ẢNH ĐẸP OLYMPIC LUÂN ĐÔN 2012

 Ashleigh Brennan của Úc biểu diễn Thể dục dụng cụ trong  ngày thứ 2 của Thế vận hội Olympic London 2012 (Hình: Cameron Spencer/Getty Images)

[toggle title=” “]

Cầu thủ Becchara Palmer của Úc trong trận đấu bóng chuyền bãi biển  giữa Đức và Úc.  (Hình: Ryan Pierse / Getty Images)

Aron Szilagyi (trái) của Hungary cạnh tranh với Nikolay Kovalev của Nga trong trận đấu bán kết môn đấu kiếm dành cho nam trong ngày thứ 2 của Thế vận hội Olympic London 2012 tại Excel. (Hình: Quinn Rooney/Getty Images)


Cầu thủ bóng rổ Anderson Varejao  số 11 của Brazil trong trận gặp đội Úc. (Hình: Rob Carr/ Getty Images)

Chung kết 200 mét bơi ếch nam (Hình: Getty Images)

[/toggle]

Không bao giờ biết cười

 


 Về “Nhân viên mới”


Tôi đồng ý với chị Biti. Những nhân viên làm việc tại các ngôi chợ trong vùng Little Saigon không bao giờ biết cười, chào hỏi. Họ cứ làm như là bị cưỡng bức đi làm & Tuy vậy vẫn có một số ít nhân viên là có gương mặt vui vẻ, nhưng rất hiếm! Nếu vậy thì họ có thích công việc đó không?


Peach Leaf


 


 

Không phải ‘Bật khóc vì… thua”

 


Về “Môn đấu kiếm Olympic: Bật khóc vì… thua,”


VÐV Hàn Quốc Shin A Lam khóc vì bị loại oan ức chứ không phải khóc vì… thua.


VÐV Hàn Quốc Shin A Lam sốc vì bị loại oan ức khi tưởng chừng đã chắc một suất vào chung kết.


Ở trận bán kết, kiếm thủ Hàn Quốc đang dẫn trước VÐV Ðức Britta Heidermann với khoảng cách hơn 1 điểm khi trận đấu chỉ còn 1 giây đồng hồ là kết thúc. Quãng thời gian này là quá ngắn để Heidermann tung ra một đợt tấn công và chạm được kiếm vào người đối thủ ghi điểm, đồng thời gần như đảm bảo một suất vào chung kết cho Shin A Lam.


Nhưng hệ thống đồng hồ điện tử trên sàn đấu bỗng dưng bị chết trong một lúc, giúp Heidermann có thêm thời gian 2 giây để hoàn thành đợt tấn công và được tuyên bố thắng cuộc.


Trước quyết định bất công này, Shin và HLV của cô đã quyết định khiếu kiện. Trong quãng thời gian này, Shin không được rời sàn đấu. Cô ngồi khóc ròng trên sàn đấu và liên tục lắc đầu tỏ thái độ không thể tin được những gì đang xảy ra. Ðông đảo khán giả tỏ ra thông cảm với cô.


Sau 30 phút, quyết định của các trọng tài không thay đổi. Ngay lập tức Shin phải bước vào trận tranh huy chương đồng trong tâm trạng không còn thi đấu được nữa. Cô thua đấu thủ Trung Quốc Sun Yujie với tỉ số 11-15 và trắng tay.


Le Tat Bao


 


 

Lực sĩ Ðức gốc Việt đoạt huy chương bạc thể dục dụng cụ

 


LONDON, Anh (TH) – Trong ngày tranh tài thứ năm ở Thế Vận Hội London, Marcel Nguyễn, một vận động viên Ðức gốc Việt, đoạt huy chương bạc môn thể dục dụng cụ cá nhân toàn năng nam.










10 quốc gia dẫn đầu huy chương tại Thế Vận Hội London sau năm ngày tranh tài.


Marcel Nguyễn, 24 tuổi, từng vô địch Âu Châu môn xà kép, vượt qua Danell Leyva (Mỹ) chiếm hạng nhì chung cuộc.


Marcel, có dòng máu Việt Nam, sinh ngày 8 Tháng Chín, 1987 tại Munich, Ðức.


Ngoài Marcel Nguyễn, trong phái đoàn Ðức còn có một vận động viên gốc Việt khác nữa. Ðó là cô Kim Bùi, sinh năm 1989 tại Tubingen, cũng thi đấu trong môn thể dục dụng cụ.


Xếp hạng trên Marcel Nguyễn là vận động viên Kohei Uchimura của Nhật, chiếm huy chương vàng, được 92.690 điểm, hơn Marcel 2 điểm.


Huy chương đồng là vận động viên Danell Leyva (Mỹ).


Trong khi đó, sau năm ngày Thế Vận Hội, Trung Quốc vẫn dẫn đầu về tổng số huy chương cũng như số huy chương vàng, với 30 huy chương, gồm 17 vàng, 9 bạc, 4 đồng.


Hoa Kỳ hạng nhì với 29 huy chương, gồm 12 vàng, 8 bạc, 9 đồng.


Ðứng hàng thứ ba là Nam Hàn, 12 huy chương, gồm 6 vàng, 2 bạc, 4 đồng.


Một số thành tích đáng chú ý trong ngày tranh tài thứ năm là:









Từ trái, Marcel Nguyễn (Ðức), huy chương bạc; Kohei Uchimura (Nhật), huy chương vàng; và Danell Leyva (Mỹ), huy chương đồng, môn thể dục dụng cụ toàn năng cá nhân nam. (Hình: Ben Stansal/AFP/Getty Images)


-Ðoàn vận động viên Anh đoạt 2 huy chương vàng đầu tiên: Cặp Helen Grovers và Heather Stanning môn chèo thuyền nữ; tay đua vô địch Vòng Pháp Quốc Bradley Wiggins môn chạy tính giờ cá nhân. Ðánh dấu sự kiện này, Sở Bưu Ðiện Hoàng Gia Anh đã phát hành hai con tem mới và 90 xe của sở sẽ phân phối đến hơn 500 trạm bưu điện trên toàn quốc để bán ngay cho khách hàng.


-Trong các môn kiếm, các kiếm thủ Ruben Limardo Gascon của Venezuela và Bartosz Piasecki của Ðan Mạch đoạt huy chương vàng. Nam Hàn chiếm 2 huy chương vàng: Jinsun Jung và Jeyon Kim môn đấu kiếm nam và nữ. Hai nữ kiếm thủ Sofya Velikaya (Nga) và Olga Kharlan (Ukraine) cũng đoạt huy chương vàng. (H.C.)

Tám nữ đấu thủ cầu lông bị trục xuất khỏi Thế Vận Hội

 


LONDON, Anh Quốc – Tám nữ đấu thủ cầu lông (badminton) thuộc bốn cặp đánh đôi hôm Thứ Tư đã bị trục xuất khỏi những cuộc tranh tài ở Thế Vận Hội London vì mánh lới cố tình đánh thua để tìm lợi thế trong những trận kế tiếp trong vòng tứ kết và bán kết.









Một trong số tám đấu thủ bị trục xuất. (Hình: AFP/Getty Images)


Liên Ðoàn Cầu Lông Thế Giới lên án các đấu thủ “đã không nỗ lực sử dụng đúng khả năng để thắng” và “thể hiện tác phong dối trá hay có hại cho tinh thần thể thao”. Khán giả xem các trận đấu tối Thứ Ba đã la ó khi nhận thấy những hành động lộ liễu này.


Các nữ đấu thủ này gồm bốn người Nam Hàn, hai người Trung Quốc và hai người Indonesia. Khiếu nại của phái đoàn Nam Hàn bị Liên Ðoàn Cầu Lông Thế Giới bác bỏ và Indonesia sau đó đã rút lại đơn khiếu nại. Phái đoàn Trung Quốc tuyên bố chấp nhận biện pháp kỷ luật, không khiếu nại.


Phát Ngôn Viên Mark Adams của Ủy Ban Thế Vận Hội Quốc Tế (IOC) tuyên bố: “Chúng tôi hoan nghênh Liên Ðoàn Cầu Lông Thế Giới có quyết định nhanh chóng và thích đáng. Tác phong của các động viên không phù hợp với giá trị của phong trào Thế Vấn Hội.”


Ông Sebastian Coe, chủ tịch Ủy Ban Tổ Chức Thế Vận Hội, nói là chuyện này “đáng thất vọng” và như vậy “còn ai muốn xem những trận đấu nữa”. Tuy nhiên, Phó Chủ Tịch Paul Deighton cho biết sẽ không có vấn đề trả lại tiền vé xem các trận đấu tối Thứ Ba.


Một số dư luận phê bình chính thể thức đấu xoay vòng (round-robin) thay vì loại trực tiếp đưa đến việc các đội tìm cách tính toán dàn xếp kết quả trong các vòng đấu loại tiếp theo. (H.C.)

Hoa Kỳ quan tâm vụ bà Ðặng Thị Kim Liêng tự thiêu

 


Ðòi thả bà Tạ Phong Tần ngay lập tức


 


HÀ NỘI (NV) – Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội bày tỏ quan tâm sâu xa và đau buồn về vụ tự thiêu của bà Ðặng Thị Kim Liêng đồng thời đòi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho bà Tạ Phong Tần cùng hai bloggers Nguyễn Văn Hải và Phan Thanh Hải sắp bị đưa ra tòa vào ngày 7 tháng 8 tới đây.










Bàn thờ bà Ðặng Thị Kim Liêng tại nhà. (Hình: VRNs)


Trong bản thông cáo báo chí phổ biến hôm 1 tháng 8, Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội nói rằng “Chúng tôi vô cùng quan tâm và đau buồn khi hay tin bà Ðặng Thị Kim Liêng tự thiêu ngày 30 tháng 7, 2012 liên quan đến những chuyện bắt giam con gái bà là Tạ Phong Tần”.


Bản thông cáo nói bà Tạ Phong Tần bị nhà cầm quyền CSVN bắt giam từ tháng 9 năm 2011 dự tính đem ra xử vào ngày 7 tháng 8 tới đây cùng với hai bloggers nữa cùng bị quy cho tội thành lập “Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do” để chống phá chế độ độc tài đảng trị tại Hà Nội.


Cả ba người viết báo mạng cá nhân vừa kể bị truy tố theo khoản 2 điều 88 của Luật Hình Sự với bản án sẽ từ 10 năm đến 20 năm, nặng hơn tất cả những người từng bị chế độ bỏ tù theo điều luật này trước đây.


Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ nói rằng điều luật 88 từ ngữ mơ hồ có mục đích trừng phạt các người dùng quyền tự do ngôn luận để bày tỏ ý kiến.


Tòa đại sứ kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do tức khắc cho họ và như Tổng Thống Obama tuyên bố nhân Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới đòi hỏi Hà Nội “thực hiện các điều cần thiết để tạo một xã hội trong đó mọi người viết báo có thể hoạt động tự do mà không sợ hãi”.


Bà Ðặng Thị Kim Liêng, 64 tuổi, tẩm xăng tự thiêu trước trụ sở tỉnh ủy ở thành phố Bạc Liêu sáng ngày 30 tháng 7, 2012. Công an phong tỏa khu vực, đưa bà vào bệnh viện thành phố sau đó cho xe chở lên Sài Gòn cấp cứu nhưng bà qua đời dọc đường. Con của bà yêu cầu chở xác về nhà để lo tang lễ nhưng vẫn bị đưa về bệnh viện tỉnh.


Qua lời kể của các người con, bà Ðặng Thị Kim Liêng rất phiền muộn một phần vì con gái (bà Tạ Phong Tần) bị bắt giam và công an thường xuyên sách nhiễu khủng bố bà, một phần đất của bà bị hàng xóm chiếm đoạt mà bà thưa kiện suốt nhiều năm không được xét xử.


Tang lễ bà Ðặng Thị Kim Liêng được các con chuẩn bị cử hành trong ngày 2 tháng 8 trong sự đau đớn của các con cháu và người thân.


Rất nhiều bloggers thân hữu của bà Tạ Phong Tần từ khắp nơi đã đổ về Bạc Liêu để chia sẻ nỗi mất mát lớn lao này nhưng hầu hết đều bị chận dọc đường. Một lực lượng đông đảo công an mặc thường phục vây kín nhà của bà Liêng tại 38/9 đường Hậu Hòa Bình, khóm 6, phường 1, thành phố Bạc Liêu. Công an còn vào cả trong nhà tang gia lấy điện thoại di động chụp hình quay phim tất cả mọi người khách đến thăm viếng, chia buồn cũng như nghe trộm các lời nói của mọi người.


Bà Ðặng Thị Kim Liêng từng bị áp lực của công an CSVN rất nhiều lần thúc hối bà nói con gái (Tạ Phong Tần) nhận tội nhưng không ép được. Có lần bà bị ép xuất hiện trước máy quay truyền hình kể tội con gái nhưng cũng không xong. Bà đi đến đâu, dù đi chùa hay đi chợ cũng đều bị công an theo dõi, giám sát.


Sau khi bà chết, công an buộc các con bà không được trả lời phỏng vấn của báo đài ở ngoại quốc.


Cái chết của bà Ðặng Thị Kim Liêng xảy ra một tuần trước ngày bà Tạ Phong Tần bị lôi ra tòa. Một số tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế kêu gọi 34 phái bộ ngoại giao ngoại quốc tại Hà Nội quan tâm đặc biệt đến phiên tòa xử bà Tạ Phong Tần, Nguyễn Văn Hải tức Ðiếu Cày và Phan Thanh Hải tức AnhBaSG.


Những người viết báo mạng cá nhân này chỉ dùng các mạng xã hội để trình bày chính kiến và quan điểm cá nhân về các vấn đề thời sự chính trị và xã hội của Việt Nam. Hành động của họ hoàn toàn được hiến pháp CSVN cũng như Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị bảo đảm. Dù vậy, chế độ Hà Nội vẫn đưa họ ra tòa để bỏ tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”.









Di ảnh bà Ðặng Thị Kim Liêng, mẹ nhà báo tự do Tạ Phong Tần sắp ra tòa ngày 7 tháng 8, 2012. (Hình: VRNs)


Blogger Tạ Phong Tần và blogger Ðiếu Cày đã tuyệt thực nhiều lần để phản đối sự giam giữ bất hợp pháp và cương quyết không nhận tội.


Nhiều viên chức cao cấp và dân cử Hoa Kỳ đã lập lại nhiều lần là CSVN muốn Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận bán võ khí sát thương, cần phải cải thiện nhân quyền.


Vụ án 3 thành viên “Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do” và những người khác đã bị bỏ tù những năm qua tại Việt Nam theo điều 88 của Luật Hình Sự là thước đo để đánh giá xem chế độ Hà Nội muốn cải thiện bang giao và nâng mối quan hệ chiến lược với Hoa Kỳ hay không. (T.N.)

Tổng Thống Assad của Syria đang ở đâu?

 


BEIRUT (AP) – Tổng thống Syria, ông Bashar Assad, hôm Thứ Tư thúc giục quân đội chiến đấu chống lại quân nổi dậy quyết liệt hơn, nhưng lời kêu gọi của ông trên giấy tờ chỉ làm bí ẩn thêm nỗi thắc mắc, rằng ông ở đâu trong suốt hai tuần lễ, sau vụ nổ bom đánh vào tận những thân cận của ông.









Tổng Thống Bashar Assad đọc diễn văn tại Quốc Hội ở Damascus hồi Tháng Sáu sau vụ nổ bom hôm 18 Tháng Bảy, không thấy ông xuất hiện trước công chúng nữa, làm nhiều người thắc mắc. (Hình: AP/SANA)


Tổng Thống Assad không xuất hiện trước công chúng từ sau vụ nổ bom hôm 18 Tháng Bảy, làm thiệt mạng bốn viên chức an ninh cao cấp của ông, trong đó có người em rể. Sự vắng mặt của ông Assad khiến càng gây thêm thắc mắc, phải chăng ông e sợ cho an nguy của chính bản thân, trong khi cuộc nội chiến đang ngày càng trở nên khốc liệt hơn.


Hoa Kỳ gọi ông là hèn nhát trong việc điều động lực lượng an ninh của mình ngay trên tạp chí chính thức của quân đội Mỹ.


Ông Patrick Ventrell, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Mỹ, phát biểu: “Thành thật mà nói, chúng tôi cho hành động một mặt lẩn trốn, nhưng một mặt lại hối thúc quân đội của mình tiếp tục tàn sát chính dân mình là thật sự hèn nhát.”


Bà Sausan Ghosheh, phát ngôn viên phái bộ LHQ ở Syria, lên tiếng hôm Thứ Tư, rằng các quan sát viên quốc tế tận mắt nhìn thấy các chiến đấu cơ bắn phá ở Aleppo, thành phố lớn nhất phía Bắc Syria, nơi giao tranh ác liệt trong suốt 12 ngày qua. Bà Ghosheh miêu tả tình hình ở tại đây thật hết sức thảm hại.


Bà tiếp: “Hôm qua, quan sát viên của chúng tôi lần đầu tiên trông thấy cảnh xạ kích từ chiến đấu cơ. Chúng tôi cũng được xác nhận rằng quân nổi dậy nay có trang bị cả vũ khí hạng nặng lẫn chiến xa.”


Bà thêm rằng, về phần thường dân thì đang lâm vào cảnh “thiếu thực phẩm, nhiên liệu, nước uống và khí đốt”. (T.P.)

Gần 23,000 tàu cá Trung Quốc tràn xuống biển Ðông

TAM Á (NV) – Trung Quốc sẽ đưa khoảng 23,000 chiếc tàu đánh cá tràn xuống biển Đông (mà họ gọi là Nam Hải)  khi lệnh cấm đánh cá hàng năm trên biển này hết hạn vào ngày Thứ Tư 1 tháng 8, 2012.


Trong số 23,000 tàu cá này, có gần 9,000 tàu đánh cá của tỉnh Hải Nam và 14,000 tàu của tỉnh Quảng Đông.


Tân Hoa Xã, Trung Quốc Nhật Báo, báo của tỉnh Hải Nam và một số nguồn tin khác ở Trung Quốc cho hay như vậy.









Tàu đánh cá đậu tại cảng cá Tam Á, cực Nam đảo Hải Nam ngày 1 tháng 8, 2012 trước ngày hết hạn cấm đánh cá trên biển Ðông (mà họ gọi là Nam Hải). (Hình: Tân Hoa Xã)


Hàng ngàn tàu đánh cá này, cũng như đoàn tàu đánh cá đông đảo của họ dọc theo biển Quảng Ðông, tạm ngưng xuống phía Nam đánh cá vì vướng lệnh của Bắc Kinh “cấm đánh cá trên Biển Ðông từ 16 tháng 5 đến 1 tháng 8, 2012”.


Mục đích chính của lệnh cấm này là ngăn cản ngư dân Việt đánh cá xa bờ vào vụ mùa đánh cá chính trong năm.



Bản tin này nói trong số gần 9,000 tàu cá của tỉnh Hải Nam thì khoảng 1,000 tàu đánh cá từ quận Lâm Cao sẽ đánh cá trong vịnh Bắc Bộ, trong khi những đoàn tàu khác sẽ tràn xuống phía Nam, khai thác hải sản trong vùng biển mà họ gọi là thuộc biển ‘thành phố Tam Sa’ mới lập.


Việt Nam đã phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc ra lệnh cấm đánh cá trên biển Ðông cũng như thành lập thành phố Tam Sa bao gồm các vùng biển và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.


Tháng trước, tờ Sài Gòn Tiếp Thị thuật lời một số ngư dân và viên chức Việt Nam cho biết, hàng đoàn tàu đánh cá Trung Quốc thường xuyên xâm phạm sâu vào các vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam để khai thác hải sản. Vì tàu của chúng vừa lớn lại hàng đoàn nên mấy tàu cảnh sát biển hay tàu tuần nhỏ bé của Việt Nam không dám cản trở hay bắt giữ.


Nhưng các tàu đánh cá của Việt Nam đến gần khu vực quần đảo Hoàng Sa để khai thác hải sản, khi thì bị tàu tuần Trung Quốc đâm chìm tàu, khi bị kéo về đảo Phú Lâm đòi tiền chuộc.


Ngày 6 tháng 7, 2012 bốn tàu đánh cá của tỉnh Quảng Ngãi bị tàu tuần Trung Quốc bắt giữ khi hành nghề khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ngày 8 tháng 7 năm 2012, họ chỉ thả 2 tàu với tất cả 19 ngư dân, còn giữ 2 tàu không trả.


Ngày 28 tháng 6 năm 2012, tờ Hoàn Cầu Thời Báo dẫn lời Hạ Kiến Bân, chủ tịch tập đoàn đánh cá Bảo Sa (Baosha Fishing Corp.) ở đảo Hải Nam kêu gọi võ trang cho ngư dân Trung Quốc.


“Nếu chúng ta đưa 5,000 tàu đánh cá vào biển Nam hải (biển Ðông theo cách gọi của Việt Nam) chúng ta sẽ có 100,000 ngư dân. Nếu chúng ta biến họ thành dân quân, võ trang cho họ, chúng ta có một lực lượng quân sự mạnh hơn lực lượng của các nước khác trong khu vực cộng lại.” Hạ Kiến Bân nói.


Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phó bản Anh ngữ của tờ Nhân Dân Nhật Báo (cơ quan tuyên truyền chính thức của đảng Cộng Sản Trung Quốc) thuật lời ông Bân nói trong thời gian cấm đánh cá hai tháng rưỡi thì huấn luyện quân sự cho ngư dân, biến họ thành dân quân “biến họ thành lực lượng trừ bị trên mặt biển và dùng họ để giải quyết vấn đề biển Nam Hải”.


Ngày 24 tháng 7, 2012 Trung Quốc tổ chức rầm rộ lễ ra mắt UBND thành phố Tam Sa 45 người, cai trị chỉ có 159 dân lớn bé trên đảo Phú Lâm, nhiều phần mới được đưa tới, trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Những ‘đại biểu’ của thành phố cấp huyện Tam Sa thực chất là cán bộ và quân nhân các cấp của Trung Quốc chiếm đóng tại đây được bày hàng để tuyên truyền và củng cố thêm lời tuyên bố chủ quyền của họ.


Sau đó, Bắc Kinh loan báo cử hai sĩ quan cấp đại tá cầm đầu lực lượng quân sự của thành phố Tam Sa, bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nhiều nhà bình luận thời sự quốc tế bày tỏ quan ngại sâu xa khi thấy Bắc Kinh ngày càng gia tăng cường độ thách đố các nước nhỏ phía Nam trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo. (T.N.)

Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí trong đời sống quốc gia và đời sống cộng đồng

 


Phan Quang Tuệ


 


LTS: Ngày 22 Tháng Bảy, 2012, nhân kỷ niệm một năm ngày phát hành số đầu tiên của tuần báo Người Việt Minnesota và Ngày Truyền Thông Báo Chí Việt Nam tại Minnesota, Thẩm Phán Phan Quang Tuệ đã có bài nói chuyện với chủ đề “Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí trong đời sống quốc gia và đời sống cộng đồng”. Ông Phan Quang Tuệ hiện là thẩm phán tại Tòa Di Trú Liên Bang San Francisco. Xin giới thiệu cùng độc giả nguyên văn bài nói chuyện dưới đây.


 


Kính thưa Quý Vị,


Khi chọn đề tài Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí cho buổi nói chuyện hôm nay, tôi chỉ nhằm mục đích chọn một đề tài thích hợp với ý nghĩa nhân dịp kỷ niệm một năm phát hành báo Người Việt Minnesota và Ngày Truyền Thông Báo Chí Việt Nam tại Minnesota.










Thẩm phán Phan Quang Tuệ (Hình: Dan Huynh/NguoiViet)


Tôi không ngờ đã vô tình mở cánh cửa bước vào một vũ trụ bao la vô tận. Một biển cả mà càng đi tới, chân trời càng xa. Tôi xin giải thích tại sao tôi có cảm tưởng như vậy. 10 ngày trước đây tôi khởi sự ngồi xuống để soạn bài nói chuyện. Tôi vào Google và đánh hai chữ: “free speech”. Trên màn ảnh của máy computer hiện ra con số 63,100,000 tài liệu liên quan đến đề mục tôi muốn tìm hiểu. Con số tài liệu lớn lao này cho thấy tầm quan trọng của vấn đề tự do ngôn luận và tự do báo chí. Năm 1993, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 3 tháng 5 hàng năm là ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới hầu cổ võ cho quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí trên toàn cầu. Thomas Jefferson, tác giả Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ công bố vào ngày 4 tháng 7, năm 1776 và là vị tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ, đã tuyên bố như sau:


”The basis of our government being the opinion of the people, the very first object should be to keep that right; and were it left to me to decide whether we should have a government without newspapers, or newspapers without a government, I should not hesitate a moment to prefer the latter. But I should mean that every man should receive these papers and capbable of reading them.”


“Nền tảng của các chính quyền của chúng ta đặt trên lòng dân, vì thế quyền phát biểu phải là đối tượng được bảo vệ trên hết. Nếu phải chọn lựa giữa một chính quyền không có báo chí và một tình trạng báo chí không có chính quyền, tôi sẽ chọn tình trạng thứ hai. Nhưng tôi cần nói thêm là với điều kiện mọi người đều có cơ hội đọc báo và có đủ hiểu biết để đọc và hiểu các bài báo!”


Và đó là lời phát biểu 236 năm trước đây của tác giả Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập!


Câu tuyên bố của Thomas Jefferson chỉ nhằm nhấn mạnh đến vai trò không thể thiếu trong một xã hội không có báo chí, không ngờ lại đã xảy ra trong thực tế hơn hai trăm năm sau, không phải tại Hoa Kỳ, mà là tại một quốc gia ở Âu Châu!! Ðó là Vương Quốc Bỉ.


Thực vậy, sau ngày bầu cử Quốc Hội Bỉ vào tháng 6, 2010 đã không có một đảng phái nào hội đủ túc số để thành lập nội các. Các cuộc thương thuyết nhằm thành lập nội các giữa 11 đảng phái đã kéo dài từ tháng 6, 2010 cho đến khi đạt được thỏa hiệp và một nội các đã được thành lập ngày 5 tháng 12, 2011. Tổng cộng nước Bỉ và dân tộc Bỉ đã có một đời sống quốc gia 540 ngày mà không có một chính quyền. Nhưng tất cả các cơ quan báo chí, truyền thông, hệ thống Internet tại quốc gia này vẫn tiếp tục trong suốt thời gian gần hai năm đó!!


Ðời sống quốc gia, sinh hoạt hằng ngày của người dân, các phương tiện giao thông, chuyên chở công cộng vẫn tiếp tục trong vòng trật tự cho thấy tầm quan trọng của dân trí và ý thức trách nhiệm của người công dân Vương Quốc Bỉ.


Tuy tự do ngôn luận và tự do báo chí có một vị thế quan trọng như vậy trong đời sống con người, quyền tự do này lại không phải là một quyền sở hữu, gắn liền với con người như con người có tay và chân cùng các bộ phận khác! Tự do ngôn luận quan trọng vì con người là một con vật xã hội. Khi chúng ta sống một mình cô quạnh như Robinson Crusoe trên một hoang đảo chơi vơi giữa biển cả mênh mông xung quanh không có gì khác hơn là một cây dừa lẻ loi thì quyền tự do ngôn luận không cần thiết phải đặt ra.


Theo cuộc kiểm kê dân số vào năm 2010 thì dân số Minnesota hơn 5,300,000 triệu người mà trong đó dân số người Việt có hơn 27,000 người, đứng hạng thứ 13 về dân số người Việt so với toàn quốc. Twin Cities, mà tôi thấy có quý vị địa phương dịch là Song Thành có dân số gần 2,500 người ở St. Paul và 2,000 người ở Minneapolis. Dẫu tỷ lệ dân số nhỏ so với dân số toàn tiểu bang, báo Việt ngữ vẫn là một nhu cầu cần thiết vừa để thông tin, vừa làm nhịp cầu liên lạc giữa cộng đồng người Việt, đồng thời nhằm nuôi dưỡng tiếng Việt, vốn là một nét đặc thù của văn hóa Việt Nam.


Tự Do Ngôn Luận và Tự Do Báo Chí được xem là đệ tứ quyền trong hệ thống luật pháp Hoa Kỳ, sau quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy gọi là đệ tứ quyền nhưng tự do ngôn luận, tự do báo chí lại không được quy định trong 7 điều khoản chính của Hiến Pháp. Thực vậy tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định trong nửa phần thứ hai của Tu Chính Án Thứ Nhất của Hiến Pháp Hoa Kỳ:


“Congress shall make no law… abridging the freedom of speech, or of the press…” “Quốc Hội sẽ không làm luật… hạn chế tự do ngôn luận, hay tự do báo chí”.


Chúng ta cần lưu ý đến kỹ thuật thảo hiến điêu luyện của những nhà lập hiến Hoa Kỳ mà các tài liệu lịch sử đều nhắc đến họ như là: The Framers of the Constitution, những con người đã gầy dựng nên nền móng khuôn khổ của Hiến Pháp. Phần lớn các bản Hiến Pháp của các quốc gia trên thế giới đều viết đại loại như: Quốc Gia công nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Hay: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin theo qui định của pháp luật như điều 70 trong Hiến Pháp 1992 của Cộng Sản Việt Nam. Tu Chính Án thứ nhất của Hiến Pháp Hoa Kỳ qui định một cách rõ ràng và vắn tắt: Quốc Hội sẽ không làm luật… hạn chế tự do ngôn luận, và tự do báo chí.


Kỹ thuật thảo hiến của các nhà lập hiến Hoa Kỳ 225 năm trước đây đưa đến hai hệ quả song hành: Thứ nhất, xác nhận ý chí của nhà lập hiến không cho cơ quan lập pháp, nghĩa là Quốc Hội Liên Bang, quyền làm luật hạn chế tự do ngôn luận, tự do báo chí. Thứ hai, đặt nguyên tắc căn bản cho việc giải thích tính cách hợp hiến đối với những văn kiện luật pháp hay lập qui, cho dầu trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến tự do ngôn luận, tự do báo chí.


Hệ thống công quyền của Hoa Kỳ được đặt trên nguyên tắc căn bản checks and balances, kiểm soát và cân bằng. Cả ba ngành luật pháp, hành pháp, tư pháp đều có mối liên hệ hỗ tương, ngành này kiểm soát ngành kia. Thí dụ Lập Pháp có quyền làm luật, biểu quyết ngân sách, phê chuẩn các hiệp ước quốc tế. Hành Pháp có quyền đề nghị các dự luật, phủ quyết các đạo luật do lập pháp biểu quyết. Tư Pháp có quyền giải thích Hiến Pháp, tuyên bố tính cách hợp hiến hay không của các đạo luật của ngành lập pháp.


Nhưng còn tự do ngôn luận, tự do báo chí vốn được xem như là đệ tứ quyền thì sao? Ngoài điều khoản công nhận tự do ngôn luận và tự do báo chí trong Tu Chính Án Thứ Nhất, không có một giới hạn hiến định nào khác được trù liệu để giới hạn hay kiểm soát quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.


Một sử gia Anh Quốc, Lord Acton, trong thế kỷ 19 đã từng nói: “Power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely”. Quyền hạn dễ đưa đến lạm dụng, và quyền hạn tuyệt đối sẽ đưa đến lạm dụng tuyệt đối.


Quyền lực, hay quyền hành, tự bản chất thực ra không hẳn đối nghịch với đời sống dân chủ. Vấn đề là làm sao để điều hành quyền lực như thế nào cho phù hợp với sinh hoạt dân chủ. Chúng ta đã thấy các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được giới hạn và kiểm soát hỗ tương như thế nào. Trong lãnh vực tư, chúng ta cũng thấy mối tương quan hỗ tương giữa các công ty sản xuất và nghiệp đoàn nhân công, và những giới hạn của cả hai bên bởi luật pháp và các cơ quan hành chánh. Nhưng còn tự do ngôn luận, tự do báo chí được công nhận trong Tu Chính Án Thứ Nhất thì sao?


Ai cũng đồng ý tự do báo chí là điều cần thiết cho tự do chính trị, và nơi đâu mà con người không được chuyển đạt, bày tỏ tư tưởng giữa con người với con người, nơi đó không có tự do. Nhưng nếu tự do này bị lạm dụng thì sao? Và phải chăng tự do bị lạm dụng sẽ đưa đến sự hủy diệt của tự do? Nhưng câu hỏi trên chính là vấn đề khó xử khi thảo luận về tự do ngôn luận, tự do báo chí. Và đâu là ranh giới phân biệt giữa những điều có thể chấp nhận và những điều không chấp nhận được mỗi khi hành xử quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.


Không ai có thể nghĩ rằng qua Tu Chính Án Thứ Nhất, những nhà thảo hiến có thể chủ trương rằng tất cả mọi người dân đều có quyền tự do phát biểu không giới hạn về bất cứ vấn đề gì theo ý muốn, bất cứ ở đâu và bất cứ vào lúc nào. Thí dụ, khai gian trước tòa hay phổ biến tài liệu khích dục có được bảo vệ như là một phần của tự do ngôn luận hay không? Thí dụ viết bài đặt điều nói xấu người khác, phỉ báng (libel) hay phát biểu nói xấu gây thiệt hại cho người khác (mạ lỵ, slander) có phải là tự do ngôn luận được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ hay không?


Khi giải thích những vấn đề liên quan đến tự do ngôn luận và tự do báo chí, án lệ Tòa Án thường đối chiếu quyền tự do ngôn luận với những quyền khác cần được bảo vệ trong một xã hội tự do dân chủ. Ðó là những quyền như quyền được sống an toàn, quyền được bảo vệ trong đời sống riêng tư, quyền của những người khác trong một xã hội mà mọi người đều có quyền được đối xử bình đẳng. Khi mang đối chiếu với các quyền lợi khác, Tòa Án thường đặt quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí vào một địa vị ưu tiên, preferred position vì đây là hai quyền tự do căn bản cho đời sống dân chủ. Ðặc biệt tòa án có khuynh hướng bảo vệ tự do ngôn luận trong lãnh vực các phát biểu về những vấn đề chính trị.


Trong lãnh vực này, phán quyết của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ trong vụ án New York Times v. Sullivan (1964) là một án lệ căn bản trong lãnh vực tự do báo chí. Trong phán quyết này, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phán rằng giới chức chính quyền phải chứng minh là người chủ nhiệm hay chủ bút tờ báo đăng bài chỉ trích phải biết là điều chỉ trích không đúng với sự thật và người chủ nhiệm có ác ý (malice) khi đăng bài báo chỉ trích. Trách nhiệm dẫn chứng (burden of proof) này đặt một tiêu chuẩn quá cao khó cho các nguyên đơn có thể đạt được. Từ tiêu chuẩn áp dụng cho các giới chức chính quyền (government officials) lý luận của án lệ Sullivan đã dần dà nới rộng cho những người tuy không phải là giới chức chính quyền nhưng vì địa vị và hoạt động của họ, được xem như là những khuôn mặt công cộng (public figures).


Ngoài tiêu chuẩn “preferred position”, vị trí ưu tiên, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ còn áp dụng 4 tiêu chuẩn khác cần phải chứng minh trước khi một đạo luật giới hạn tự do ngôn luận được công nhận là hợp hiến.


Tiêu chuẩn thứ nhất, luật giới hạn tự do ngôn luận phải không là một luật nhằm mục đích ngăn chận trước, prior restraint. Ðiều này nhằm tránh tình trạng kiểm duyệt và tiêu chuẩn này được xem như là trách nhiệm dẫn chứng khó khăn nhất trong phạm vi luật pháp.


Thứ hai, luật giới hạn tự do ngôn luận, tự do báo chí phải có nội dung vô tư, neutral. Thí dụ, nếu một thành phố ra quyết định cấm dán giấy quảng cáo trên các cột đèn, thì quyết định này phải nhằm cho tất cả các quảng cáo, không phải cho một loại quảng cáo nào đặc biệt.


Thứ ba, điều giới hạn phải không quá bao quát, too vague, khiến cho ai cũng ngần ngại. Một đạo luật như vậy sẽ có thể gây một tác dụng mà án lệ gọi là chilling effect sẽ làm tất cả mọi người ngần ngại, chùn bước không dám hành xử quyền tự do ngôn luận.


Tiêu chuẩn thứ tư là khi một đạo luật hay một nghị định đi quá xa trong mức giới hạn tự do ngôn luận thì đạo luật hay nghị định có thể bị xem là bất hợp hiến. Thí dụ tất cả mọi người đều có thể đồng ý là trật tự và an toàn lưu thông là cần thiết cho ích lợi chung. Nhưng khi một thành phố quyết định cấm hết tất cả mọi cuộc diễn hành hay biểu tình trên đường phố thì quyết định hành chánh này có thể bị xem là bất hợp pháp. Thành phố có thể giới hạn cuộc diễn hành vào một thời gian và trên một số đường phố thì giới hạn này có thể được xem là không vi phạm quyền tự do ngôn luận.


Những tiến bộ trong kỹ thuật thông tin ngày nay, đặc biệt là Internet, cho thấy những khó khăn mà tòa án gặp phải khi phân biệt thế nào là tự do ngôn luận khả chấp và tự do ngôn luận bất khả chấp. Khi Tu Chính Án Thứ Nhất ra đời 221 năm trước đây nào đâu đã có Internet!! Ngày nay qua Internet, hệ thống liên mạng, tất cả mọi công dân bình thường đều có thể nhận được vô vàn tin tức trong đủ mọi lãnh vực và liên lạc hầu như ngay tức khắc với một số người hầu như không giới hạn mà không cần phải rời nhà của mình. Trong số lượng những tin tức thông tin này có cả những tài liệu, hình ảnh khiêu dâm, bạo hành rất có hại cho trẻ em. Năm 1995, Quốc Hội liên bang đã biểu quyết đạo luật Communications Decency Act, gọi tắt là CDA, xem việc sử dụng Internet để chuyển các tài liệu “indecent material”, xúc phạm công sĩ, là tội hình sự có thể bị phạt 2 năm tù và phạt vạ $250,000 Mỹ kim cho mỗi vi phạm.


Ðạo luật CDA đã bị Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ tuyên bố bất hợp hiến trong phán quyết Reno v.ACLU (American Civil Liberties Union), 521 U.S.844 (1997). Phán quyết này được biểu quyết thuận bởi tất cả 9 thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, với Thẩm Phán John Paul Stevens là tác giả thảo ra phán quyết. Reno v.ACLU là phán quyết quan trọng đầu tiên của Tối Cao Pháp Viện đối với những luật lệ quy định cách thức và nội dung các tài liệu gửi qua trên hệ thống Internet. Trong phán quyết này, TCPV đã phán đạo luật CDA bất hợp hiến vì đã không tôn trọng các tiêu chuẩn quá mơ hồ (too vague), nội dung không khách quan (content not neutral), vì đã gộp chung tài liệu khiêu dâm với những tài liệu thuộc loại khác dưới một danh xưng quá rộng “indicent material”, và sau cùng đã không tìm những biện pháp ít cực đoan hơn nhằm bảo vệ các trẻ em không được xem các tài liệu khiêu dâm.


Mặc dầu có phán quyết Reno v. ACLU, án lệ về tự do ngôn luận trong lãnh vực Internet vẫn chưa rõ ràng và TCPV và các toà án còn nằm ở giai đoạn dò dẫm trong lãnh vực mới mẻ này.


Nói chung, luật lệ giới hạn quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí có thể được xếp vào 3 loại: Giới hạn về nội dung, content restriction, giới hạn về nơi chốn, place restriction, và tự do ngôn luận có tính chất biểu tượng, symbolic speech. Cộng thêm vào đó là loại phát biểu gây nên mối nguy hiểm rõ ràng và tức khắc, clear andpresent danger. Thí dụ giới hạn về nội dung là những tài liệu khiêu dâm. Giới hạn vì lời phát biểu có thể gây nên mối nguy cơ rõ ràng và tức khắc là trường hợp trong một rạp hát đông nghẹt có một người đứng lên hô to “cháy, cháy” tạo nên hỗn loạn. Giới hạn về biểu tượng, symbolic speech, như khi chống chiến tranh bằng cách đốt thẻ động viên. US v. O’Brien, 391 U.S.367 (1968) là một phán quyết liên quan đến phong trào phản chiến. Trong phán quyết này, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán rằng hành vi đốt thẻ động viên không phải là một hành vi có tính cách tự do ngôn luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất.


Các mục quảng cáo trên báo chí, truyền hình, đài phát thanh được xếp chung vào loại commercial speech. So với political speech được luật pháp bảo vệ nhiều thì commercial speech được bảo vệ ít hơn. Nói thế không có nghĩa là các mục quảng cáo không được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ. Nhưng nếu quảng cáo sai lạc, thổi phồng quá đáng, gây nên thiệt hại cho người tiêu thụ thì lại là vấn đề khác.


Bài nói chuyện của tôi sẽ thiếu sót nếu tôi không đề cập đến tự do ngôn luận trong công tư sở, hãng xưởng. Ða số chúng ta thường hay nói: Tôi có quyền tự do của tôi khi phát biểu về vấn đề gì. Ðiều này đúng nhưng không đúng cho nơi làm việc, work place. Nguyên tắc chung là quyền tự do ngôn luận rất giới hạn tại nơi làm việc, nhất là khi nơi làm việc là một hãng xưởng hay công ty tư, không phải công sở. Mục đích của chủ nhân thâu nhận chúng ta vào làm việc là để làm việc, không phải để sử dụng tự do ngôn luận. Tu Chính Án Thứ Nhất quy định: Quốc Hội không làm luật… hạn chế tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tu Chính Án này không hề quy định là chủ nhân không được sa thải một nhân viên khi nhân viên này nói quá nhiều, không chịu làm việc!


Tôi vừa trình bày cùng quý vị về tự do ngôn luận và tự do báo chí dưới khía cạnh hiến pháp, luật pháp, trong đời sống quốc gia. Bây giờ chúng ta thử xét vấn đề trong đời sống cộng đồng. Cộng đồng đây là cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, không phải là cộng đồng người Việt tại Twin Cities Song Thành ở đây.


Theo cuộc kiểm tra dân số thực hiện năm 2010 vừa qua thì dân số người Việt tại Hoa Kỳ là 1,548,449 người, xếp hạng thứ tư trong dân số người Á Châu. Bốn thành phố có người Việt đông nhất là San Jose, Garden Grove, Westminster và Houston.


Tôi sẽ đơn cử 4 trường hợp liên quan đến quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí trong đời sống cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Bốn trường hợp này đều xảy ra tại 4 thành phố nói trên.


Trường hợp đầu tiên là trường hợp tờ Thời Báo xuất bản ở San Jose, California. Vào khoảng đầu năm 1984, tờ Việt Nam, nhật báo đầu tiên của người Việt tại hải ngoại ra đời. Sau đó, người chủ báo tách ra làm tờ Thời Báo, phát hành 5 số một tuần, số báo ra cuối tuần có trên 80 trang. Năm 1986, số Xuân Thời Báo đang hai bài phỏng vấn xếp cạnh bên nhau, một bài phỏng vấn Thẩm Phán Phan Quang Tuệ, một người quốc gia, một bài phỏng vấn Nguyễn Xuân Phong, lãnh sự Cộng Sản tại San Francisco. Ngay lập tức có phản ứng chống đối tờ Thời Báo vì đã đăng bài phỏng vấn viên lãnh sự Cộng Sản. Các người chống đối tổ chức biểu tình 86 lần, kéo dài hơn 100 ngày. Ngày ngày họ kéo đến trước tòa soạn tờ Thời Báo chửi rủa. Họ điện thoại đến tòa báo chửi rủa. Họ làm áp lực với các thân chủ quảng cáo trên tờ Thời Báo chấm dứt quảng cáo. Họ đòi hỏi tờ báo phải công bố tên người ký giả đã phỏng vấn trực tiếp 2 nhân vật cho hai bài phỏng vấn. Tờ Thời Báo cho tới nay vẫn còn tồn tại nhưng không còn mạnh mẽ như trước.


Vụ thứ hai xảy ra gần đây tại Houston, Texas. Luật Sư Hoàng Duy Hùng nộp đơn kiện cựu Ðại Tá Trương Như Phùng đã phỉ báng ông qua những lời tố cáo LS Hùng đã thụt két công quỹ Fema, đã liên lạc với Tòa Lãnh Sự Việt Nam tại Houston và đã làm ăn với Việt Cộng. Tin mới nhất cho biết vụ kiện đã được tòa án bãi nại chiếu theo đạo luật Anti-Slap. Anti-Slap là một đạo luật ở Texas và ở 26 tiểu bang khác cộng với vùng Hoa Thịnh Ðốn nhằm mục đích giảm thiểu các vụ kiện về phỉ báng, mạ lỵ giữa các người tố cáo và các nhân vật có khuôn mặt công chúng (public figure).


Trường hợp thứ ba lại cũng xảy ra ở San Jose. Tháng Sáu vừa qua một số người đứng ra tổ chức mời ông Bùi Tín, cựu đại tá Cộng Sản, đã ly khai đảng Cộng Sản và từ năm 1990 là một nhà báo sống tại Paris, đến nói chuyện. Một số người Việt tổ chức biểu tình phản đối. Xem cuộc biểu tình trên YouTube, còn thấy một người đi dự buổi nói chuyện bị một người biểu tình nhổ nước miếng vào mặt.


Trường hợp thứ tư là trường hợp mới nhất xẩy ra tại quận Cam vào đầu tháng 7 này. Báo Người Việt phát hành tại Westminster, đăng một lá thư của một độc giả đã viết “…Ngày 30 tháng 4 là ngày vui mừng của dân tộc và Việt Nam Cộng Hòa là bè lũ tay sai của giặc Mỹ”! Lập tức có phản ứng ngay từ các cá nhân, hội đoàn, và ngay cả các báo khác. Chủ nhiệm của báo Người Việt quận Cam có thư xin lỗi ngay trên trang đầu, công nhận “đã phạm lỗi nặng nề nên xin lỗi toàn thể cộng đồng”. Thư xin lỗi cho biết tờ báo đã điều tra và cho nhân viên phụ trách chọn đăng bức thư độc giả nghỉ việc. Ban Ðiều Hành báo Người Việt Westminster đã tổ chức một cuộc tiếp xúc giữa Ban Ðiều Hành và đại diện cộng đồng để trình bày những biện pháp kỷ luật mà tờ bào đã áp dụng với những nhân viên trách nhiệm trong việc đăng lá thư nói trên.


Khi các nhà thảo hiến soạn thảo Tu Chính Án Thứ Nhất vào năm 1791, hơn 200 năm trước đây, họ nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của người công dân đối với với nhà cầm quyền. Tu Chính Án nhằm đến chính quyền và quy định: Quốc Hội sẽ không làm luật hạn chế tự do ngôn luận và tự do báo chí. Các nhà thảo hiến đã xem chính quyền là nguồn gốc chính đe dọa quyền tự do báo chí.


Trong 4 trường hợp đơn cử, không có một trường hợp nào có sự can thiệp của chính quyền, dẫu cho là cấp liên bang, tiểu bang, quận hạt, hay thị xã, để giới hạn tự do ngôn luận, tự do báo chí của cộng đồng người Việt. Không ai phủ nhận là cộng đồng người Việt được hưởng hoàn toàn và được Tu Chính Án Thứ Nhất bảo vệ hoàn toàn trong việc sử dụng quyền tự do ngôn luận. Vấn đề là có những cá nhân và tổ chức trong cộng đồng muốn sử dụng tự do ngôn luận của họ để dập tắt tự do ngôn luận của những ai không đồng chính kiến với họ. Ðăng một bài phỏng vấn hay một lá thư có thể gây phẫn nộ cho độc giả. Sự phẫn nộ có thể được chia sẻ bởi rất nhiều người, và được xem là một sự phẫn nộ chính đáng. Câu hỏi cần được đặt ra là đây có phải là lý do chính đáng để kêu gọi tẩy chay tờ báo, làm áp lực đóng cửa tòa báo. Và chúng ta có muốn tiếp tục theo con đường và áp dụng những biện pháp tương tự cho đến khi tất cả chúng ta chỉ còn những tờ báo đồng một tiếng nói, một luận điệu, một ngôn ngữ với một lời cảnh cáo: Ai nói khác sẽ bị tận diệt!


Và nếu như thế thì lợi ích và mục tiêu chính đáng của Tu Chính Án Thứ Nhất có còn cần thiết nữa hay không?


Ngày 3 tháng 5 năm 2012 vừa qua, Liên Hiệp Quốc đã tổ chức mừng ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới. Ông Ban Ki-moon, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và bà Irina Bokova, giám đốc UNESCO đã ra một tuyên bố chung có đoạn như sau: Freedom of Expression is one of our most precious rights. It underpins every other freedom and provides a foundation for human dignity. Free, pluralistic and independent media is essential for its exercise. Tự do ngôn luận là một trong những quyền quý báu nhất của chúng ta. Nó là căn bản cho các quyền tự do khác và đặt nền móng cho phẩm cách của con người. Tự do, đa dạng và độc lập của báo chí là điều tối cần thiết cho việc thực thi quyền tự do ngôn luận.


Tôi xin mượn đoạn trên trong bản tuyên bố chung làm kết luận cho bài nói chuyện hôm nay.


Xin cám ơn quý vị!

Hai tướng ở Belarus bay chức vì ‘gấu nhồi bông’

 


MINSK, Belarus (AP) –Có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, gấu nhồi bông đánh gục được các vị tướng quân đội.









Tomas Mazetti (trái) và cô Hannah Frey, khoe chú gấu nhồi bông và chiếc dù nhảy, cùng khẩu hiệu “Chúng tôi ủng hộ sự đấu tranh cho tự do ngôn luận của người dân Belarus”. (Hình: AP/Gero Breloer)


Ông Alexander Lukashenko, tổng thống độc tài ở Belarus, vừa cách chức hai tướng hàng đầu Bộ Quốc Phòng, sau khi hai nhân viên một hãng quảng cáo Thụy Ðiển lái một máy bay nhỏ xâm nhập vào được không phận có canh phòng cẩn mật của Belarus, và thả dù gần 900 con gấu nhồi bông với khẩu hiệu ủng hộ nhân quyền.


Sự kiện này xảy ra từ hôm 4 Tháng Bảy, nhưng các giới chức nước này phủ nhận, cho đến khi Tổng Thống Lukashenko triệu tập phiên họp, để khiển trách người có trách nhiệm để sự kiện “khiêu khích” như vậy xảy ra.


Nhà lãnh đạo Belarus, được mệnh danh là “nhà độc tài cuối cùng của Âu Châu,” hôm Thứ Ba, cách chức viên tư lệnh phòng không và chỉ huy trưởng lực lượng Phòng Vệ Biên Giới, đồng thời khiển trách nhiều viên chức an ninh khác.


Ông Thomas Mazetti và cô Hannah Frey, hai người Thụy Ðiển, thực hiện phi vụ táo bạo này cho biết, họ làm vậy để yểm trợ cho các nhà hoạt động nhân quyền ở Belarus, và gây bối rối cho quân đội nước này, vốn là trụ cột quyền lực của ông Lukashenko.


Chuyến bay cất cánh và trở về an toàn tại phi trường Pociunai ở phía Nam Lithuania. Theo ông Mazetti, nhờ hôm đó trời mưa dông, nên có thể hệ thống phòng không đã không dò được chiếc máy bay ba chỗ ngồi Jodel của họ. (T.P.)

Nữ dân biểu California bị đề nghị phạt $10,000

 


WASHINGTON – Ủy Ban Ðạo Ðức Hạ Viện Mỹ hôm Thứ Ba đưa ra đề nghị khiển trách nữ Dân Biểu Laura Richardson, đồng thời phạt vạ số tiền $10,000 vì có bảy vi phạm về đạo đức, trong đó có việc sử dụng không chính đáng nguồn tài nguyên của Hạ Viện, theo tường thuật của ABC News.









Dân Biểu Laura Richardson vừa bị một ủy ban Hạ Viện đề nghị Quốc Hội khiển trách và phạt $10,000 vì vi phạm đạo đức của một dân cử. (Hình: AP/Carolyn Kaster)


Báo cáo kết quả điều tra của ủy ban lưỡng đảng cho thấy, vị nữ dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, đại diện Ðịa Hạt 37, trong Los Angeles County, California, vi phạm các qui định của Hạ Viện và các tiêu chuẩn về tác phong khác, qua việc sử dụng nguồn tài nguyên của Quốc Hội cho “những mục đích vận động, riêng tư và không chính thức,” “đòi hỏi cũng như hối thúc” nhân viên trong Hạ Viện làm việc cho chiến dịch vận động bầu cử của bà, kể cả “hành vi cản trở” công việc điều tra của ủy ban, bằng cách thủ tiêu hay tráo đổi chứng tích, không giao nộp tài liệu và “âm mưu gây ảnh hưởng đến lời khai của nhân chứng”.


Trong báo cáo có đoạn nói, ủy ban cho rằng bà Richardson có hành động “hết sức coi thường” tiến trình cuộc điều tra.


Bản báo cáo ghi thêm: “Ủy ban đồng lòng đề nghị Hạ Viện chấp thuận báo cáo, và dựa theo nội dung này để khiển trách Dân Biểu Richardson về hành vi nêu trên.” Ngoài ra, ủy ban cũng đề nghị phạt bà Richardson $10,000 và yêu cầu bà phải nộp phạt trước ngày 1 Tháng Mười Hai. (T.P.)

Bạn thiết của con người

 


Viên Linh


 


Thời nước ta có quốc tính là An Nam, ngành xuất bản và báo chí văn học chưa có nhiều lắm, nhà văn ta đã bị so sánh khá thấp kém: “Nhà văn An Nam khổ như chó”.


 


Bây giờ thời thế thật là khó


Nhà văn An Nam khổ như chó


Mỗi lần cầm bút viết văn chương


Nhìn đàn chó đói gậm trơ xương


Rồi nhìn chúng mình hì hục viết


Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết


Mà thương cho tôi thương cho anh


Ðã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh


(Nguyễn Vỹ, gửi Trương Tửu)


 






Tranh Chóe, một người tự họa theo chân dung của mình, với thế ngồi của người bạn thiết. (Hình: Tài liệu của Viên Linh)


Cũng may đó là thời Tiền Chiến, những năm ’30 ở Hà Nội, khi nhà văn nhà thơ còn là những vương tôn công tử. Cũng ở thành phố ấy, hơn hai mươi năm sau, khi quốc tính An Nam không còn, biết bao người chỉ mong được là chó? Hãy đọc hồi ký Ghi của Trần Dần viết về thời Nhân Văn Giai Phẩm, sẽ thấy. Con chó thời ’50, như Nguyễn Tuân viết, còn phải biết sợ mới sống sót nổi. Song nếu Nguyễn Vỹ còn sống ở Hà Nội lúc đó, có thể ông sẽ không so sánh nhà văn với chó nữa. Vì con chó lúc nào cũng có một đức tính mà nhiều nhà văn “thời độc tài” không có: Sự trung thành. (Ðộc tài có 2 nghĩa: Chính trị là số một, và tiền tài cũng là số 1.) Loài chó vẫn được coi là loài vật trở thành gia súc đầu tiên sống chung một mái nhà với con người. Thuở tiểu học, nhi đồng Việt Nam phải học thuộc lòng những bài trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, đến nay còn nhớ. Khi muốn giết nó, người ta hô hoán lên nó là chó dại. Ðó là bài thứ 20: Người đi đường với con chó dại. Chó cắn người thì chó bị giết, ở đâu cũng thế; chuyện này đã được thi sĩ Oliver Goldsmith kể trong Elegy on the Death of a mad dog, Bi ca về cái chết của một con chó dại.


Các nhà khoa học tin rằng thời kỳ con chó trở thành bạn thiết của con người xảy ra cách đây khoảng 14,000 năm, tuy rằng cuộc khai quật khoa học nơi một ngôi mộ ở Israel chỉ cho thấy chó và người đã ở chung với nhau chỉ khoảng 12,000 năm. Người ta không rõ lý do vì sao, song theo nhà sinh vật học Raymond Coppinger thì phần lớn là do khả năng loài chó có thể cùng ăn với con người, hay bên cạnh con người. Ðó cũng là lý do răng chó sói -tổ tiên loài chó- to khỏe hơn răng chó nhà, vì chó sói vẫn tiếp tục phải săn thú hoang mà ăn, trong khi chó nhà sống bên con người, ăn những gì con người bỏ lại, hàm răng dần dần nhỏ đi. Vì con người ít khi cho người bạn thiết của mình những miếng ăn nguyên vẹn, mà chỉ là thịt thừa, gân dai, và miếng khó nuốt. Lão Tử (580-500 trước Tây lịch) cũng nói đến chó, mà là chó rơm. Ông nói đến chó không vì con chó, về con chó, mà là về con người. Ông hẳn đã biết câu phương châm: “Hãy cho tôi biết anh chơi với ai, tôi sẽ cho anh biết anh là ai”. “Trời đất không nhân từ, coi vạn vật như chó rơm.


Thánh nhân không nhân từ, coi trăm họ như chó rơm.” Chỉ mới hôm thứ tư 7 tháng 12 năm 2005, các nhà khoa học mới hoàn tất một bản đồ di truyền thể của loài chó, mục đích là tìm xem những liên hệ về bệnh tật giữa chó và người, cùng khám phá sự thân thiết giữa hai loài, loài người và loài bạn tốt nhất của con người. Tin này được tường thuật rộng rãi trên báo chí và bài viết khoa học đăng trên tờ Nature cùng tháng. Trong suốt hai năm, hơn mười nhà sưu tầm đã phân tích 19,300 đơn vị di truyền của Tasha, một con chó cái 12 tuổi, được chọn trong số 120 con chó được khảo sát, vì sự biến đổi genes ở Tasha ít nhất so với những con kia. Họ đã tìm ra sự tương quan khác thường giữa loài chó và loài người, Canis familiaris và Homo sapiens. “Loài người và loài chó trên bản chất có cùng những loại di truyền thể, genes.” Ðó là lời phát biểu của tác giả Kerstin Lindblad-Toh, đồng giám đốc chương trình phân tích thuộc Broad Institute, đại học MIT và đại học Harvard. “Mọi di truyền thể của loài này có cùng chức vụ trong di truyền thể của loại kia.” Ðiều này giải thích tại sao loài chó và loài người có cùng những thứ bệnh như ung thư, bệnh tim, bệnh mù lòa, phong hủi và tiểu đường. Tám căn bệnh quan trọng của con người được tìm thấy trong số mười căn bệnh thông thường của loài chó. Tức là nếu con người có tính hạnh “nhân cách” nào đó, con chó cũng có tính hạnh “khuyển cách” nào đó khá tương ứng. Không phải ai cũng giống ai. Và chưa chắc ai hơn ai. Nhà thơ Nguyên Sa tả con chó ốm là để tả một người yêu đang đau: “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm.”


Con chó, trong các truyện có tính cách tâm linh, thường liên hệ tới người chết, cõi âm. Chó Ngao ở hỏa ngục, Thần Anubis đầu chó của Ai Cập, con chó, kẻ hướng dẫn thần chết, ở các đoạn 18, 22 của Kinh Coran.


Thần thoại thế giới và Việt Nam đầy rẫy các chuyện liên quan đến loài chó. Nghệ thuật Maya, một vương quốc đã biến mất một cách bí mật, còn để lại những điêu khắc, phù điêu (đắp nổi) hay tượng đá có diện mạo hình dáng chó. Thường là kẻ dẫn dắt linh hồn người chết về thế giới bên kia. Những con chó trong Kinh Coran (Qur’ân) có thể là những âm binh tương tự những âm binh của thần Anubis của Ai Cập. Nói thế vì Anubis có tên gọi còn trong đoạn kinh sau đây, những con chó hiện diện một cách bí mật. Người Mễ cũng có những con chó như thế. Nhiều ngôi mộ khi đào lên có hai bộ xương, bộ thứ hai là xương chó.


Kinh sách Phật Giáo có nói về chó không? Xin thưa là có. Ðó là câu thơ nói về sự biến đổi của mây trời, bụi đất, và lò luyện người, cụm mây trắng biến thành chó xanh (bạch vân thương cẩu):


 


Lò cừ nung nấu sự đời


Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.


(Ôn Như hầu Nguyễn Gia Thiều, Cung Oán Ngâm Khúc).


 


Như thế rõ ràng tả con chó cũng như tả con người, và ngược lại. Bài này được viết ra nhân lúc nhà văn quận Cam thấy mình không khổ như chó thuở nào, ngược lại là sướng như chó:


 


Bây giờ thời thế thật là khó


Nhà văn quận Cam sướng như chó


Mà vui cho anh vui cho tôi


Ðã viết tới rồi lại viết lui…


 


Tài liệu:


-Quốc Văn Giáo Khoa Thư, lớp sơ đẳng, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc, Ðỗ Thận soạn, nha Học chính Ðông Pháp xb, Hà Nội, 1935.


-Adventures in English Literature, J.B.Priestley và Josephine Spearr, tr. 340.


-Nguyễn Vỹ, Gửi Trương Tửu, thơ, Thơ Mới 1932- 1945, Hội nhà văn, HN, 2001.


-Trần Dần, Ghi, hồi ký.


-Karen E. Lange, Evolution of Dog, Wolf to Woof, National Geographic, Jan.2002.


-Karen Kaplan, Genetic Map of Dog may help Humans, Los Angeles Times, Dec. 8.2005.


-Kinh Qur’ân (Ý nghĩa nội dung), Hassan Abdul Karim dịch ra Việt ngữ.

Israel mất dần kiên nhẫn với Iran

 


JERUSALEM (AP) –Thủ Tướng Israel Benjamin Netanyahu hôm Thứ Tư nói rằng các phát biểu bày tỏ sự đoàn kết với Israel từ các giới chức Mỹ và sự bảo đảm là việc sử dụng sức mạnh quân sự vẫn còn là một giải pháp có thể dùng đến, đã không thuyết phục được chính quyền Tehran về sự quyết tâm nhằm ngăn chặn chương trình nguyên tử của Iran.









Thủ tướng Israel, ông Benjamin Netanyahu (trái) và bộ trưởng quốc phòng Mỹ, ông Leon Panetta tại cuộc họp báo hôm Thứ Tư. (Hình: Mark Wilson/Getty Images)


Ðứng cạnh Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Leon Panetta, ông Netanyahu bác bỏ lời khuyên của ông này rằng nên cho các nỗ lực ngoại giao thêm thời gian để ngưng chương trình nguyên tử Iran.


“Ngay lúc này, chế độ Iran tin rằng cộng đồng thế giới không cương quyết trong việc ngăn chặn chương trình nguyên tử của họ,” ông Netanyahu cho hay. “Ðiều này cần phải được thay đổi và phải thay đổi nhanh chóng vì không còn nhiều thời giờ để giải quyết vấn đề một cách ôn hòa.”


Trước đó, trong ngày Thứ Tư, tại một căn cứ quân sự Israel ở phía Nam Tel Aviv, ông Panetta đứng cạnh Bộ Trưởng Quốc Phòng Israel Ehud Barak và tuyên bố rằng chính phủ Obama thật sự quan tâm về giải pháp sử dụng sức mạnh quân sự để ngăn không cho Iran chế tạo võ khí nguyên tử. Nhưng ông Panetta cũng nói rằng trước hết phải dùng mọi giải pháp không quân sự.


Ông Barak không có vẻ tin tưởng vào việc này, nói rằng ông cám ơn sự ủng hộ của chính phủ Mỹ, nhưng nói thêm rằng khả năng các biện pháp trừng phạt của quốc tế khiến Iran từ bỏ chương trình nguyên tử của mình “rất thấp”. (V.Giang)

Cụ Đồng Đền Nguyễn Thị Bích

Bà Nguyễn Thị Khuyến

Mexico truy tố sĩ quan cao cấp tội đồng lõa băng đảng ma túy

 


MEXICO CITY (AP) –Các công tố viên Mexico tuần này chính thức truy tố bốn sĩ quan cao cấp quân đội, kể cả ba tướng lãnh và một trung tá, về tội đồng lõa với băng đảng ma túy.









Một cảnh sát viên kiểm tra hiện trường xảy ra án mạng liên quan đến ma túy gần Monterrey, Mexico. Chính quyền vừa truy tố một số sĩ quan cao cấp đồng lõa với băng đảng ma túy. (Hình: Julio Cesar Aguilar/AFP/GettyImages)


Ðây là các sĩ quan cao cấp nhất bị truy tố từ 15 năm nay với lý do bảo vệ băng đảng ma túy nổi tiếng hung bạo Beltran-Leyva. Họ bị bắt từ Tháng Năm và bị quản thúc tại gia.


Bộ Tư Pháp Mexico cho hay cáo buộc trợ giúp băng đảng ma túy được đưa ra nhắm vào các tướng đã về hưu là Tomas Angeles Dauahare và Ricardo Escorcia, cũng như tướng đang tại chức Roberto Dawe Gonzalez, cùng cựu Trung Tá Silvio Hernandez Soto.


Cùng bị truy tố trong vụ này là trùm ma túy sinh ra ở Mỹ, Edgar Valdes Villareal, có biệt danh là “La Barbie,” người từng hoạt động trong băng Beltran Leyva trước khi băng này bị rã sau cái chết của trùm ma túy Arturo Beltran Leyva trong cuộc chạm súng với Thủy Quân Lục Chiến Mexico năm 2009.


Sĩ quan cao cấp nhất từng bị bắt trước đây vì liên quan đến băng đảng ma túy là Tướng Jesus Gutierrez Rebollo, lúc đó chỉ huy cơ quan bài trừ ma túy Mexico, bị bắt năm 1997 và bị kết tội trợ giúp trùm băng đảng ma túy Armado Carrillo Fuentes. (V.Giang)

Bà Võ Thị Ngọc Sương

Giáo sư đại học UC Irvine bị bắt vì tội phóng hỏa

 


SANTA ANA (AP) – Một giáo sư đại học UC Irvine bị bắt hôm Thứ Ba và không được đóng tiền tại ngoại hậu tra sau khi các công tố viên nói rằng họ tìm thấy chứng cớ cho thấy ông có âm mưu giết 200 học sinh và ban giám đốc trường trung học nơi con ông bị kỷ luật trước khi treo cổ tự tử.










Giáo Sư Rainer Reinscheid bị bắt tội phóng hỏa. (Hình: Biện Lý Cuộc Orange County)


Ông Rainer Reinscheid, 48 tuổi, phó giáo sư môn dược tại UC Irvine, bị truy tố tội phóng hỏa sau khi xảy ra một loạt năm vụ cháy hồi đầu tháng này tại trường trung học University High School, một căn nhà của một thành viên ban giám đốc trường và một công viên cạnh đó, nơi con trai ông treo cổ mấy tháng trước đây.


Ðứa con trai 14 tuổi của ông Reinscheid từng theo học tại trường University High School ở Irvine và bị kỷ luật trước khi treo cổ tự tử trong công viên.


Sau khi ông Reinscheid bị bắt tuần qua, giới hữu trách tìm thấy các điện thư trong điện thoại di động của ông có nội dung âm mưu đốt trường, giết 200 học sinh trước khi tự sát, theo lời phát ngôn viên Biện Lý Quận Orange County, bà Farrah Emami. (V.Giang)

Vụ mất điện cho thấy hạ tầng cơ sở Ấn Ðộ yếu kém

 


NEW DELHI (Washington Post) – Việc cung cấp điện được tái lập ở nhiều nơi tại Ấn Ðộ hôm Thứ Tư, hai ngày sau khi xảy ra vụ mất điện rộng lớn khiến tạo nghi ngờ về khả năng trở thành một cường quốc kinh tế của quốc gia này.









Một cột điện với dây điện chằng chịt tại Kolkata, Ấn Ðộ. Quốc gia này bị cúp điện trong hai ngày, ảnh hưởng hơn 600 triệu dân. (Hình: Dibyangshu Sarkar/AFP/GettyImages)


Hôm Thứ Ba, hệ thống tải điện ở vùng Bắc và Ðông Ấn Ðộ coi như ngưng hoạt động vì không đáp ứng nổi sự đòi hỏi năng lượng lên cao, khiến khoảng 600 triệu dân ở hơn nửa quốc gia hoàn toàn mất điện. Ðây là vụ mất điện lớn nhất trong lịch sử thế giới nếu tính trên số người bị ảnh hưởng, vào khoảng 10% dân số quả địa cầu.


Cuộc khủng hoảng này cũng xác định sự lo ngại mà các nhà lãnh đạo kỹ nghệ ở Ấn Ðộ từng nêu lên trong nhiều năm qua – rằng hệ thống cung cấp điện yếu kém sẽ gây nguy hại cho sự phát triển kinh tế lâu dài của Ấn Ðộ.


Ðiều này cũng làm trầm trọng thêm sự lo ngại về việc chính phủ không đầu tư vào khu vực hạ tầng cơ sở cần thiết cho nỗ lực nhanh chóng phát triển kinh tế. (V.Giang)

Bão Saola qua Philippines, ập vào Ðài Loan, 15 người chết

 


TAIPEI, Ðài Loan (AP) – Các trận mưa tầm tã từ một trận bão đang kéo đến đã gây điêu đứng cho dân chúng ở vùng Ðông Ðài Loan hôm Thứ Tư, sau khi làm thiệt mạng ít nhất 14 người dân Philippines, và buộc 154,000 người khác phải rời bỏ nhà cửa đi lánh nạn từ hôm Chủ Nhật đến nay.









Cư dân lội nước lụt ở Manila, Philippines. Bão Saola làm ít nhất 14 người tại đây thiệt mạng, và đang ập vào Ðài Loan. (Hình: Ted Aljibe/AFP/GettyImages)


Có ít nhất một người ở Ðài Loan chết vì ảnh hưởng của bão Saola. Nguồn tin giới truyền thông địa phương nói rằng một phụ nữ chết vì cây đổ gần thành phố Cao Hùng (Kaohsiung) ở phía Nam Ðài Loan.


Vào trưa ngày Thứ Tư, bão Saola ở vị trí cách bờ biển thành phố Hualien chừng 160 km về phía Ðông, với sức gió lên đến 137 km/giờ, và sức gió giật có thể lên đến 173 km/giờ. Bão đang di chuyển chậm nhưng trở nên mạnh hơn.


Cơ quan khí tượng trung ương Ðài Loan tiên đoán bão sẽ đi vòng quanh khu vực phía Ðông Bắc của đảo quốc này vào trưa ngày Thứ Năm.


Nhiều nơi ở khu vực Ðông Bắc Ðài Loan đã có tới 900 mm (30 inch) lượng nước mưa rơi xuống, tính đến trưa ngày Thứ Tư.


Bộ Quốc Phòng Ðài Loan cho hay đang huy động khoảng 48,000 binh sĩ giúp vào việc cứu trợ dân chúng đồng thời bảo vệ mùa màng đang đến mùa gặt hái.


Hàng chục chuyến bay ở phi trường chính tại Ðài Bắc đã bị hủy bỏ và thành phố này coi như sẽ ngừng hoạt động vào ngày Thứ Năm. (V.Giang)

Tin mới cập nhật