tướng hay tổng bí thư, hay Bộ Chính Trị. Mác-Lê không còn là điểm nhạy cảm phải kiêng, lại còn nghi ngờ rằng Ðảng và nhà nước có định chống xâm lược thật không (hay đã đồng tình với giặc xâm lược?), coi chính quyền chỉ là một đám cướp lớn phản động đã rõ ràng…
Một blogger tối thân cận với trùm chuyên chính vô sản đã gọi Hồ Chí Minh là “Ku Nghệ” mà không bị khiển trách thì đủ biết trong hậu trường họ đối với cụ Hồ cũng chẳng thành kính gì. Lại xuất hiện Blog quanlambao (là tiếng nói của nội bộ Ðảng, phe chỉnh đốn đảng chống phe tham nhũng) chửi thẳng như tát nước vào mặt đương kim thủ tướng còn hơn đánh kẻ thù mà không bị trừng trị.
Những ranh giới cũ đã bị phá hết. Một giai đoạn đối thoại mới, bằng ngôn ngữ khác trước, đã bắt đầu. Phía Ðảng và nhà nước đã dùng “ngôn ngữ” mới (gồm cả ngôn ngữ báo chí và ngôn ngữ hành động) thì nhân dân cũng dùng “ngôn ngữ” mới tương xứng. Vua đã cởi truồng, sao dân còn giữ Lễ mãi được? Tinh thần nói đúng sự thật, nói hết sự thật đang sang một chất lượng mới…
Cuộc đối thoại mới đã bớt đi rất nhiều mặt nạ phù phiếm để đến gần với sự thật hơn, bổ ích hơn, khẩn trương hơn, hiệu quả hơn. Những lời mạn đàm này gửi đến bạn bè cũng trên tinh thần mới và ngôn ngữ mới ấy.
Một khía cạnh khác của nhu cầu nói thật là nhu cầu về phương pháp. Nếu phía quyền lực đã dùng phương pháp che đậy, ngụy trang, mơ hồ, chung chung… mà phía phản biện cũng chơi đúng theo cách ấy thì thua! Trong bóng đá người ta bảo thế là “bị áp đặt lối chơi,” phải hết sức tránh. Lúc đầu nói thật quá e sẽ bị quy chụp nên phải thủ thế, nhưng nay đã khác.
4. Tình hình đã quá chín muồi cho một cuộc xâm lược
Khi Trung Quốc chính thức thành lập thành phố Tam Sa (gồm 2 quần đảo HS và TS của Việt Nam) và đưa 23,000 tàu đánh cá vào vùng biển VN nhiều người gọi hành động ấy là liều lĩnh và lấy làm ngạc nhiên. Thực ra không đáng ngạc nhiên và Trung Quốc không hề liều lĩnh khi đã thiết kế chiến lược một cách vững chắc và tính toán cụ thể chắc ăn trăm phần trăm.
Do vị trí địa-chính trị nên Việt Nam trở thành cửa ngõ mà chủ nghĩa Ðại Hán buộc phải chiếm lĩnh để bành trướng về phía nam, nhưng Việt Nam trước đây đã kiên cường và mưu lược, phá tan mộng xâm lăng ấy của Trung Quốc.
Bất hạnh thay, sự xuất hiện trào lưu Quốc tế Cộng sản hoang tưởng đã cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội bằng vàng. Họ tận dụng những đặc trưng của Cộng sản để đưa con mồi vào lưới. Con mồi tự tìm đến cái bẫy, nhưng bị tấm màn “Quốc tế đại đồng” che mắt, nhìn cái bẫy thành chốn ruột thịt nương thân. Những năm 1949-1950 khai thông biên giới Việt Trung, một VN đã kiệt lực buộc phải dựa hẳn vào Trung Quốc để có sức đánh nhau với Pháp, những món hàng viện trợ từ vũ khí, quân trang quân dụng đến nhu cầu dân sinh là khởi đầu những trói buộc có tính chiến lược, là sợi dây thòng lọng đầu tiên, tận dụng những quan hệ thân thuộc của những người lãnh đạo đã có với Trung Quốc làm sợi dây liên kết.
Cái thòng lọng thứ hai là do chuyến ngoại giao cầu hòa của Việt Nam diễn ra tại Thành Ðô ngày 3-4 tháng 9, 1990. Xét trong quan hệ có tính lịch sử giữa 2 kẻ thù truyền kiếp thì cuộc cầu hòa này chính là cuộc tuyên bố đầu hàng. Với hiệp ước Thành Ðô (nhất định lịch sử sau này sẽ bạch hóa) Trung Quốc đã tẩy rửa được dấu vết chống Trung Quốc của Việt Nam tượng trưng bởi ý chí chống Tàu cứng rắn của TBT Lê Duẩn và cuộc chiến biên giới 1979. Sau hội nghị Thành Ðô kế hoạch xâm lược đã thiết kế xong những nước cờ căn bản.
Từ đấy trở đi, chỉ cần 4 năm một lần Trung Quốc khống chế người cầm đầu Việt Nam , tức tổng bí thư đảng, là đủ cho kế hoạch xâm lược tiến hành trôi chảy. Muốn vậy phải giữ cho VN yên vị theo chế độ Cộng sản, không được dân chủ hóa, không được liên kết chiến lược với Hoa Kỳ.
Kết quả của chủ trương liên kết chiến lược với Trung Quốc và liên kết lửng lơ với Hoa Kỳ là đã tạo những “điều kiện cần” và “điều kiện đủ” cho cuộc thôn tính Việt Nam một cách hòa bình. Ðiều kiện “cần” là một bộ máy lãnh đạo Việt Nam phải là bộ máy thân thiện Trung Quốc, không coi Trung Quốc là xâm lược, đồng thời nhân dân Việt Nam thì tinh thần bạc nhược, không quan tâm đến sự đe dọa của Trung quốc, chấp nhận để “Ðảng và Nhà nước lo.” Ðiều kiện “đủ” là làm sao khống chế được sự phản kháng của lực lượng tinh hoa là những người Việt còn giữ được sự cảnh giác và lòng quyết tâm bảo vệ đất nước, không cho họ đánh thức được dân chúng, đồng thời Hoa Kỳ và quốc tế không can thiệp.
Khi ÐCSVN đã cam kết với ÐCS TQ thực hiện đủ những điều kiện ấy, thì (xin lỗi) chỉ một Trung Quốc ngu mới không tiến hành xâm lược Việt Nam.
Giữa lúc quân xâm lược kéo binh mã rầm rập vào trong biên cương Tổ quốc mà các thủ lĩnh tối cao thì im phăng phắc, nhưng ra lệnh cho khắp nơi hát vang lời hữu nghị và tri ân, cho tướng lĩnh đứng ra tay bắt mặt mừng, và ra sức bắt giữ những người phản đối xâm lược! Cảnh tượng diễn ra như một trận công thành được chuẩn bị chu đáo, có nội công, vô hiệu hóa lính gác, vô hiệu được quân lính trong thành, lại tổ chức sẵn một đội kèn trống chào mừng, nghênh đón sứ quân của thiên triều. Tất cả như có sự phân công, phối hợp trong ngoài vậy. Chẳng trách người dân phải đặt thẳng sự nghi ngờ vào lòng dạ của người cầm vận mệnh đất nước:
“Nguy cơ mất nước là hoàn toàn có thật. Ðến lúc này nhân dân buộc phải hỏi: Ðảng và Nhà nước có thực sự muốn chống xâm lược không?”
(Cả đến việc thông qua Luật Biển, làm nức lòng nhiều người, nhưng tiến hành song song với những động tác ve vãn kẻ xâm lược và cấm dân biểu tình thì có đáng tin không hay chỉ là “đánh trận giả” để đánh lừa dân chúng, giúp kẻ địch tiến thêm một bước nguy hiểm?).
Thiên vạn cổ chưa có trận chiến nào được bố trí vẹn toàn như thế, sao lại bảo cuộc tấn công ấy là liều lĩnh được? Chiến thắng trong tầm tay, an toàn 100% như thế mà không tiến công thì Trung Quốc ngu à?
5. Giải Cộng nhi thoát!
Có từ bỏ Mác-Lê cùng với cái gọi là XHCN mới cứu được nước!
Xem như vậy thì suốt từ 1950 tới nay (2012), tất cả những thiết kế chiến lược và thực thi từng bước chiến thuật cho sự thôn tính Việt Nam kiểu mới của Trung Quốc đều phải dựa trên một nhân tố trung tâm và quán xuyến là đảng Cộng sản, thiết chế Cộng sản, và quan hệ Cộng sản. Việt Nam nếu không là Cộng sản thì Trung Quốc hoàn toàn bó tay.
Vậy, theo lô-gích, đáp số của bài toán phòng thủ đất nước trước nạn Tân Bắc Thuộc đã hiện ra rõ mồn một. Một Việt Nam 90 triệu dân, dân chủ pháp quyền phi Cộng sản, có bầu bạn khắp năm châu, chẳng có lý gì phải nằm trong vòng tay “ôm ấp” của Trung Quốc thì anh bạn khổng lồ xấu tính buộc phải nhớ đến những Chi Lăng, Bạch Ðằng, Ðống Ða mà chìa bàn tay hữu nghị giao thương với sự bình đẳng và kính nể.
Truyện kể rằng: Tướng nhà Minh Lưu Bá Ôn vào thăm mộ Khổng Minh, mặc giáp sắt khi đi qua cổng lát bằng nam châm liền bị hút chặt xuống đất. Lưu Bá Ôn đang luống cuống bỗng ngước nhìn lên thấy một bức hoành trên đề bốn chữ “Giải y nhi thoát.” (Cởi áo ra thì thoát) bèn làm theo…
Nay chủ nghĩa Mác-Lê đối với ÐCSVN cũng chỉ như chiếc áo giáp sắt, mặc vào là bị thanh nam châm khổng lồ Trung quốc hút chặt, không ngẩng lên được. “Giải Cộng nhi thoát,” là cách tự cứu duy nhất, đẹp lòng dân tộc, và vẹn cả đôi đường.
Kết luận: giờ nguy biến đã điểm!
1. Trước mắt, muốn cứu nước, dân ta cần phá cho được cái chiến lược “diễn biến hòa bình” trong quan hệ Trung-Việt, mà thực chất là xâm lược hòa bình và làm mất nước một cách hòa bình! Họ muốn đô hộ một nước khác mà không cần gây một cuộc chiến tranh xâm lược, kế hoạch thật là thâm độc!
Chiến lược xâm lược hòa bình này do nhà cầm quyền Tân Ðại Hán khởi thảo và áp đặt, ÐCSVN tự sa vào thế kẹt buộc phải làm theo. Hai đảng thỏa thuận kín, quyết định số phận của Việt Nam là nước nhỏ hơn, nhân dân cả hai nước đều được sử dụng như những công cụ.
Chỉ có nhân dân Việt Nam mới giúp được ÐCSVN ra khỏi thế bị kìm kẹp này. Nhưng muốn vậy ÐCS phải dũng cảm chịu đau một chút, khiêm nhường một chút, giảm đi một chút lòng “kiêu ngạo cộng sản” vô lối, để thừa nhận nhân dân, để “lột xác,” thoát khỏi chủ nghĩa hoang tưởng phản tiến hóa để trở về với dân tộc, tìm lại sự vinh quang chính đáng trong niềm kiêu hãnh chung của cả dân tộc.
Bằng sự gặm nhắm của chiến lược Việt-Trung hữu hảo diễn biến hòa bình, “cái ổ chim đại bàng” mà tổ tiên ta gây dựng đang từng ngày từng giờ chật hẹp dần lại một cách toàn diện, thành“cái tổ con chim chích” như vua Trần Nhân Tông đã lo trước nhiều thế kỷ. Họa mất nước đã nhỡn tiền!
Không nhân dân nào thích chiến tranh, nhưng lời QUYẾT CHIẾN, chứ không HÒA, của Hội Nghị Diên Hồng là vết son trong lịch sử. Hòa bình là quý, nhưng hòa bình để mất nước êm như ru là thứ hòa bình đáng nguyền rủa, không thể so với sự diễn biến hòa bình để tự chuyển hóa thành một nước dân chủ văn minh, chính là thứ hòa bình công chính và kiêu hãnh, không kẻ nào chống được.
2. Về căn bản và lâu dài, xuất phát từ nhu cầu xây dựng đất nước cũng như từ yêu cầu bảo vệ đất nước khỏi hiểm họa Bắc thuộc, xã hội Việt Nam phải từ giã ảo tưởng Cộng sản, trở về một chế độ dân chủ lành mạnh thông thường như các nước văn minh, không có con đường nào khác. Chừng nào còn giữ chế độ gọi là “Xã hội chủ nghĩa” bên cạnh anh Cộng sản khổng lồ Trung Quốc, thì họa mất nước là thường trực.
Có thể ÐCSVN lường trước bước thứ hai này nên nghi ngờ và cấm người dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược?
Tôi nghĩ mọi việc hoàn toàn trong sáng, không có gì thủ đoạn ở đây. Cần nói thật với nhau rằng việc trước mắt cũng như lâu dài đều đòi hỏi phải tháo vòng Kim-Cô chuyên chính Vô sản, nhưng tính chất hai việc khác nhau xa. Kẻ xâm lược là giặc đến từ bên ngoài, cần phải làm cho họ thất bại trong âm mưu đó, việc ấy phải làm ngay không thể chần chừ, hoàn toàn không giống với quan hệ người trong một nước với nhau, quan hệ được cố kết bởi tình yêu Tổ quốc ngàn đời thiêng liêng, để cùng xây dựng một đất nước văn minh là điều hoàn toàn có thể thực hiện được, mà nước Ðức là một tấm gương đầy thuyết phục.
(9 tháng 8, 2012)
H.S.P.
(Nguồn: Ðàn Chim Việt)
Chú thích:
[1] Sai lầm gốc từ Mác nhưng phải cộng với Lênin mới thành một thể hoàn chỉnh về chính trị và lan rộng ra thế giới.
[2] Hà Sĩ Phu : http://www.hasiphu.com/ll3.html
Phần viết thêm
Cần thoát khỏi một vài ngụy biện và những suy nghĩ tự trói buộc
* Nhiều đảng viên rất lo ngại cho hiện tình xuống dốc và bất lực của đảng hiện nay, nhưng băn khoăn trước câu hỏi: Ðảng không ưu việt sao đánh được Pháp, được Mỹ? Ðảng cũng làm được nhiều việc tốt đấy chứ? Ba triệu đảng viên hầu hết là tốt thì đảng sao lại xấu được? Xin nêu tóm tắt mấy ý góp phần giải đáp:
1. Mác-Lê vào được Việt Nam là do tháp tùng lòng yêu nước, những thành tựu có được là do tựa vào sức mạnh yêu nước của dân tộc mà có. Ở đâu và khi nào nhân tố chuyên chính vô sản phát huy tác dụng, lấn át truyền thống dân tộc, thì ở đó, khi đó, phát sinh sai lầm và tổn thất.
2. Cái tốt chủ yếu ở giai đoạn đầu, khi cầm quyền là bắt đầu thoái hóa, càng củng cố được quyền lực thì càng thoái hóa, càng về sau càng thoái hóa. Muốn lấy lại thiện cảm thì phải “ăn mày quá khứ.”
3. Cá nhân đảng viên có thể tốt, nhưng đứng trước tổ chức thì những cái tốt cá nhân bị vô hiệu hóa. Tổ chức Cộng sản là phép cộng những “số dương” thành một “số âm,” sử dụng rất nhiều người tốt để thực hiện một điều huyễn hoặc, không tốt. Càng lên trên thì tính “bản thiện” của con người càng bị tính chuyên chính sai lầm của tổ chức lấn át, cho nên càng lên trên càng tiêu cực. Tham nhũng độc quyền ghê gớm nhất đều ở cấp cao. Chính gương tốt, liêm chính, của các đảng viên ở cơ sở là tấm bình phong che cho tội lỗi của cấp cao
4. Bởi là người tốt, người yêu nước, nhưng bị dòng lịch sử cuốn vào một trào lưu huyễn tưởng nay đã bị lịch sử đào thải, thì mỗi người đảng viên cộng sản đều phải chọn một trong hai sự “phản bội” không thể thoái thác: hoặc cứ nhắm mắt theo chủ nghĩa thì phản bội dân tộc, hoặc đặt dân tộc lên trên thì sẵn sàng từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê ảo tưởng, đó là sự từ bỏ, sự “phản bội” đáng ca ngợi.
5. Một ngụy biện nhằm chống biểu tình:
Người dân muốn biểu thị quyết tâm chống xâm lược, bảo vệ đất nước thì phương pháp truyền thống ở mọi quốc gia là biểu tình. Muốn giúp cho quân xâm lược khỏi bị làm phiền thì nhà cầm quyền Việt Nam hứa với họ là kiên quyết cấm dân VN mình biểu tình. Nhưng không thể công khai cấm biểu tình (vì cấm là phi lý và thất nhân tâm) thì cấm những gì liên quan không thể tách rời với biểu tình là đi đông người trên phố, bèn quy tội là gây rối trật tự, ảnh hưởng đến giao thông. Ðây là ngụy biện dùng “mẹo Trạng Quỳnh”: nếu không thể cấm ỉa thì cấm đái, không được đái thì làm sao mà ỉa? Thế là không cấm biểu tình mà dân không biểu tình được.
Nhà nước ta quả là nhiều sáng kiến và tận tâm với bạn vàng xâm lược. Nhưng xin thưa điều quy kết này là bậy bạ và phạm pháp. Ðường sá là của toàn dân, người dân được sử dụng để đi lại thông thường và đi lại trong những việc đông người chính đáng: đám cưới, đám tang rất cản trở giao thông, đón rước, hội hè rất cản trở giao thông&thì giao thông tạm ngừng một thời gian ngắn, có sao đâu? Biểu tình bảo vệ Tổ quốc còn chính đáng và quan trọng hơn mọi sinh hoạt khác, giao thông phải tạm dừng để phục vụ biểu tình cũng là chính đáng, huống chi lèo tèo vài trăm người thì cản trở nỗi gì? Mẹo “cho ỉa nhưng cấm đái” này sẽ còn phát huy nhiều ngụy biện xảo trá khác nữa, nhưng nhân danh một “Chính” quyền mà dùng mẹo bẩn như vậy thì còn “chính” nữa không?
Về “Tại sao Việt Nam sợ biểu tình chống Trung Quốc?”
Trước khi vào vấn đề, xin có câu chuyện nhỏ về 2 em bé. Em A hung dữ muốn trấn áp em B; Nó nói, “Nếu mầy không nghe lời tao, tao sẽ mét bố mẹ mầy về hành động của mầy (hành động của em B bị em A hung dữ bày để em B dính bẫy). Em B sợ và sẵn sàng tuân phục theo ý em A. Việc lớn hơn là quốc gia. Cộng Sản VN đi đêm bán nước cho TC (Trung Cộng) từ lâu, chức lớn bán lớn, chức nhỏ bán nhỏ. Lịch sử hiện đại đã chứng minh.
Trở lại chuyện 2 em bé kể trên, áp dụng vào đất nước, có thể nhà cầm quyền VN đã ký văn bản bán nước rồi; nên phải theo lệnh bọn Hán Cộng thôi: Là triệt tiêu những nhóm biểu tình để củng cố quyền cai trị của chính quyền CSVN và thần phục CSTQ. Những màn chống TC (Trung Cộng) chỉ là những màn trình diễn sân khấu được thông qua với TC để chứng tỏ mình đang chống; nhưng thực ra là đã bán nước rồi!
Nhà cầm quyền CSVN sẽ ra sức chống mọi biểu tình chống TC theo lệnh của TC…
Làm sao đảng cầm quyền VNCS không thể không tuân lệnh!!!
Câu trả lời muốn giữ nước VN là cho toàn dân VN, trong nước và hải ngoại!!!
an danh
Bất hạnh cho đất nước Việt Nam, bất hạnh cho dân tộc Việt kiêu hùng đã và đang bị một lũ ươn hèn đốn mạt cai trị, những kẻ có thể làm bất cứ điều gì để được “vinh thân phì gia,” kể cả việc kính cẩn dâng cho ngoại bang giang sơn gấm vóc mà bao đời nay dân Việt đã đổ bao xương máu để bảo vệ và gìn giữ…
Hung
Chính xác là một bộ phận trong chính quyền CSVN thực sự sợ Trung Cộng. Những người này run sợ trước TC không phải là do sức mạnh quân sự vượt trội mà là vì TC nắm rất rõ những “fault” của những vị này. Nếu TC nêu ra những trò ma mãnh, tham ô, hối lộ, tài khoản ở nước ngoài thì chắc chắn dân sẽ không để yên cho họ lãnh đạo dân tộc VN. Thế nên tốt nhất là đàn áp dân để “show” cho TC thấy lòng trung thành với “mẫu quốc.” Thế nên một chính thể được xây dựng trên cơ sở tham nhũng thì đừng nói đến lòng yêu nước, dũng khí, họ chỉ nghĩ đến cái tôi riêng của họ thôi. Họ sử dụng các lực lượng công an mật vụ để đàn áp những người yêu nước VN chân chính, để TC giữ kín những trò hắc ám của một nhóm chóp bu, tuy nhiên lịch sử sẽ làm rõ vấn đề này rất sớm.
Tien Long
Là người đã từng sống trong chế độ CS hơn nửa đời người, cho nên tôi hiểu rất rõ cái lý do vì sao ÐCSVN cấm người dân biểu tình? Thật ra giới cầm quyền CSVN chẳng có nổi một cái đầu ra hồn để có thể phân tích thế trận và kế sách với Trung Cộng được như chúng ta đã và đang phân tích trên các phương tiện thông tin như hiện nay. Ðối với họ thì cái làm họ lo sợ nhất là sự nguy hiểm từ các cuộc biểu tình có tính cách chống Trung Cộng sẽ lan rộng và chuyển sang thành các cuộc biểu tình bạo động nhằm lật đổ chính quyền, do vậy họ thẳng tay đàn áp nhằm dập tắt cho dù đó là các cuộc biểu tình yêu nước chống Trung Cộng. CSVN thật sự là bậc thầy trong việc kích động, điều khiển và sử dụng đám đông quần chúng nhân dân phục vụ cho các mục đích đen tối của họ, cho nên họ thật sự rất sợ hãi khi thấy đám đông quần chúng tụ tập. Không phải chỉ có bây giờ họ mới lo sợ các cuộc biểu tình không do chính họ tổ chức và điều khiển. Ngay từ sau năm 1975, họ đã cấm đoán các cuộc biểu tình tự phát, đối với tất cả các cuộc biểu tình kiểu như vậy đều bị họ gán ghép chụp mũ là phản động, là tụ tập gây rối chống đối chính quyền cách mạng. Chung quy lại cũng là do cái bản chất giảo quyệt và hèn nhát trước sức mạnh lẽ phải của nhân dân, cộng với nỗi sợ hãi bị mất ngôi vị độc tôn của ÐCS cho nên họ vẫn sẽ tiếp tục ra tay đàn áp tất cả các cuộc biểu tình cho dù với bất cứ hình thức nào và với bất cứ nội dung gì.
Như HCM đã từng phát biểu (nếu tôi nhớ không lầm) thì chỉ có CS mới diệt được CS (như đã từng xảy ra với khối Ðông Âu đầu thập niên 90), do vậy chúng ta hãy tiếp tục chờ xem diễn biến tình hình chính trị tại VN thêm một thời gian (ngắn) nữa, tôi cho rằng đã đến thời điểm ấy khi mà sự ủng hộ từ nhân dân và cả chính các đảng viên CS dành cho giới lãnh CSVN hiện nay ngày càng ít đi, ngược lại lòng căm thù ngày càng tăng lên, tình trạng tranh chấp đấu đá trong nội bộ lãnh đạo đảng, tình trạng lãnh đạo CS địa phương tự tung tự tác, bất tuân lệnh cấp trên (trung ương), nhanh chóng vơ vét của cải là những dấu hiệu cho thấy ngày tàn của chế độ đã điểm. Chỉ một thời gian ngắn nữa thôi các bạn!
Phu Du
Về “Dân Việt và Olympic London”
Tôi đề nghị báo NV hãy làm phóng sự về một người Việt Nam ở Ðức đang được hai huy chương bạc về môn gymnastic. Ðây là một vinh dự lớn cho người Việt trong nước và ngoài nước. http://en.wikipedia.org/wiki/Marcel_Nguyen
Bruce Tran
Về “Làm sao giúp đỡ thương binh VNCH?”
Tôi đã liên lạc với website TPB. Nhưng gần cả tuần không được trả lời. Tôi cần danh sách TPB/VNCH đang sinh sống tại Ðà Nẵng để có thể tiện bày tỏ một tấm lòng!
nguyen my khe
Tòa soạn trả lời: Ðộc giả có thể liên lạc với Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH tại hai số điện thoại (714) 590-8534 và (714) 539-5345.
WESTMINSTER (NV) – Một số hội đoàn cộng đồng Việt Nam vừa tổ chức đêm thắp nến tưởng niệm bà Ðặng Thị Kim Liêng tại thương xá Asian Village, Westminster, tối Thứ Năm. Bà Liêng vừa qua đời vì tự thiêu tại Bạc Liêu mới đây.
Bà là mẹ của blogger Tạ Phong Tần, hiện đang bị an ninh Việt Nam giam giữ và truy tố tội “tuyên truyền chống nhà nước.” Trong hình, ông Lâm Quang Hải, hội trưởng Hội Ðồng Hương Bạc Liêu, chuẩn bị nhang cho đồng hương tại lễ tưởng niệm. Xin xem chi tiết vào số báo sắp tới. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Hà Giang/Người Việt
LTS: Nhân dịp về thăm California, nhà văn Ðặng Chí Bình, tác giả bộ sách Thép Ðen, kể lại một cách sống động, tỉ mỉ nhà tù Hỏa Lò của Cộng Sản tại Hà Nội, nơi ông bị giam cầm trong thời gian 18 năm, những cuốn sách mà bất cứ ai cầm lên đều khó bỏ xuống cho đến khi đọc hết. Trước năm 1975, ông từng ra Bắc thi hành nhiệm vụ trong vai trò điệp viên VNCH. Ông đã dành cho nhật báo Người Việt cuộc phỏng vấn sau đây, do Hà Giang thực hiện.
Hà Giang (NV): Nhà văn Ðặng Chí Bình, xin ông cho biết tại sao có mặt tại California?
Ðặng Chí Bình: Ðúng là một cái cơ duyên. Tôi sang California chơi chỉ có mấy ngày, sáng mai đã phải trở về Boston, hân hạnh có mặt. Ông cụ 80 rồi.
NV: Cuốn sách định đọc một vài trang là không thể bỏ xuống được. Phải mất bao lâu thì ông mới thực hiện xong bộ sách Thép Ðen, và điều gì khiến ông cho những dòng viết của ông nó rõ mồn một như sự kiện đang xẩy ra trước mắt, và khiến cho người đọc cảm thấy như mình đang đứng ở trong tù, và đang đứng ở trong cảnh như một cuốn phim vậy?
Nhà văn Ðặng Chí Bình trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Ðặng Chí Bình: Cám ơn cô Hà Giang, câu hỏi của cô khiến óc tôi trở lại với những năm tháng ở trong Hỏa Lò Hà Nội. Phải nói rằng nó quằn quại lắm. Tôi đến đây, khi tôi (bắt đầu) viết, có một số bạn bè tôi bảo anh đừng có viết nữa, bởi vì ở hải ngoại này, đấy là năm 1984, hải ngoại này rất nhiều những hồi ký viết về tù đày rồi, anh có viết nữa thì cũng xuôi theo dòng đời. Tôi cũng đồng ý, tôi đi làm, nhưng rồi những đêm khắc khoải, nhìn về quê hương dân tộc, nó còn băn khoăn, khắc khoải, dằn vò trong lòng tôi, cho nên tôi quyết định là phải viết, dù mình không bao giờ viết, nhưng cứ viết, chỉ cần sự thật.
Thưa với cô, như tôi đã nói lúc nãy, tôi là một điệp viên do bối cảnh đẩy xô, nhưng tôi học hành giáo huấn của tổ tiên dân tộc Việt là thật thà là cha quỷ quái. Không phải nhà văn, không viết bao giờ cả, thì cứ viết thật nó ra, cần nhất có trí nhớ. Giai đoạn tôi viết, ở ngay Boston, tôi vừa vượt biên tôi đến đây, phải đi làm tôi mới có tiền để thuê một cái buồng, tôi không có chỗ nào tôi ở, không có tivi tủ lạnh, không có bạn bè, không có phương tiện gì để nghỉ ngơi. Vì vậy tôi chỉ xin ai cho tôi một cái gầm cầu thang, một basement nào đó, tôi ngồi một mình tôi, không cần biết gì với cuộc đời. Tôi tìm lại óc tôi, những năm tháng 40 năm xưa.
NV: Tại sao cuốn sách này lôi cuốn mình đến thế, có phải là vì tác giả là một điệp viên, nên có một nhận xét tinh vi sâu sắc, nhớ nhiều được chi tiết? Theo ông thì yếu tố nào quan trọng, hay vì tâm tư mình muốn chuyển tải hay vì trí nhớ của mình?
Ðặng Chí Bình: Có mấy yếu tố, nhưng yếu tố cao nhất là vì nỗi quằn quại vì quê hương tôi vẫn còn ở trong chế độ cộng sản.
NV: Khi thành hình xong được cuốn sách thì cảm tưởng đầu tiên của nhà văn là như thế nào?
Ðặng Chí Bình: Vì viết ba, bốn giai đoạn, khi tôi viết xong cuốn thứ 4, năm 2005 mới là xong. Lúc đó tôi cảm thấy còn một trằn trọc, khắc khoải nợ với quê hương dân tộc là rõ ràng trong khi tôi ở tù, khi ra khỏi tù, khi đi ra hải ngoại, tôi vẫn niêm trong lòng, tôi là người có tội với quê hương, đã làm việc nhỏ cho quê hương mà đã không hoàn thành, vì do bất tài, do kém khả năng, cho nên vì khắc khoải mà còn tí trí nhớ nào nữa, còn máu còn xương tí nào nữa, thì tôi cũng vận dụng, dù khổ cực, đói khổ như tôi đã vừa trình bày, tôi đã sẵn sàng hy sinh để cố gắng hoàn thành, và khi xong thì tôi thấy mình đã trang trải được lòng ra, đã trả được một món nợ nhỏ với quê hương dân tộc.
NV: Ðược biết nhà văn Ðặng Chí Bình phải ở tù trong một thời gian dài 18 năm, ông có thể chia sẻ là thời gian ở tù đó đã thay đổi con người của ông như thế nào, và những tâm tư gì làm ông dằn vặt nhất trong thời gian dài đằng đẵng ở trong Hỏa Lò như vậy?
Ðặng Chí Bình: Ngay từ khi tôi bắt đầu vào cái ngành nghề này, thì tôi hiểu, và nhiều người cũng hiểu như thế là cái ngành nghề này nó là chết và sống. Tôi đã gọi cái nghề này là cái nghề hang một lỗ, tức là không có lối thoát nào khác. Bị đối phương bắt, hay là nếu không bị đối phương bắt mà ở nhà thì người ta cũng không dùng nữa đâu. Vì thế quan niệm của tôi lúc đó là khi nhận nhiệm vụ đẹp nhất là hoàn thành nhiệm vụ trở về. Không được như thế, cái thứ nhì là bị bắn chết, một cái chết đàng hoàng, đối với tôi cái chết nó không là gì cả, ngay bây giờ vẫn thế.
Còn cái thứ ba, cái xấu nhất là cái bị bắt thì tôi lại rơi vào cái đó. Rơi vào cái thứ ba thì trước sau gì cũng chết thôi, nhưng trước khi chết thì còn bị quằn quại, đau thương, chịu biết bao tra tấn, vì mình là điệp viên mà. Cho nên vào trong tù rồi, thì tôi đã chấp nhận nó rồi. Khi mà mình không có cái mình muốn, thì mình phải tạo điều kiện để mình thích cái mình có vậy. Cô có biết không, ở trong tù, hai chân tôi ở trong cùm, chân tay tôi nó sưng vù không có ai nom dòm gì đến, một thằng điệp viên mà.
Nhà văn Ðặng Chí Bình (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Mấy người phi công Mỹ, họ ở trại chung, họ ngang tàng đánh nhau đấy, họ bị phạt, hai người bị mang ra hai nơi. Tôi nhớ lúc đó tôi đang ở xà lim số 1, hai người kia, một người ở xà lim số 8, một người ở xà lim 14, cách xa nhau lắm, còn tôi thì ở khoảng giữa này. Ngày xưa mình xem phim Mỹ xem phim Tarzan, phim mọi da đỏ, tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng Mỹ khóc. Ðêm hôm đó, tôi nghe thấy tiếng gấu kêu, đêm không ngủ được, khắc khoải. Nghe thấy tiếng gấu kêu thì tôi bò dậy tôi xác định, định vị lại thì tôi biết đó là từ buồng số 8 của người Mỹ, vậy là lần đâu tiên tôi nghe thấy Mỹ khóc, mà nó mới vào được khoảng 20 ngày thôi, mà nó không bị cùm, mà tôi còn đang bị cùm hai chân. Thế rồi một thằng khóc, rồi cái thằng kia chắc nó cũng chạnh lòng quê hương, thế là hai thằng cùng khóc, tôi nghe như gấu kêu. Phải hiểu rằng tôi sáu năm ở trong xà lim kín một mình tôi, sáu năm đó nó dài như thế nào.
NV: Trong thời gian dài đằng đẵng như thế thì cái ý nghĩ gì, tâm nguyện gì đã nuôi sống nhà văn để cho ngày hôm nay ông vẫn còn quắc thước, tinh anh, còn oai vệ, và không thấy dấu tích gì của một người bị tù khổ sai trong thời gian lâu như vậy?
Ðặng Chí Bình: Ít nhất cô phải đồng ý với tôi rằng ý chí của một con người rất quan trọng. Nếu người nào có ý chí mạnh, tức là “strong-will” đó, thì sẽ có khả năng giải quyết được nhiều khó khăn của cuộc đời mình. Ở trong tù, tôi bị cùm như thế ở trong xà lim, tôi bắt chước Nguyễn Công Trứ, để tâm hồn mình siêu thoát. Tôi mơ những giấc mơ mà tôi không có.
NV: Với đầu óc tinh vi, và cái nhìn sâu sắc của một cựu điệp viên, nhìn về đất nước Việt Nam, ông có nhận định nào khác với suy nghĩ của những người bình thường chung quanh không?
Ðặng Chí Bình: Nói thật với cô, nghĩ về đất nước Việt Nam, tim gan tôi vẫn còn rỉ máu ngày đêm, mặc dù cười nói với vợ với con, vui vẻ với mọi người. Không phải bây giờ, mà khi còn trong tù, con người của tôi là con người sống thật, tôi được tiếp xúc với một số cán bộ Cộng Sản, có những người đã coi tôi như một người đặc biệt, họ nói với tôi những điều mà họ không dám nói với ai. Họ nói với tôi rằng, anh ơi, đất nước này ở trong tay của Trung Quốc.
Vậy thì lúc còn ở trong tù, tôi đã biết người Trung Quốc nó kinh khủng lắm. Tôi nhớ là Napoleon Ðệ Nhất, khi đã bách chiến bách thắng, thành vĩ nhân của thế giới rồi, ông ta tuyên bố rằng cái con sư tử Á Ðông hãy để cho nó nằm yên, đừng đánh thức nó dậy, đánh thức nó dậy là phiền. Vậy mà năm 1972, Nixon sang bên Trung Quốc, sang Bắc Kinh để gặp Mao Trạch Ðông, chuyện gì khác không biết, nhưng Nixon cũng nói rằng cứ để cho Trung Quốc bế môn tỏa cảng, đừng có mở cho nó ra, nhưng có lẽ vì những hoàn cảnh đẩy xô, nước Mỹ để cho Trung Quốc thành một cường quốc thứ hai, vậy thì ráng mà chịu thôi.
NV: Cảm ơn nhà văn Ðặng Chí Bình đã dành thì giờ cho cuộc phỏng vấn.
ÐÀ NẴNG (NV) –Lực Lượng Cảnh Sát Biển của Việt Nam vừa lên tiếng bác bỏ đoạn phim do đài truyền hình Trung Quốc phổ biến hôm 3 tháng 7 cho thấy, 4 tàu hải giám của Trung Quốc đuổi một tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam trên vùng biển Trường Sa.
Một tàu cá Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển bị tàu cảnh sát biển đuổi. (Hình: Báo Tiền Phong)

Theo các bản tin của đài truyền hình Trung Quốc, đoàn tàu hải giám của Trung Quốc đã ngăn chặn và đuổi ở khu vực quần đảo Trường Sa một tàu cảnh sát biển của Việt Nam.
Bản tin thuật lời Hoàng Dũng (Huang Yong), thuyền trưởng tàu hải giám 83 (tàu chỉ huy trọng tải hơn 3,200 tấn), ra lệnh buộc “tàu lạ” rời khỏi khu vực. Các tàu hải giám Trung Quốc thay đổi đội hình và tàu chỉ huy tiến về phía tàu Việt Nam với sự bao vây của 3 tàu (hải giám) khác.
“Sau khoảng 10 phút, tàu Việt Nam giảm bớt tốc độ rồi cuối cùng rút lui.”
Sau hơn một tháng im lặng, hôm 10 tháng 8, Trung Tá Lê Trọng Phổ, chủ nhiệm chính trị của Vùng Cảnh Sát Biển 2, khẳng định với báo Tiền Phong rằng, “Cảnh Sát Biển Việt Nam có đầy đủ chứng cứ chứng tỏ Trung Quốc cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật. Không hề có chuyện như phía Trung Quốc đã đưa ra.”
Ông Phổ nói thêm rằng, khi tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam phát hiện 4 tàu Trung Quốc ở khu vực tiếp giáp lãnh hải nên tiếp cận để giám sát. Hành trình theo dõi kéo dài 80 hải lý. Khi thấy tàu Trung Quốc chưa vi phạm, tàu Cảnh Sát Biển Việt Nam quay lại, “lập tức, phía Trung Quốc quay hình và xuyên tạc rằng Tàu cảnh sát biển ‘bỏ chạy.’”
Vẫn theo lời ông Phổ, Cảnh Sát Biển Việt Nam đã nhiều lần đuổi tàu đánh cá của Trung Quốc tại khu vực miền Trung phải tháo chạy.
Người đại diện của Cảnh Sát Biển vùng 2 còn cảnh báo rằng, “Tình hình trên Biển Ðông ngày càng phức tạp hơn sau khi Trung Quốc hết ban hành lệnh cấm đánh bắt cá, lại thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa cũng như cố tình xuyên tạc sự thật để đánh lừa dư luận Trung Quốc và thế giới.”
Theo báo Tiền Phong, Vùng Cảnh Sát Biển 2 phụ trách tuần tra kiểm soát một khu vực biển dài khoảng 720km gồm bờ biển và vùng biển ngoài khơi với phạm vi từ đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị) đến Cù Lao Xanh (Bình Ðịnh).”
“Ðây là khu vực thường xảy ra nhiều giông bão và là ngư trường làm ăn của hàng ngàn ngư dân miền Trung, cũng là khu vực tàu Trung Quốc xâm phạm trái phép lãnh hải Việt Nam.”
Báo Tiền Phong trích lời Trung Tá Lê Phổ nói rằng, “Các tàu cá Trung Quốc xâm phạm thường đi thành nhóm 18-30 chiếc, đánh bắt theo hình thức hủy diệt, và có xu hướng liều lĩnh, ngoan cố hơn trước.”
Tin cho biết, kể từ đầu năm 2012 đến nay, lực lượng Vùng Cảnh Sát Biển 2 “mỗi tháng xua đuổi vài ba chục lượt tàu Trung Quốc xâm phạm. Ðể ngăn chặn tàu cá Trung Quốc xâm nhập, Vùng đã tăng cường lực lượng, huy động toàn bộ tàu cảnh sát biển luân phiên tuần tra kiểm soát bảo vệ vùng biển.”
Trung Tá Phổ nói thêm rằng, “Sắp tới lực lượng CSB sẽ có máy bay tuần thám tham gia tuần tra trên biển.”
Ðồng thời “sẽ xây dựng trạm cảnh sát biển trên các đảo trọng yếu để phối hợp máy bay tuần thám xử lý tàu nước ngoài xâm nhập.” (KN)
Việt Nam
Cộng Ðồng/Ðịa Phương
Hoa Kỳ
Thế Giới
Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đến Indonesia, Brunei và Malaysia
HÀ NỘI (NV) – Rất có thể phiên họp của ASEAN về Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Ðông dự trù vào tháng 9, 2012 tới đây sẽ không diễn ra vì những đòi hỏi của Bắc Kinh.

Một phụ nữ biểu tình chống Trung Quốc bá quyền ngày Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012 tại Hà Nội với tờ áp phích vẽ “Lưỡi Bò” bị cắt. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/GettyImages)
Ngoại trưởng Trung Quốc, Dương Khiết Trì, công du từ ngày 9 đến 13 tháng 8, 2012 đến Indonesia, Brunei và Malaysia mà tin tức thời sự nói lý do chính liên quan đến vận động tranh chấp Biển Ðông.
Việt Nam và Philippines là hai nước tranh chấp chính yếu với Trung Quốc về Biển Ðông lại không nằm trong chuyến thăm viếng.
Một số tiết lộ trong giới ngoại giao ASEAN, theo tờ South China Morning Post ở Hongkong, báo động gần đây rằng qua những lời tuyên bố từ các viên chức Bắc Kinh, đó là những dấu hiệu báo động các cuộc họp về một Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Ðông (gọi tắt là COC) để tránh xung đột võ trang, dự trù tháng tới nhiều phần sẽ không có.
Sau khi cuộc họp cấp ngoại trưởng ASEAN ở thủ đô Cam Bốt không ra nổi bản tuyên bố chung vì vấn đề Biển Ðông, ngoại trưởng Indonesia vội vã đi du thuyết một số nước, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, cố sản xuất ra được một bản tuyên bố trễ tràng.
Nhưng Bắc Kinh, qua các lời tuyên bố của nhiều viên chức ngoại giao từ bộ trưởng, thứ trưởng đến phát ngôn viên, đều lập đi lập lại điều kiện chỉ thương thuyết tay đôi với từng nước tuyên bố chủ quyền và chỉ có một bộ COC “khi điều kiện chín mùi” theo ý của Bắc Kinh áp đặt.
Bắc Kinh đổ tội cho “một số nước tuyên bố chủ quyền” ám chỉ Việt Nam và Philippines “khiêu khích” và “muốn áp đặt lập trường riêng lên cả tổ chức” ASEAN.
Tuy chưa bao giờ các chức sắc Bắc Kinh nói thẳng ra nhưng Dương Bảo Vân (Yang Baoyun), giáo sư Ðại Học Bắc Kinh nói trong một cuộc phỏng vấn rằng điểm chính yếu để đạt được sự đồng thuận cho một bộ COC là “đừng thách đố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc.”
Những năm gần đây và đặc biệt những tháng gần đây, căng thẳng Biển Ðông diễn ra ngày càng căng hơn giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines.
Việt Nam ra Luật Biển hồi tháng 6 xác định các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Lập tức Bắc Kinh cho thành lập thành phố cấp huyện “Tam Sa” bao gồm cả hai quần đảo đó và khu vực bãi đá ngầm Philippines tuyên bố chủ quyền, bầu cử “Hội Ðồng Nhân Dân” và cử tư lệnh quân đội. Hàng chục ngàn tàu đánh cá được lùa xuống Biển Ðông vơ vét thủy sản.
Cùng với những hành động vừa kể, Bắc Kinh cho gọi thầu 9 lô dò tìm dầu khí ngay thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, có lô chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa tới 40 hải lý. Ðây là hành động thách đố rất nghiêm trọng đến chủ quyền Việt Nam mà một số nhà bình luận quốc tế nói họ không tin có công ty dầu khí lớn tầm vóc quốc tế nào lại muốn chen vào chỗ tranh chấp nguy hiểm để kiếm ăn.
Bắc Kinh coi hơn 80% khu vực Biển Ðông (họ gọi là Nam Hải) là ao nhà của họ bất chấp bản Công Ước Quốc Tế Luật Biển (UNCLOS) mà họ cũng là thành viên ký cam kết tôn trọng. Chiếm của người rồi đòi hỏi người phải thương thuyết với mình để ban phát ân huệ.
Báo chí Bắc Kinh liên tiếp có những bản tin, bài viết đả kích và đe dọa cả Việt Nam và Philippines trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo. Trong khi đó, vẫn hô hào tăng cường hợp tác với các nước ASEAN về kinh tế theo kiểu “vừa ăn cướp, vừa la làng.”
Bà Phó Oánh, thứ trưởng Ngoại Giao Trung Quốc gần đây tuyên bố “không muốn thấy ASEAN chia rẽ.”
Trước thái độ ngày càng lộ rõ chủ trương bá quyền nước lớn của Trung Quốc, cả Quốc Hội và chính phủ Hoa Kỳ đều lên tiếng đả kích Bắc Kinh. Tờ Nhân Dân nhật báo, cơ quan tuyên truyền chính thức của Bắc Kinh liền lên tiếng đòi Mỹ “ngậm miệng.”
Chuyến đi của Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì đang diễn ra có thể đưa ra các mồi mới cho Malaysia, Indonesia và Brunei để ASEAN chia rẽ nặng hơn mà thủ lợi. Bản COC kiểu này càng thấy xa vời hơn và báo dầu hỏa www.OilPrice.com ngày 9 tháng 8, 2012 đặt dấu hỏi rằng, “Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Ðông có dẫn tới chiến tranh không?”
Một số chuyên gia thời sự quốc tế không tin chiến tranh xảy ra nhưng tất cả vẫn chỉ là giả thuyết và bình luận.
Trong khi đó, nhiều người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội mang theo tấm hình cái “Lưỡi Bò” bị kéo cắt. Một số người thì mặc áo thun với cái “Lưỡi Bò” bị gạch chéo. (TN)
Linh Nguyễn/Người Việt
GARDEN GROVE (NV) – Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 6 đã bắt đầu được chuẩn bị từ chiều Thứ Sáu, tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove.
Dựng sân khấu và lều cho Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 6 tại sân vận động trường Bolsa Grande. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Từ 2 giờ trưa, ban tổ chức đã cho chuẩn bị sân khấu, xếp ghế, dựng lều, và mang nhà vệ sinh đến, cùng các công việc khác.
Ông Cang Nguyễn, một thành viên ban tổ chức, cho biết đã xếp 7,000 ghế ngồi giữa sân, có lều che nắng. Ngoài ra, hai bên sân vận động có khoảng 4,000 chỗ ngồi nữa.
Ðại nhạc hội sẽ được bắt đầu lúc 12 giờ trưa Chủ Nhật, 12 Tháng Tám, nhằm gây quỹ giúp thương phế binh và cô nhi quả phụ VNCH tại quê nhà. Giá vé đồng hạng $10.
Ðại Nhạc Cám Ơn Anh kỳ 6 do Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH tổ chức với sự phối hợp của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California, Trung Tâm Asia, đài truyền hình SBTN và đại truyền hình SET-TV 57.4. Chương trình sẽ được chiếu trực tiếp trên hai đài truyền hình này.
Ðồng hương theo dõi qua truyền hình có thể gọi điện thoại đóng góp tài chánh trực tiếp qua số 1-888-339-8247, hoặc có thể liên lạc qua số điện thoại Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH (714) 539-3545.
Mọi đóng góp khác cũng có thể gởi về cho hội qua địa chỉ: Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, PO Box 25554, Santa Ana, CA 92799.
Lê Phan
Tại Thế Vận Hội Luân Ðôn 2012, trong cuộc đua thể dục dụng cụ nhảy ngựa gỗ có một thanh niên với mái tóc rất điệu tên là Louis Smith. Mẹ Smith, năm nay 47 tuổi, một mình nuôi hai đứa con trai sau khi ly dị người chồng năm Smith mới có ba tuổi.
Bà bảo với các nhà báo là cậu con trai Louis của mình lúc nào cũng thích chạy. Năm bảy tuổi, nó bị định bệnh ADHD, một căn bệnh của những cậu bé quá nhiều năng lực, không tập trung chú ý được. Bác sĩ cho cậu uống Ritalin nhưng bà bảo bà không thích cho con uống thuốc vì bà nghĩ cậu con trai của mình có thể sử dụng năng lực vô biên đó vào một cái gì tốt đẹp hơn nếu có một hoàn cảnh tốt hơn. Anh Louis tập thể dục dụng cụ và Louis cũng muốn theo anh. Bà kể, “Họ cho nó bắt đầu năm mới có lên bốn. Có thể thấy tiềm năng của nó. Nó cứ chạy tối ngày như gà mắc đẻ nhưng nó dẻo người lắm.”
Bà kể tiếp, “Năm bảy tuổi, Louis được chọn để theo học một huấn luyện viên hàng đầu ở Huntingdon Gym, như vậy có nghĩa là phải đi mỗi ngày và cả weekend nữa. Tôi đón nó ở trường, nó thay quần áo và ăn tối trong xe. Ðến khuya chúng tôi mới về đến nhà. Nhưng tôi không coi đó là một sự hy sinh. Tôi biết đó là chỗ tốt nhất cho con tôi. Có điều tôi phải tính toán rất kỹ bởi gym tốn tiền lắm, quần áo, dụng cụ rồi tiền xăng nữa. Mẹ tôi, nay đã qua đời vẫn phải phụ thêm tiền cho chúng tôi. Ðến năm 11 tuổi, Louis không cần Ritalin nữa bởi nó quá bận rộn với thể dục. Nó hết sức tập trung và kỷ luật. Năm 14 tuổi, nó lãnh huy chương vàng ở Giải Vô Ðịch Thiếu Niên Âu Châu. Năm 16 tuổi, nó được huy chương vàng ở Vận Ðộng Hội Khối Thịnh Vượng Chung Anh. Năm 17 tuổi, nó không học lên nữa mà trở thành vận động viên toàn thời gian. Khi nó được chọn sang thi đấu ở Bắc Kinh, mẹ tôi và dì tôi cho tôi tiền đi theo nó. Tôi ước gì tôi không phải xem nó biểu diễn, nhưng khi nó được huy chương đồng tôi khóc. Tôi thật tự hào. Biết rằng suốt những năm tháng đó đã đạt được kết quả với tấm huy chương làm tôi đờ đẫn. Ðến ngày nay, Louis đã ra ở riêng, gần nhà tôi, và tôi vẫn giặt giũ, nấu ăn cho nó bởi nó bận tập dợt, điều duy nhất tôi ao ước là nó được vui hưởng mùa Hè năm nay.”
Tạp chí Foreign Policy, vào cuối tháng 7 có một bài tiên đoán về ai sẽ đạt được nhiều huy chương nhất ở Thế Vận Hội Luân Ðôn 2012, trong đó tạp chí cho là một quốc gia muốn đạt được vinh quang ở thế vận hội, khẩu hiệu không phải là Citius, Altius, Fortius (nhanh hơn, cao hơn, mạnh hơn) mà phải là Maior, Ditiores, Communistarum (lớn hơn, giàu hơn, cộng sản).
Dựa trên hai nghiên cứu được đưa ra để tiên đoán số huy chương tại Thế Vận Hội Sydney 2000, Foreign Policy giải thích: Vận động viên cũng giống như những bộ máy phức tạp. Càng có nhiều người thì càng có nhiều máy. Càng có nhiều tài nguyên so với người thì càng nhiều bộ máy được đầu tư vào để tạo thành vận động viên thế vận, và cộng sản là vì công thức đã được Liên Xô sáng chế đã rất thành công.
Công thức này hiện nay vẫn được Trung Quốc theo đuổi. Như thông tín viên Bắc Kinh của đài NPR đã tả, sở dĩ Trung Quốc đạt được nhiều huy chương thế vận đến thế là vì họ đã tổ chức một guồng máy để huấn luyện vận động viên.
Phóng viên kể lại, “Ở sân tập, một cô bé la lớn ‘bảy phút’, trong khi những giọt mồ hôi nhỏ từ trán của em xuống cái đồng hồ được đặt dưới đất trong khi em đang giữ thế đứng bằng tay. Em có nhiệm vụ giữ giờ và đang đếm để cho các bạn tập đứng bằng tay trong 10 phút. Xung quanh, những em nhỏ, trạc cỡ năm sáu tuổi đang cố gắng hết sức, đỏ cả mặt vì mệt, có em bắt đầu rên lên vì mệt. Ông huấn luyện viên thản nhiên đứng xem.”
Và công việc lọc lựa tìm người để huấn luyện bắt đầu rất sớm. Cô vận động viên 16 tuổi đã đạt huy chương vàng trong giải 400m bơi hỗn hợp giải thích cô được lựa chọn vào môn bơi lội từ năm lên 6 bởi “thầy em thấy em có cánh tay thật dài.”
Việc huấn luyện cũng rất cam khổ. Thời khóa biểu tám giờ một ngày, sáu ngày một tuần với việc học cũng như gia đình bị bỏ quên. Hơn thế một khi đã vào hệ thống rồi, bỏ cuộc không phải dễ vì nhà nước đã đầu tư hơn 4.5 tỷ đô la để tạo nên những huy chương vàng tương lai.
Chương trình huấn luyện mà một viên chức trong Tổng Cục Thể Dục nhà nước Trung Quốc đã diễn tả như là một kim tự tháp, với những trung tâm huấn luyện nội trú ở các tỉnh như trung tâm ở tỉnh Hồ Bắc mà phóng viên của đài NPR đã đến viếng chỉ là cái đáy. Những em nhỏ được đưa vào đó, và từ từ tiến lên nếu đủ khả năng, để sau cùng là những vận động viên tuyệt hảo.
So với cái hệ thống đó, kinh nghiệm của Louis và bà mẹ thật khác hẳn. Nhưng ở đa số những quốc gia dân chủ, đó chính là kinh nghiệm của các vận động viên.
Cũng có những sự giúp đỡ của chính phủ. Ở Hoa Kỳ, hệ thống các trường đại học là lò huấn luyện cho tương lai. Một khi được học bổng hay được nhận vào một trường đại học với học bổng thể dục thể thao, sinh viên đó sẽ được giúp đỡ, từ huấn luyện viên đến dụng cụ đến cơ hội thi đấu. Những trường này, đa số là đại học công, được trợ cấp của chính phủ.
Ở Anh Quốc cũng vậy. Năm 1996, tại Thế Vận Hội Atlanta, toàn thể đội tuyển quốc gia Anh chỉ đạt được có mỗi một huy chương vàng và tổng cộng chỉ có 15 huy chương. Trước sự việc được coi như là nhục quốc thể đó, năm sau, chính phủ đã quyết định trao một số tiền từ xổ số quốc gia để giúp đỡ những môn thể thao thế vận. Chẳng mấy lâu sau, ở Thế Vận Hội Sydney năm 2000, Anh đạt 11 huy chương, lần đầu tiên Anh đạt được trên 10 huy chương vàng kể từ Antwerp 1920, và tổng cộng 28 huy chương đủ loại. Athens 2004 cũng vậy. Ðó là thế vận hội cuối cùng trước khi Anh được trao cho tổ chức Thế Vận Hội 2012.
Ðể chuẩn bị cho thế vận hội, ngân sách dành cho thể thao tăng vọt. Khi Anh đến dự Bắc Kinh 2008, đội tuyển quốc gia đã được đầu tư 235 triệu bảng Anh cho những chương trình huấn luyện cho đến thế vận hội, một sự gia tăng gấp bốn lần so với Athens 2004. Khoảng 60 phần trăm ngân sách huấn luyện đến từ tiền xổ số. Khoảng 40 phần trăm là trích thẳng từ ngân sách quốc gia. Còn khoảng 7 triệu đến từ cố gắng xin tài trợ của đội tuyển 2012. Tổng cộng như vậy mỗi người dân đóng thuế phải chi ra 80 xu một năm.
So với ngân sách 4.5 tỷ đô la một năm của Trung Quốc thì ngân sách khoảng 370 triệu đô la cho suốt bốn năm chuẩn bị cho thế vận là quá rẻ.
Ðiều quan trọng hơn là những huy chương vàng của Anh đa số là từ những bà mẹ như bà mẹ của Louis Smith, hay mẹ của Michael Phelps, mà câu chuyện cũng không khác chuyện của Smith bao nhiêu.
Cái công thức Maior, Ditiores, Communistarum, như vậy có vẻ không đúng. Anh Quốc không lớn, không có nhiều tiền và không phải cộng sản nhưng nếu tính theo dân số, đứng thứ nhì trong bảng huy chương thế vận trong khi Trung Quốc đứng thứ 10. Nhất là so sánh số phận của Smith với số phận của những em bé được huấn luyện ở Trung Quốc thì khuôn mẫu Anh Quốc tử tế hơn và nhân đạo hơn.
Nguyên Huy/Người Việt
WESTMINSTER (NV) – Vào những năm trước 1975, tuổi trẻ miền Nam Việt Nam trong giới học sinh, sinh viên đã có không ít người biết đến trường Sư Phạm Qui Nhơn, trong mạng lưới các trường sư phạm do Bộ Giáo Dục VNCH mở ra để đào tạo thầy cô đáp ứng nhu cầu gia tăng mãnh liệt cho hệ thống giáo dục của miền Nam đang trong thời kỳ phát triển.

Thành viên Ban Chấp Hành Hội Ái Hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại trình diện trong buổi hội ngộ lần thứ 20. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Sư Phạm Qui Nhơn còn là nơi tu nghiệp cho giáo chức đang phục vụ tại các tỉnh miền Trung với một cơ sở trường lớp, thực tập rộng lớn, khang trang, đầy đủ tiện nghi lại còn cả hai khu nội trú cho nam và nữ giáo sinh.
Có lẽ vì những yếu tố trên, cựu giáo sinh của Sư Phạm Qui Nhơn từ 21 năm nay năm nào cũng có cuộc họp mặt mà cuộc họp mặt nào cũng không dưới 300 người tham dự.
Năm nay, các cựu giáo sinh này lại có dịp hội ngộ nhau trong một buổi lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập ngôi trường.
Bà Nguyễn N. Nghĩa, hội trưởng Hội Ái Hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại, cho biết: “Năm nay chúng tôi tập trung tại nhà hàng Paracel Seafood, Westminster, lúc 10 giờ 30 sáng Chủ Nhật, 12 Tháng Tám. Ðã qua 20 lần hội ngộ, chúng tôi cứ tăng dần lên sự gắn bó mật thiết. Mười ba khóa học của chúng tôi với nhiều ngành, nhiều cấp nhưng chúng tôi vẫn là một khối, khối giáo sinh mà tương lai khi ra trường chúng tôi phải mang nặng một trọng trách thể hiện được những tinh hoa của nền giáo dục VNCH là nhân bản, dân tộc và khai phóng. Ðã qua 37 năm phải rời trường lớp nhưng mỗi lần hội ngộ là lại tìm thêm được những dấu chỉ của thành quả công việc mà mình đã được Sư Phạm Qui Nhơn đào tạo. Nên hội ngộ thường niên đã như một sợi dây vô hình trong suốt 21 năm qua từ ngày hội được thành lập. Tình thân hữu, mối tương trợ giữa các giáo sư và thầy cô cùng với các giáo sinh Sư Phạm Qui Nhơn đã thành một tập thể vững chắc, đó là Hội Ái hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại.”
Nhớ về trường cũ, bà hội trưởng nhắc lại không chỉ vị trí ngôi trường trong thị xã mà còn nhắc đến cái trọng trách của Sư Phạm Qui Nhơn. Bà cho biết từ ngày trường được thành lập, đã có tất cả là 13 khóa học, mỗi khóa là 2 năm để đào tạo các giáo sinh cho cấp tiểu học và trung học đệ I cấp tại các tỉnh miền Trung. Và vì tình hình ở nhiều địa phương có khác biệt nên Sư Phạm Qui Nhơn có những chương trình đào tạo đặc biệt như giáo học bổ túc cho bậc tiểu học cộng đồng. Giáo sinh không chỉ được học lý thuyết mà còn được thực hành ngay những điều mình được học tập. Ðó là trường Sư Phạm Thực Hành được tổ chức ngay bên cạnh trường với các lớp tiểu học kiểu mẫu của nhà trường.
Bà mỉm cười kết luận: “Ðó chính là cái sợi dây vô hình đã kết nối chúng tôi cho dù thời gian đã qua đi hàng mấy chục năm.”
Theo một tài liệu của Giáo Sư Ðào Ðức Chương, Sư Phạm Qui Nhơn nằm giữa hai trường trung học là trung học Vi Nhân và trung học Kỹ Thuật trên đường Nguyễn Huệ. Ðó là một trường sư phạm cao cấp nhất vào lúc đó. Trường được khánh thành ngày 3 Tháng Mười, 1962 với nhiều phòng học, giảng đường, thư viện, câu lạc bộ và trung tâm y tế. Qua năm 1967, trường xây cất thêm hai dẫy nội trú cho nam giáo sinh và nữ giáo sinh riêng biệt lúc đó khoảng gần 400 nam và trên 300 nữ giáo sinh. Sư Phạm Qui Nhơn đào tạo thầy cô cho bậc tiểu học và trung học đệ I cấp trong thời gian hai năm với các chương trình học về sư phạm lý thuyết, sư phạm chuyên biệt, giáo dục cộng đồng, hoạt động thanh niên… Qua năm thứ hai chương trình giáo dục hướng về thực hành, quản trị và thanh tra học đường, giao tế xã hội, chính trị và kinh tế bên cạnh các môn học thường xuyên khác.
Nói đến Sư Phạm Qui Nhơn mà không nói đến Sư Phạm Thực Hành thì thật là thiếu sót. Thực hành trong chương trình học là giáo sinh được thực tập giảng dạy ngay trong các lớp tiểu học mẫu của nhà trường. Ngoài ra còn phải đi nghiên cứu tại các địa phương để từ đó tiếp cận được với cộng đồng, thấy được những nhu cầu của dân chúng như nước uống, y tế, giáo dục tráng niên, rồi đặt ra kế hoạch để giải quyết những nhu cầu ấy qua các sinh hoạt hoạt động xã hội, văn nghệ mà nhắc nhở mọi người cùng góp tay cải thiện cuộc sống của chính mình.

Một màn vũ dân tộc do các thành viên Hội Ái Hữu Sư Phạm Qui Nhơn Hải Ngoại trình diễn. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Nhắc đến việc này, bà hội trưởng, xuất thân từ khóa 6 Sư Phạm Qui Nhơn, cho biết: “Tiểu học cộng đồng là tiểu học phải phù hợp với tình trạng, hoàn cảnh từng địa phương. Giáo sinh sau những cuộc thực tập trong khóa học khi đến địa phương mình phụ trách phải nghiên cứu tìm hiểu ngay tình hình dân trí của địa phương, hoàn cảnh sinh sống của người dân và con em tại vùng này rồi đề ra chương trình học dựa trên những điểm chính của chương trình từ Bộ Giáo Dục đề ra sao cho các em thấm nhuần được những tinh hoa của chương trình giáo dục của bộ. Nghĩa là giáo sinh nay đã là thầy cô không chỉ là những con vẹt nhắc lại chương trình học chung chung từ bộ đưa xuống. Thầy cô phải là những người sáng tạo để sao cho những tinh hoa của nền giáo dục VNCH là nhân bản, dân tộc và khai phóng không còn là những từ ngữ mơ hồ đối với học trò, đối với phụ huynh mà phải được thấm nhuần vào nếp nghĩ, nếp sống của tuổi trẻ và người dân địa phương. Chính vì thế mà có nhiều thầy cô trong chúng tôi đã tự ví trường Sư Phạm Qui Nhơn chúng tôi là một trong những bệ phóng cho nền giáo dục của VNCH đào tạo được một thế hệ sống có thủy có chung, có trên có dưới mà ngày nay chúng ta thường gọi là truyền thống văn hóa của dân tộc.”
Quí độc giả từng là giáo sinh hay thân hữu của Sư Phạm Qui Nhơn, Sư Phạm Thực Hành muốn biết chi tiết về buổi gặp gỡ này có thể liên lạc qua hai số điện thoại (714) 898-2700 và (714) 554-1290.
––
Liên lạc tác giả: [email protected]
Linh Nguyễn/Người Việt
WESTMINSTER (NV) – Hội Ái Hữu Giới Trẻ Quốc Tế (International Youth Fellowship – IYF) vừa mở một cuộc họp báo vào lúc 6 giờ chiều Thứ Ba tại hội trường Văn Lang, Westminster, để quảng bá một sinh hoạt lớn nhất hàng năm.
Một màn trình diễn múa nón do các em nhóm Việt Nam phụ trách. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Ðó là Trại Hè Thế Giới 2012, được tổ chức từ 19 đến 23 Tháng Tám, tại khách sạn Town and Country Resort Hotel, 500 Hotel Circle North, San Diego, CA 92108.
Hạn chót ghi danh là 15 Tháng Tám, để đặc biệt được giảm $50 trại phí, vì có một mạnh thường quân bảo trợ. Lệ phí bình thường là $199/một người.
“Chúng tôi mời quý vị dùng bữa ăn tối, sau đó chúng tôi sẽ giới thiệu hình ảnh các sinh hoạt của các Trại Hè Thế Giới do IYF tổ chức trước đây, và quý vị cũng sẽ được xem các bạn trẻ trình diễn văn nghệ giúp vui,” anh Noah Nguyễn, 45 tuổi, giám đốc chương trình liên lạc với các trại sinh gốc Việt, mời khách tham dự.
Cô Ngọc Hạnh Lê, thành viên Hội Truyền Giáo Tin Lành Good News, hướng dẫn chương trình, chào mừng quan khách và các đại diện truyền thông. Cô giới thiệu các diễn giả trên bàn chủ tọa và mời Phó Thị Trưởng Westminster Trí Tạ phát biểu trước, vì ông từng tham dự Trại Hè Thế Giới 2011.
“Tôi thấy sinh hoạt này nặng tính chất giáo dục và rất bổ ích cho giới trẻ học hỏi khả năng lãnh đạo và dấn thân. Tôi chứng kiến các em tự thay đổi để có đời sống tích cực, yêu đời. IYF rất xứng đáng được các phụ huynh khuyến khích con em tham dự,” ông Trí nói.
Theo lời cô Ngọc Hạnh Lê, Trại Hè Thế Giới là “một chương trình giáo dục trí tuệ được khởi xướng từ năm 2001 và diễn ra hàng năm trên 40 quốc gia khác nhau, với mục đích đào tạo, gieo trồng một thế hệ lãnh đạo trong tương lai.”
Trại Hè dành cho các bạn trẻ học lớp 7, trở lên và bao gồm cả phụ huynh, nếu muốn tham gia. Thời gian trại kéo dài 5 ngày và 4 đêm.
Một người khác đại diện cho nhóm IYF là anh John Lê. Anh cho biết chương trình chính của trại Hè sẽ gồm năm phần. Phần đầu là thảo luận Kinh Thánh, dạy về “thế giới tấm lòng” với Mục sư Cố vấn Ock Soo Park để các trại sinh biết được ý nghĩa thật sự của cuộc sống ngoài việc cắp sách đến trường.
“Tôi theo cha mẹ vượt biên năm 1990 và đến được đảo Galang, Indonesia, và ở tại đó bảy năm. Tôi gặp được một giáo sĩ người Nam Hàn có tên Việt là Nam và ông đã giúp tôi hai năm gần đây có đời sống tích cực hơn,” anh John Lê giải thích và thêm rằng: “Ban tổ chức mời những người thành công, nổi tiếng để nói cho các trại sinh nghe về những gì họ phải trải qua để thành công, chẳng hạn như Phó Thị Trưởng Trí Tạ ngày hôm nay.”
Anh cũng nhắc đến các phần thưởng như máy ipad 2 cho cuộc thi chạy bộ.
Phần hai của chương trình Trại Hè Thế Giới ở San Diego là về âm nhạc. Những màn trình diễn như kịch ngắn, các vũ điệu truyền thống của các quốc gia khác nhau, biểu diễn Tae Kwon Do, các nhạc cụ và chương trình hòa nhạc Cantata sẽ mang lại sự tĩnh lặng trong lòng người nghe.
Kế đến là những sinh hoạt ngoài trời và chạy việt dã 5,000 mét, để các bạn trẻ thể hiện năng lực và đạt mục đích của mình.
Phần hội thảo quan trọng nhấn mạnh các chuyên đề về lãnh đạo do các chuyên gia, các khoa học gia, các nhà giáo dục, chính trị gia và các chuyên gia khác trình bày để các bạn trẻ có thể nhìn cuộc đời qua một lăng kính rộng hơn.
Các trại sinh cũng có thể chọn tham gia các buổi huấn nghệ như công nghệ tế bào gốc, làm sushi, cấp cứu, nhạc võ Brazil, thời trang, chăm sóc móng tay, văn hóa Triều Tiên, nhiếp ảnh, Thái Cực Ðạo, khiêu vũ, Ðông Y học, dưỡng da, sửa chữa tân trang nhà cửa, vũ Zumba và báo chí.
Năm ngoái, các trại sinh được học hỏi từ Hiệu Trưởng Andy Mazda thuộc Ðại Học Sushi, cựu ký giả truyền hình Jacqueline Cacho, Giáo Sư Ron Pastuca thuộc ngành mô hình ba chiều (3D) và nhiếp ảnh gia Iva Block của National Geography.
Nói về sự hấp thụ của các trại sinh, anh Noah Nguyễn giải thích thêm: “Các em được chia nhóm 10-12 người và có một mục sư luôn sinh hoạt, tâm sự và đi sát với các em trong thời gian tại trại.”
Anh tiếp: “Cha mẹ các em cũng nhận thấy sự khác biệt trước và sau khi các em tham dự trại về. Các em có sự ‘mở lòng’ với cha mẹ. Các em thường chơi game bây giờ lại muốn đi học để thiết kế các game!”
Thành viên ban tổ chức Trại Hè Thế Giới 2012 và Phó Thị Trưởng Westminster Trí Tạ (giữa) tại cuộc họp báo. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)
Trên bàn chủ tọa có một giáo sĩ gốc Nam Hàn, 28 tuổi, sau khi được giới thiệu tên Việt là Kim Hoàng, anh nói tiếng Việt chưa sõi lắm, anh cho biết: “Sau khi tốt nghiệp đại học ở Nam Hàn, tôi đến Hà Nội năm 2006 để dạy tiếng Triều Tiên và máy điện toán cho người Việt. Tôi thích ăn phở bò, nem và bún chả. Tôi không ăn được ngò!”
Thành phần chủ tọa có em Amy Bùi là trẻ tuổi nhất và cho biết em sinh hoạt năm thứ hai với IYF: “IYF đem đến cho em sự yêu đời, tình bạn trong sáng và cơ hội học hỏi rất nhiều.”
Về phía người tham dự, bà Phương Ðỗ, 60 tuổi, ở Fountain Valley, nhận xét: “Tôi nghe radio và đọc báo Người Việt mới biết đến sinh hoạt này. Thật là một chương trình bổ ích cho thiếu niên.”
Chồng bà, ông Nam Ðỗ, 75 tuổi, cho biết: “Tôi thấy phải phổ biến mạnh mẽ trong cộng đồng Việt Nam để các con cháu tham dự. Không đi để lỡ cơ hội này thật là phí!”
Anh Noah Nguyễn cho biết là Trại Hè Thế Giới IYF 2012 không phải chỉ chú trọng đến tôn giáo mà còn có mục đích đào luyện các bạn trẻ trở nên những người lãnh đạo tốt trong các môi trường của xã hội.
Khẩu hiệu của Trại Hè Thế Giới IYF 2012 là Thách Thức, Ðổi Thay và Hiệp Nhất và câu nói bất hủ nhắc nhở trại sinh của Mục Sư Ock Soo Park, người sáng lập IVF: “Ðừng chú tâm đến bạn hôm nay là ai. Hãy kỳ vọng ở những gì bạn trở thành sau này!”
Mọi chi tiết về trại Hè, xin liên lạc (714) 622-9412 hay (714) 260-2676, hoặc vào trang nhà www.ivfworldcamp.com.
–-
Liên lạc tác giả: [email protected]
Medicare Hỏi và Ðáp
Hỏi: Tôi qua Mỹ lúc 50 tuổi, chỉ đi học Anh văn và làm việc bán thời gian chưa đầy 5 năm thì xin được tiền bệnh SSI nên nghỉ làm. Vì có lợi tức thấp, tôi được hưởng MediCal trong 10 năm cho tới năm ngoái khi 65 tuổi, tôi có thêm Medicare.
Tuy nhiên, từ khi có Medicare, tôi rất nhức đầu về việc bị bắt buộc phải tiếp tục chọn tổ hợp y tế để đi khám bệnh. Còn về việc mua thuốc thì tôi không được mua tất cả các thứ thuốc mà tôi cần. Tôi cảm thấy mất tự do, bị kềm kẹp và sống trong lo âu giống như đang ở Việt Nam. Gần đây lại có tin đồn là vào tháng 9 năm 2012 này, ai có Medicare và MediCal cũng phải vào tổ hợp y tế cả. Xin chị xác nhận tin này có đúng không?
Ông A. Lê (Garden Grove)
Ðáp: Ðể trả lời câu hỏi của ông về việc những người có Medicare và MediCal (Dual Medi) có phải vào Chương trình HMO trong tháng 9, 2012 này hay không, tôi xin xác nhận là CT thử nghiệm (demonstration) đó đến 1 tháng 7, 2013 mới áp dụng. Vào mùa Xuân năm tới, khoảng tháng 3, 2013 trở đi, quí vị sẽ nhận được tin tức hay thư thông báo chính thức hơn về việc này nên bây giờ vẫn còn quá sớm để lo âu. Sang năm, một khi sự thay đổi này được áp dụng, những ai có Medicare và MediCal vẫn có quyền được ký giấy từ chối (opt out) không vào HMO, nếu không muốn.
Xin quí vị ghi nhận là mỗi năm, chương trình Medicare nói chung đều có một vài thay đổi. Vì vậy, là người thụ hưởng, ông có bổn phận phải theo dõi và tìm hiểu tin tức trên báo chí, truyền thông… hay liên lạc với cơ quan CMS và HICAP để được giải thích, hướng dẫn khách quan và trung thực, chứ không nên nghe tin đồn.
So với số đông người thụ hưởng Medicare khác từng đi làm việc trên đất Mỹ, ông may mắn được hưởng mọi phúc lợi y tế dành cho một công dân Hoa Kỳ có lợi tức thấp, thuộc diện cao niên, mất khả năng làm việc, nhưng rất tiếc lại không biết rõ những gì mình đang có và vội vàng so sánh với đời sống ở Việt Nam. Tôi cho rằng đó là một sự so sánh quá đáng và không cân bằng, vì cho dù bảo hiểm y tế Medicare ở Mỹ không có giá trị tuyệt đối nhưng vẫn là một bảo hiểm rất tốt.
Trước hết, khi có cả hai bảo hiểm y tế Medicare và MediCal, ông có tự do để chọn một trong hai phương cách sau đây chứ không ai bắt buộc và đòi hỏi ông phải vào tổ hợp y tế, ngay cả cơ quan CMS tức Center of Medicare and Medicaid Services (Trung tâm Ðiều hành Medicare và Medicaid).
1. Một là giữ tình trạng Lệ phí cho từng dịch vụ (Fee For Services) và ghi tên vào một chương trình Thuốc phần D Ðộc lập. Khi chọn tình trạng này, ông có tự do đi bác sĩ hay nhà cung cấp dịch vụ y tế nào mà ông muốn, miễn sao họ nhận Medicare và Medicaid.
2. Hai là ghi tên vào một chương trình Medicare Quản lý tư (Medicare Advantage) dành cho người có Medicare và MediCal, thường được gọi là chương trình Nhu cầu Ðặc biệt (Special Needs Plans-SNP), bao gồm phần D trong đó.
Tôi đoán ông đang chọn phương thức thứ hai là ghi tên vào một chương trình MAPD hay SNP do đó, ông mới không có tự do như ở tình trạng Fee For Services và phải đi khám bệnh trong mạng lưới (network) của họ, bao gồm những tổ hợp y tế ký hợp đồng với chương trình HMO đó.
Khi ghi danh vào Chương trình HMO đó, có thể ông đã không được người đại diện cho CT bảo hiểm hướng dẫn đầy đủ và sai lạc về quyền lợi và quyền hạn của ông.
Thí dụ như họ hướng dẫn thiếu sót khi đã không cho ông biết ông chỉ có thể đi khám bác sĩ trong mạng lưới và mặc dù được xếp vào một tổ hợp y tế nào đó, ông vẫn có thể thay đổi bác sĩ, miễn sao nằm trong mạng lưới của chương trình HMO, với sự chấp thuận của chương trình HMO sau khi xin phép chuyển đổi.
Nói sai sự thật, thí dụ như khi người đại diện cho Chương trình HMO cho biết là ông không thể thay đổi qua chương trình HMO khác trong vòng 1 năm, bởi vì không như những ai có Medicare mà thôi, nếu có cả hai BH Medicare và MediCal, ông có thể thay đổi từ Chương trình HMO này qua chương trình khác, hay đổi qua Fee For Services bất cứ lúc nào trong năm.
Tuy nhiên, trừ khi cần chuyển đổi vì không được hưởng các phúc lợi mà mình cần, quí vị mới áp dụng quyền này, chứ không nên lạm dụng để chuyển đổi quá nhiều lần CT trong một năm.
HICAP là CT cố vấn Medicare vô vụ lợi được sự tài trợ của liên bang và tiểu bang để hỗ trợ những ai đang có Medicare, do đó, quí vị có thể tin cậy là chúng tôi luôn đứng về phía quí vị để giúp quí vị hiểu rõ các quyền lợi của mình và tránh việc bị lạm dụng.
Riêng về việc không mua được một vài thứ thuốc mà ông cần, có thể vì chương trình HMO hiện nay của ông không bao trả thuốc đó. Ông cần tham khảo với bác sĩ gia đình để đổi qua loại thuốc khác vì thuốc của ông không ở trong danh sách thuốc (formulary) mà CT đó bao trả. (Mỗi chương trình MAPD/HMO giới hạn trả một số thuốc trên thị trường, chứ không phải tất cả mọi loại thuốc). HICAP có thể giúp ông so sánh để biết CT Thuốc phần D nào trả loại thuốc ông đang dùng. Xin liên lạc với chúng tôi qua điện thoại và nhớ nhắc lại số điện thoại 2 lần. (Nhiều người gọi HICAP nhưng không để lại số ÐT rõ ràng nên rất tiếc, tôi không thể gọi lại cho quí vi được!)
Xin mời quí độc giả tiếp tục tham dự các buổi thuyết trình về Medicare của chúng tôi từ bây giờ cho đến cuối năm để biết rõ những thay đổi của Medicare, nếu có xảy ra.
*Yến Tuyết là cố vấn có đăng ký với Bộ Cao Niên của tiểu bang California thuộc Chương trình Cố vấn và Hỗ Trợ Bảo hiểm Y tế HICAP- Health Insurance Counseling and Advocacy Program – của cơ quan tư nhân, vô vụ lợi Council On Aging of Orange County. Những câu trả lời của chúng tôi trong mục này chỉ có tính cách tổng quát vì mỗi trường hợp cá nhân đều khác biệt. Nếu cần sự hướng dẫn chi tiết hơn, xin gọi HICAP ở đường dây điện thoại tiếng Việt (714) 560-0035. Hoặc quí độc giả cũng có thể gọi các trung tâm hỗ trợ chương trình HICAP để được hướng dẫn.
Việc cố vấn về bảo hiểm y tế này của HICAP chỉ dành riêng cho quí vị cao niên 65 tuổi, hay những người dưới 65 tuổi với nhu cầu đặc biệt có Medicare, cư ngụ tại Orange County hay quận San Bernardino mà thôi. Nếu quí độc giả sống ở các vùng hay tiểu bang khác, xin gọi các cơ quan cố vấn bảo hiểm y tế có tên là State Health Insurance Program – SHIP – ở địa phương mình cư ngụ.
VIỆT NAM (NV) – Chỉ một thời gian ngắn chưa đầy mười năm, giới nhà giàu Việt Nam dần lộ diện. Họ trú ngụ trong ngôi biệt thự Hồ Tây giá vài chục triệu đô; mua máy bay, du thuyền, xe sang bạc triệu đô.

Siêu xe xuất hiện giữa phố Hà Nội trong khi người dân vẫn còn buôn gánh bán bưng. (Hình: VTC News)
Chưa hết, chiếc điện thoại di động trên tay của họ được làm bằng vàng, nạm ngọc hoặc kim cương, với chiếc sim “số sang.” Chỉ riêng chiếc sim này thôi cũng trị giá tới 2 tỉ đồng, tương đương 100,000 đô la Mỹ.
Theo báo mạng VTC News, các tỉ phú đô la nhà giàu Việt Nam có thể kể tên vài năm trở lại đây. Trong số này có ông Ðoàn Nguyên Ðức, biệt danh là “bầu Ðức,” chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị công ty Hoàng Anh-Gia Lai, người sở hữu chiếc máy bay cá nhân Beechcraft King Air của Hoa Kỳ trị giá 7 triệu đô hồi năm 2008.
Nhà giàu Việt Nam thứ hai mua chiếc bay riêng trị giá 5 triệu đô là ông Trần Ðình Long, chủ tịch tổ hợp Hòa Phát mới đây.
Nhân vật thứ ba cũng được dư luận ở Việt Nam “nể vì” là tổng giám đốc đảo du lịch Tuần Châu – ông Ðào Hồng Tuyển. Ông này được mệnh danh là “chúa đảo” Tuần Châu đang nắm trong nay một hệ thống du thuyền trị giá hàng triệu đô la.
Siêu xe sang của các đại gia không còn lạ mắt người dân Việt Nam. Thời gian qua có không ít đám cưới rước dâu toàn bằng những siêu xe trị giá triệu đô như Bugatti Veyron, Ferrari, Lamborghini, Rolls Royce Phantom, Audi R8, Mayback 62S, Aston Martin, Vanquish…
Theo VTC News, nhà giàu Việt Nam mới “giàu thứ thiệt” vì mỗi chiếc siêu xe về đến Việt Nam đều đội giá gấp ba lần so với các quốc gia khác trên thế giới, như Hoa Kỳ, Anh quốc, Hồng Kong…
VTC News còn cho rằng một số ngôi sao sân cỏ và điện ảnh thế giới như David Beckham, Brad Pitt… chỉ mua nổi siêu xe ở nước họ chứ không dám mua xài ở Việt Nam vì giá cả đắt gấp ba.
Khu biệt thự triệu đô ở ven Hồ Tây, Hà Nội. (Hình: VTC News)

Các đại gia dám bỏ tiền mua những chiếc sim “có một không hai” tại Việt Nam được kể tên, có ông Ðặng Minh Ðức. Ông này đang là chủ nhân chiếc sim đắt tiền nhất ở Việt Nam mang số 09888888888, giá tới 21 tỉ đồng, tương đương 1 triệu đô.
Một người nữa “chơi” sim sang được kể là “thiếu gia” TVC thuộc gia đình một đại gia lớn nhất nhì làng xuất nhập cảng đang hoạt động tại thành phố Cần Thơ.
Kế đến có thể kể bào đệ của tổng giám đốc công ty taxi Mai Linh tại Hà Nội, và một người khác đang đứng đầu một công ty ở tỉnh Nam Ðịnh.
Cũng theo Bee.net, một người nữa hiện là chủ nhân chiếc sim mang số 018×8888888 trị giá 8 tỉ đồng, tương đương 400,000 đô là một đại gia chào đời trong thập niên 1980 tại Hải Dương.
Dư luận ở Việt Nam còn đang thắc mắc, không hiểu liệu chừng nào thì các nhà giàu sụ ở Việt Nam mới được đưa vào danh sách những người chơi sang nhất hành tinh? (PL)
VIỆT NAM (NV) –Một số hình ảnh xuất hiện trên Facebook cho thấy một tu sĩ Phật Giáo trẻ săn sóc cho các người đẹp chuẩn bị dự cuộc thi hoa hậu đã gây chấn động dư luận tại Việt Nam những ngày qua.
Chú tiểu Trí Trần đang sửa lại chiếc váy của người đẹp thi hoa hậu. (Hình: Bee.net.vn)

Báo mạng Bee.net.vn cho biết dư luận phẫn nộ khi nhìn thấy nhiều hình ảnh chụp chú tiểu – tên Trí Trần, một tu sĩ ở Sài Gòn, Việt Nam, đang tô son, làm tóc, sửa váy, sửa áo và cả bikini cho một số người đẹp trên Facebook.
Bee.net.vn dẫn lời của Hòa Thượng Thích Ðạt Ðạo, phó trưởng ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương tại Sài Gòn cho rằng cần phải “mời chú tiểu này ra khỏi tăng đoàn.” Theo hòa thượng, “những việc làm nói trên không thể được nhà Phật chấp nhận, và người muốn làm những việc như thế thì hãy ra đời mà làm.”
Hòa thượng cũng nói rằng, “Các chú tiểu xuất gia tu học được dạy bốn cuốn luật trong đó có 24 ‘thiên oai nghi’ của người tu hành, từ cách ăn, nói, đi, đứng, nằm, ngồi… và người xuất gia phải lấy oai nghi tế hạnh làm đầu.”
Hòa Thượng Thích Ðạt Ðạo xác quyết rằng vị thầy bổn sư của chú tiểu Trí Trần “cần phải xem lại, nếu không dạy được thì cho chú tiểu về lại gia đình chứ không nên giữ lại chùa.”
Báo này còn trích lời của một tu sĩ đang tu học ở chùa Ðức Lâm, thuộc quận Tân Bình, Sài Gòn cho rằng ông đã nhiều lần khuyên can chú tiểu Trí Trần nhưng “chú không chịu nghe theo.”
Bee.net trích dẫn lời biện minh của chú tiểu Trí Trần cho rằng ông “không dám mong đến bờ giải thoát mà chỉ muốn chữ ngộ trong ông đúng nghĩa và trọn vẹn.” Ông cũng nhìn nhận rằng mình “là một tu sĩ nhưng vẫn đi học, vẫn có bạn bè và tất nhiên vẫn là con người.”
Hiện nay, danh tính rõ ràng cũng như nơi tu học của chú tiểu Trí Trần chưa được xác định. (PL)
HÀ NỘI (NV) – Ngày 9 tháng 8, 2012, tòa án ở thành phố Hải Phòng đã kêu án tù một nhóm người vận chuyển, buôn bán số lượng tiền giả khoảng 2 tỉ đồng.

Tiền giấy polymer của CSVN bị làm giả được phân loại làm tang chứng trong một vụ bắt giữ ở Hà Nội. (Hình: VNExpress)
Ðặng Văn Thắng, 38 tuổi, bị coi là kẻ cầm đầu đường dây bị kết án tù chung thân. Bốn đồng phạn bị kết án từ 18 đến 20 năm tù.
Ngày hôm trước tức 8 tháng 8, 2012, nhiều cơ quan khác nhà của nhà cầm quyền Hà Nội đã phối hợp bắt một phụ nữ “tại khu vực đường mòn biên giới thuộc địa phận tỉnh Lạng Sơn,” khoảng 10 giờ 30 sáng.
Phụ nữ đó tên Phùng Thị Lan, 22 tuổi, bị kiểm tra hành lý thì thấy “gần 300 triệu đồng tiền giả (loại mệnh giá 200,000 đồng) và 200 USD giả (loại mệnh giá 100 USD) được bọc kỹ bằng giấy báo và giấu kín trong chiếc chiếu trúc.”
Tờ Ðất Việt khi đưa tin này nói cô Lan khai mua tiền giả từ Trung Quốc mang về để đi đánh bạc. Cô đã làm 5 chuyến tổng cộng mang về nước 750 triệu đồng tiền giả, đến đây thì bị bắt.
“Theo đánh giá của cán bộ điều tra, số bạc giả bị thu giữ lần này được in ấn bằng thiết bị hiện đại với công nghệ cao nên rất giống tiền thật. Nếu để lọt ra lưu thông trên thị trường sẽ gây tác hại lớn đến đến an ninh tiền tệ, an sinh xã hội. Ðặc biệt, trong vụ án này, đối tượng còn vận chuyển tiền USD giả với chất lượng in ấn khá cao…” Tờ Ðất Việt kể.
Ngày 2 tháng 8, 2012, theo tin VNExpress, một đám đông hàng chục người ở Phan Thiết đã xúm lại “hôi” tiền bị bật tung tóe bên đường lộ khi một máy xúc đào mương thoát nước đào trúng một va li đựng một số lớn tiền có mệnh giá 200,000 đồng và 500,000 đồng. Tin tức nói rằng công an thành phố Phan Thiết vận động những người nhặt được tiền đến giao nộp để giám định và làm rõ nguồn gốc số tiền vì “nghi ngờ tiền giả.” Rất nhiều người đã không nộp lại nên công an địa phương chỉ thu hồi được 22 triệu đồng.
Ngày 25 tháng 7, 2012, công an thành phố Hà Nội loan báo khám phá một đường dây vận chuyển 300 triệu đồng tiền giả tại khu vực nhà ga Hà Nội. Hai thanh niên tên Hoàng Văn Cường 31 tuổi và Bùi Văn Dung 32 tuổi “với nhiều biểu hiệu nghi vấn” đã bị lục soát và thấy “hàng chục cọc tiền mệnh giá từ 200,000 đồng đến 500,000 đồng.”
Cường và Dung, quê quán Lạng Sơn, khai buôn bán tiền từ Trung Quốc về Việt Nam tiêu thụ, qua trung gian của một phụ nữ “cứ 25,000 đồng tiền thật đổi được 100,000 tiền giả.”
Ngày 17 tháng 7, 2012, theo báo mạng Zing, công an huyện Thăng Bình, Quảng Nam, bắt khẩn cấp Nguyễn Văn Quốc, 35 tuổi, vì “vận chuyển, tàng trữ, tiêu thụ tiền giả” với tổng số tiền 48 triệu đồng.
Ngày 12 tháng 6, 2012, báo Thanh Niên nói công an Nghệ An “phá đường dây lưu hành tiền giả và bắt giữ Nguyễn Văn Bằng (27 tuổi, quê Bắc Giang) và Dương Vĩnh Dìn (36 tuổi, quê quán Lạng Sơn).” Cả hai bị bắt tại một khách sạn chiều ngày 9 tháng 6, 2012 cùng với 400 triệu đồng tiền giả mệnh giá 200,000 đồng.
Tháng 5, 2012, công an tỉnh Bắc Giang cũng bắt một người đàn ông “co giò bỏ chạy nhưng bị khống chế và bắt giữ cùng với số lượng 60 triệu đồng tiền giả mang trong người,” theo bản tin Zing.
Cũng trong tháng 5, ngày 23 tháng 5, 2012, VNExpress cho hay công an Hải Dương đã bắt một vụ vận chuyển tiền giả 500 triệu đồng gồm 2,500 tờ mệnh giá 200,000 đồng. Phụ nữ tên Nguyễn Thị Nga, 39 tuổi, đang đưa số tiền này từ Trung Quốc qua ngả Lạng Sơn về địa phương tiêu thụ.
Tin tức về những vụ bắt giữ buôn lậu tiêu thụ tiền giả ở Việt Nam thấy xuất hiện rất thường trên báo chí trong nước với những số lượng lớn chứng tỏ vấn đề trầm trọng và người ta có thể chỉ khám phá được phần nổi của tảng băng sơn khổng lồ.
Nhà cầm quyền Việt Nam cho chuyển từ tiền giấy sang tiền giấy nhựa polymer từ năm 2003 để chống tiền giả quá phổ biến. Thậm chí những người buôn bán ở chợ cũng có thể có các máy dò tiền giả. Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước khi đó là Lê Ðức Thúy từng tuyên bố cả quyết tiền polymer rất khó làm giả.
Nhưng loại tiền polymer lại cũng đầy tai tiếng tham nhũng in ấn và cũng không tránh được nạn tiền giả suốt từ đó đến nay. Hầu như chúng được in lậu ở Trung Quốc rồi đem về Việt Nam tiêu thụ. Nhà cầm quyền Hà Nội biết vậy nhưng không có cách đối phó hữu hiệu, chống tiền giả tận gốc. (TN)
SÀI GÒN (NV) –Ðược khai trương tưng bừng từ năm 2003 theo ý muốn của các nhà quy hoạch của chính quyền Sài Gòn, chợ An Sương tọa lạc tại phường Tân Hưng Thuận, nay thuộc quận 12, Sài Gòn từng bị bỏ trống suốt tám năm dài.

Chợ An Sương vắng vẻ, người bán đông hơn người mua. (Hình: Báo Sài Gòn Tiếp Thị)
Chỉ sau một năm “hồi sức” nhờ một số tiểu thương chợ Bàu Nai và chợ Cầu bị ép phải về đó, đến nay thì chợ An Sương lại bắt đầu ngắc ngoải.
Báo Sài Gòn Tiếp Thị cho biết, chợ An Sương tọa lạc trên diện tích gần một ha, có 559 sạp và 41 quầy sách báo, đã được xây dựng với tổng số vốn lên tới 27 tỉ đồng, tương đương khoảng $1.4 triệu.
Ngay sau ngày khánh thành tưng bừng, rầm rộ, chợ An Sương lại phải đóng cửa im ỉm vì không có tiểu thương nào chịu vào chợ. Dư luận cho rằng ngôi chợ này là sản phẩm của chính sách “duy ý chí” vốn có và khó thay đổi của chính quyền cộng sản Việt Nam tại Sài Gòn. Họ xây chợ theo ý muốn của riêng mình, bất chấp nhu cầu của thị trường, của cư dân và nhất là giới tiểu thương.
Trong khi đó, theo hầu hết các tiểu thương quận 12, chợ An Sương được xây dựng tại một vị trí không thuận tiện cho người mua sắm. Một dải phân cách nặng nề chắn phía trước chợ khiến khách hàng muốn trở ra chợ thì lại vòng một đoạn dài một cây số lên cầu vượt Quang Trung.
Có người còn nói rằng phía sau chợ là một bãi đất hoang đầy cỏ dại. Ðường chuyển hàng vào chợ lại vòng vèo, quanh co… Một số tiểu thương khác còn cho biết chợ nằm lọt trong một cái lòng chảo, bị nhấn chìm trong biển nước sau mỗi cơn mưa lớn.
Vì những nguyên nhân nói trên, chợ An Sương không tìm được tiểu thương và bỏ trống suốt tám năm sau ngày khánh thành. Cho đến cuối năm 2011, chính quyền quận 12 ra lệnh dẹp chợ Cầu và chợ Bàu Nai, ép hàng trăm tiểu thương phải về chợ An Sương ngồi bán.
Nhiều người cũng cam chịu, dời đi. Nhưng người bán ra đi, mà người mua không chịu tới, tiểu thương méo mặt vì ế dài.
Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, hậu quả là hàng trăm tiểu thương lại đơn phương bỏ chợ An Sương trốn về bán chui bán nhủi ở hai đầu chợ Cầu cũ và chợ Bàu Nai cũ.
Một số tiểu thương thú nhận rằng họ muốn kiếm khách nên đành phải “đứng hai chân,” cứ sáng sớm thì bán ở chợ cũ, sau 9 giờ thì quay trở lại chợ An Sương ngồi… ngáp dài.
“Ở đây người bán đông hơn người mua,” một tiểu thương chợ An Sương lắc đầu than thở. Không khí buồn tẻ, vắng lặng. Có chủ sạp nằm dài dưới sàn mà… ngủ.
Một tiểu thương tên DTTH không buồn nói thẳng: “Tôi vay 45 triệu đồng, tương đương 2,000 đô để vào ngồi đây bán chả giò. Vậy mà tiền bán hàng không đủ để trả tiền lời 50,000 đồng, tương đương 2 đô mỗi ngày.” Một số tiểu thương bán trái cây thì thú nhận đã phải đổ bỏ trái cây hư thối vì bán chậm quá.
Theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, sạp chợ đóng cửa ngày càng nhiều báo hiệu nguy cơ sập tiệm của chợ An Sương không còn xa. (PL)
HỢP PHÌ, Trung Quốc (AP) – Bốn viên chức công an Trung Quốc bị cáo buộc che đậy cho bà vợ Bạc Hy Lai, cựu bí thư Thành Ủy Trùng Khánh, trong vụ ám sát doanh nhân người Anh, Neil Heywood, ra trước tòa án hôm Thứ Sáu, một ngày sau phiên xử bà Cốc Khai Lai.
Phóng viên và dân chúng chờ tin tức trước tòa án nhân dân thành phố Hợp Phì, An Huy, Trung Quốc, trong vụ án bà Cốc Khai Lai ám sát một thương gia người Anh. (Hình: Lintao Zhang / Getty Images)
Theo Tân Hoa Xã, bốn bị cáo gồm Guo Weiguo, nguyên phó giám đốc sở công an Trùng Khánh; Li Yang nguyên trưởng phòng hình sự, hai nhân viên tên Wang Pengfei và Wang Zhi sở công an Trùng Khánh. Heywood chết trong phòng khách sạn tháng 11 năm 2011 và được loan báo là do chứng đau tim. Tới tháng 2 năm 2012, người phụ tá tin cậy lâu năm của Bạc Hy Lai là Vương Lập Quân, cựu giám đốc công an Trùng Khánh, chạy vào Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ ở Thành Ðô và tiết lộ vụ bà Cốc Khai Lai ra lệnh đầu độc Heywood bằng cyanide.
Sau đó Bạc Hy Lai bị đảng Cộng Sản truất bỏ tất cả mọi chức vụ và bị điều tra về tội “vi phạm kỷ luật đảng,” không thấy xuất hiện trước công chúng từ tháng 4 và chưa biết bao giờ mới được đưa ra xét xử. Dư luận cho rằng đây là một trường hợp đấu tranh quyền lực và thanh trừng nội bộ vì Bạc đã được coi là một nhân vật sáng giá có thể chiếm một chức vị cao trong ban lãnh đạo khi Trung Quốc đang chuẩn bị chuyển quyền qua một thế hệ lãnh đạo mới.
Bà Cốc Khai Lai bị bắt điều tra và đưa ra xét xử hôm Thứ Năm, 9 tháng 8, cùng với người phụ tá tên Zhang Xiaojun tại tòa án nhân dân thành phố Hợp Phì, thủ phủ tỉnh An Huy miền Ðông Trung Quốc. Các nhà báo nước ngoài không được phép vào dự phiên tòa nhưng theo lời một viên chức tòa án thì bà Cốc sức khỏe tốt, tinh thần minh mẫn. Trong suốt phiên tòa kéo dài 7 tiếng đồng hồ bà không chối bỏ cáo trạng.
Hồ sơ điều tra cho biết trong mối quan hệ làm ăn với Heywood bà Cốc Khai Lai đã từng bị tống tiền, đe dọa, lâm vào tình trạng sa sút tinh thần và lo lắng gia đình mắc họa nên đã quyết định tìm cách ra tay trước.
Bản án cho bà Cốc Khai Lai và các bị can đồng lõa sẽ được quyết định trước cuối tháng này và sau đó người ta mới có thể biết số phận Bạc Hy Lai. (HC)