Cựu tù cải tạo họp mặt



Nguyên Huy/Người Việt


 


Hàng năm cứ vào khoảng giữa 30 Tháng Tư (ngày đau thương của dân tộc) và 19 Tháng Sáu (Ngày Quân Lực VNCH) là các cựu tù cải tạo lại có những dịp gặp lại nhau trong các buổi hội ngộ, có khi từng trại, có khi liên hợp các trại.









Cựu tù cải tạo tổ chức thắp nến cầu nguyện cho quê hương sớm thoát khỏi Cộng Sản. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Như năm nay, vào sáng Thứ Bảy, 27 Tháng Năm, anh em cựu tù Long Giao, Yên Bái, Phong Quang, Vĩnh Quang, Vĩnh Phú sẽ có buổi họp mặt tại nhà hàng Diamond Seafood Palace, Garden Grove.


Vào đầu Tháng Sáu, anh em cựu tù Tân Lập, Vĩnh Phú, Hà Tây, Nam Hà, Hàm Tân sẽ có cuộc họp mặt vào sáng Chủ Nhật, 10 Tháng Sáu, tại nhà hàng Regent West, Santa Ana.


Theo anh Dũng Lưu, trưởng ban tổ chức ngày họp mặt cựu tù Long Giao, Yên Bái, Phong Quang, thì “Ðây là lần thứ hai chúng tôi gặp gỡ nhau để hàn huyên những mất còn trong đời kể từ sau 30 Tháng Tư, 1975. Số anh em tìm về với nhau chỉ được vài trăm người. Nếu so với con số của các trại tù cải tạo Long Giao, Yên Bái, Vĩnh Quang thì tổng số phải đến mấy chục ngàn. Nhưng từ khi Long Giao được chuyển ra Bắc thì số anh em nguyên thủy đã bị phân tán đi nhiều trại khác ở ngoài Bắc như Vĩnh Quang, Vĩnh Phú, Phong Quang, Tân Lập, v.v… Ít có ai được ở mãi một trại vì chính sách giam tù của Cộng Sản là luôn phân tán tù để không có thể cấu kết với nhau được. Hầu hết anh em chúng tôi đều phải trải qua ít nhất là dăm ba trại tù của Cộng Sản trong những năm tháng ở tù cải tạo. Do đó những cuộc họp mặt hội ngộ của chúng tôi thường là gộp một vài trại lại với nhau trong một lần tổ chức.”


Trong khi đó, người cựu tù Nguyễn Văn Lợi trong ban tổ chức ngày họp mặt của cựu tù Tân Lập, Vĩnh Phú, Hà Tây, Nam Hà, Hàm Tân cũng cho biết: “Ðây là lần thứ ba chúng tôi gặp lại nhau. Hai lần trước thì có khoảng trên 300 anh em tới dự. Quả là một dịp vui cho anh em chúng tôi nên hầu hết đều đồng ý là hàng năm nên tổ chức một lần. Chương trình gặp gỡ thường chỉ là hàn huyên, tưởng niệm những anh em đã chết trong các trại cải tạo. Ban tổ chức chúng tôi đã sưu tầm được một danh sách mấy trăm anh em đã bị chết trong các trại cải tạo, chết mà bọn Cộng Sản cũng còn vô nhân đạo thường không báo về cho gia đình biết. Có khi chúng còn giấu nhẹm khi vợ con thân nhân của kẻ xấu số ra thăm, chúng cũng tàn nhẫn không cho biết sợ ‘vi phạm vào chính sách.’”


Cả hai tổ chức họp mặt cựu tù cải tạo này đều cho biết là không mời các vị quan khách mà chỉ thuần là anh em cựu tù đã cùng phải qua những tháng năm nhục nhằn, đau khổ để tinh thần buổi hội ngộ thấm đầy sự cảm thông sâu sắc.


“Thế thì ngoài mục đích nêu trên còn có mục đích gì khác nữa không?” Có người đã đặt câu hỏi với các ban tổ chức, thì đều được trả lời rằng: “Cũng có chứ. Như trong dịp này chúng tôi làm lễ vinh danh cho các chị, những người vợ tù đã không quản thân gầy vì đã chịu cam khổ trong xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa mà chắt chiu lội rừng lội suối đi thăm nuôi chúng tôi. Cũng trong dịp này chúng tôi có thể nói với con em chúng tôi rằng các con đang được hưởng những gì mà cha mẹ các con đã mang thân xác, tinh thần đổi lấy được. Còn muốn nói đến tranh đấu ư thì có lẽ không một người cựu tù cải tạo nào lại không muốn cho chế độ Cộng Sản phải bị tận diệt để muôn đời con cháu mai sau sẽ không phải chịu những ác cảnh mà chế độ này cố tình áp đặt lên đời sống của người dân Việt. Người cựu tù đã có mặt trong rất nhiều các tổ chức tranh đấu chống Cộng Sản. Còn các buổi hội ngộ này chỉ là để cho anh em hàn huyên tâm sự với nhau mà thôi.”


Ðược biết ban tổ chức ngày họp mặt của cựu tù Tân Lập, Vĩnh Phú, Hà Tây, Nam Hà, Hàm Tân gồm nhiều anh em thuộc các trại này như anh Phạm Gia Ðại, tác giả cuốn hồi ký “Những người tù cuối cùng,” anh Phan Tấn Ngưu, chủ tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Nam California, anh Nguyễn Ðức Trạch tức nhà thơ trào phúng Trạch Gầm, anh Thiệu Võ, anh Nguyễn Văn Mạnh…


Sau 30 Tháng Tư, 1975, một kế hoạch vĩ đại của Cộng Sản Bắc Việt là tập trung tất cả quân cán chính VNCH vào trong các trại để tránh hậu họa. Nên toàn cõi miền Nam vào năm đầu tiên của chế độ Cộng Sản, nhà tù đã mọc lên khắp các tỉnh thị cho đến nông thôn. Qua năm thứ hai thì một phần khá lớn gồm các sĩ quan trung cấp và cao cấp cùng các giới chức chính quyền cao cấp của VNCH bị đưa ra Bắc bằng những chuyến tàu “Sông Hương” và trên những chuyến xe lửa cà rịch cà tàng ở miền Bắc “ưu việt” khiến có vài người đã bị chết ngộp.


Ra đến nơi, tại những vùng thâm sơn cùng cốc như Sơn La “chướng khí,” Quảng Ninh, Cổng Trời, v.v… câu đầu tiên cán bộ coi tù nói với người tù rằng: “Các anh được nhà nước ta khoan hồng, tạo điều kiện tốt cho các anh học tập lâu dài, phải biết ăn năn hối cải mà học tập tốt, lao động tốt.” Ðể rồi sau đó, người tù phải ra sức mà xây dựng lán trại cho mình ở tù.










Cựu tù cải tạo gặp lại nhau mừng vui trong quân phục cũ. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Ðang “yên tâm học tập” thì ông bạn “môi hở răng lạnh” cho ngay Hà Nội một bài học nên nhà nước vội vã chuyển tù về xuôi và dần dần về Nam khiến cho những người tù thấp thoáng thấy được ánh sáng ở cuối chân trời.


Ðùng một cái có tin Mỹ đạt được thỏa thuận với Hà Nội nhận cho số tù cải tạo “không cải tạo được” sang Mỹ định cư. Cộng Sản Việt Nam như cởi được tấm lòng là tống khứ bọn “ngụy quân ngụy quyền ác ôn ngoan cố” ra khỏi nước, dứt được hậu họa mà lại còn được tiếng là nhân đạo và kiếm được chút đỉnh từ chính phủ Hoa Kỳ.


Nay thì anh em cựu tù hầu hết đã ổn định được cuộc sống, con em đều được học hành đến nơi đến chốn, nên có thì giờ nghĩ đến nhau, nhớ đến nhau mà tìm gặp lại nhau hàng năm. Nhiều người lại ước ao rằng giá như có cuộc họp mặt của cựu tù cải tạo toàn thế giới dù chỉ một lần thì hay biết mấy. Cuộc họp mặt ấy có thể tổ chức quy mô, không trong những nhà hàng mà là ngoài trời trong một công viên nào đó, có thể đốt lửa trại được kéo dài trong hai ba ngày mà món ăn toàn là sắn lát, sắn khô, vài trăm hạt cơm mốc trộn với bắp giả làm bo bo… và tất cả được ở trong những lán được dựng tạm. Văn nghệ trong suốt ba ngày này là những bản tù ca được sáng tác từ những trại Long Giao, Nam Hà, Xuân Lộc, Hàm Tân, v.v… để diễn lại những ác cảnh mà người tù cải tạo đã phải trải qua trong hàng chục năm trời. Ban tổ chức có thể mời một vài cơ quan truyền thông Hoa Kỳ để chúng ta cùng tố cáo tội ác Cộng Sản với dư luận Hoa Kỳ và thế giới.


––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Bin Laden muốn giết Obama nhưng tha Biden


Osama bin Laden từng ra lệnh cho al-Qaeda ám sát Tổng Thống Obama nhưng đừng giết Phó Tổng Thống Joe Biden vì ông này “hoàn toàn thiếu chuẩn bị” để khi lên cầm quyền sẽ “đưa nước Mỹ đến “khủng hoảng”.









Trẻ con chơi banh trên nền căn nhà Osama bin Laden đã ẩn náu 5 năm ở thành phố Abbottabad, nay bị chính quyền Pakistan san bằng. (Hình: Sajjad Qayyum/AFP/Getty Images)


Ðó là chỉ thị bin Laden gởi đi cho các thuộc hạ, và nằm trong số những tài liệu, thư tín liên lạc mà biệt kích SEAL thâu được trong cuộc đột kích vào căn nhà tại Abbottabad, Pakistan, năm ngoái. Ðợt đầu tiên gồm 17 trong số hơn 10,000 hồ sơ này được ban nghiên cứu học viện quân sự West Point thuộc Trung Tâm Chống Khủng Bố của quân đội Hoa Kỳ phổ biến lên mạng lưới điện toán hôm Thứ Năm, vào dịp kỷ niệm một năm ngày tiêu diệt trùm khủng bố.


Thời gian của 175 trang tài liệu ấy là từ Tháng Chín, 2006 tới Tháng Tư, 2011, bao gồm văn thư của Osama bin Laden và các thủ lãnh al-Qaeda khác.


Có thể thấy rõ ràng tâm trạng thất vọng của bin Laden những năm cuối cùng khi cảm thấy bị gạt ra bên lề hoạt động của các nhóm khủng bố mà ông gây dựng. Bin Laden không hài lòng với những hành động khủng bố tấn công vào dân Hồi Giáo và thúc đẩy họ phải nhắm vào người Mỹ.


Những cuộc xạ kích liên tục của máy bay không người lái tiêu diệt dần các lãnh tụ và nhiều nhóm al-Qaeda như ở Iraq và Yemen sát hại nhiều người Hồi Giáo hơn là người ngoại đạo. Vì vậy, trong những văn thư cuối cùng viết từ Abbottabad, Osama tỏ lộ nỗi thất vọng về khả năng hoạt động và việc al-Qaeda làm mất tin tưởng của dân Hồi Giáo là thành phần căn bản cần tranh thủ sự ủng hộ.


Trong một tài liệu năm 2010, bin Laden viết: “Tôi dự định sẽ đưa ra một tuyên bố về việc phát động một giai đoạn mới để sửa chữa những sai lầm đã vướng mắc. Làm như vậy chúng ta sẽ lấy lại được sự tin cậy của một phần lớn thành phần đã mất niềm tin của họ với cuộc thánh chiến (jihad)”.


Một số tài liệu cũng cho thấy al-Qaeda không có quan hệ êm ả với Iran. Bin Laden mệt mỏi với cách giải quyết của Iran trong việc thả những người họ cầm giữ, trong đó có cả thành viên thuộc gia đình của ông. Theo nhận định của bin Laden “Iran không tỏ ra muốn thương lượng hoặc đáp ứng áp lực của chúng ta”.


Nhưng ít nhất qua một số ít tài liệu vừa công bố người ta không tìm thấy dấu hiệu al-Qaeda được sự ủng hộ của tổ chức nào ở Pakistan. Cũng không tài liệu nào, hoặc là có thể ở trong số chưa được công bố, cho thấy chính quyền Pakistan có thái độ thân thiện với al-Qaeda.


Tuy vậy, bin Laden tín nhiệm “những người anh em Pakistan” hơn, chỉ thị cho gia đình mình tìm cách qua Pakistan, nhưng phải bảo đảm là không bị tình báo Pakistan theo dõi, để lộ nơi ẩn náu của ông.


Trong mấy tài liệu khác, bin Laden và bộ tham mưu thân cận của ông khuyến cáo các nhóm al-Qaeda nên tập trung đánh Hoa Kỳ vì như vậy kết quả cuối cùng sẽ làm yếu các kẻ thù khác. Một chỉ thị viết: “Dù rằng chúng ta có cơ hội đánh người Anh, nhưng chúng ta không nên phí phạm nỗ lực mà cần tập trung đánh bại Hoa Kỳ và điều ấy sẽ đưa tới việc đánh bại các kẻ thù khác”.


Bin Laden tỏ ra không tin tưởng sự trung thành của nhóm loạn quân al-Shabab ở Somalia và cũng hoài nghi khả năng hành động của những cá nhân khủng bố tự phát ở địa phương. Ông nhắc nhở các nhóm “đừng gởi đi một chiến binh tự sát cho mỗi sứ mạng tấn công, phải ít nhất là hai”.


Về mưu toan ám sát Tổng Thống Barack Obama và Tướng David Petraeus, bin Laden nhắc nhở là chỉ tập trung nhắm hai người này, không đụng tới Phó Tổng Thống Joe Biden, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates và những người khác. Do đó, phải thành lập hai toán đặc biệt và tìm cơ hội mà phương cách hiệu quả nhất là bắn hạ hay làm nổ máy bay khi đến căn cứ không quân Bagram, Afghanistan. Tuy nhiên, các giới chức an ninh Hoa Kỳ cho rằng al-Qaeda không thể đủ khả năng để thực hiện chỉ thị của thủ lãnh.


Trong một chỉ thị viết Tháng Tư, 2011, bin Laden tỏ ra rất chú ý đến các cuộc nổi dậy ở Trung Ðông (Arab Spring), gọi đó là “sự kiện lớn lao khủng khiếp” trong lịch sử dân Hồi Giáo và hy vọng al-Qaeda có thể tạo ảnh hưởng qua truyền thông cũng như hoạt động hướng dẫn. Ðiều ấy chứng tỏ bộ tham mưu al-Qaeda rất chú ý theo dõi truyền thông Hoa Kỳ. Adam Gadahn, cố vấn truyền thông của bin Laden, mô tả ABC News là “một trong những kênh tốt nhất cho chúng ta” còn Fox News thì “đưa (chúng ta) vào vực thẳm” và “thiếu trung lập”.


Trong một tài liệu được viết vào năm 2010, Gadahn cũng đưa ra khuyến cáo là không nên cho rằng chiến tranh và al-Qaeda làm cho nền kinh tế Hoa Kỳ đi đến chỗ suy yếu.


Một khối lượng lớn các tài liệu sẽ được công bố sau này có lẽ sẽ còn phơi bày thêm nhiều bí ẩn khác về Osama Bin Laden trước và sau vụ khủng bố 9/11. (H.C.)

Chuyện Trần Quang Thành: Sai lầm từ phía Mỹ?

 


Nguyễn Văn Khanh


 


“Rõ là phía Hoa Kỳ ngây thơ,” một cựu viên chức cao cấp của chính phủ George W. Bush vừa lắc đầu vừa nói. “Bất kể cuộc đàm phán được thực hiện ở cấp nào, những người đó đã mắc bẫy Trung Quốc khi tin tưởng Bắc Kinh sẽ giữ đúng lời cam kết để yên cho một nhà tranh đấu từng bị ngồi tù.”









Nhà tranh đấu Trần Quang Thành (ngồi xe lăn) được Ðại Sứ Mỹ Gary Locke (phải) nắm tay đưa vào bệnh viện. (Hình: AP Photo/US Embassy Beijing Press Office, HO)


Chỉ trích quá nặng đó được đưa ra liên quan đến câu chuyện của luật sư khiếm thị Trần Quang Thành, nhân vật đang liên tục xuất hiện ngay trên trang nhất của báo chí thế giới. Nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng này là người kêu gọi dân chúng Hoa Lục cùng ông nộp đơn kiện chính phủ về tội bắt buộc phụ nữ phải phá thai hay giải phẫu tuyệt đường sinh sản chỉ vì họ đã có một con và theo quy định của nhà nước Bắc Kinh “mỗi gia đình chỉ được quyền có một đứa con”.


Việc làm hoàn toàn đúng về mặt nhân đạo này dẫn đến kết quả ông bị chính quyền bắt giam, phải ngồi tù 4 năm về tội “gây rối loạn giao thông” và sau khi mãn hạn tù còn bị quản chế. Mãi đến cuối tuần rồi, qua sự giúp đỡ của nhiều người, ông mới trốn thoát khỏi nhà ở Sơn Ðông để vượt chặng đường gần 700 cây số lên Bắc Kinh xin tá túc ở Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ. Sáu ngày sau đó, ông rời khỏi tòa đại sứ Mỹ sau khi Bắc Kinh hứa rất nhiều điều: Không hành hạ cá nhân ông cũng như những người thân của ông, lại còn cam kết sẽ giúp ông ghi danh vào một trường đại học để đi học tiếp, vợ con ông được đưa lên Bắc Kinh đoàn tụ gia đình, và việc đầu tiên là phải đưa ông vào bệnh viện chữa trị vì trên đường chạy trốn ông bị thương ở chân.


Những lời hứa của “bà tiên dịu hiền” khiến ông an tâm, và các quan chức ngoại giao Hoa Kỳ thở phào nhẹ nhõm khi giải quyết xong một chuyện gai góc, có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa hai cường quốc. Tin tức từ Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết trên chuyến xe chở ông Trần từ tòa đại sứ đến nhà thương có cả đại sứ Mỹ, ông Gary Locke, ngồi ngay bên cạnh và tấm ảnh được phổ biến trên mặt báo cho thấy hai nhân viên nhà nước ăn mặc rất lịch sự, niềm nở vỗ tay chào mừng ông ở phòng tiếp tân. Trong tấm hình đó, người Mỹ đứng đằng sau là phụ tá ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell, nhân vật mới vài ngày trước đó được Tòa Bạch Ốc chỉ thị phải cấp tốc bay sang Bắc Kinh để dàn xếp vấn đề đầy tế nhị về mặt ngoại giao trước khi cuộc đối thoại chiến lược và kinh tế hàng năm giữa hai quốc gia bắt đầu.


Ðiều không chỉ cá nhân ông Trần Quang Thành mà ngay chính các viên chức ngoại giao Mỹ cũng chẳng ngờ là chuyện không giản dị như thế. Ngay sau khi các viên chức Mỹ rời khỏi nhà thương, ông Trần bắt đầu thấy không khí trở nên nặng nề, tới độ ông phải than với đài truyền hình số 4 của Anh rằng: “Tôi không hiểu tại sao các nhân viên sứ quán Mỹ đi đâu cả rồi. Họ hứa ở đây với tôi mà.” Sợ hãi này tăng lên sau khi ông nghe bà vợ kể lại những chuyện hãi hùng xảy ra sau ngày ông trốn ra khỏi nhà: Tất cả những ai giúp ông bỏ trốn đều bị bắt, vợ ông bị công an trói chặt vào ghế 2 ngày trời, liên tục bị dọa “tụi tao sẽ dùng dùi cui đánh cho mày chết”.


Những điều sự thật đầy phũ phàng đó khiến ông Trần Quang Thành biết chỉ còn con đường duy nhất: “Muốn sống thì phải rời khỏi Trung Quốc và đi càng sớm càng tốt,” kể cả yêu cầu “được đi chung chuyến bay với Ngoại Trưởng Hillary Clinton ra khỏi Bắc Kinh” như ông Trần nói với người bạn thân là ông Bob Fu và được ông này kể lại với các ký giả có mặt trong cuộc họp báo tổ chức trưa hôm Thứ Năm tại Herritage Foundation ở Washington, D.C. Ông Bob Fu hiện đang là chủ tịch Tổ Chức Hỗ Trợ Nhân Quyền Trung Quốc (ChinaAid) trụ sở đặt tại Texas.


“Họ đã sai khi tin tưởng vào một lời hứa không có thẩm quyền,” nhà nghiên cứu chuyên về Á Châu Nicholas Bequelin của Human Rights Watch nói. Ông là người đầu tiên lên tiếng giải thích nhưng điểm sai lầm của phía Hoa Kỳ trong cuộc điều đình với Trung Quốc về “vấn đề Trần Quang Thành”. Ông Bequelin nói tiếp: “Phía Washington cứ nghĩ đây là chuyện giữa hai chính phủ, quên hẳn vai trò của đảng Cộng Sản ở Hoa Lục. Ở một nước chủ trương và có hẳn một hệ thống chuyên đàn áp những người bất đồng chính kiến thì chỉ có các nhà lãnh đạo đảng mới có quyền hứa không hành hạ người dân, không viên chức chính phủ nào được quyền hứa điều đó.”


Ðiều ông Nicholas Bequelin đưa ra buộc mọi người phải nhìn lại những gì đã xảy ra trong thời gian 6 ngày ông Trần Quang Thanh chạy vào tá túc trong Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bắc Kinh. Tin từ Washington, D.C., cho hay phía Mỹ làm đúng quy định khi thông báo ngay tin này cho Trung Quốc biết, và hai bên đồng ý “giải quyết vấn đề theo đường lối ngoại giao,” kể cả “không nói gì với báo chí cho đến khi chuyện được giải quyết xong”.


Thỏa thuận được đặt ra và thực hiện nghiêm túc cho đến giới truyền thông quốc tế đồng loạt đưa tin ông Trần Quang Thành đã trốn được vào Tòa Ðại Sứ Mỹ, sau đó lại cho phổ biến trên Youtube cuốn video yêu cầu Thủ Tướng Ôn Gia Bảo chỉ thị cho công an ngưng ngay các hành động trấn áp, đánh đập gia đình ông, cho ông sống yên ổn để tiếp tục tranh đấu cho công bằng xã hội. Lo sợ chuyện bùng nổ lớn hơn trong lúc cuộc đối thoại chiến lược và kinh tế rất quan trọng lại quá gần kề, Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Tòa Bạch Ốc quyết định đưa ông Kurt Campbell sang Bắc Kinh, hy vọng mối quan hệ sẵn có giữa ông này với ông thứ trưởng ngoại giao Thôi Thiên Khải sẽ giúp đôi bên dễ dàng làm việc hơn.


Quan hệ có sẵn giúp làm việc dễ dàng hơn thì đúng, bằng chứng là hai bên đã đi đến thỏa thuận, nhưng phía Hoa Kỳ quên “Bộ Ngoại Giao Trung Quốc là một trong những bộ yếu nhất của chính phủ,” ông Bequelin nói tiếp. Dẫn chứng được ông đưa ra: Ngay cả Ngoại Trưởng Dương Khiết Trì của Hoa Lục tưởng là oai nhưng sự thật không đúng như thế. “Ông ta không nằm trong chính trị bộ, cũng không phải là một trong chín người đứng trong ban thường vụ.” Chính vì thế, “coi trọng những lời hứa của Bắc Kinh trong vụ ông Trần Quang Thành là điều hoàn toàn sai” vì đó “chỉ là lời hứa giữa các viên chức chính phủ với nhau, bên Mỹ thì quan chức chính phủ có quyền, bên Trung Quốc mọi quyết định đều nằm trong tay đảng, không ai quyền hành bằng đảng.”


Nhận xét cho rằng các nhà ngoại giao Mỹ bị lừa có thể bị trách cứ là “nặng,” nhưng dường như không sai.


Không ít những viên chức Hoa Kỳ từng nắm giữ những vai trò quan trọng trong chính quyền Mỹ nói rằng họ “rất nản” khi làm việc với Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, vì “những viên chức của bộ này không thật sự có quyền quyết định điều gì cả, phần lớn những gì họ hứa chỉ là lời hứa suông mang tính ngoại giao chứ không phải là điều họ sẽ làm, nhất là trong lãnh vực liên quan đến mọi góc cạnh của vấn đề nhân quyền.”


“Chán nản” này được thể hiện bằng nhiều dẫn chứng khác nhau, trong đó bao gồm cả chồng tài liệu bị WikiLeak công bố cách đây hơn một năm. Trong số những công điện ngoại giao bị tiết lộ, có một số công điện liên quan đến chuyện ông Trần Quang Thành mà Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Bắc Kinh gửi về báo cáo với Washington, D.C.


Một trong những công điện này được gửi hồi Tháng Tư, 2006, cho thấy đích thân Phó Ðại Sứ Mỹ David Sedney nêu trường hợp “nhà bất đồng chính kiến Trần Quang Thành đang bị quản thúc” và vụ trưởng Vụ Bắc Mỹ Bộ Ngoại Giao Trung Quốc “bãi đảm không hề có chuyện đó” (lúc đó ông Trần đã bị quản thúc và 2 tháng sau ông chính thức bị truy tố). Công điện còn viết rằng khi chuyện ông Trần bị quản thúc được Hoa Kỳ nhắc lại với một thứ trưởng ngoại giao, chính viên chức Trung Quốc này “còn tỏ vẻ ngạc nhiên,” bảo rằng ông “tưởng là ông Trần đã được trả tự do rồi cơ mà,” đồng thời còn hứa “sẽ tìm hiểu xem sao”.


Nhưng cũng có người lên tiếng bênh vực cho các nhà ngoại giao Mỹ trong chuyện này. Ông Jeffrey Bader, cựu giám đốc Văn Phòng Ðông Á của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia nói rằng Washington “không còn cách nào hơn là phải làm việc qua Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh” về vấn đề nhân quyền và những chuyện liên quan đến các nhà bất đồng ý kiến.


Theo giải thích của ông Bader, “đường dây ngoại giao này được thành lập để hai bên giải quyết chuyện nhân quyền,” đã được sử dụng từ ngày hai quốc gia đồng ý trao đổi quan hệ, “cũng chính là đường dây giải quyết trường hợp của nhà bất đồng chính kiến Phương Lệ Chi hồi năm 1979 và nhiều trường hợp khác nữa. Họ không được toàn quyền quyết định, nhưng họ sẽ bàn thảo, xin ý kiến của những người ở cấp cao hơn.”


“Bàn thảo, xin ý kiến của cấp cao hơn” là điều đang được nói đến ở Washington, D.C. Ngay sau khi bà phát ngôn viên Victoria Nuland của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xác nhận tin “cả hai vợ chồng ông Trần Quang Thành đều xác nhận muốn ra nước ngoài sinh sống,” các nhà quan sát tin rằng chuyện cho gia đình nhà tranh đấu này rời khỏi Trung Quốc không thuộc thẩm quyền của Bộ Ngoại Giao mà là của Bộ Chính Trị. Như ông Bader giải thích, thủ tục sẽ như sau: Các viên chức Hoa Kỳ vẫn phải làm việc qua Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, các viên chức của Trung Quốc sẽ xin ý kiến của cấp cao hơn rồi mới trả lời cho Washington biết.


Trong thời gian chờ đợi quyết định của lãnh đạo đảng, có người nêu thắc mắc ngoài Bộ Ngoại Giao, không biết Hoa Kỳ có còn “đường dây” nào khác nữa không? Liệu Tổng Thống Barack Obama có trực tiếp can thiệp để gia đình ông Trần Quang Thành sớm lên máy bay rời khỏi Bắc Kinh không?


Bên cạnh những câu hỏi đó là một câu hỏi cũng quan trọng không kém vừa được chuyên gia Nick Zahn của Heritage Foundation đặt ra: Thế còn số phận của những người bị bắt vì đã giúp ông Trần trốn được vào Tòa Ðại Sứ Mỹ thì sao? Liệu chính phủ Hoa Kỳ có can thiệp cho những người này sớm được tự do không?

Thiếu nữ gốc Việt bị hãm hiếp, bị đâm, nhưng thoát chết

 


DALLAS, Texas (NBC) – Một thiếu nữ gốc Việt 17 tuổi bị một người vô gia cư bắt cóc, hãm hiếp, đâm bị thương và bỏ nằm sóng soài gần một thùng rác ở Dallas, Texas, tuần trước, vừa được ra khỏi bệnh viện và nhận diện nghi can phạm tội hôm Thứ Tư, theo một bản tin của đài truyền hình NBC.










Nghi can Tommy Robinson (giữa) bị cảnh sát bắt vì bị tình nghi hãm hiếp thiếu nữ gốc Việt 17 tuổi. (Hình chụp qua màn hình TV)


Cảnh sát Dallas xác nhận thiếu nữ này được thẩm vấn, nhưng chưa đưa ra kết quả, và không cho biết tên nạn nhân.


Theo cảnh sát Dallas, trong lúc đi bộ đến trạm xe bus trên đường Maple để đi học vào lúc 7 giờ 30 phút sáng, nạn nhân bị nghi can tấn công.


“Ông ta nắm lấy tôi, kéo khỏi đường Maple, rồi hãm hiếp và đâm tôi,” tài liệu cảnh sát trích lời khai của nạn nhân nói trong lúc ở trong bệnh viện.


Máy thu hình của một tiệm tạp hóa gần nơi xảy ra vụ án cho thấy một người đàn ông mặc đồ màu đen chạy theo cô gái và nắm lấy cô. Nạn nhân bị đâm nhiều nhát trong lúc bị hãm hiếp.


Khoảng một giờ sau, nhân viên tiệm Quintanilla Furniture gần đó tìm thấy nạn nhân trần truồng, bị đánh đập dữ dội, máu me đầy người và nói lầm bầm bên trong một hàng rào gần thùng rác.


“Mặt của nạn nhân bị sưng,” ông Ivan Garcia, người tìm thấy cô gái, nói.


Nạn nhân được chở ngay tới bệnh viện.


Cảnh sát dùng trực thăng truy tìm nghi can dựa trên mô tả của nạn nhân. Khoảng 11 giờ sáng, cảnh sát thấy một người đàn ông đang tắm dưới một con mương gần đường Maple, với một túi đen bên trong có iPhone của nạn nhân, một con dao xếp và có dính máu.


Nghi can Tommy Robinson, 59 tuổi, bị bắt ngay lập tức và được đưa về nhốt ở Lew Sterrett Justice Center với số tiền thế chân $500,000.


Ðài truyền hình NBC cho thấy người mẹ của nạn nhân nói bằng giọng Huế là: “Nếu không xử tới nơi tới chốn thì không ai cảm thấy an toàn nữa” và bà muốn “giết Tommy Robinson,” nghi can bị tố cáo hành động gần như giết chết con gái bà.


Cảnh sát nói nghi can không hợp tác khi bị hỏi tên, nhưng cuối cùng nhân viên công lực cũng biết dựa trên dấu vân tay.


Tommy Robinson có tiền án phạm tội hình sự liên quan đến bạo hành. Cảnh sát vẫn đang tiếp tục điều tra sự việc. (Ð.D.)

Quốc Hận 30 Tháng Tư: Sinh hoạt của tuổi trẻ

 


Quốc Hận 30 Tháng Tư: Sinh hoạt của tuổi trẻ


 


Ðoàn Thanh Niên Việt Mỹ (VAYC) tổ chức phát giải thưởng viết văn nhân dịp tưởng niệm Quốc Hận cho các thí sinh trúng giải: Alice Nguyen (giải nhất $500), Julie Vo (giải nhì $300), Trị Phan (giải ba $100), Crystal Ngọc Nguyễn (giải an ủi $50) và Jeremy Nguyễn (giải an ủi $50).



Các thí sinh trúng giải chụp hình lưu niệm với ban tổ chức và các giám khảo.(Hình: Trí Lê)


Bài được giải nhất của Alice Nguyễn, 27 tuổi, với tựa đề “Những Nỗi Ðau và Những Niềm Hy Vọng”.










Julie Võ (giải nhì), ông Linh Nguyễn (giám khảo) và Alice Nguyễn (giải nhất) tại buổi lễ..(Hình: Trí Lê)


Alice Nguyễn năm nay 27 tuổi, theo gia đình đến Mỹ năm 1987 khi mới một tuổi. Em cho biết có học một năm tiếng Việt tại trung học Westminster. Alice tốt nghiệp cử nhân năm 2007 đại học UCI về môn Nhân Chủng Học và Lịch Sử. Gia đình chỉ có hai chị em và cha là một cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Bài viết của em đã được đọc trong buổi Lễ Tưởng Niệm hôm Thứ Bảy 28 Tháng Tư tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ làm nhiều người xúc động và vỗ tay nhiều lần. Em nói: “Nhờ tìm hiểu về lịch sử, mình hãnh diện là người Việt Nam hơn, mình biết đến sự hy sinh của các bậc cha chú, mình thấy biết ơn các chiến sĩ và cha mẹ nhiều hơn, mình thấy thương quê hương nhiều hơn.”


 


LTS: Trang TVDY chọn đăng, nguyên văn bài giải nhất lần này để các bạn trẻ có dịp chia sẻ với tác giả cũng ở lứa tuổi của mình.


 


Những nỗi đau và những niềm hy vọng


 


Alice Nguyễn, Westminster, CA


 


Có một câu nói “Tương tự như tình yêu, chiến tranh dễ bắt đầu, khó kết thúc, và không thể nào quên.” Sau ngày 30/04/1975 Ba tôi đã trải qua nhiều năm trong trại tù cải tạo. Khi về Ba vượt biên, lúc tôi còn trong bụng Mẹ. Ðược một tuổi, Mẹ bồng tôi đi vượt biên. Ðến Mỹ đoàn tụ với Ba không bao lâu thì Ba lại trở về Việt Nam hoạt động đấu tranh, và bị vào tù thêm một lần nữa. Lúc đó tôi mới sáu tuổi, không hiểu những chuyện gì đang xảy ra. Cho đến khi tôi mười bốn, Ba mới được thả về Mỹ. Lớn lên, tuy Ba có giải thích, nhưng tôi vần cần phải tự đào bới quá khứ để tìm hiểu về Việt Nam và nguồn gốc của mình, trong hy vọng có thể trả lời được câu hỏi vì sao Ba lại muốn đấu tranh cho một cuộc chiến tranh đã chấm dứt từ lâu.


Năm 2006, khi hai mươi mốt tuổi, tôi đã có cơ hội một lần về Việt Nam để khám phá ra một quê hương, nơi tôi được sinh ra mà không được lớn lên. Dù đã nghe và thấy qua phim ảnh, sách báo về Việt Nam nhiều, nhưng đến khi thật sự đặt chân trên đất nước Việt Nam tôi mới cảm thấy thật đau lòng với những gì mình nhìn thấy. Sao đất nước của mình có thể có những cảnh như những bác phải đạp xe cực khổ chỉ để được vài ba ngàn đồng, tương đương một quarter; những người già và em bé phải đi xin ăn; và những con đường lồi lõm, những căn nhà dột nát trên suốt đường đi đến quê Mẹ, một quận huyện xa của tỉnh Rạch Giá. Nghèo giàu là điều tương đối rủi may, nhưng điều đáng nói là khi làm quen thăm hỏi, tôi mới biết được họ chịu một cái nghèo không lối thoát. Một chuyện khác thật khó hiểu, vì sao một người giáo sư trẻ dạy Anh ngữ tôi gặp ở một đại học, khi chia sẻ với tôi về những sự việc diễn ra ở Việt Nam, đã ngần ngại nói đến những vấn đề gọi là “nhạy cảm” đối với nhà nước cộng sản Việt Nam. Có thể vì mình đã quen sống trong sự đầy đủ, no ấm, và tự do ở nước Mỹ mà làm mình khó có thể hiểu được những gì đang xảy ra ở Việt Nam.


Mình càng đi tìm hiểu thì càng có thêm những câu hỏi cần trả lời. Tôi có đi với giáo sư dến một viện bảo tàng lịch sử, nơi đó triển lãm những hình ảnh của một chiến tranh ghi là “Chiến Tranh Chống Mỹ,” và ngày 30 tháng tư mà mình goi là ngày quốc hận hoặc là ngày mất nước thì được gọi ở trong nước là ngày Giải Phóng Miền Nam. Nếu thật sự là ngày giải phóng Miền Nam thì tại sao bao nhiêu người phải bỏ nước ra đi? Nếu thật sự là ngày giải phóng miên Nam thì tại sao những người Việt Nam phải bị đi tù cải tạo? Nếu thật sự ngày giải phóng miền Nam vĩ đại như những gì được ghi cùng với những hình ảnh, thì tại sao hằng ngàn người vẫn tiếp tục chết trong tù và trên biển cả sau khi chiến tranh đã chấm dứt? Như vậy, ngày 30 tháng tư không phải là ngày giải phóng đất nước mà là ngày đau thương nhất của Việt Nam, và sự đau thương này vẫn còn đang diễn ra ở đất nước mình. Và những cảnh chứng kiến được ở Việt Nam là hậu quả dưới quyền cai trị của một chế độ cộng sản độc tài.


Sau khi về Việt Nam tôi mới hiểu được đất nước của mình hơn, và mình cảm thấy yêu Ba Mẹ mình hơn, yêu những Chú Bác Lính đã hy sinh cho thế hệ của mình hơn, yêu những người Việt Nam hơn, và yêu quê hương đất nước của mình hơn. Thế hệ của tôi có thể chỉ hình dung được và hiểu được một chút về chiến tranh Việt Nam thôi. Nhưng những gì cha ông mình đã hy sinh trong cuộc chiến này không hề bị quên mất. Ngày nay, những người tuổi trẻ vẫn tiếp tục tranh đấu cho những gì cha ông đã tranh đấu hơn 37 năm về trước. Vậy, chiến tranh Việt Nam có thực sự chấm dứt hay chưa?


Một chiến tranh với khói súng có thể chấm dứt, nhưng một cuộc chiến khác cho lý tưởng ấy vẫn tồn tại. Và càng ngày càng mạnh khi những thế hệ mới khắp nơi, trong nước và trên thế giới, cùng nắm tay nhau đứng lên tiếp nối. Mình không thể vô cảm, ngồi một bên để nhìn những người bạn, những người cùng dân tộc của mình đang sống trong khó khăn và đau thương dưới một chế độ vẫn chưa có tự do dân chủ và nhân quyền thật sự. Tôi muốn làm điều gì đó để được thấy một ngày tươi sáng, thật sự hòa binh, và no ấm cho toàn dân đất nước Việt Nam của mình.


 


****


Em viết văn Việt


Những bài viết của học sinh các trường Việt ngữ


Nhằm tạo một diễn đàn cho các em tập viết tiếng Việt, Ban Biên Tập trang Tiếng Việt Dấu Yêu kêu gọi quý phụ huynh và quý thầy cô khuyến khích các em viết văn, diễn tả bằng tiếng Việt những cảm nghĩ và ước vọng trong đời sống của các em. Ước mong nơi đây một sân chơi được mở ra và khu vườn văn hóa Việt sẽ được quý phụ huynh và quý thầy cô góp tay vun trồng, khuyến khích.


Trong các bài nhận được và chọn để đăng, chúng tôi cố ý giữ nguyên văn những gì các em viết. Vì thế, khi đọc đến những ngôn từ, lỗi chính tả và sai văn phạm, chúng tôi mong được Phụ Huynh và Thầy Cô chia sẻ và sửa chữa cho các em tại nhà hay trong lớp học.


Tất cả các bài viết dưới dạng MSWord, font Unicode; và hình ảnh dạng .jpg, xin gởi về địa chỉ email: [email protected] (Xin đừng gởi dạng .pdf vì không tiện cho việc layout).


Trân trọng cảm ơn quý vị.


Nguyễn Việt Linh


 


Tập đặt câu với các từ: trồng cây, hiếu thảo, đồng bào, liên hệ, nuớu răng, vẫy vùng, mặn chát, chăm sóc, líu lo, sự nghiệp, hiền lành.


 


Bài đặt câu của học sinh


Nguyễn Nhi Michell


Thí sinh cấp Tiểu Học Ba


Giải Khuyến Học Việt Olympiad năm 2011


 


1-Mẹ thích trồng cây và bông để cho sân mình trông tươi và đẹp.


2-Ba khen anh rất hiếu thảo vì anh không nói láo và chăm sóc cho em.


3-Người ở trong một nước phải có tình thương yêu của đồng bào, dân tộc


4-Dì liên hệ với ba vì chị của dì là vợ của ba


5-Nướu răng em lồi ra khi cười tươi


6-Em bé vẫy vùng sau khi dì không thai tả


7-Móng ăn của ba luôn mặn chát nên mẹ phải nấu ăn cho cả gia đình


8-Ba mẹ luôn luôn chăm sóc cho em khi ốm bệnh.


9-Các bạn nhỏ đứng ở trước cổng trường, líu lo như đàn chim.


10-Sự nghiệp của anh giúp anh theo giấc mơ làm bác sỉ.


11-Em gái trông thấy hiền lành, nhưng rất giữ và hổn


12-Trường Sa là quần đảo của Việt Nam


 


Tâm tình thầy cô


 



Lớp học vui vẻ, đầm ấm tình thầy trò. (Hình: Cao Minh Châu/GKH)


 


Ðừng làm bài chung nhé các bạn. (Hình: Cao Minh Châu/GKH)


 



Hai em lớp mẫu giáo


 


Trung Tâm Việt Ngữ Căn Bản


Một lớp học đáng yêu


Cành Hồng – Giải Khuyến Học Viet Olympiad


 


Rời khỏi nhà cô bạn thân sau bữa cơm trưa “khá nặng”, tôi không muốn về nhà nằm để chờ tham dự Ðêm Nhạc Thính Phòng do Miên Du tổ chức, nên tôi lang thang đến Trung Tâm Việt Ngữ Căn Bản.


Chiều nay trời thật đẹp, những cụm mây trắng bay bay trong bầu trời quang đãng của một ngày cuối Xuân.


Leo lên cầu thang với niềm vui nho nhỏ, tự nhiên, trong không khí khá yên tĩnh, tôi nhớ lại thủa “Những ngày xưa thân ái”, tôi còn là một người lính mới trong hàng ngũ thầy, cô giáo, cũng chiếc áo dài, cũng chiếc cầu thang, tôi e ấp vén tà áo từng bước một đến lớp, và nhìn thấy những ánh mắt ngây thơ lấp ló sau khung cửa để quan sát cô giáo mới (gầy hay mập, trẻ hay già, đẹp hay xấu- sau này các em cho tôi biết như thế).


Hôm nay, cảm giác cũ lại trở về, nhưng các em ngồi im trong lớp, các em không phải học trò tôi, tôi chỉ là người khách viếng thăm tình cờ.


Các em chào tôi theo cái nhìn nhắc nhở của cô Mai Khôi. Ðây là lớp Ba, các em đọc và viết khá vững, đặc biệt, các em nói tiếng Việt rất chuẩn, phát âm chính xác. Tôi nói chuyện với cô giáo, trong khi các em hớn hở vì được thêm mấy phút để làm bài. Tôi được xem một vài bài làm của các em. Những đôi mắt trong sáng, những nụ cười ngây thơ các em trao cho tôi thật đáng quý làm sao! Các em hỏi tôi tại sao lại thăm các em và thăm để làm gì? Tôi không biết trả lời sao! À vì cô nghe các em học giỏi và ngoan (đây là sự thật), và… và để khuyến khích các em ghi danh thi trong kỳ thi năm nay của Giải Khuyến Học (đây cũng là sự thật, tôi vừa nghĩ ra khi được đọc bài của các em).


Các em học tiếng Việt vào mỗi chiều Thứ Bảy từ 3 đến 6 giờ chiều. Các em vui vẻ học hành thật dễ thương. Tôi chụp được vài tấm hình của các em. Ðã đến giờ chơi, tôi và cô giáo ra hành lang nói chuyện, các em ào đến với những yêu cầu: Các em sẽ dự thi GKH, nhưng cô hỏi dê dễ thôi và cũng chấm bài dễ nữa, đưa sách để cô giáo của các em dạy…


Có 2 bé còn nhỏ, thật hồn nhiên tham gia vào câu chuyện ồn ào, các em là học sinh lớp vỡ lòng do cô Ngọc Trâm phụ trách.


Rời lớp học, tâm hồn tôi lâng lâng, các em đáng yêu quá, lớp học cũng đáng yêu quá, một lớp học đầm ấm, vui vẻ, đầy yêu thương – Thầy với trò như mẹ và con

Anh Cả Antôn Trần Văn Sâm

 

Cụ Ông Lê Đức Thiện

 

Cụ Ông Lê Đức Thiện

 

Cụ Bà Celine Loan Mai

 

Chị Maria Mộc Thị Mến

Rừng Hải Vân cháy lớn, hơn 1,000 người dập lửa


ÐÀ NẴNG (NV)
Hơn một ngàn bộ đội, cùng hàng trăm lính cứu hỏa, kiểm lâm, dân quân tự vệ… đã được huy động đến khu vực rừng đặc dụng thuộc khu vực đèo Hải Vân, thành phố Ðà Nẵng, để dập lửa trong suốt 11 tiếng đồng hồ.










Ðám cháy trên khu vực đèo Hải Vân. (Hình: Báo Tiền Phong)


Báo Tiền Phong cho hay, trận cháy rừng xảy ra từ chiều 2 tháng 5 và kéo dài tới rạng sáng 3 tháng 5.


Không thấy báo Tiền Phong cho biết, diện tích rừng bị cháy là bao nhiêu, nhưng dẫn lời ông Nguyễn Văn Dũng, kiểm lâm quận Liên Chiểu, nói rằng: “Quá khủng khiếp, 20 năm làm nghề kiểm lâm, chưa bao giờ tôi thấy cháy lớn như vậy, có nơi ngọn lửa cao 20-25m”.










Tin cho biết hơn 1,000 bộ đội được huy động để dập ngọn lửa. (Hình: Báo Tiền Phong)


Nguyên nhân ban đầu của vụ cháy, theo báo Tiền Phong, “vẫn đang được điều tra làm rõ”.


“Theo ông Phan Thế Dũng – hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm Liên Chiểu, rất có thể do một số bom đạn còn sót lại từ thời chiến tranh trong khu vực đã phát nổ.” (K.N.)

Nhóm Bauxit Vietnam ra tuyên bố về vụ Văn Giang


HÀ NỘI (NV) –
Nhóm chủ trương trang mạng Bauxite Vietnam vừa ra một bản tuyên bố và mời gọi mọi người trong ngoài nước cùng ký tên đòi hỏi nhà cầm quyền Hà Nội sửa đổi gấp Luật Ðất Ðai để tránh gây thiệt hại cho người dân.









Một đoàn đầu gấu đeo băng đỏ và một rừng cảnh sát cơ động dàn hàng ngang chuẩn bị đàn áp cưỡng chế đất ở xã Xuân Quan, huyện Văn Giang ngày 24 tháng 4, 2012. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Ðồng thời phải xem xét lại toàn bộ dự án Ecopark cũng như nghiêm cấm sử dụng lực lượng trị an vào việc cưỡng chế đất đai phục vụ lợi ích các doanh nghiệp tư nhân.


Bản tuyên bố có chữ ký đầu tiên của 3 người cầm đầu nhóm Bauxit Vietnam là các ông Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn và Nguyễn Thế Hùng, thêm chữ ký của 4 người nữa là nhà văn Hoàng Hưng, tiến sĩ Hoàng Dũng (Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn), TS Phạm Hoàng Oanh (Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn) và TS Nguyễn Ðình Nguyên.


Bản tuyên bố bày tỏ sự phẫn nộ của các công dân khi nhìn thấy một rừng cảnh sát cơ động, công an, cán bộ đàn áp một số nông dân Văn Giang ngày 24 tháng 4, 2012 qua các video clips phổ biến trên YouTube mà “Những hình ảnh lan truyền khắp thế giới đã khiến tất cả những ai có lương tri của con người phải phẫn nộ. Những kẻ vũ trang tận răng xông vào đánh đập vài người nông dân yếu ớt. Những tiếng khóc la của đàn bà, con trẻ làm đau nhói tim người. Những mảnh xương cốt cha ông bị máy ủi xới bật lên trên cánh đồng xanh tốt phút chốc tan hoang để lại một ấn tượng chua xót và tủi nhục. Ðó là những tội ác Trời không dung, Ðất không tha.”


Bản tuyên bố đòi hỏi nhà cầm quyền trung ương giải thích lý do sử dụng bạo lực để giải tỏa, phục vụ cho doanh nghiệp tư nhân, mà nhiều người nhìn thấy trái luật. Họ đòi hỏi xem xét lại toàn bộ dự án Ecopark để “điều chỉnh những bất hợp tình hợp lý trong dự án theo hướng ưu tiên lợi ích thực sự của nhà nước và của người dân có đất bị thu hồi”. Cũng như phải “Công khai xin lỗi, bồi thường cho những người dân bị đánh đập, ngược đãi trong vụ cưỡng chế. Làm lễ tạ tội những hương hồn đã bị đào mồ, phơi xương trắng; xin tạ lỗi với những hậu duệ của người chết, xin khôi phục mồ mả của cha ông họ. Ðền bù thiệt hại của những hộ nông dân bị giải tỏa đất trong vụ cưỡng chế bằng các hình thức được họ chấp nhận.” (T.N.)

Dân Việt không tin nhà nước nghiêm túc ‘xử lý’ tham nhũng


HÀ NỘI (NV) –
Ða số người dân không tin rằng nhà cầm quyền các cấp ở Việt Nam lại thật tình đối phó với tham nhũng. Ðây là kết quả của một cuộc khảo cứu qua thăm dò dư luận quần chúng được Liên Hiệp Quốc phối hợp với nhà cầm quyền Việt Nam thực hiện mới được công bố hôm Thứ Năm 3 tháng 5, 2012.









Phải chung chi cho bác sĩ, y tá, nhân viên tại các bệnh viện công ở Việt Nam là chuyện phổ biến. (Hình: VNExpress)


Kết quả của cuộc khảo cứu nêu trong “Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI)” được công bố tại Hà Nội cho thấy tình trạng tham nhũng trong lĩnh vực hành chính công của Việt Nam “tiếp tục là một vấn đề đáng báo động” theo bản tin trên tờ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam.


Bản báo cáo này do Mặt Trận Tổ Quốc, Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển và Hỗ Trợ Cộng Ðồng (CECODES), Ban Dân Nguyện thuộc Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội và Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) phối hợp thực hiện, “trên cơ sở tổng kết dữ liệu từ phần trả lời phỏng vấn của 13,642 người dân trên cả nước”.


Trong đó, người được phỏng vấn cho cuộc nghiên cứu đều xác định tham nhũng có ở tất cả các mặt của guồng máy công quyền, không riêng một mặt nào.


Bản phúc trình nói rằng “có tình trạng nhận hối lộ trong dịch vụ y tế công (31%), xin việc vào làm trong khu vực nhà nước (29%), xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (21%), để giáo viên quan tâm hơn tới học sinh ở trường (17%) và trong xin cấp giấy phép xây dựng (16%). Ngoài ra, 13% người dân cho rằng cán bộ chính quyền dùng tiền công quỹ vào mục đích riêng.”


Kết quả cuộc khảo cứu tại 5 thành phố lớn trực thuộc trung ương và tại 57 tỉnh trên cả nước không khác nhau bao nhiêu nên “Ðiều này phần nào phản ánh mức độ phổ biến của tham nhũng và hối lộ ở khắp các tỉnh, thành phố.”


Nhìn về vấn đề kiểm soát tham nhũng, “Trên toàn quốc, chỉ có 22.95% số người được hỏi cho rằng chính quyền tỉnh/thành phố của họ đã nghiêm túc trong xử lý các vụ việc tham nhũng đã được phát hiện. Tỉ lệ này ở Hà Nội là cao nhất (50.66%), ở Bạc Liêu là thấp nhất (5.39%).” TBKTVN kể lại.


Nhà cầm quyền CSVN lập ra “Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng” từ trung ương tới các địa phương sau khi ban hành “Luật Phòng Chống Tham Nhũng” năm 2005, nhưng cái “cơ chế” đó lại do những kẻ cầm đầu guồng máy công quyền các cấp ôm luôn. Nó trở thành cái thế “vừa đá bóng, vừa thổi còi” nên tình trạng tham nhũng ngày càng tệ hại hơn, thay vì có luật, có cơ quan chống tham nhũng thì tham nhũng giảm xuống.


Bảng xếp hạng tham nhũng hàng năm của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế (Transparency International) năm 2009 xếp hạng Việt Nam thứ 120 trong 180 nước được khảo sát. Năm 2010 xếp hạng 116 trong 178 nước được khảo sát. Năm 2011 xếp hạng 121 trên tổng số 183 nước được khảo sát. Các chỉ số này cho thấy tình trạng tham nhũng trong guồng máy công quyền CSVN vẫn giậm chân tại chỗ. Nói khác, nhà cầm quyền Hà Nội chỉ hô hò suông, không có thực tâm chống tham nhũng.


Ngày 18 tháng 11 năm 2009, khi bị chất vấn ở Quốc Hội, Trần Văn Tuấn, bộ trưởng Nội Vụ kêu rằng “Khó chấm dứt chạy chức chạy quyền vì người chạy có báo đâu!”


Ngày 16 tháng 12 năm 2010, báo VietNamNet đăng lại bản tin công ty tư vấn Indochina Research, đại diện cho hãng nghiên cứu Gallup International, thực hiện một cuộc khảo cứu về tham nhũng tại Việt Nam cho Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế.


Cuộc nghiên cứu đã căn cứ vào sự trả lời của 1,000 người tại 5 thành phố lớn (Hà Nội, hải Phòng, Ðà Nẵng, Sài Gòn và Cần Thơ) cho thấy 62% người trả lời phỏng vấn nói tham nhũng gia tăng tại Việt Nam. Ðồng thời họ nói công an cảnh sát là tham nhũng nhất.


Không những VietNamNet phải vội vã gỡ bỏ bản tin này mà còn phải xin lỗi Bộ Công An và tờ báo bị “kỷ luật”. (T.N.)

Ðào cải lương Kim Hoa 30 năm đi hát

 


Ngành Mai


 


Nữ nghệ sĩ Kim Hoa là con của cô đào hát Tư Hélène nổi danh một thời. Năm 10 tuổi mẹ cô đã gởi cô đi học nghề hát ở gánh Hương Hoa.










Ðào Kim Hoa (trái) và cô con gái, nữ nghệ sĩ Thanh Hằng. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)


Năm 1958, Kim Hoa đi theo làm đệ tử của nữ nghệ sĩ Thanh Hương, lúc ấy đang hát ở đoàn Hữu Tâm, và Kim Hoa được giao cho ngâm thơ hậu trường trong các vở: Nắm Cơm Chan Máu, Gió Hú Ðồi Ma, Lòng Người Mặt Thú. Bấy giờ đoàn có những nghệ sĩ như Thanh Hương, Ái Hữu, Bửu Tài, Văn Chung, Hùng Minh, v.v…


Năm 1959 Kim Hoa 14 tuổi, cũng là năm mẹ cô rời sân khấu không còn đi hát. Cô Tư Hélène cũng không cho Kim Hoa theo đoàn nữa mà bắt cô về hằng đêm đi ca cổ nhạc ở giải trí trường Thị Nghè. Kim Hoa ca ở hai nơi là quán Lệ Liễu và quán Hoàng Yến, cùng ca với những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Hoa, Sáu Thoàng, Chín Sớm, Lệ Liễu… Kim Hoa được ưa thích qua bản vọng cổ Cô Bán Ðèn Hoa Giấy, là bản vọng cổ nổi tiếng của thầy cô là Thanh Hương.


Năm 1960 Kim Hoa mới thực sự được đứng hát trên sân khấu, cô đi đoàn Thiên Hương (của Tư Hiếu), lần đầu tiên hát chánh nổi tiếng qua vai Hồng trong vở Kiếp Chồng Chung của soạn giả Ðiêu Huyền, và vai cô lái đò Chi trong vở Lá Thắm Chỉ Hồng. Sau đó Kim Hoa trở lại cộng tác với đoàn Kim Chưởng hát những vở: Hai Cánh Én Một Mùa Xuân; Nước Mắt Kẻ Sang Tân; Anh Hùng Lạn Tương Như.


Năm 1964 cô qua đoàn Bạch Vân của bầu Bà Khang, hát những vở: Bếp Lửa Chiều Ly Biệt của soạn giả Nguyễn Liêu, vở Dưới Cội Bồ Ðề của soạn giả Quy Sắc, hát chung với Ngọc Ẩn, Hương Sắc, Hương Huyền, Bích Sơn, Xuân Liễu, Thanh Thủy.


Trong năm 1961 Kim Hoa đã có hai vai diễn nổi bật trong vở Kiếp Chồng Chung và Bếp Lửa Chiều Ly Biệt, được giải Thanh Tâm chú ý và được giới thiệu vào danh sách những người dự giải. Nhưng vì không đứng hát ở sân khấu nữa nên mất dịp may dự cuộc tuyển chọn huy chương vàng giải Thanh Tâm.


Trải qua nhiều sân khấu, và sau 1975 thì Kim Hoa đi đoàn Túy Nguyệt (Quảng Nam-Ðà Nẵng), và đoàn Bảo Toàn ở miền Trung. Năm 1978 trở về Nam hát cho nhiều đoàn, và đến năm 1989 rời sân khấu nghỉ hát luôn.


Khoảng 1992 Kim Hoa tình cờ gặp ký giả Huy Trường, nhà báo hỏi cô:


-Trên 30 năm đi hát, cô có tâm sự gì mà không muốn đi hát nữa?


Kim Hoa lộ vẻ xúc động nói:


-Là nghệ sĩ mà nói là mình không muốn hát nữa thật là điều khó hiểu, nhưng thú thật thời gian qua tôi đã có ý nghĩ không muốn hát nữa vì ngao ngán cho tình đời, cho sự bế tắc của mình ở sân khấu, cho sự vất vả về cuộc sống. Trên 30 năm theo nghề, có lúc lại muốn rời xa sân khấu vĩnh viễn, nhưng lại nhớ nghề rồi cũng không thoát khỏi nghiệp, rồi lại chán nản. Tình cảm đó dằn vặt tôi đã bao nhiêu năm rồi. Tôi nghĩ rằng nữ nghệ sĩ Bảy Nam đã lớn tuổi, luôn cảm thấy buồn khi không có vai hát, và chỉ thấy vui khi bước ra sân khấu bên ánh đèn màu, thì tôi và anh chị em nghệ sĩ khác có lẽ cũng mang đồng tâm trạng như thế. Bây giờ đời sống của nghệ sĩ mong manh quá thật đáng buồn, trong tình hình sân khấu như thế có nhiều anh chị em trẻ phải đi làm nghề khác, một số người muốn hát cũng không có nơi dung thân, cho nên mấy năm qua tôi phải im lặng chờ đợi tình hình đổi khác tốt hơn.


Ngoài ra tôi cũng có nỗi buồn riêng làm tôi càng chán nản hơn. Nhớ lại hồi năm 1959 trong một đêm từ nơi trình diễn ở giải trí trường Thị Nghè, về nhà mẹ tôi đã nói lên ước vọng rằng muốn tôi trở thành một người đạt được vinh quang lớn ở sân khấu cải lương thì người mới mãn nguyện. Nghe lời mẹ dặn tôi quyết trau dồi nghề để mẹ tôi được vui lòng và vinh quang đã hai lần ở trong tầm tay tôi rồi vuột mất, đó là năm 1961 tôi mất dịp may đoạt giải triển vọng Thanh Tâm, và năm 1965 tôi lại kém may mắn về giải diễn viên xuất sắc Thanh Tâm. Thật là đáng buồn cho cuộc đời đi hát của mình muốn có món quà dâng cho mẹ vui lòng mà không được. Ðến khi trước lúc mẹ tôi qua đời năm 1977, người còn nhắc lại với tôi ước vọng của mình về vinh quang ở sân khấu, khiến tôi thêm chua xót, đau lòng.


Từ ngày ấy đến sau này, tôi luân lạc ở miền Trung, miền Tây với nỗi niềm mơ ước vinh quang mà chẳng biết tìm ở đâu. Hướng đi trong nghề của tôi gần như bế tắc mà thời gian cứ trôi qua nhanh, dường như không còn cái gì để phấn đấu để có thể làm vui lòng mẹ tôi ở bên kia thế giớt. Tôi chỉ hát để kiếm sống như một người hành nghề ngoài ngành sân khấu vậy.

Khi đồng minh tháo chạy (8)

 


 


Ðối với miền Nam, có thể là ông đã hối hận phần nào, nên năm năm sau ngày miền Nam sụp đổ, vào đầu năm 1980, ông có viết một thư riêng cho Tổng Thống Thiệu (xem cuối chương 11 và Phụ lục E): “Tôi không trông đợi sẽ thuyết phục được ngài. Ít nhất tôi có thể cố gắng xin ngài tin tưởng ở lòng hối hận và kính trọng vẫn còn của tôi.”


 


 


 


CHƯƠNG 3


 


Củ cà rốt và cái gậy


 


Một chiếc máy bay hao hao giống loại JetStar của Lockheed cất cánh từ phi trường Rhein-Main gần Frankfurt bên Ðức. Chỉ vài phút sau, nó đã biến mất.



Cuộc di tản ngày 30 tháng 4 ( Hình: Hubert van Es / UPI )


Trên thật cao, anh phi công hướng về phía sông Seine, với tốc độ tối đa. Chẳng mấy lúc đã thấy Paris nằm ngay dưới. Máy bay giảm cao độ, đáp xuống Villacoublay, một phi trường nằm thoai thoải khoảng chín dặm phía Tây Nam. Hạ cánh rồi, phi công không lái thẳng vào ga, lại từ từ tiến về một địa điểm thật xa, ở mãi góc phi trường. Tới chỗ đậu, một chiếc Citroean DS-21 màu đen áp vào, vội bốc khách, rồi phóng đi thật nhanh. Trên đường, máy phát sóng từ trong xe gửi mật mã cho “Quarterback”. Ðiệp viên 007 đi công tác?


Không, Kissinger đi mật đàm. Tới nơi, ông đã báo cáo thẳng về cho Tổng Thống Nixon, mật hiệu “Người tiền vệ”.


Sáng sớm Chủ Nhật, lúc mọi người ở thủ đô Hoa Kỳ còn an giấc, Kissinger đã tới phi trường quân sự Andrews cách đó không xa. Ông bước nhanh lên một chiếc C-135 không mang số, không bảng hiệu, rồi ngả lưng nghỉ ngơi. Chỉ sáu giờ sau là đã tới Rhein-Main rồi. Ðây là một phi trường quân sự, được canh gác cẩn mật, cũng giống như Villacoublay. Chiếc Citroean chở ông về Choisy-le-Roi, một khu trung lưu ngoại thành Paris. Lẻn vào một biệt thự nhỏ màu trắng, kín cổng, cao tường, hoàn toàn yên lặng. Sau vài giờ, ông lại đi xe khác tới một biệt thự rộng lớn hơn. Ðó là nhà của phái đoàn Bắc Việt, cùng khu Choisy-le-Roi.


Họp xong, Kissinger bay ngược lại theo đúng tuyến cũ. Và từ lúc ông rời Washington tới khi trở về, chỉ khoảng 27 giờ. Người tài xế thân tín chở ông thẳng tới văn phòng làm việc. Nhân viên Tòa Bạch Ốc hay tòa đại sứ Mỹ ở Paris chẳng ai hay biết gì (1).


Gần hai năm rưỡi sau, mọi người mới chưng hửng: Từ Tháng Tám 1969, Kissinger đã họp kín với phía Bắc Việt tại Paris mười hai lần rồi! Lại một chuyện bất ngờ thứ hai về ngoại giao. Bất ngờ đầu tiên được tiết lộ (vào Tháng Bảy 1971) là Kissinger đã bí mật đi Bắc Kinh nhiều lần, dàn xếp mọi chuyện, dẫn đến chuyến viếng thăm của Nixon sang Trung Quốc. Chuyến đi được ấn định vào ngày 21 tới 28, Tháng Hai 1972.


Báo chí liền gọi Kissinger là James Bond, và ông rất thích.


Ðể chuẩn bị cho chuyến viếng thăm, ngày 25 Tháng Giêng 1972, Tổng Thống Nixon đã lên truyền hình tiết lộ những cuộc họp của Kissinger ở Paris, và đồng thời đọc bài diễn văn quan trọng, công bố một giải pháp hòa bình toàn diện về Việt Nam.


Trước hôm đó, Ðại sứ Bunker đã đến dinh Ðộc Lập trao cho Tổng Thống Thiệu một bản sao bài diễn văn của Tổng Thống Nixon, yêu cầu ông tán thành và bình luận. Theo ông Hoàng Ðức Nhã, bí thư Tổng Thống Thiệu, đây là lần đầu tiên phía Việt Nam Cộng Hòa được biết chi tiết những buổi họp kín giữa Kissinger với Bắc Việt, và biết được các kế hoạch của Nixon (2).


 


Làm thế nào để tháo gỡ?


 


Ðể giải quyết chiến tranh Việt Nam, Mỹ muốn áp dụng “giải pháp song hành” (two track approach). Một mặt thì đàm phán với Bắc Việt về giải pháp quân sự (chủ đề chính là rút quân), và mặt kia, để cho hai bên Sàigòn và Hà Nội thương thuyết với nhau một giải pháp chính trị. Về đàm phán: Cứ cho Hòa đàm Paris múa may bên ngoài, bên trong đã có Kissinger dàn xếp bí mật. Ðến khi nào có kết quả mới công bố. Như vậy, nó sẽ huy hoàng, rực rỡ biết bao.


Từ khi hay tin ông Nixon đi Bắc Kinh, ông Thiệu hết sức e ngại. Ông biết rằng Mỹ vào miền Nam Việt Nam là để “ngăn chận làn sóng đỏ từ Trung Cộng lan tràn tới các nước khác”. Ðó là theo học thuyết “Domino” từ thời Eisenhower:


“Nếu để miền Nam sụp đổ thì những quốc gia khác tại Ðông Nam Á cũng đổ theo như những con bài Domino” (3). Bây giờ Nixon sắp đi Bắc Kinh bắt tay với Mao Trạch Ðông thì liệu miền Nam có còn là “tiền đồn của Thế giới Tự Do” nữa không? Ông Thiệu thông báo sự lo ngại của Việt Nam Cộng Hòa cho phía Mỹ. Và Tổng Thống Nixon đã trấn an ngay.


White House


Ngày 31 tháng 12, 1971


Thưa Tổng Thống,


Vào lúc tôi đang chuẩn bị cho chuyến đi Bắc Kinh để gặp và nói chuyện với lãnh đạo nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tôi muốn chia sẻ với ngài những tư tưởng của tôi về các cuộc đàm đạo tại đó…


Ngài có thể chắc chắn tuyệt đối rằng tôi sẽ không đi tới một thỏa thuận nào tại Bắc Kinh nếu nó phương hại tới các quốc gia khác, hoặc về những vấn đề có liên hệ tới các nước khác…


Ngài có thể tiếp tục tin cậy vào sự yểm trợ của Hoa Kỳ trong những nỗ lực của ngài hầu đem lại hòa bình cho Việt Nam và xây dựng nền thịnh vượng mới cho nhân dân Việt Nam.


Trân trọng


(kt) Richard Nixon


Ðể độc giả, đặc biệt là thế hệ trẻ biết xem trong văn bản gốc bằng tiếng Anh, Tổng Thống Hoa Kỳ đã viết như thế nào, tôi trích đăng nguyên văn một số phần đoạn quan trọng trong những thư chọn lọc sau đây (toàn bộ 35 văn bản được in trong Phụ Lục A).


Muốn cho cho chắc chắn hơn, ông Thiệu lại gửi ông Nixon một bức thư nữa bày tỏ thiện chí sẵn sàng hợp tác với Hoa Kỳ để tìm giải pháp cho hòa bình, kể cả việc ông bằng lòng từ chức, nhưng kêu gọi Hoa Kỳ đừng nhượng bộ gì nữa (ở Bắc Kinh) về vấn đề “rút quân”.


 


Rút quân: Từ song phương đổi sang đơn phương


 


Vấn đề rút quân song phương ra khỏi Miền Nam: Cả quân đội Hoa Kỳ lẫn Bắc Việt, là vấn đề quan trọng nhất đối với Việt Nam Cộng Hòa và là vấn đề chính yếu tại Hòa Ðàm Paris, như đã được phân tích trong cuốn “Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc lập”(4). Sau đây là tóm tắt những bước chính của tiến trình thương thuyết về điểm này (5).


Thời Tổng Thống Johnson, điều kiện rút quân mà Mỹ mang ra rất cứng rắn:


Cả hai bên (Mỹ và Bắc Việt) đều rút; và quân đội Bắc Việt rút sáu tháng trước khi Hoa Kỳ bắt đầu rút;


Từ lập trường đó, khi Nixon mới lên Tổng Thống, Mỹ xuống thang chút đỉnh:


Hai bên đều cùng rút đi một lúc; dành quyền tự quyết cho nhân dân Miền Nam.


Sau cùng, khi mật đàm kết thúc:


Quân đội Mỹ rút đi hết;


Và rút đi trong vòng 60 ngày;


Quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại miền Nam.


Ðó là kết quả mật đàm của Henry Kissinger trên ba năm trời với cái giá phải trả là thêm 15,000 mạng người Mỹ, 62 tỷ đôla, và hàng trăm ngàn mạng sống người Việt Nam, cùng với bao nhiêu tàn phá.


Lập trường vững chắc của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa khởi thủy được Nixon tuyên bố lúc Hòa Ðàm Paris chính thức bắt đầu. Ngày 14 Tháng Năm 1969, Nixon lên truyền hình giải thích:


“Chúng tôi đã gạt bỏ ra ngoài hoặc là việc rút lui khỏi Việt Nam một cách đơn phương, hoặc việc chấp nhận tại (Hòa Ðàm) Paris bất cứ một giải pháp nào có tính cách như một thất bại ngụy trang…”


“Và đó là phác họa về một giải pháp mà chúng tôi muốn đàm phán ở Paris. Nguyên tắc căn bản của nó rất là đơn giản: Triệt thoái song phương bất cứ quân đội nào không phải là quân đội miền Nam ra khỏi miền Nam Việt Nam và dành quyền tự quyết cho nhân dân miền Nam” (6).


Rồi ông còn đưa ra một thời biểu rút quân. Giai đoạn đầu là 12 tháng, tới giai đoạn cuối cùng thì “Quân đội Hoa Kỳ và Ðồng Minh (Ðại Hàn, Úc) sẽ đi tới kết thúc việc rút quân khi số quân đội Bắc Việt còn lại được rút đi và trở về Miền Bắc” (7).


Lập trường là như vậy, và trước khi đi Bắc Kinh, Nixon còn hứa hẹn như trong thư trích dẫn trên đây: “Ngài có thể chắc chắn tuyệt đối rằng tôi sẽ không đi tới một thỏa thuận nào tại Bắc Kinh nếu nó có phương hại tới các quốc gia khác.” Thế nhưng, theo chính Nixon viết lại, trong những ngày viếng thăm Trung Quốc từ 21 tới 28 tháng 2, 1972, ông đã nói với Chu Ân Lai:


“Giả sử như tôi có thể ngồi đối diện với bất cứ ai là người lãnh đạo Bắc Việt, và giá như hai bên có thể thương thuyết một cuộc ngưng bắn và trả lại tù binh cho chúng tôi, thì tất cả quân đội Mỹ sẽ được triệt thoái khỏi Việt Nam trong vòng sáu tháng kể từ ngày đó” (8).


Như vậy, Nixon đã tiết lộ rõ ràng là Hoa Kỳ muốn rút quân khỏi Việt Nam để chỉ đổi lấy việc thả tù binh và một cuộc ngưng bắn.


Theo các tài liệu thương thuyết mới được giải mật thì ngay từ 1971, trước cả khi Nixon đi Trung Quốc, trong cuộc họp với Chu Ân Lai ngày 9 tháng 7, Kissinger cũng đã tiết lộ với ông Chu rằng Hoa Kỳ sẽ đơn phương rút khỏi miền Nam (9).


Ði sau lưng thì như vậy mà vừa từ Bắc Kinh trở về Washington, ông Nixon lại tiếp tục trấn an ông Thiệu:


White House


Ngày năm Tháng Ba, 1972


Thưa Tổng Thống,


“Xin ngài yên tâm rằng tôi sẽ làm mọi việc trong quyền hạn của tôi để cho những hy sinh to lớn của hai dân tộc Việt và Mỹ sẽ không thành vô ích…


…Chúng tôi đã không thương lượng điều gì đàng sau lưng những người bạn của Hoa Kỳ; và đã không có sự đổi chác bí mật nào hết”.


Trân trọng


(kt) Richard Nixon


Thế nhưng, tại mật đàm Paris, từng bước một, Hoa Kỳ đã đi tới chỗ nhượng bộ hoàn toàn: Chỉ có Mỹ phải rút hết quân, và rút trong 60 ngày. Bình luận về điểm này, ông Thiệu nói với ký giả của một tạp chí Ðức Der Spiegel vào cuối năm 1979:


“Ðiều mà Kissinger và chính phủ Hoa Kỳ hồi đó thực sự muốn là rút lui càng mau càng tốt và mang được tù binh của Mỹ về. Họ chỉ muốn phủi tay cho xong mọi chuyện rồi ù té chạy. Tuy nhiên, trong lúc phủi tay như thế, họ lại không muốn bị nhân dân Việt Nam và thế giới buộc tội là đã bỏ rơi chúng tôi. Ðó là tình trạng khó xử của họ” (10).


Vào thời điểm đó, Bắc Việt đã mang thêm được một số quân lớn vào miền Nam (từ cuộc tấn công Mùa Xuân năm 1972). Cho nên tới khi kết thúc đàm phán, sự có mặt của quân đội Bắc Việt tại miền Nam rất là hùng hậu. Tướng Charles Timmes, tư lệnh đầu tiên của “Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự cho Việt Nam” (Military Assistance Command, Vietnam hay MACV), và là người theo dõi tình hình cả quân sự lẫn chính trị tại miền Nam cho tới giờ phút chót, đã ước tính cán cân lực lượng hai bên vào lúc ký kết Hiệp Ðịnh Paris. Ông cho biết: Số quân đội chủ lực của Bắc Việt tại miền Nam đã lên tới 176,000, chưa kể các đơn vị phòng không. Số này được đồn trú như sau (11):


Quân Khu (QK) I: có bốn Sư đoàn: 304, 324-B, 2, 711; và khoảng 6 Trung đoàn biệt lập;


QK II: Ba Sư đoàn: F-10, 320, 3, và ba Trung đoàn biệt lập;


QK II: ba Sư đoàn: 5, 7, 9 và khoảng sáu Trung đoàn biệt lập;


QK IV: Sư đoàn 1, và chín trung đoàn của MTGPMN.


Ðối diện với số này, quân lực Việt Nam Cộng Hòa tuy rất đông, những 1 triệu 200 ngàn, nhưng số quân tác chiến lại thực sự chỉ có khoảng 200,000, tức là một phần sáu của tổng số. Còn lại chỉ là địa phương quân, nghĩa quân, và những đơn vị tiếp vận, yểm trợ. Quân đội chiến đấu được rải ra như sau:


QK I: Sư đoàn Dù, Thủy Quân Lục Chiến, các Sư đoàn 1, 2, 3, Lữ đoàn Thiết Giáp 1, và 6 Tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân;


QK II: các Sư đoàn 22, 23, Lữ đoàn Thiết Giáp 2, và 18 Tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân;


QK III: các Sư đoàn 5, 18, 25, Lữ đoàn Thiết Giáp 3, và chín Tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân;


QK IV: các Sư đoàn 7, 9, 21, Lữ đoàn Thiết Giáp 4, và 12 Tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân.


Về số quân chủ lực thì coi như ngang nhau nhưng quân đội Bắc Việt có hai cái lợi: Thứ nhất là đóng rải rác khắp nơi như những đốm da beo, đòi hỏi quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải dàn mỏng ra khắp lãnh thổ có một biên giới gần 700 dặm (1,100 cây số) để tự vệ; thứ hai là họ có thể chủ động trong việc chọn địa điểm và thời điểm để tập trung tấn công.


Và như vậy, khả năng tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa là rất mong manh.


 


Phải có một Hiệp Ðịnh


 


Nhiều người đặt câu hỏi: Nếu Mỹ quyết định rút quân thì cứ từ từ mà rút, tại sao lại nhất định phải có một hiệp định?


Ðây là một câu hỏi quan trọng, vì nếu Mỹ cứ công khai, đơn phương mà rút thì miền Nam còn có cơ may hơn. Ðó là vì hai điểm. Thứ nhất, nếu không ký một hiệp định thì có nghĩa là Mỹ không chính thức công nhận sự tiếp tục đóng quân của Bắc Việt tại miền Nam (còn với hiệp định thì chính Mỹ đã công nhận rồi); và nếu không công nhận thì khi xung đột xảy ra, miền Nam cũng không bị Quốc Hội Mỹ cho là “hiếu chiến” (12); thứ hai, khi quân đội Mỹ đơn phương rút (mà không có hiệp định) thì nhân dân Hoa Kỳ ít nhất cũng sẽ nhận thức rằng Mỹ đã tự mình cuốn gói ra đi. Và vì vậy, để đền bù lại, có thể là Quốc Hội vẫn còn tiếp tục viện trợ, tuy chỉ là trong một thời gian nhất định (13). Sau bao nhiêu cuộc chiến, khi kết thúc, Mỹ đã tiếp tục giúp các nước khác xây dựng lại những đổ vỡ như ở Âu Châu, Nhật Bản, Nam Triều Tiên. Với khả năng này, Việt Nam Cộng Hòa có thể có những dữ kiện chắc chắn cho kế hoạch tái thiết kinh tế cũng như quốc phòng, và đã không phải chờ đợi trong cái thế viện trợ bất ổn, nhỏ giọt như đã xảy ra (xem Chương 9).


Thế nhưng Mỹ muốn phải có một Hiệp Ðịnh Ðình Chiến, và do cả bốn bên (Bắc Việt, Nam Việt, Mặt Trận Giải Phóng, và Mỹ) đều cùng ký vào. Có ba cái lợi: Thứ nhất, Hiệp Ðịnh giúp cho việc Mỹ rút quân khỏi miền Nam được danh chính ngôn thuận trước công luận quốc tế: Chính Việt Nam Cộng Hòa ký vào Hiệp Ðịnh, như vậy là đồng ý cho Mỹ rút đi, chứ không phải là Mỹ tự ý rút và bỏ rơi đồng minh; thứ hai: Nixon-Kissinger có thể tuyên bố đã giữ lời hứa là mang lại cho miền Nam cả hòa bình lẫn danh dự (chiến tranh đã ngưng rồi và chính phủ VNCH vẫn còn nguyên, không bị truất phế); và thứ ba, Hiệp Ðịnh giúp Mỹ mang được tù binh về. Trước đó, có lần Nixon đã cho trực thăng đổ bộ vào tận trại giam ở Sơn Tây để cứu tù binh mà cũng hoàn toàn thất bại.


 


Tại sao không có một Hiệp Ðịnh Geneve thứ hai?


 


Câu hỏi thứ hai nhiều người đặt ra là vì sao, thay vì chấp nhận cho quân đội Bắc Việt ở lại, Mỹ không ký một Hiệp Ðịnh chia đôi miền Nam như Hiệp định Genève hồi 1954? Ít nhất, miền Nam còn có một biên giới rõ ràng, vẫn hơn là “giải pháp da beo” (gọi như vậy vì quân đội Bắc Việt đóng rải rắc khắp nơi như những đốm khoang trên da beo). Nếu chia đôi một lần nữa, biên giới miền Nam sẽ nhỏ hẹp hơn nhiều, một phần lớn đã có bờ biển bao bọc nên vấn đề biên phòng tương đối dễ dàng hơn là giữ một biên giới dài gần 700 dặm (1,100 cây số).


Trả lời câu này cũng dễ. Có lần chúng tôi hỏi một tướng lãnh Hoa Kỳ (nay đã về hưu) tại sao như vậy? Không cần suy nghĩ, ông ta trả lời ngay: “Ấy chết, Mỹ vào thì có bốn Quân Khu, chiến đấu 10 năm với trên nửa triệu quân, lúc ra đi lại chỉ còn có hai Quân Khu hay sao?” Chẳng lẽ giống như Pháp hồi 1954, sau khi bại trận ở Ðiện Biên Phủ? Ông cho rằng Mỹ sẽ mất mặt nếu phải đi tới giải pháp chia đôi lãnh thổ miền Nam một lần nữa.


 


Ðể có một hiệp định: Ðiều đình trong gian dối


 


Thời gian qua nhanh, chẳng mấy lúc lại đã tới bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ. Khi ra ứng cử lần đầu (1968), ông Nixon đã hứa là sẽ giải quyết chiến tranh Việt Nam một cách tốt đẹp và với danh dự (giống như lập trường ông John Kerry về chiến tranh Iraq trong kỳ bầu cử năm 2004). Nếu đến lúc vận động tái cử mà chiến tranh vẫn chưa chấm dứt thì làm sao ăn nói với nhân dân cho được?


Vì không thành công trong việc điều đình với Bắc Việt, Nixon-Kissinger quay sang điều đình với miền Nam, nhưng là điều đình trong gian dối.


Ngày 17 Tháng Tám, 1972, vào lúc sắp có Ðại hội đảng Cộng Hòa ở Miami (22 Tháng Tám) để đề cử ứng viên tổng thống, phái đoàn Kissinger tới Sàigòn thảo luận. Màn bi kịch 1968 lại tái diễn. Nhưng lần này thủ lãnh không phải là Johnson mà là Nixon; đạo diễn không phải Bunker mà là Kissinger. Ðặc biệt là áp lực từ phía Nixon lại đảo ngược 180 độ: Không phải khuyên ông Thiệu chống đối đàm phán mà là nên chấp nhận ngay kết quả của đàm phán. Không phải đừng đi Paris mà phải đi Paris ngay để ký kết. Kissinger bắt đầu thuyết phục ông Thiệu với luận điệu rằng Hiệp định này rất tốt cho miền Nam vì nó sẽ xoa dịu những chống đối chiến tranh, giúp chính phủ Mỹ tiếp tục yểm trợ miền Nam. Thế nhưng, đã có nhiều dấu hiệu cho thấy sự gian dối của Kissinger, nên ông Thiệu chống đối mạnh mẽ. Ðặc biệt là về việc Hoa Kỳ đã thay đổi hẳn lập trường về vấn đề rút quân. Lại theo đường cũ, ông không chịu chấp nhận bản dự thảo hiệp định.


Vài ngày sau khi Ðại hội Cộng Hòa tái đề cử Nixon ra nhiệm kỳ hai, Nixon đã ở vào thế mạnh hơn. Ông thuyết phục ông Thiệu một cách lâm ly thống thiết:


White House


Ngày 31 Tháng Tám, 1972


Thưa Tổng Thống,


“…Bước vào giai đoạn tế nhị hiện nay của cuộc thương thuyết, tôi muốn quả quyết với ngài một lần nữa, nhân danh bản thân tôi và một cách dứt khoát về nền tảng sắt đá của lập trường Hoa Kỳ: Hoa Kỳ đã không kiên trì từ bao lâu nay, với sự hy sinh của bao nhiêu mạng sống người Mỹ, để thay đổi lập trường vào mấy tháng chót của năm 1972. Lúc này đây, chúng tôi sẽ không làm điều gì mà ba năm rưỡi trước đây, chúng tôi đã từ chối không làm. Nhân dân Mỹ biết rằng Hoa Kỳ không thể mua được hòa bình hay danh dự, hoặc chuộc lại được những hy sinh của mình với cái giá phải trả là bỏ rơi một đồng minh dũng cảm. Ðiều này tôi không thể làm và sẽ không bao giờ làm…”


“…Nhưng nếu ta muốn thành công trong chặng đường cuối cùng của cuộc hành trình lâu dài này, ta phải hoàn toàn tín nhiệm lẫn nhau…”


Trân trọng


Richard Nixon


Tất cả những thư từ ông Nixon viết cho ông Thiệu là do Kissinger soạn thảo.


Trong thư này, lời lẽ có vẻ tâm huyết: Bỏ rơi một đồng minh là điều mà “tôi không thể làm và sẽ không bao giờ làm”.


Tuy nhiên, ông Thiệu vẫn tin rằng Nixon-Kissinger chỉ muốn có chữ ký của Việt Nam Cộng Hòa vào bản Hiệp định để Mỹ tháo lui cho đẹp. Nhằm làm sáng tỏ vấn đề, ngày 26 Tháng Chín 1972, ông còn cho phía Mỹ biết rằng ông “sẽ công khai minh xác trước công luận để biện hộ quan điểm của Việt Nam Cộng Hòa” (14).


(Còn tiếp)


 

‘Sợ run’ vì bắt được cua đinh nặng hơn 30kg

 


TÂY NINH (NV) – Một cư dân ở khóm 1 thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, nói rằng anh đã ‘sợ run người’ khi bắt được một con cua đinh nặng tới 30kg, lớn nhất mà anh từng gặp trong đời.










Con cua đinh được bọc trong bao tải lưới. (Hình: Báo Dân Trí)


Báo Dân Trí cho hay, cư dân này là anh Nguyễn Văn Vũ, 35 tuổi, vào hôm 2 tháng 5, bắt được một con cua đinh dài gần 1m, nặng hơn 30kg.


Tin anh Vũ bắt được con cua đinh làm xôn xao cả một xóm nhỏ khi người ta ùn ùn tới xem.


Theo báo Dân Trí, một số thương lái và quản lý các nhà hàng lớn đóng tại thành phố Trà Vinh cũng nhanh chân tìm đến hỏi mua với giá 350 ngàn đồng/kg nhưng anh Vũ vẫn chưa muốn bán.


Kể về chuyện bắt được con cua đinh, anh Nguyễn Văn Vũ cho biết, “Khoảng 3 giờ sáng ngày 2 tháng 5, như thường lệ anh và vợ cùng đi đặt lú và đóng đáy trên sông Ða Lộc, huyện Châu Thành. Anh Vũ thấy đáy nặng bất thường, sau khi cùng vợ hì hục kéo lên thì bắt được một con cua đinh mắc bên trong.”


Con cua đinh lớn vùng vẫy mạnh nên anh cùng vợ phải lấy lấy bao xi măng cũ và lưới quấn lại mới mang được nó về nhà.


Không giấu được sự vui mừng, anh Vũ chia sẻ: “Vừa thấy nó dính lưới, tự nhiên tui run quá trời! Nó lớn quá lại vùng vẫy rất mạnh nên hai vợ chồng khó khăn lắm mới đưa được về tới nhà. Nó vẫy quá làm tay chân tui trầy tùm lum chỗ hết. Giờ vẫn còn run nè!”










Anh Vũ hồ hởi chia sẻ về được bắt được cua đinh. (Hình: Báo Dân Trí)


Vẫn theo anh Vũ, “Trong suốt hơn 10 năm sống bằng nghề đóng đáy, anh đã từng bắt được rất nhiều cua đinh nhưng đây là con lớn nhất.”


Anh kể, cách đây hơn 2 năm anh đã từng bắt được một con nặng khoảng 8kg, đem bán cho một ông chủ nhà hàng để nuôi và trưng bày với giá gần 3 triệu đồng.


Theo báo Dân Trí, cua đinh còn được gọi là ‘ba ba Nam bộ’, là một loài có tên trong sách đỏ, đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Và con cua đinh nói trên đang được nuôi giữ an toàn tại nhà anh Vũ và vẫn khỏe mạnh. (K.N.)

Cá kho tộ

 


Cho 4 phần ăn


Thời gian thực hiện: khoảng 1 tiếng



Hình Bảo Liên/Người Việt San Jose


Nguyên liệu:


– 1 phần cá bông lau hay bất cứ cá nào tùy ý thích chừng 2 lbs, chỉ lấy phần thịt (đầu dùng để nấu canh chua)


– 2 muỗng canh tóp mỡ ( tùy thích)


– 3 tép đầu hành lá


– 3 củ hành hương


– 6, 7 trái ớt đỏ


– 1 muỗng canh dầu Olive


*Gia vị ướp cá:


– 1 muỗng canh nước mắm


– 1/2 muỗng cà phê đường


– Tiêu


– 1/2 muỗng cà phê bột nấm nêm


*Gia vị kho:


– 1 muỗng cà phê nước mắm


– 1 muỗng cà phê đường


– 1/2 muỗng canh bột nêm


– Tiêu


 


Cách làm:


*Ướp cá:


– Cá làm sạch với muối, nếu còn nhớt thì rửa lần nữa với giấm, cạo cho thật sạch nhớt, rửa lại lau khô, để một bên.


– Ðập giập đầu hành lá, xắt nhỏ cho vào tô lớn với phần gia vị ướp cá, cho cá đã làm sạch vào trộn đều ướp, bọc giấy kiếng và để vào tủ lạnh chừng 1/2 tiếng.


– Cắt hành hương từng lát mỏng, rửa sạch ớt và để nguyên trái, để qua một bên.


*Cách thắng nước màu:


Cho vào nồi đất dầu Olive cùng với 1 muỗng cà phê đường, để lửa nhỏ. Khi thấy đường vừa sủi tăm và chất caramel vừa lắng xuống thì cho ngay hành hương vào khuấy liên tục đều tay hay cho tới khi hành mềm, cho tóp mỡ vào xào chung chừng 1′. Sau đó thả cá đả ướp vào nồi (không dùng phần nước mắm đã ướp cá), nêm phần gia vị kho, cho ớt trái vào chung, vặn lửa lên 1 chút, với bọt cho sạch, sau đó vặn lửa nhỏ lại và kho riu riu khoảng 30′, đậy vung hở 1 chút. Nhớ trở cá cho đều, hoặc nghiêng nồi qua một bên, múc nước xốt rưới liên tục lên mặt cá cho thấm đều. Gia giảm lại cho vừa khẩu vị.


Không cần thiết cho nước lạnh khi kho cá, hơi nước sẽ đọng xuống cho nhiều nước. Sau khi nước xốt kẹo lại xăm xắp, cá đã thấm và chín, nhắc cá xuống.


 


Trình bày:


Cho cá vào đĩa hay để nguyên trong nồi đất, rắc thêm phần tiêu còn lại lên mặt đem ra dùng nóng với cơm trắng và canh chua cá. Món cá kho tộ vừa cay vừa nồng rất là ngon.


 


Chú thích: Cá kho tộ dễ chế biến và hấp dẫn thị giác, vị vừa mặn nhưng có vị ngọt rất hợp với canh chua, ớt đã kho chín nhưng vì để nguyên trái cho nên không cay nhưng cho một hương vị rất hấp dẫn.


Bài viết cá kho tộ xin được dành riêng để kính tặng bà ngoại của Bảo Liên. Theo sự chỉ dẫn của bà cách thắng nước màu vì bà không bao giờ dùng nước màu làm sẵn. Mỗi lần kho cá đều nhớ bà tha thiết dù rằng Bảo Liên không bao giờ còn được dịp gặp bà ngoại nữa.

Lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư tại Minnesota


Ngày 28 Tháng Tư 2012, tại nhà hàng Hoa Biển, Hội Cựu Chiến Sĩ QLVNCH tại Minnesota đã long trọng tổ chức lễ tưởng niệm ngày Quốc Hận 30 tháng 4 đề tưởng nhớ ngày tang chung của đất nước.










Nhà văn quân đội Hải Triều nói chuyện về ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư.


Mặc dù ngoài trời mưa và kẹt đường do công trình lấp ráp đường xe điện trong thành phố, nhưng buổi lễ tưởng niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư tại nhà hàng Hoa Biển đã quy tụ gần hai trăm đồng bào tham dự, nhân sĩ và nhiều anh em cựu quân nhân QLVNCH.


Buổi lễ bắt đầu vào lúc 11:45 giờ trưa, MC Quốc Hùng giới thiệu chương trình & Hội Trưởng Hội CCSQLVNCH Ngô Trọng Phục đọc bài diễn văn mở đầu, với phần nghi thức chào cờ, phút mặc niệm, tưởng niệm các tướng lãnh và quân dân cán chính QLVNCH đã tự sát sau khi cộng sản cưỡng chiếm Sài Gòn. Ðó là những giây phút cảm động trong buổi lễ do chiến hữu Lê Bé phụ trách.


Chương trình phụ diễn văn nghệ do các ca sĩ địa phương, các chị trong gia đình Hội Cựu Quân Nhân đảm trách đã tạo cảm giác ấm cúng trong tinh thần đấu tranh với các nhạc phẩm hùng ca đấu tranh yêu nước, đặc biệt là các nhạc phẩm của Việt Khang. Cũng trong chương trình văn nghệ này, bất ngờ trong phần phát biểu của Ðức Hùng, anh đã làm bà con ngạc nhiên thích thú khi anh chuyển lời nhạc Việt Khang thành một bài vọng cổ mà chính anh là người hát. Có lẽ đây là bài vọng cổ lời Việt Khang đầu tiên tại Minnesota được hát trong ngày tưởng niệm Quốc Hận 30 Tháng Tư.


Cũng trong chương trình sinh hoạt, nhà văn quân đội Hải Triều đến từ Vancouver, Canada đã có phần nói chuyện về ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư và lý do QLVNCH bị bức tử trong cuộc chiến đã dẫn tới sự sụp đổ của VNCH năm 1975…! Nhà văn Quân Ðội Hải Triều ra mắt sách đã được sự ủng hộ nồng nhiệt của quý hương.


Thay mặt quý đồng hương tại Minnesota, xin chân thành cám ơn Hội CCSQLVNCH đã Tổ Chức Buổi Lễ Tượng Niệm 37 Năm Ngày “Quốc Hận” mang đầy ý nghĩa.


NV Hải Triều tường trình tại Saint Paul, Minnesota

Vùng ven Sài Gòn có ‘miền sung sướng’

 


SÀI GÒN (NV) – “Những năm gần đây, các huyện vùng ven, ngoại thành Sài Gòn đã xuất hiện những ‘vùng sung sướng’ đầy rẫy gái đẹp ‘mời gọi’ ở cà phê quán lá hoặc tại các điểm hớt tóc thanh nữ xuề xòa, với giá cả phục vụ rất bình dân.”










Nữ nhân viên tại một quán cà phê “ôm” trên quốc lộ 22 (đoạn qua xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, Sài Gòn). (Hình: VNExpress)


Báo Pháp Luật Việt Nam hôm 3 Tháng Năm kể như vậy về các tụ điểm “dọc Quốc lộ 22, thuộc thị trấn Hóc Môn, xã Trung Chánh, xã Xuân Thới Ðông… xuất hiện nhiều quán cà phê ‘ôm’, kích dục và nhân viên sẵn sàng ‘qua đêm’ với khách khi có yêu cầu”.


Theo tờ báo, “Hầu hết các quán cà phê dạng này không có bảng hiệu, bàn ghế để sơ sài, có quán chỉ có… 02 cái bàn, 04 cái ghế. Những nơi này chẳng khác chi ‘điểm’ chứa chấp mại dâm hành nghề tại chỗ.”


Phóng viên báo Pháp Luật Việt Nam dẫn lời một tiếp viên kể, “khách vào đây sẽ được phục vụ tận tình, không giới hạn thời gian” nhưng muốn chiều chuộng… đến Z còn tùy vào mức độ thân quen, có tình cảm hay không… bởi vì khoảng cách cho việc đến Z là không xa.


Theo lời phóng viên, “Ra khỏi quán, tôi chỉ mất 100 ngàn đồng, tiền nước 40 ngàn, bo thêm 60 ngàn đồng. Tương tự, các quán B.T, B.T 2, Th T… ở xã Xuân Thới Ðông hoạt động với hình thức trên, quán nào cũng có 6-10 nhân viên nữ trẻ, đẹp.”


Không chỉ tại Hóc Môn, xa hơn một chút là huyện Củ Chi, cũng đầy rẫy các quán kiểu này.


Kéo dài từ xã Tân Phú Trung, xã Tân Thông Hội… huyện Củ Chi có hàng chục điểm cà phê giải khát, hớt tóc thanh nữ trá hình nằm sát bên nhau.


“Chỉ cần một cái nhìn tò mò, chăm chú, ngay lập tức khách đi đường sẽ ‘được’ các cô gái trắng trẻo, trẻ đẹp vẫy tay ngoắt, mời gọi vào quán… Ðó là hình ảnh diễn ra hằng ngày trước mắt hàng nghìn người dân thành phố.”


Phóng viên kể, “ở một số quán cà phê giải khát kích dục ở xã Tân Phú Trung, giá cả dao động ở mức 90-100 ngàn đồng/suất, có nơi ấn định thời gian vào phòng mát xa từ 15-20 phút/suất, có nơi không giới hạn thời gian, điểm nào cũng có 4, 5 nhân viên trẻ đẹp, ăn mặc hở hang… ngồi phía trước quán để ‘mời gọi’ khách.”


Tờ báo cho biết, “sự việc kể trên diễn ra giữa thanh niên bạch nhật từ nhiều năm qua, người dân địa phương đã nhiều lần lên tiếng phản ánh nhưng việc xử lý của cơ quan chức năng như ‘bắt cóc bỏ đĩa’, dù hành vi kích dục, kích dâm, mại dâm trá hình biểu hiện quá rõ ràng. Hầu hết các quán hoạt động theo dạng trên không hề có giấy phép kinh doanh.” (K.N.)

Tin mới cập nhật