Ðệ Nhị Phu Nhân thành giáo sư thực thụ đại học cộng đồng

Tiến Sĩ Jill Biden, vợ phó tổng thống

 

 

ANNANDALE, Virginia (NV) – Tiến Sĩ Jill Biden, phu nhân của Phó Tổng Thống Joseph R. Biden Jr. cũng là một giáo sư Anh Văn lâu năm, năm 2011 trở thành giáo sư thực thụ tại đại học cộng đồng Northern Virginia Community College, theo tạp chí Higher Education Chronicle. Tạp chí này tiết lộ hồ sơ thuế của hai vợ chồng khai lương của bà đệ nhị phu nhân là $82,022.

Tiến Sĩ Jill Biden tiếp chuyện gia đình quân nhân tại Florida. Tạp chí Higher Education Chronicle đưa tin bà Ðệ Nhị Phu Nhân Mỹ đã trở thành giáo sư thực thụ tại đại học cộng đồng NOVA. (Hình: Chris Trotman/Getty Images for NASCAR)

Tiến Sĩ Biden khởi sự dạy Anh văn ở đại học này vào khóa mùa Xuân năm 2009 với tư cách là thỉnh giảng (adjunct). Sang khóa mùa Thu năm 2009, bà được thu nhận làm việc toàn thời, có giao kèo hai năm. Sau đó bà trở thành phó giáo sư thực thụ khóa mùa Thu năm 2011.

Giới chức trường Northern Virginia Community College, còn gọi là “NOVA,” cho hay bà Biden cũng phải nộp đơn xin việc và xin nhập ngạch cũng như các ứng viên khác.

Tuy nhiên mức lương của bà Biden làm một số giáo sư khác trong trường ngạc nhiên và nhiều người cũng không biết rằng bà trở thành giáo sư thực thụ.

Từ khi chồng bà Biden trở thành phó tổng thống, một số tổ chức hiệp hội các giáo sư bán thời gian và nghiệp đoàn đã nhiều lần liên lạc với bà với hy vọng bà sẽ lên tiếng thúc đẩy có sự cải thiện trong quyền lợi giới phụ giảng và giáo sư bán thời gian.

Giáo sư thỉnh giảng ít khi nào được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế và có khi chỉ được trả chưa tới $1,000 cho các lớp học gồm ba tín chỉ. Tuy nhiên cũng có nhiều nơi trả từ $2,000 cho tới $2,500 cho mỗi khóa học ba tín chỉ và một vài nơi có thể trả tới gần $10,000.

Tuy vậy, bà Biden, với 15 năm kinh nghiệm dạy học tại Delaware Technical Community College, được coi là trả lương cao hơn bình thường tại NOVA. Mức lương trung bình cho phó giáo sư nơi đây là $67,100. Bà Biden dạy ba lớp khóa mùa Thu và mùa Xuân, gồm hai lớp “Preparing for College Writing II” và một lớp “Critical Reading and Study Skills.”

Bà Biden tốt nghiệp cử ngân Anh Văn đại học University of Delaware, cao học sư phạm ở West Chester University, cao học Anh Văn Villanova University, và tiến sĩ sư phạm tại University of Delaware. Ngoài những năm dạy đại học cộng đồng, trước đó bà từng dạy trung học 13 năm. (V.Giang)

Dân biểu Cộng Hòa muốn truy tố bộ trưởng Tư Pháp


WASHINGTON (CBS) –
Các dân biểu đảng Cộng Hòa đang chuẩn bị để yêu cầu truy tố bộ Tư Pháp và Bộ Trưởng Eric Holder vì họ cho là ông này ngăn cản cuộc điều tra của Quốc Hội về chiến dịch Fast and Furious.

Bộ Trưởng Tư Pháp Eric Holder. (Hình: AP/Susan Walsh)

Chiến dịch này do ATF (Văn phòng chống rượu, ma túy, vũ khí) thuộc Bộ Tư Pháp tiến hành nhằm gài bẫy cho các băng đảng tội ác ở Mexico dễ dàng mua vũ khí rồi theo dõi việc sử dụng. Tuy nhiên tới tháng 10 năm 2011 trong số 2,000 vũ khí đưa ra chỉ theo dõi và thâu hồi được 700.

Bộ Tư Pháp bị tố cáo ngăn cản điều tra không trình bày đầy đủ dữ kiện cho Quốc Hội. Dân Biểu Cộng Hòa Darell Issa, California, cầm đầu việc thu thập tài liệu để buộc lỗi Bộ Tư Pháp đã trình bản báo cáo cho Chủ Tịch John Boehner và chuẩn bị đưa ra biểu quyết tại Hạ Viện.

Một giới chức Bộ Tư Pháp giải thích với truyền hình CBS là trước đây đã tuân hành đòi hỏi cung cấp hơn 7,300 trang hồ sơ cho của Quốc Hội và Bộ Trưởng Eric Holder đã rất nhiều lần điều trần về chiến dịch này. Dân Biểu Dân Chủ Elijah Cummings cho rằng việc làm của Dân Biểu Issa mang tính cách chính trị của năm bầu cử hơn là mục tiêu điều tra tường tận.

Nếu Quốc Hội biểu quyết đồng ý, vụ việc có thể được đưa kiện trước tòa án. (HC)

Vàng Ðen (Kỳ 81)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 81


 


-Hắn từ chức không có nghĩa là nguyên băng hắn phải rã đám. Hắn đã chuyển hơn 49 tấn bạch phiến vào Mỹ trong mười năm, chứng tỏ hắn phải có một tụi Mỹ nào đó đứng sau lưng, ngay tại Mỹ.


Lại nữa, đừng khinh thường lực lượng của Khun Sa. Hắn có đến 10,000 lính, trong đó có hơn 2,000 thật sự thiện chiến. Ảnh hưởng của hắn bao trùm đến cả Chiang Mai. Quân đội Miến Ðiện đã thử cựa hắn mấy năm nay, nhưng chỉ có ôm đầu máu đi về.


-Tôi chỉ sợ trễ cho tụi nhỏ bên đó.


-Tụi nó chịu nổi cho đến khi mình đến, mình sẽ trực thăng vận, nhẩy thẳng xuống chỗ tụi nó cần. Tôi đã chuẩn bị trực thăng xong rồi. Mấy thằng cựu C.I.A. ở lại Thái Lan đang nắm một công ty trực thăng chở du khách đã đồng ý nằm ụ chờ tôi rồi. Nếu anh đi khi mình chưa có một tin tức chính xác hơn, cả anh lẫn tôi sẽ bị lúng túng. Chờ thêm một chút đi.


-Ðược, trung tá.


Có nhiều người sợ chết, riêng đại úy Vi của đơn vị lính đánh thuê lại ngứa ngáy khi phải chờ đợi để được đùa giỡn với thần chết.


***                                      


Tại New York. Trong văn phòng của bà chánh biện lý Mary J. Blanca.


-Tôi hoàn toàn không hiểu một chút gì hết về những chuyện quý ông đã làm. Tôi muốn một lời giải thích thỏa đáng nơi quý ông. Bằng không, tôi sẽ cho mọi chuyện nổ tung ra hết, cũng như cái tương lai chính trị của tôi, tôi cũng sẽ chẳng cần. Nào, mời quý ông.


-Xin bà một chút bình tĩnh, xin bà bình tĩnh. Trong vòng nửa năm qua, bà thấy chúng tôi đã làm hết sức mình, bằng chứng những thành quả vô cùng khả quan về diệt trừ ma túy được đăng trong báo hằng ngày.


-Ông cho tôi vài thí dụ.


-Thưa bà, vụ nổ nhất là chúng tôi đã tiếp tay với chính quyền Columbia bằng cách bỏ nhỏ cho họ biết Escobar đang ẩn náu ở đâu, nhờ vậy, cảnh sát và quân đội Columbia mới hạ sát được tay trùm cocain này.


-Hạ được Escobar, nhưng hai ông đã chận đứng được hoàn toàn ma túy xâm nhập vào Hoa Kỳ bằng ngã Columbia hay chưa? Các ông đã chận được những chuyến hàng đến Mễ Tây Cơ từ Columbia bằng phi cơ vận tải hay chưa? Mỗi chuyến cũng không thể nào dưới sáu, bẩy tấn. Các ông có thể nào kiểm soát được hết biên giới Mễ Tây Cơ và Hoa Kỳ hay không?


-…


Bà chánh biện lý Mary J. Blanca đã phẫn nộ như chưa bao giờ từng phẫn nộ. Hai gã ngồi trước mặt bà đâu phải tay vừa, chúng là những thứ bự của nước Mỹ, không hiểu sao chúng lại trả lời bà bằng những giọng thiếu thông minh, ngang phè như vậy. Chúng vòng vo quanh câu hỏi chính của bà về chuyện ma túy. Một tên được gán cho cái ghế sếp sòng về tình báo hải ngoại, tên còn lại cũng sếp sòng về kiểm soát ma túy cho Mỹ lẫn hải ngoại. Vai trò của chúng rõ ràng lớn hơn bà. Chúng đến văn phòng của bà, nhưng lại khệnh khạng như tổng thống.


Tuy chúng có gồ ghề hơn thật, nhưng chúng phải né cái họng lớn của bà đối với dư luận, lại nữa bà có một chính nghĩa thật sáng ngời, cả xứ Mỹ phải nể phục. Chính nghĩa của bà lại rất giản dị. Bà lên án tội ác một cách mãnh liệt, quy kết tội ác do hậu quả của ma túy, do đó phải tận diệt ma túy bằng mọi giá. Chuyện tận diệt ma túy ấy đương nhiên phải tận diệt tại gốc của nó. Khốn thay, hai tên bự đang ngồi trước mặt bà, có trách nhiệm làm việc ấy, chúng lại chỉ gãi ngứa loanh quanh. Bà phải gào ghê gớm lắm mới triệu được cả hai về đây cùng lúc. Chính đương kim tổng thống Mỹ phải ra lệnh cho chúng đến gặp bà.


Thế lực cùng uy tín của ngài tổng thống đang tuột dốc một cách thảm hại, hắn cũng đang cần có bà để yểm trợ chính nghĩa cho hắn. Hai vợ chồng hắn đã binh những chi sập xám một cách ngoan cố, dương chi đầu thay vì thủ, trong khi chi cuối, thực lực chính lại không có một chút gì. Không chờ tàn canh sập xám, mọi người đã thấy hai vợ chồng hắn binh lủng. Ngài tổng thống cùng phu nhân đang chờ đợi một cú lớn nơi bà để nhẩy vào ăn có, nên lúc nào cũng sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi hợp lý của bà. Ðã vậy tội gì không lên lớp hai tên đực này một chập nữa.


-Rồi vụ nổ ghê gớm thứ nhì của quý ông?


Lúc này tên sếp sòng D.E.A. mới lên tiếng:


-Thưa bà, thực ra chẳng có vụ nào nhất, nhì cả. Chúng tôi chỉ cố gắng chận đứng tất cả nguồn ma túy trên thế giới, hầu không để cho chúng luân chuyển vào nội địa Hoa Kỳ nữa. Dĩ nhiên chúng tôi cũng có những khó khăn riêng, như nhân lực hoặc tài chánh chẳng hạn…


-Quý ông nói đến tài chánh? Có phải quý ông muốn cười vào mũi tôi không? Ngoài quỹ chính đã được quốc hội chuẩn phê để diệt trừ ma túy, chính tôi đã đi quyên từng đồng một để đưa cho quý ông…


Dường như cơn tức giận làm bà chánh nghẹn lại trong vài giây, nhưng thủ thuật của một con buôn chính trị cao đẳng như bà đã biến nó thành một cái gì đó rất thánh thiện. Bà đưa tay chặn ngang ngực, mắt mở lớn, làm như không thể nào có thể tin được rằng, hai tên đực lại dám nói với bà những chuyện vô lý nhất.


-… Vậy chứ ông C.I.A., ông làm ơn cho tôi biết số tiền gần ba triệu tôi chuyển qua trương mục của quý vị nó cũng hết rồi à?

Hai đội bóng Tây Ban Nha vào chung kết

Europa League:

 

 

TỔNG HỢP – Fernando Llorente thiết lập hai đường chuyền cho đồng đội ghi hai bàn thắng, sau đó Llorente lại có dịp tung lưới đối phương ở phút 88 đưa đội nhà Athletic Bilbao đá bại đội Sporting Lisbon 3-1 trong trận đấu bán kết lượt về đêm Thứ Năm vừa qua.


Các cầu thủ đội bóng Athletic Bilbao vui mừng chiến thắng sau trận đấu bán kết lượt về Europa League với Sporting Lisbon diễn ra trên sân San Mames ở Bilbao ngày 26 Tháng Tư, 2012. (Hình: Rafa Rivas/AFP/Getty Images)

 Với kết quả 4-3 qua hai trận bán kết lượt đi và về, (lược đi Sporting Lisbon thắng 2-1), Bilbao có mặt ở trận tranh chung kết Europa League 2012 cùng với đội bóng câu lạc bộ Tây Ban Nha khác là Atletico Madrid.

Market Susaera ghi bàn thắng phút 17 cho Athletic và Ibai Gomez có thêm bàn tung lưới thứ hai vào phút thứ hai trong giờ đá bù thêm hiệp đầu, ngay sau khi Ricky van Wolfswinket quân bình tỷ số 1-1 cho Sporting Lisbon phút 44.

Trong trận đấu này, hậu vệ Hoa Kỳ Oguchi Onyewu mặc áo ngồi ghế dự bị nhưng không ra sân.

Ở một trận bán kết khác, giữa Atletico và Valencia, cầu thủ Adrian Lopez ghi bàn thắng vào phút 60, củng cố chiến thắng 1-0 tại Valencia và với kết quả 5-2 cả hai trận lượt đi và về, Atletico Madrid loại Valencia để đương đầu với Bilbao cho chiếc cúp vô địch Europa League mùa bóng này.

Tiền vệ Sergio Canales của Valencia phải rời khỏi sân vào phút 58 vì chấn thương ở đầu gối phải. Trước đây cầu thủ này cũng bị thương phải ngồi làm khán giả trong suốt sáu tháng.

Trận chung kết giải sẽ diễn ra vào ngày 9 Tháng Năm trên sân Bucharest, Romania.

Trong khi Chelsea và Bayern Munich sẽ tranh ngôi vương miện Champions League sau khi cả hai đội này loại hai đội bóng nhất nhì Tây Ban Nha là Barcelona và Real Madrid cách đây vài ngày, Bilbao đã bảo đảm là Tây Ban Nha sẽ đem về chiếc cúp vô địch của giải đấu Châu Âu lớn thứ nhì cấp câu lạc bộ lần thứ tư trong vòng bảy năm.

Thủ môn Thibaut Courtois của Atletico Madrid nhảy lên đón bắt banh trước các cầu thủ Adil Rami của Valencia trong trận bán kết lượt về Europa League giữa Valencia và Atletico Madrid diễn ra trên sân Estadio Mestalla, Valencia, Tây Ban Nha ngày 26 Tháng Tư, 2012. (Hình: Angel/Getty Images)

Cầu thủ Fernando Llorente trong lúc cùng đồng đội vui mừng chiến thắng đã nói: “Thật là ngoài sức tưởng tượng. Ðây là lần đầu tiên mà tôi muốn khóc trên sân cỏ trong khi tôi vẫn đang thi đấu. Ðây là trận đấu tuyệt vời hơn cả những gì muốn nói đến. Chúng tôi đã tạo nên lịch sử đêm nay và tôi hy vọng chúng tôi sẽ tiếp tục như thế trong trận chung kết mà lúc nào tôi cũng mong muốn chúng tôi vô địch bởi vì cả cầu thủ và những người ủng hộ chúng tôi đều ao ước có được.”

Trong cuộc tranh tài Europa League, Bilbao đã loại Manchester United và Schalke, lần đầu tiên chơi trận chung kết giải kể từ khi thất bại trước Juventus trong trận chung kết UEFA Cup 1977.

Ngoài ra Bilbao sẽ thi đấu trận chung kết Cúp Nhà Vua trong với Barcelona vào ngày 25 Tháng Năm tới đây. (TD)

Josep Guardiola giã từ Barcelona

Bóng tròn:

 

 

TỔNG HỢP – Huấn luyện viên trưởng đội bóng câu lạc bộ Barcelona, Josep Guardiola, vừa tuyên bố trong cuộc họp báo ngày Thứ Sáu vừa qua là ông sẽ rời khỏi đội vào cuối mùa bóng này, chấm dứt triều đại kéo dài bốn năm trong thời kỳ vàng son nhất của Barcelona.

Huấn luyện viên trưởng Josep Guardiola của đội bóng câu lạc bộ Barcelona, trong cuộc họp báo tại sân Camp Nou, Barcelona, Tây Ban Nha ngày 27 Tháng Tư, 2012. Ông tuyên bố sẽ rời khỏi đội Barcelona vào cuối mùa bóng này. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Guardiola, 41 tuổi, tuyên bố trong cuộc họp báo: “Ðây không phải là tình thế rất dễ dàng đối với tôi.”

Theo nguồn tin chính thức từ câu lạc bộ cho biết phụ tá huấn luyện viên Tito Vilanova sẽ thay thế chiếc ghế của Pep Guardiola.

Guardiola nói tiếp trong phòng họp báo ngay tại sân Camp Nou đầy những phóng viên báo chí và cầu thủ: “Bốn năm cầm quân Barca là thời gian dài vô tận. Thời gian làm mọi thứ thay đổi theo chiều hướng xuống, tôi cảm thấy gần như cạn kiệt và tôi cần phải lấy lại.”

Guardiola xin lỗi về việc phải kéo dài thời gian dài mới tuyên bố rời khỏi đội như thế này trong khi ông xem xét kỹ lưỡng việc có thể kéo dài thêm một năm hợp đồng nữa hay không. Hợp đồng này sẽ hết hạn vào tháng 6 tới đây.

Guardiola cho biết muốn chờ đợi cho đến khi chức vô địch Champions League và La Liga được giải quyết trước khi đưa ra lời tuyên bố chính thức.

Ðội bóng Barcelona vừa bị loại khỏi giải đấu Châu Âu cấp câu lạc bộ danh giá nhất trên thế giới khi để thua đội Chelsea của Premier League, Anh quốc 3-2 cả hai trận bán kết lượt đi và về – lượt đi Barcelona thua 0-1, lượt về hòa 2-2 trong trận đấu ngày Thứ Ba vừa qua. Và Barcelona thật sự cũng vẫy cờ trắng giải La Liga Tây Ban Nha sau khi thất bại trước Real Madrid 1-2 trong trận “El Classico” vài ngày trước đó.

Với bên cạnh là chủ tịch câu lạc bộ Barcelona, ông Sandro Rosell trên bục sau khi đưa ra lời tuyên bố rút lui khỏi chức vụ huấn luyện viên, Guardiola nói thêm: “Người thay thế tôi sẽ có thể mang đến cho đội bóng luồng gió mới.”

Ông xác nhận sẽ tiếp tục làm công việc huấn luyện nữa nhưng không phải ngay lúc này.

Ông nói: “Tôi không thể tạo nên sức mạnh nếu tôi làm huấn luyện viên ngay lúc này, tôi không muốn. Tôi cần thời gian nghỉ ngơi, với cảm giác về một công việc mà tôi đã thực hiện tốt trước khi tôi mất cơ hội có thêm hai chiếc cúp vô địch.”

Guardiola cũng cám ơn các cầu thủ từng gắn bó với ông trong suốt thời gian qua, một số cũng hiện diện trong buổi họp báo này là Gerard Pique, Cesc Fabregas và Xavi Hernandez. Tất cả đều bày tỏ họ được may mắn khi có được ông là huấn luyện viên của đội.

Trong khi đó chủ tịch Rosell cũng hết lời ca ngợi Guadiola là một trong những huấn luyện viên vĩ đại nhất trong lịch sử đội bóng.

Ðược biết sau khi ra sân thi đấu cho Barcelona trong suốt thời gian sự nghiệp cầu thủ, Guadiola trở thành huấn luyện viên Barcelona B trước khi đảm nhận ghế huấn luyện viên đội hình chính Barcelona trong tháng Sáu 2008 thay thế chỗ của Frank Rijkaard.

Dưới triều đại của ông, Barcelona đã có 13 danh hiệu vô địch và được đánh giá là đội bóng hàng đầu trong làng bóng tròn thế giới, đồng thời cũng giúp phát triển một số cầu thủ tài năng trong đó có siêu sao tiền đạo Lionel Messi ba lần đoạt giải thưởng FIFA Ballon d’Or (Cầu thủ xuất sắc nhất trên thế giới trong năm của FIFA).

Ðề cập đến người thay thế mình, Pep Guardiola tuyên bố: “Vilanova là lựa chọn chính xác và tuyệt vời của Barcelona bởi vì anh ấy là một huấn luyện viên đầy khả năng và hiểu rõ các cầu thủ của mình.”

Huấn luyện viên trưởng Josep Guadiola của đội FC Barcelona và các phóng viên báo chí trong cuộc họp báo tại sân Camp Nou, Barcelona, Tây Ban Nha ngày 27 Tháng Tư, 2012. Ông tuyên bố sẽ không gia hạn hợp đồng với Barcelona vào cuối mùa bóng này. (Hình: David Ramos/Getty Images)

Vilanova được các báo chí chú ý đến vào mùa Hè vừa qua khi huấn luyện viên đội Real Madrid là Jose Mourinho, dùng tay xỉa xói vào mắt của vị phụ tá huấn luyện viên này ở ngoài sân sau chiến thắng của Barcelona trước Real Madrid trong trận đấu giải Supercup trên sân Nou Camp.

Khi được báo chí hỏi về vụ này trong cuộc họp báo sau trận đấu, Mourinho tuyên bố: “Tito Vilanova ư? Tôi không biết ông ta là Tito.”

Vilanova, 42 tuổi, chỉ ra sân là một cầu thủ chuyên nghiệp trong thời gian ngắn ở giải La Liga trước khi chuyển sang nghề huấn luyện viên vào cuối sự nghiệp của mình và tìm cách trở lại câu lạc bộ Barcelona thời trẻ của ông.

Vilanova tái gia nhập đội bóng Catalans với tư cách huấn luyện viên đội trẻ trong năm 2007 và làm việc bên cạnh Guardiola trong mùa bóng 2008-2009 mà vào cuối mùa này Barcelona cùng năm giơ cao sáu chiếc cúp vô địch bao gồm cả Champions League. (TD)

Ðại học cộng đồng Mỹ: Chưa đáp ứng nhu cầu thế kỷ 21


Lê Tâm (theo Higher Education Chronicle)


 


Mới đây Hiệp Hội Các Ðại Học Cộng Ðồng Mỹ (AACC) đưa ra bản báo cáo kêu gọi giới lãnh đạo đại học cộng đồng có nỗ lực cải tiến để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và của nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ 21.










Khuôn viên đại học Orange Coast College. Hiệp hội các Ðại học Cộng đồng Mỹ cảnh báo cần cải tiến để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và của nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ 21. (Hình: TFNorman/Wikimedia/Public Domain)


Phổ biến trong đêm khai mạc cuộc họp thường niên ở Orlando, Florida, bản báo cáo nêu lên sự phát triển lớn lao và thành công của các đại học cộng đồng, nhưng cũng công nhận một thực tế là nhiều sinh viên của hệ thống này không hoàn tất được chương trình học. Bản nghiên cứu cũng cho thấy chương trình huấn luyện sinh viên không đáp ứng được cho nhu cầu đòi hỏi của thị trường việc làm, cũng như sự kết hợp chặt chẽ hơn giữa đại học cộng đồng và các trường trung học cùng các đại học bốn năm.


Bản báo cáo, với tựa đề “Giành Lại Giấc Mơ Mỹ Quốc: Ðại Học Cộng Ðồng và Tương Lai Quốc Gia,” nói thẳng là các đại học cộng đồng phải “duyệt xét lại cách tổ chức, nhiệm vụ và sinh viên của mình” để bảo đảm rằng họ đáp ứng được nhu cầu của một xã hội đang thay đổi.


Các chuyên gia lao động tiên đoán rằng thị trường tương lai sẽ đòi hỏi nhiều người dân Mỹ có bằng cấp hay chứng chỉ sau Trung Học mới có hy vọng kiếm được việc làm.


Bản báo cáo đưa ra đề nghị gồm bảy điểm, theo đó có mục tiêu là đến năm 2020 sẽ giảm đi một nửa con số các sinh viên vào đại học mà không được chuẩn bị trước để đáp ứng đòi hỏi khó khăn hơn về khả năng học vấn, đưa ra các chính sách và phương cách thi hành theo đó đòi hỏi sự cố gắng, sự minh bạch và trách nhiệm rõ ràng để đạt được kết quả học tập trong các trường đại học cộng đồng.


Walter G.Bumphus, chủ tịch hiệp hôi AACC, thẳng thắn công nhận rằng, “trong nhiều năm chúng ta chỉ chú trọng về việc số lượng sinh viên, nay chúng ta cần phải chú ý hơn về việc đào tạo để sinh viên có thể thành công.”


Trước đây, các đại học cộng đồng vẫn được ca ngợi là tạo cơ hội cho các thành phần dân thiểu số và lợi tức thấp có cơ hội đi học đại học, nhưng ngày càng có nhiều chỉ trích là phẩm chất giáo dục ở các trường này thường không được chú trọng và cũng không đồng đều. Bản báo cáo cũng cho hay là “có khoảng cách lớn lao” giữa những gì sinh viên học được ở các đại học cộng đồng và những gì mà thị trường lao động quanh họ đòi hỏi.


Hiệp hội ACCC nói rằng để các đại học hai năm có thể tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong giáo dục đại học, các trường này phải nhìn lại về thành phần sinh viên mà họ đón nhận, nhiệm vụ của mình, các ngành học nào nên giữ lại và những ngành nào nên bỏ đi.


Tuy nhiên, bản báo cáo cũng khẳng định là hệ thống đại học cộng đồng phải tiếp tục duy trì chính sách thâu nhận “mở,” tạo cơ hội dễ dàng cho sinh viên vào học, nhưng phải tìm cách làm sao cho con số sinh viên tốt nghiệp tăng cao hơn.

Ông giáo sư dạy Sử


Vương Mộng Long


 


Một chiều cuối năm 1998 tôi vào trường University of Washington (UW) để đón đứa con gái áp út tan giờ học. Tình cờ tôi nhìn thấy một ông già đứng chờ xe bên bến bus. Có lẽ ông cụ lớn tuổi hơn tôi nhiều.


  Hỏi chuyện, tôi mới hay, ông cụ đã qua tuổi bảy mươi, ăn tiền hưu, và đang học môn Truyền Thông (Communication) năm Senior. Tôi chợt nghĩ, thời gian này mình cũng không bận lắm, tại sao không trở lại trường? Ít ra cũng học thêm được vài điều hay. Thế là, hôm sau tôi nộp đơn xin trắc nghiệm trình độ Toán và Anh Văn để xếp lớp tại Shoreline Community College (Shoreline C. C.).


So với các trường đại học cộng đồng quanh vùng, thì học phí của Shoreline C. C. tương đối nhẹ. Thật là, không có gì diễn tả nỗi niềm vui sướng tột cùng của tôi buổi đầu được cắp cặp trở lại trường làm học trò. Ba mươi lăm năm sau khi rời ghế nhà trường (1963) để tình nguyện vào quân ngũ, tôi đâu ngờ còn có ngày được ngồi dưới lớp nghe lời thầy giáo giảng? Xung quanh tôi là những người trẻ tuổi vừa qua bậc trung học.


Tôi làm việc mười tiếng đồng hồ một ngày, bốn ngày một tuần lễ. Ngày, ngày, vừa tan sở, tôi lại vội lái xe tới lớp. Từ ấy, tôi làm việc full time, đi học full time, bận bịu vô cùng. Học kỳ (quarter) đầu tiên, tôi ghi danh một lớp Toán, và hai lớp Anh Văn, mỗi lớp 5 tín chỉ (credit). Tôi miệt mài trong công việc suốt ngày, và chuyên cần trong học tập mỗi đêm. Vào mùa thi, tôi thức trắng hai, ba đêm là thường. Tôi ghi danh full time để thúc đít thằng con út. Thằng nhỏ sợ ông bố theo kịp, nên phải gắng chạy có cờ để thoát lên đại học bốn năm.


Một niên khóa trôi qua. Con đường học hành của tôi đang có vẻ rộng mở thênh thang, thì bỗng dưng lại quẹo vào một khúc quanh, chỉ vì mùa Fall 2000 tôi đã ghi danh lớp History 274 “U.S. and Vietnam.”


Tôi “lấy” lớp Sử Ký này với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào? Từ đó, hy vọng biết được phần nào, nguyên nhân vì sao, giữa đường, Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam, vì sao chúng ta đã thua trận.


Người từ lâu độc quyền phụ trách lớp Sử 274 là thầy Dan. Trong thời gian dài cả chục năm qua, ông giáo kỳ cựu này đã đào tạo hàng ngàn môn sinh. Những học trò của ông sau khi chuyển tiếp lên trường đại học bốn năm, đã trở thành những thạc sĩ, tiến sĩ. Lâu lâu họ lại ghé về trường xưa, thăm ông thầy cũ.


Lớp “U.S. and Vietnam” mùa Fall 2000 có chừng hơn hai chục học viên, trong đó da trắng chiếm đa số. Có bốn học trò gốc Châu Á, gồm hai anh Tàu lục địa, một cậu bé H’Mong và tôi. Bạn đồng lớp với tôi còn nhỏ lắm. Họ trẻ hơn mấy đứa con tôi nhiều.


Tôi cứ tưởng rằng những tài liệu lịch sử mà các thầy giáo đem truyền bá, phải nằm trong chương trình đã kiểm duyệt và cho phép của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ. Nhưng thực tế không phải vậy. Nền giáo dục của Mỹ đã đi vào tự trị từ lâu. Thầy giáo có toàn quyền lèo lái, hướng dẫn con thuyền học vấn chở học trò mình tới bất kỳ bến bờ nào mà thầy đã chọn. Thầy giáo chỉ định sách giáo khoa nào thầy sẽ dạy để chúng tôi mua. Thầy phổ biến những tài liệu nào mà thầy ưng ý. Trong hai phần ba thời gian đầu của học kỳ Fall 2000, mỗi khi nói tới phong trào Việt Minh, ông giáo sư dạy Sử không ngớt ca tụng HCM như một lãnh tụ tài ba, và vô cùng sáng suốt đã khôn khéo hướng dẫn dân tộc Việt Nam tới chiến thắng thoát ách đô hộ của đế quốc Pháp.


Thầy khẳng định rằng, chính phủ Hoa Kỳ là nguyên nhân cuộc chiến tranh Ðông Dương lần thứ hai (1954 1975). Vì theo lời thầy, thì HCM đã năm lần gửi mật thư cho Tổng Thống Harry Truman để xin thần phục và hợp tác, nhưng Tổng Thống Harry Truman đã từ chối. Thầy cho rằng người Mỹ đã lầm lẫn trợ giúp quân Pháp trở lại tái chiếm Ðông Dương trong khi cao trào dân chủ, đấu tranh giành độc lập đang lan tràn trên toàn thế giới, và chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời.


Chúng tôi đã được cho xem những đoạn phim cũ về trận Ðiện Biên Phủ, về Hiệp Ðịnh Geneve, và về cuộc di cư năm 1954. Với những trận có âm vang quốc tế như Plei Me, Khe Sanh, Kontum, Bình Long, Long Khánh vân vân… chúng tôi chỉ được thấy những cảnh thương vong của quân đội Ðồng Minh và Việt Nam Cộng Hòa. Trận Mậu Thân, chỉ là cảnh… nhà cháy, dân chạy loạn. Tất cả những “tư liệu” này đều có thực, nhưng thầy Dan chỉ trưng bày những phần có lợi cho Việt Cộng. Tôi chưa nghe được từ miệng thầy một lời nói tốt nào cho phía Việt Nam Cộng Hòa. Thầy mô tả Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như một đội quân kém cỏi về cả tổ chức lẫn khả năng tác chiến. Với thầy Dan, chiến tranh Việt Nam chỉ là một gánh nặng cho ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ, một sự phí phạm công quỹ. Ðã có đôi lần tôi giơ tay nêu ý kiến bênh vực quân đội ta, chính quyền ta, thì ông chỉ cười, chỉ tay vào quyển Sử dày cộm,


“Book said!”


Cứ cái điệp khúc “Sách dạy!” đó, ông thầy phản chiến đã lịch sự gián tiếp nhắc nhở cho tôi hay rằng, tôi là một học trò, còn ông là một vị giáo sư nói có sách, mách có chứng.


Thầy hùng hồn thuật lại những lần thầy tham gia biểu tình chống chiến tranh thời 1960s và nặng lời đả kích lệnh động viên ngày đó, đã đưa hàng trăm ngàn thanh niên Hoa Kỳ vào chỗ chết.


Kết quả hai lần khảo hạch giữa học kỳ (Mid Term) tôi đều lãnh điểm (F) bởi vì tôi chỉ làm trót lọt phần A, B, C khoanh, còn về bài tiểu luận (essay) thì tôi bị loại thẳng tay.


Cả hai bài đều lãnh điểm “không” (0) chỉ vì tôi đã viết không hợp ý ông thầy. Ngặt một điều là, lớp History 274 này bị tính điểm đem lên trường đại học bốn năm. Bị đánh rớt lớp này thì giấc mơ chuyển tiếp lên University of Washington của tôi sẽ thành mây khói.


Tôi theo học lớp này đúng vào lúc nhà trường đang sôi sục với cuộc vận động bầu cử tổng thống. Ông thầy dạy Sử không phải là người độc nhất có ác cảm với chiến tranh, mà tiểu bang Washington tôi đang cư ngụ cũng là thành trì của Ðảng Dân Chủ. Tâm sự này kiếm cả trường chắc cũng chẳng có ai thông cảm!


Thời gian này lòng tôi thật muộn phiền. Tôi tự trách rằng, mùa Fall 2000 có thiếu gì lớp tương đương với History 274 mà sao tôi lại nộp mạng vào cái lớp chết tiệt này? Ðúng là bỏ tiền ra ghi danh để ngồi nghe người ta chửi mình, chửi quân đội mình. Càng nghĩ tôi càng thấy tức! Thằng con trai thấy ông bố rầu rầu bèn lân la hỏi chuyện. Khi hiểu nguồn cơn nỗi buồn của tôi, nó mới cho tôi hay, năm ngoái nó cũng ghi danh học lớp này, và đã bị một “vố” đau. Ðể thoát thân, từ bài thi thứ nhì nó phải viết theo ý ông giáo. Vất vả lắm nó mới kiếm được đủ điểm.


Sau ngày có kết quả khảo hạch kỳ thứ nhì, tôi bỏ công xuống thư viện nghiên cứu, sao chép những tài liệu sử liên quan tới chiến tranh Việt Nam. Tôi không màng đến vấn đề chuyển tiếp lên University of Washington nữa. Tôi chờ, nếu có cơ hội là tôi sẽ “choảng nhau” với ông giáo phản chiến này một trận, rồi muốn ra sao thì ra. Tôi lục lạo kệ sách loại chọn lọc (preference) và tìm được một quyển Sử Ký, trong đó, chứa đựng nhiều tài liệu ghi chép rõ ràng những thành quả mà Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện được. Trong số những tài liệu quý giá đó, có cả một bài đề cập tới đơn vị tôi, Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Tôi vui mừng và cẩn thận photo copy những chứng cứ thu nhận được để dùng làm bằng chứng khi cãi lý với ông giáo sư dạy Sử. Tôi cũng tận dụng thời gian rảnh cuối tuần để sắp xếp cho có thứ tự những điều cần tranh luận. Tôi ghi sẵn những câu phê bình, những câu chất vấn thẳng thắn với thầy Dan về cung cách giáo dục học trò của ông, và về những tài liệu mà ông đã dùng để trợ huấn. Buổi học áp chót của mùa Fall chúng tôi có một giờ đầu thi A, B, C khoanh. Sau đó thày giáo phát đề bài làm ở nhà. Thời gian còn lại, thày sẽ giảng gợi ý cho bài tiểu luận. Bài tiểu luận sẽ phải giao nộp vào đầu giờ buổi học cuối cùng.Vừa nghe chuông giải lao, tôi tiến tới bàn ông giáo Sử. Dù trong bụng đã chuẩn bị sẵn một mớ ngôn từ đao to búa lớn cho một cuộc đấu khẩu sống mái, nhưng tôi vẫn dằn lòng, nhỏ nhẹ:


– Thưa giáo sư. Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua. Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không?


Thầy Dan niềm nở:


– Dĩ nhiên là được. Ông có điều gì cần cứ nói.


Thấy câu chuyện đã mở đầu trót lọt, tôi mạnh miệng:


– Thưa giáo sư, tôi là một người Việt Nam tị nạn. Tôi là một cựu sĩ quan của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên, thầy có nhắc đi, nhắc lại rằng, phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B 52 trên cao nguyên Việt Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia Drang. Thầy có biết không? Cũng vào ngày hôm đó, tôi đang tập dượt lễ mãn khóa sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Và mười năm sau, trước khi tàn cuộc chiến, vùng đất mà tôi chịu trách nhiệm trấn giữ cũng bao gồm cả cái Thung Lũng Ia Drang đó.


Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia Drang qua báo chí, truyền thanh, và truyền hình. Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó, đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó, đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó. Trong số những người nằm xuống ấy, không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy. Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày, vì nền độc lập của đất nước tôi, và vì quyền lợi của nước Mỹ. Thầy chưa từng khoác áo nhà binh, chưa một lần có mặt trên chiến trường. Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến, thế nào là lòng khát khao chiến thắng, thế nào là tình huynh đệ chi binh.


Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn hai chục thương binh què quặt của một đơn vị Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ, trong đó có hai người bị trọng thương; và vì sao một đại tá Hoa Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu. Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế cố tình xuyên tạc, bóp méo tất cả những c liên quan tới nguyên nhân, diễn tiến, và hậu quả của cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Từ đó, tên Việt Cộng khát máu HCM đã được tô vẽ, đánh bóng thành một vị lãnh tụ đức độ anh minh.


Chính tên sát nhân này và đảng Cộng Sản Việt Nam đã giết oan không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của tôi trong suốt thời gian ba mươi năm chiến tranh. Nằm trong số hàng trăm ngàn nạn nhân bị giết, tù đầy, thủ tiêu, cha tôi và chú tôi cũng bị chặt đầu trôi sông trong thời gian đó. Nếu chế độ cộng sản là tốt đẹp, thì đã không có một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp Ðịnh Geneve năm 1954, và sẽ chẳng có những cuộc vượt biên bi thảm của hàng triệu thuyền nhân trên biển bỏ quê hương sau khi Miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975. Thầy chỉ mới thấy hình bé gái Kim Phúc trần truồng, vừa khóc vừa chạy, thân mình phỏng cháy vì bom Napalm của quân Ðồng Minh đánh lầm vào nhà dân, mà thầy đã thấy xót xa, cho rằng quân Ðồng Minh tàn ác.


Nếu thầy ở vào vị trí của tôi, không hiểu thầy sẽ nghĩ sao? Ngày 18 tháng 4 năm 1974, sau khi tái chiếm Căn Cứ Hỏa Lực 711, Pleiku, tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh dã man chưa từng thấy. Trong một căn hầm trú ẩn đầy ruồi nhặng, trên chiếc giường tre là cái xác trần truồng của một người vợ lính. Chị bị Việt Cộng lột hết quần áo, bị hãm hiếp, rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê, ruột gan lòi lòng thòng. Trên nền đất, máu đọng thành vũng. Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân. Cháu bé bị trói hai tay, hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng, vào ngực. Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm chồng và cha của họ được vài ngày. Họ đã không kịp chạy khi Việt Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15 tháng 4 năm 1974.


Câu chuyện vừa tới đây thì hết giờ giải lao, học trò trở lại lớp. Ông giáo vỗ vai tôi,


– Ông cứ ngồi đây, ta sẽ tiếp tục.


Rồi ông lớn tiếng cho phép lớp nghỉ sớm, để học trò có thời gian chuẩn bị bài thi viết. Chờ cho người học trò sau cùng ra khỏi cửa, thầy Dan nói nhỏ với tôi,


– Ông hãy tiếp tục câu chuyện của một nhân chứng sống. Tôi mong được nghe thêm.


Tôi không ngần ngại, tiếp lời:


– Cám ơn giáo sư. Tôi chỉ nói những gì thấy tận mắt, nghe tận tai, và những gì xảy ra cho chính bản thân và gia đình tôi để thầy có một nhận định chính xác về cuộc chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng như thế nào đối với người dân Việt.


Tôi tâm sự với thầy Dan rằng, tôi là một học trò tốt nghiệp trung học vào đúng thời điểm đất nước lâm nguy nên tôi đã tình nguyện vào quân ngũ để cứu nước. Tôi tóm lược cuộc đời chinh chiến của mình cho ông giáo nghe. Tôi thấy thầy Dan đặc biệt lưu tâm tới những chiến dịch xảy ra trên Tây Nguyên, và ông có vẻ rất quen thuộc với những địa danh Ban Mê Thuột, Pleiku, Plei Me, Ðức Cơ, Kontum. Nghe tôi nói ở Tây Nguyên chiến trận, chết chóc xảy ra hàng ngày, ông vội hỏi,


– Mỗi lần ra trận, ông có sợ không?


Tôi cứ tình thực trả lời,


– Sợ chứ! Vào chỗ chết, ai mà không sợ? Nhưng tinh thần trách nhiệm đã làm cho tôi quên cái sợ.


Thấy ông giáo sư có vẻ muốn nghe truyện chiến trường, muốn hiểu tâm tư người đi trận ra sao, tôi đã không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của tôi trong trận Dak Tô năm 1969. Cuối trận này tôi đã phải mở khói đỏ yêu cầu máy bay đánh ngay trên đầu mình để cùng chết với quân thù. Vào giờ phút tuyệt vọng nhứt của trận đánh đó, tôi đã nghĩ gì, tôi cũng thổ lộ cho ông giáo biết. Ông giáo sư đã từng nghe nói tới cái tên “Ðường Mòn HCM” nhưng chưa bao giờ ông ngờ rằng đó là cả một hệ thống đường giao thông chằng chịt che giấu dưới rừng già dọc Trường Sơn. Tôi đã chia sẻ với ông những cảm giác hồi hộp, căng thẳng của người có cái kinh nghiệm đi toán Viễn Thám săn tin dọc biên giới Việt Miên Lào từ Khâm Ðức tới Bu Prang vào những năm 1972-1973.


Ông cũng rất hứng thú khi nghe tôi thuyết trình về kỹ thuật bắn xe tank mà Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã áp dụng trong trận Xuân Lộc tháng 4 năm 1975. Trận Xuân Lộc này ông có nghe qua, nhưng ông không ngờ, một trong những cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh lừng lẫy ấy đang ngồi trước mặt ông. Tôi không quên nói tới những lần dừng quân bên xóm làng quê nghèo nàn, nhận những bát nước chè xanh, những củ khoai luộc của đồng bào tôi đem ra mời mọc. Tình quân dân cá nước ấy đã là những liều thuốc bổ giúp tinh thần chúng tôi mạnh mẽ hơn khi đối mặt với quân thù. Tôi thuật lại cho thầy nghe, trong tình thế hoàn toàn tuyệt vọng, chúng tôi đã chiến đấu kiên cường như thế nào.


Và sau khi biết rằng chỉ trong vòng một tháng cuối cùng, chín mươi phần trăm của quân số hơn năm trăm người thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chết vì tổ quốc, thì ông giáo đã giơ hai tay lên trời, lắc đầu thốt ra hai tiếng,


– Trời ơi!”


Thầy Dan cũng muốn tìm hiểu xem, sau khi mất nước thì số phận của tôi và gần một triệu quân nhân, công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ra sao. Ông đã trố mắt ngạc nhiên khi biết ra rằng, từ sau tháng 4 năm 1975, khắp đất nước tôi, “Trại Cải Tạo” đã mọc lên như nấm. Cái tên “Re Education Camp” mà ông đã nghe qua, trên thực tế chỉ là những trại tù khổ sai. Những “học viên” trong các trại đó sống không khác gì những con vật, quằn quại với cái đói. Họ bị ép buộc làm việc tới kiệt lực. Tinh thần bị khủng bố, căng thẳng liên miên bởi những buổi ngồi đồng học tập, phê bình, bầu bán. Tôi thú thật với ông giáo rằng, trong thời gian đó, tôi chỉ nghĩ tới tự do; làm sao để tìm lại được tự do, dù có chết cũng cam lòng. Ông giáo đã tỏ ra say mê theo dõi truyện hai lần tôi trốn trại thất bại, cùng những cực hình mà tôi phải gánh chịu. Tôi cũng không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của vợ tôi ngày đó, một nách bốn đứa con thơ dại, vất vả, tảo tần nuôi con, chờ chồng trong 13 năm tôi bị giam giữ, tù đầy.


Tôi cho ông giáo biết tôi là người sinh ra tại Miền Bắc Việt Nam. Tháng 7 năm 1954 gia đình tôi đã cùng gần một triệu người khác di cư vào Nam để trốn lánh cộng sản. Tôi cặn kẽ phân tích cho thầy rõ, sau Hiệp Ðịnh Geneve năm đó, hai miền Nam, Bắc Việt Nam đã thành hai quốc gia, độc lập và có chủ quyền, có biên giới. Chính HCM và đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương, phát động và điên rồ theo đuổi một cuộc chiến tranh tiến chiếm Miền Nam. Quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa chỉ làm nhiệm vụ tự vệ. Quân Mỹ và Ðồng Minh vào Việt Nam là để phụ giúp chúng tôi chống lại một cuộc xâm lược từ phương Bắc.


Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng, thiếu tinh thần chiến đấu, mà vì người Mỹ đã phản bội, nửa đường rút quân, cắt viện trợ. Từ khi người Mỹ rút lui, chúng tôi bị bó chân bó tay, bụng đói mà vẫn phải chiến đấu. Trong khi đó, Miền Bắc lại tràn ngập lương thực, quân dụng, quân nhu, và vũ khí viện trợ từ khối Cộng. Thời gian khởi đầu chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh, còn được cung ứng vũ khí, lương thực dồi dào, chúng tôi đã chứng tỏ khả năng có thể cáng đáng bất cứ nhiệm vụ nào của quân đội Ðồng Minh bàn giao lại. Ðể chứng minh điều này, tôi mở tờ copy từ quyển History của thư viện, trong đó có sơ đồ các cánh quân Việt Nam Cộng Hòa vượt biên tiến chiếm miền Bắc Cam Bốt trong chiến dịch Bình Tây 1, 2, 3 cuối năm 1970 của Quân Ðoàn II. Tôi chỉ cho ông cái dấu hiệu quân sự hình tam giác có chữ R ở giữa, cạnh trên có ba cọng râu, bên trái là con số 2,


– Ðây! Thưa thầy, cuối năm 1970, tại vùng 2 Chiến Thuật, chúng tôi đã đánh đuổi quân Bắc Việt tới bờ đông của sông Mê Kông trên đất Miên. Ngày đó tôi là người chỉ huy một đơn vị trực thuộc Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Tôi đã đánh chiếm thành phố Ba Kev, và đóng quân tại nơi này một thời gian. Chúng tôi đã chứng tỏ rằng khả năng chiến đấu của chúng tôi đã hơn hẳn quân đội Bắc Việt. Nhưng những năm sau, viện trợ cắt giảm dần. Mặc dầu tinh thần của chúng tôi không suy giảm, nhưng chiến đấu trong cảnh thiếu thốn thường xuyên, chúng tôi vất vả lắm. Tôi xin đan cử ra đây một so sánh để thầy thấy rõ sự khác biệt.


Trước khi Mỹ rút, tháng 6 năm 1968, có một lần tôi đang dàn quân tiến chiếm một ngọn đồi thì Bộ Chỉ Huy Task Force South của Mỹ ở Ðà Lạt đã bắt tôi ngừng lại để chờ pháo binh và không quân yểm trợ. Tôi đã nhận được một phi tuần hai phi xuất F4C và sau đó là một hỏa tập tám trăm quả đạn đại bác 105 ly trên mục tiêu trước khi xung phong. Mục tiêu đó chỉ rộng bằng diện tích khuôn viên trường Shoreline C. C. này. Chỉ hơn một năm sau khi Mỹ rút, tháng 8 năm 1974, tiền đồn Plei Me do tôi trấn giữ đã bị một lực lượng địch đông gấp chín lần vây hãm 34 ngày đêm. Plei Me cũng chỉ rộng bằng trường Shoreline C.C. thôi. Vậy mà mỗi ngày chúng tôi đã hứng chịu từ một ngàn tới hai ngàn viên đạn pháo cối của địch. Ðể chống lại, ngoài hai khẩu 155 ly của quân bạn yểm trợ từ xa, tôi chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly. Vì tình trạng khan hiếm, tôi chỉ được phép bắn theo cấp số đạn giới hạn là bốn viên cho mỗi khẩu súng một ngày. Chiến đấu trong tình trạng thiếu thốn như thế, chúng tôi vẫn chiến thắng. Thầy nghĩ sao về chuyện này?


Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy, chúng tôi đã hy sinh như thế đấy, và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy. Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến, trong đó có thầy, lại xuống đường tranh đấu, cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi, và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa Kỳ? Thầy ơi! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù, đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy. Nhân dịp này, tôi cũng chuyển lại cho thầy nghe tâm sự của anh Bill, một bạn cựu quân nhân Mỹ trở về từ Việt Nam năm 1973. Anh Bill hiện nay (2000) là Supervisor của hãng mà tôi đang làm việc. Ðây là lời của anh ấy,


– Bạn có cảm thông nỗi đau đớn của chúng tôi ngày đó không? Hôm chúng tôi cặp bờ Everett, Washington, dân chúng Mỹ, kể cả những người thân, tiếp đón chúng tôi bằng cách giơ cao ngoắc ngoắc ngón tay giữa! Ði đâu chúng tôi cũng bị nhìn với đôi mắt khinh khi. Bao nhiêu ê chề nhục nhã đổ lên đầu người thua trận. Thua trận đâu phải lỗi của chúng tôi? Có bạn tôi đã buồn mà tự tử. Rồi tôi bị giải ngũ. Thời gian ấy kiếm được một việc làm là điều khó khăn trần ai. Hãng xưởng nào cũng không mặn mà với những hồ sơ xin việc của những cựu chiến binh. Cũng may, có người bạn học thời Mẫu Giáo đã giới thiệu tôi vào làm việc cho hãng này. Lương hướng thời ấy chỉ có 3 USD một giờ cũng đã khiến tôi mừng quá lắm rồi.


Sau câu chuyện này, tôi chuyển sang phê bình cách giảng dạy của ông thầy, tôi nói thẳng với ông giáo sư rằng, bao năm nay ông đã bóp méo lịch sử của cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam, làm như thế ông đã phạm tội đối với lịch sử. Cách giảng dạy của ông đã gieo vào trí óc học trò những thành kiến sai lầm đối với Việt Nam Cộng Hòa, làm giảm giá trị sự trợ giúp của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đối với nước tôi. Cuối cùng, tôi hỏi ông giáo,


– Thầy còn nhớ, năm ngoái, có một cậu bé Việt Nam, mặt mày sáng sủa, lông mày rậm, tóc hớt kiểu nhà binh theo học lớp Sử 274 này không?


– Nhớ chứ! Mỗi lớp chỉ có vài học trò Á Châu, dĩ nhiên là tôi nhớ!


– Cậu bé Việt Nam đó chính là thằng con út của tôi! Năm ngoái, bài tiểu luận đầu của nó bị điểm “không” (0) vì nó viết theo quan điểm của một người dân Miền Nam. Những bài sau nó phải đổi cách viết, để thầy cho điểm khá hơn. Tôi là cha nó; tôi là một trong những người chứng kiến, tham gia và trực tiếp gánh chịu hậu quả của cuộc chiến tranh vừa qua; tôi không thể làm như con tôi được. Tôi đã nói hết những đều cần nói với giáo sư, và tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả.


Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ,


– Tôi tin lời ông, vì chẳng có lý do gì để ông nói dối. Có điều là, từ đó tới nay, hơn hai mươi năm dài, kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ, chưa ai nói cho tôi nghe những điều này. Có thể, người ta muốn quên đi quá khứ, hoặc là người ta không có can đảm nói ra. Tôi đã hiểu, và tôi phải cám ơn ông. Ông quả là một chiến binh thực thụ.


Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư, lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng. Trước mắt tôi, ông đã thành một người bạn đồng minh, ông đưa bàn tay hộ pháp ra cho tôi bắt,


– Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công!


Ðêm ấy trên đường về nhà, lòng tôi rộn ràng như thuở nào giữa sân vận động Pleiku, sau chiến thắng Plei-Me, tôi đã đứng trước một đoàn hùng binh, quần áo hoa rừng, nhận những vòng hoa rực rỡ, tai nghe bản nhạc “Bài Ca Chiến Thắng” do ban quân nhạc Quân Ðoàn II hòa tấu.


Ngày chấm dứt mùa Fall năm 2000 ông thầy dạy Sử tươi cười trao cho tôi bản tổng kết cuối khóa, trên đó điểm trung bình (GPA) lớp History 274 của tôi ghi 4 chấm (4.00).


Cuối mùa Spring 2001 tôi dự lễ cấp văn bằng tốt nghiệp A.A. nơi vận động trường có mái che của Shoreline Community College. Khán đài đông nghẹt thân nhân. Vợ tôi và bốn đứa con tôi cũng có mặt ngày hôm ấy. Khi người điều hành gọi tên tôi lên bục để nhận văn bằng, cả hội trường đều ngạc nhiên vì thấy nơi hàng ghế giữa của khu giáo sư có tiếng ai gào lên như tiếng sấm:


– Long! I’m proud of you!


Ðến lúc bà hiệu trưởng bắt tay tôi thì ông giáo Dan đứng dậy, bắc loa tay hướng về sân khấu, “My soldier! I’m loving you!”


Ông là một người cao lớn. Trong chiếc áo thụng đen, trông ông dềnh dàng như nhân vật chính trong phim “Người Dơi.”


Những người có mặt trong hội trường buổi ấy đều quay mặt nhìn về hướng ông giáo, ai cũng ngạc nhiên vì hành động phá lệ của một ông thầy xưa nay nổi tiếng là mô phạm. Thấy ông giáo Dan réo tên tôi ầm ầm, vợ con tôi và những khán giả ngồi trên khán đài cũng vỗ tay, reo hò, la hét theo. Hai năm sau, khi tốt nghiệp B.A. từ University of Washington, tôi về thăm và báo cho ông biết, ông vui lắm.


Từ đó cho tới khi tôi ngồi viết lại những dòng này (2011) hàng chục ngàn học trò đã tới, rồi giã từ Shoreline Community College. Và chắc chắn, hàng trăm lượt người trẻ tuổi đã đi qua lớp History 274. Mười một năm qua, tôi vẫn nhớ buổi tối năm nào, tôi với ông giáo sư dạy Sử đã ngồi tâm sự với nhau. Lời khen của ông, mà tôi quý như một tấm huy chương, vẫn còn văng vẳng,


– Thưa người chiến binh. Ông vừa lập một chiến công!


Seattle, tháng 7 năm 2011


Vương Mộng Long K20

Triển lãm vườn Xuân năm thứ 23 tại South Coast Plaza


COSTA MESA (NV) –
Làm vườn từ khi mới ba tuổi, bà Pat Welsh sẽ xuất hiện tuần này tại một nơi dành cho người hâm mộ “Triển lãm vườn Xuân” năm thứ 23 tại South Coast Plaza. Bà là tác giả cuốn sách “Pat Welsh’s Southern California Organic Gardening,” một tác phẩm cổ điển được yêu chuộng vừa mới được sửa đổi do Chronicle Books xuất bản.

Hoa lan triển lãm tại South Coast Plaza. (Hình: www.springgardenshow.com)

Ðược biết, đây là cuộc triển lãm lớn nhất ở miền Tây Hoa Kỳ, và thu hút hơn 100,000 người.

“Khung cảnh thật quyến rũ và hoàn toàn thú vị,” bà nói. “Thật khó thấy các cửa hàng ở đây bởi vì bầu không khí phản ánh rất nhiều màu sắc thiên nhiên.”

Chủ đề năm nay tập trung vào khu vườn chữa bệnh, các cây cảnh trưng bày màu sắc tuyệt đẹp, thơm tho. Ngoài ra, còn có các phòng đặc biệt dành cho các hoạt động của trẻ em như thủ công, các dự án làm vườn và các sô trình diễn chim hiếm quý, cùng với các cuộc hội thảo dành cho người lớn.

Trong phần hướng dẫn hàng tháng, bà Pat Welsh giải thích lịch trình trồng các loại rau phổ biến nhất trong luống để trên cao hoặc trên mặt đất, sử dụng thời gian làm sao để tránh các vấn đề và chỉ dẫn tiết kiệm tiền như phân bón miễn phí. Bà sẽ nói chuyện và trả lời các câu hỏi của khán giả vào ngày Thứ Bảy, từ 1 đến 2 giờ 30 chiều, “Hãy đến xem để thấy những người trồng, các loại cây và các trang bị đặc biệt kỳ diệu,” bà nói: “Bây giờ là thời dùng vườn nhà trồng cây lấy.”

Ðể biết lịch trình của diễn giả khác và các chi tiết, xin vào: www.springgardenshow.com. (L.N.)


 

Triển lãm vườn Xuân năm thứ 23 tại South Coast Plaza

“The Garden As Art Gallery”

*Trồng Hoa Lan tại Orange County

Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, từ 12:15pm-13:15pm

*Hướng dẫn biến cảnh hoa lan thành khu vườn chữa bệnh

Chủ Nhật, 29 Tháng Tư, từ 5:15pm-06:15pm

Ðịa chỉ: Phía South Coast Plaza Crate & Barrel/Macy’s Home Store

San Diego Freeway (405) góc đường Bristol, Costa Mesa

 

Thương tiếc một ân nhân của người Việt tị nạn ở Ðan Mạch


Hà Giang/Người Việt


 


Không gian tại trụ sở chính của A.P. Møller-Mærsk, tại Copenhagen, Ðan Mạch, hôm Thứ Sáu 20 Tháng Tư như ngừng đọng, nhân viên của hãng đi lại với khuôn mặt khép kín, những lá cờ thường ngày phất phới bay cao được hạ xuống nửa chừng. Chủ hãng và vị lãnh đạo tài ba đáng kính của hãng, ông Maersk Mc-Kinney Moeller, vừa qua đời mấy hôm, hưởng thọ 98 tuổi.


 


Vô cùng thương tiếc


 


Trong gian phòng kín hoa tang, một nhóm người Việt cư ngụ tại Arhus theo chân dòng người đến phúng điếu, trịnh trọng khiêng vào một vòng hoa nữa, trên sợi miếng vải tím lớn là hai hàng chữ “Thuyền nhân Việt Nam xin tri ân” và “Vô cùng thương tiếc.”










Ông Maersk Mc-Kinney Moeller, chủ hãng và lãnh đạo tài ba đáng kính của A.P. Møller-Mærsk Moeller, ân nhân của nhiều người tị nạn Việt Nam, vừa qua đời, hưởng thọ 98 tuổi. (Hình: AP)


Ðón tiếp họ, người nhân viên tiếp tân có vẻ hơi ngạc nhiên, nhưng cảm động. Hoa của nhóm thuyền nhân Việt Nam không lộng lẫy và lớn so với vòng hoa của những nhân vật và cơ sở quan trọng, nhưng vẻ mặt chân thành và nặng trĩu xúc cảm của họ thì khó ai bì.


Họ là những người đại diện tất cả thuyền nhân Việt Nam và gia đình tại Arhus và khắp Ðan Mạch, đại diện thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, thuyền trưởng con tàu Trường Xuân, và gần 4,000 thuyền nhân được tàu Clara Maersk cứu vớt năm 1975 trong những giờ phút nguy kịch nhất trên đường vượt biển tìm tự do.


Họ là những người trước kia cùng chịu ơn cứu tử của ông Maersk Mc-Kinney Moeller, và giờ đây chia sẻ một nỗi tiếc thương chung.


Nhìn họ lặng lẽ đến ghi lời phúng điếu vào một cuốn sổ lưu niệm, người nhân viên hãng Maersk chợt nhớ đến tinh thần biết ơn của người Việt Nam, đã từng được ông Thorkild Simonsen, bộ trưởng Bộ Nội Vụ Ðan Mạch ca ngợi, khi ông nói “đất nước Ðan Mạch cứu giúp nhiều giống dân, nhưng chưa ai nói được lời cám ơn như người Việt Nam.”


 


Nhưng ai có thể quên được ơn cứu tử?


 


Tiếp xúc với phóng viên người Việt qua điện thoại, bà Mỹ Linh Nguyễn, thuyền nhân trên con tầu Trường Xuân được cứu vớt cách đây 37 năm, và giờ là một nhân viên của hãng A.P. Møller-Mærsk, cho biết “hôm đó nếu không có tàu Clara Maersk đến cứu thì chúng tôi chết hết cả rồi.”


Không chỉ tàu Trường Xuân, mà phần lớn những thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn ở Ðan Mạch từng được các tàu chở hàng của công ty hàng hải lớn bậc nhất thế giới này cứu vớt.


Thế nên, tin ông Maersk Mc-Kinney Moeller qua đời được người Việt tị nạn ở khắp Ðan Mạch truyền nhau với nỗi ngậm ngùi, và người ta được ôn lại những hình ảnh khốn cùng và giây phút thoát hiểm xẩy ra cách đây gần bốn thập niên.


 


Ôn chuyện cũ, người tị nạn nhớ ơn xưa


 


Trong một buổi họp bạn tại Odense, cách Copenhagen khoảng 150 cây số, chị Minh Thu Nguyễn, 49 tuổi, vượt biên năm 1979, kể lại cảnh được tầu của hãng Maersk vớt, và nhấn mạnh là nếu không may mắn gặp được tàu, có lẽ chị đã vùi thân xuống biển.


Cùng 74 người khác, chị Minh Thu rời bến từ Cam Ranh, trên hai con tầu khác nhau, một chở nước và thức ăn, một chở người. Chưa ra đến cửa biển, tàu chở lương thực bị bắt lại, tàu chở người tiếp tục đi.










Vòng hoa phúng điếu ông Maersk Mc-Kinney Moeller, của người Việt tị nạn tại Ðan Mạch. (Hình: Mỹ Linh Nguyễn cung cấp)


Sau 14 ngày lênh đênh trên biển, hết thức ăn, hết nước, mọi người trên tầu gần như chết lả. Ðang lúc tuyệt vọng, một máy bay trực thăng bay vòng vòng trên không quăng xuống một cái chai. Chị Minh Thu nói còn nhớ rõ người trên tầu lúc đó nhôn nhao tìm cách vớt chai, mở ra thì trong có miếng giấy viết hỏi tàu đang đi về hướng nào, có phải là thuyền nhân không, và nếu cần cấp cứu thì đốt khói.


Trong giây phút cực kỳ tuyệt vọng, cái chai, miếng giấy, và chiếc trực thăng không biết của nước nào, là biểu hiện cho nguồn hy vọng duy nhất, hay đúng hơn, một phép lạ.


Một người biết tiếng Anh trên tàu nhanh chóng viết lại một tờ giấy khác bỏ vào lọ, cho biết mọi người sắp lả vì đói khát. Trong khi đó, thuyền trưởng của con tàu tị nạn dùng bánh xe và quần áo đốt lên thành chữ “SOS.”


Sau những vòng khói um tùm, và vài cái chai được vớt lên thả xuống, và không đầy 2 tiếng đồng hồ sau, chiếc tầu của Maersk xuất hiện, đến gần.


Thủy thủ đoàn trên tàu Maersk thả thang dây xuống, nhưng mọi người yếu lả không ai lên nổi, thế là họ lại leo xuống đỡ từng người lên. Vớt xong người cuối cùng, thủy thủ đoàn Maersk đập vỡ thuyền cho chìm xuống biển.


“Chỉ trễ một ngày nữa là chết hết!” Chị Minh Thu nói.


Ông Hà Văn Thành, một dân cư khác của Odense, cho biết ông vượt biên năm 1981, vài ngày sau Tết, chen chúc cùng 87 người khác trên chiếc thuyền dài 11 thước.


Lênh đênh 6 ngày, thuyền ông Thành ra đến hải phận quốc tế thì khoang chứa nước bị nước mặn ngấm vào. Nguy kịch, thuyền trưởng liên tục gửi tín hiệu xin cấp cứu, gặp hơn 20 tầu, nhưng không tàu nào chịu vớt.


Ông Thành kể rằng sáng hôm đó hết sạch không còn một giọt nước, những người yếu sức lờ đờ nửa mê nửa tỉnh. Riêng ông, và có lúc chợt thấy một chiếc tàu to, rồi lại không thấy, nên tưởng mình bị choáng váng. Một lúc sau định thần, mới thấy là thuyền đang bị sóng nhồi, và lúc sóng đưa thuyền lên cao thì thấy tầu lớn, lúc xuống thấp lại không thấy nữa.


Tàu đến gần hơn, chữ “Maersk” cũng hiện rõ dần. Thuyền trưởng và một số thanh niên tìm được ở đâu ra miếng vải lớn, viết chữ “Water” rồi căng lên. Sau này nói chuyện mới biết tàu mang tên Maersk thấy thuyền tị nạn, nhưng vẫn ở xa theo dõi từ 8 giờ sáng. Mười hai giờ trưa, tầu đến gần hơn, thả ống nước xuống, mọi người lấy nước từ ống đổ vào đầy các sô. Thuyền trưởng tầu Maersk giới thiệu họ là tầu Ðan Mạch bảo rằng sắp có bão rất lớn, thuyền nhỏ không thể sống sót, nên bắt đầu xúc tiến việc vớt hết người tị nạn lên tầu.


“Vớt hết người xong họ chia đàn ông và đàn bà ra hai phòng riêng, cho tắm rửa rồi cho ăn liền.” Ông Thành kể, rồi cười: “Lúc đó tôi tự hỏi không biết sao tầu họ có nhiều buồng tắm thế!”










Gần 4,000 người tị nạn Việt Nam của tầu Trường Xuân được vớt lên tầu của hãng Maersk vào Tháng Năm, 1975. (Hình: Mỹ Linh Nguyễn cung cấp)


Ðược tàu của hãng Maersk cứu sống còn có ông Nguyễn Kim Hải, cũng vượt biên với khoảng 80 người khác trên một con thuyền mong manh, được tị nạn ở Ðan Mạch lúc mới 29 tuổi, sau này làm kiến trúc sư hàng hải và làm việc thiết kế cho hãng A.P. Mợller-Mỉrsk suốt 5 năm trời.


Qua điện thoại, ông Hải cho biết lý do theo ngành này, và làm cho hãng, là để trả ơn.


“Lúc nào tôi cũng nghĩ rằng ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây. Lúc xưa vượt biên tôi tưởng chết rồi, nhưng nhờ lòng tốt của ông Maersk Mc-Kinney Moeller mà được sống, nên tôi muốn hiến mình cho ngành hàng hải, biết đâu sau này mình cứu được người khác,” ông Hải chia sẻ.


Ông Maersk Mc-Kinney Moeller qua đời để lại biết bao nhiêu tiếc thương. Ðám tang ông có cả gia đình của hoàng gia Ðan Mạch đến dự.


Ở nước ngoài, ông là người đầu tiên không phải người Mỹ được vào Hội Ðồng Quản Trị của công ty IBM, vị trí ông giữ vững trong vòng 14 năm. Ở trong nước, ông được trao danh tước “Danish Order of the Elephant,” một tước vị mà chỉ một vài người Ðan Mạch không thuộc hoàng gia, hay không phải là quốc trưởng, được có vinh hạnh khoác lấy.


Dưới sự lãnh đạo của ông, từ một vị trí khiêm nhường, AP Moller-Maersk Group trở thành công ty có gần 117,000 nhân viên, làm việc ở hơn 130 quốc gia.


Nhưng thật ra, dù ông chỉ là một người bình thường, ơn cứu mạng của ông vẫn được người Việt tị nạn tại Ðan Mạch mãi mãi khắc ghi.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tình và lý

Tạp ghi Huy Phương

 

 

Cuối tháng 12, 1998, Trần Trường, chủ tiệm Hi-Tek, sang băng phim truyện trên đường Bolsa, California, treo cờ Việt Cộng và ảnh Hồ Chí Minh trong tiệm của y, tại phố Bolsa, quận Cam, California.

Biểu tình chống Trần Trường. (Hình: Lý Kiến Trúc)

Cậy mình đang ở trên một xứ sở tự do, theo tu chính án số I của Hiến Pháp Hoa Kỳ, Trần Trường cũng như mọi công dân Hoa Kỳ được bảo vệ quyền tự do phát biểu, không ai có quyền bắt Trần Trường phải tháo gỡ ảnh và cờ của y xuống. Người ta nói y khùng, vì chính lá cờ và bản mặt này, mà y đã bỏ nhà cửa, mồ mả ông cha vượt biên đến Mỹ, bây giờ đến một lúc mà y nghĩ có quyền tự do của một công dân Mỹ, y nghĩ có quyền làm những việc y thích. Trần Trường được sự bênh vực của các luật sư Mỹ trong hội ACLU, được cảnh sát bảo vệ tối đa.

Y tin tưởng vào lý, nhưng về tình, Trần Trường đã xát muối lên vết thương của đồng bào, gây sự phẫn nộ cho hàng nghìn người Việt tỵ nạn cộng sản, tập trung đến khu phố này, để biểu dương thái độ chống hành động thách thức của một thành viên trong cộng đồng. Y có quyền tự do phát biểu thì đồng bào ở đây cũng có quyền bày tỏ thái độ của mình. Từ ngày 19 tháng 1, 1999, mỗi ngày có hằng trăm người tập trung trước cửa tiệm để biểu tình chống đối và đòi Trần Trường phải hạ cờ và ảnh Hồ. Không ai dùng quyền và lý để phô trương hình ảnh Hitler trong cộng đồng Do Thái mà ruột thịt của họ đã chết trong lò thiêu của Ðức Quốc Xã, cũng như Pol Pot đối với tập thể người Kampuchea sống sót sau thảm kịch Kmer Ðỏ. Chuyện treo ảnh và cờ đỏ có thể là chuyện nhỏ trong một thế giới lớn, nhưng là cái gai nhọn đâm vào con mắt người tị nạn phải nhổ đi.

Cao điểm nhất là vào tối ngày 20 tháng 2, 1999, theo lời kêu gọi của báo chí truyền thông Việt Nam hàng nghìn người Việt Nam đã tập họp tại khu phố Hi-Tek này, mang theo cờ và biểu ngữ đả đảo cộng sản, hát nhạc tranh đấu, lên án thái độ của Trần Trường và đả đảo chế độ cộng sản. Cảnh sát Westminster đã huy động hằng trăm cảnh sát với chó nghiệp vụ, vũ khí, xe chữa lửa, sẵn sàng đương đầu với người biểu tình.

Cuối cùng, cuộc tranh đấu ôn hòa nhưng quyết liệt, ròng rã trong 53 ngày đêm của đồng bào Nam California, được sự đồng tình chi viện của nhiều nơi, đã đưa đến thắng lợi. Ðể tránh sự giao động bất an, mất trật tự thành phố, trong bóng tối, đã có người gỡ ảnh và cờ trong tiệm Hi-Tek xuống đem đi và Trần Trường đối diện với luật pháp vì tội danh sang băng lậu.

Hiện nay vì nhu cầu đổi không khí, trong nước thèm nhạc vàng, và vì thù lao cao gấp nhiều lần, ca sĩ hải ngoại đua nhau về trình diễn trong nước càng ngày càng đông, và đôi khi vì muốn lấy lòng các cơ quan chính quyền trong nước, đám ca sĩ này thường tuyên bố với báo chí và truyền thông những lời tâng bốc, ca tụng rất sống sượng. Ca sĩ có quyền về hát ở trong nước, họ cũng có quyền tuyên bố vung vít như vậy, kể cả phủ nhận những tình cảm và sự vinh danh của hải ngoại đã dành cho họ, nuôi họ từ ngày chân ướt chân ráo bước chân lên mảnh đất tự do. Bây giờ đã đến lúc “trắng da dài tóc,” lại sắp qua thời son trẻ, nên vội vàng tranh thủ đi Việt Nam kiếm tiền. Nhưng nói về tình, trong một đất nước bất công đang xẩy ra hằng ngày, những nhà tranh đấu đang bị giam cầm, tù đày, các ca sĩ lại là những người tỵ nạn đã bỏ đất nước ra đi, nay lại quay về nhởn nhơ như bầy “thương nữ hát khúc Hậu Ðình Hoa,” nên lấy tấm gương Việt Khang mà tìm lại chút lòng liêm sỉ. Và cũng đừng nên “qua sông phụ sóng,” xem thường khán giả hải ngoại đã nuôi họ những ngày đầu khó khăn, như lời tuyên bố “ca sĩ về Việt Nam là vì họ cần khán giả.” Như vậy phải chăng người ta đánh giá hải ngoại toàn “tai trâu!”

Ngay những ca sĩ khi về trình diễn Việt Nam mặc trang phục hở hang, quê mùa, thiếu thẩm mỹ, tưởng như vậy là độc đáo, ăn khách, đã bị chính báo chí trong nước lên án, chê bai, đến nỗi phải cúi đầu chịu nhục xin lỗi. Về tình, cũng là cái nhục chung cho hải ngoại, khi người trong nước có cái nhìn “cá mè một lứa,” vì những người này lại trở về ca hát, nhún nhẩy trên sân khấu hải ngoại!

Chúng tôi cũng biết rằng ngày 3/2, 2/9, 30/4… không phải là ngày riêng của ai, cho nên ai muốn nghĩ gì thì cứ nghĩ, ai muốn làm gì thì làm. Nhưng không lẽ khi nhà hàng xóm có ông bố vừa mới mất mà chúng ta rước ban nhạc về nhà ca hát suốt đêm. Về lý không ai cấm đoán, nhưng về tình, sao nỡ nào muối mặt đi làm những chuyện như vậy.

Ðối với miền Nam, biến cố 30 tháng 4, 1975 là ngày “mất nước,” “đứt phim,” “tan hàng,” “ngày quốc hận,” tháng 4 là “Tháng Tư Ðen,” một thời điểm ô nhục, mang nỗi đau của người lưu vong phải sống xa quê hương, nhưng cũng có người không quan tâm, nếu ngày đó không mang dấu ấn gì, phải chăng họ và gia đình ở trong số “một triệu người vui,” có sá gì đến chuyện bên cạnh đó, có “một triệu người buồn!”

Tại Nam Cali, các vị dân cử đại diện cho những địa hạt có nhiều cử tri Việt Nam đã là đồng tác giả nghị quyết “Tuần Tưởng Niệm Tháng Tư Ðen.” Nghị quyết được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của 66 đồng viện và được thông qua với tỷ số 100% tại Hạ Viện California ngày 16 tháng 4, 2012 với mục đích: “Mong muốn được chia sẻ nỗi đau buồn với dân tộc Việt Nam và vinh danh các chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam trong Tuần Tháng Tư Ðen.” Người Mỹ kêu gọi dành thời gian 30 tháng 4 để tưởng nhớ những người đã hy sinh, thông cảm nỗi đau buồn của chúng ta, trong khi chúng ta, những người đã là nạn nhân của ngày 30 tháng 4, có thể nào cho rằng tôi không cần biết ngày này, tôi muốn đi đâu, làm gì thì làm.

Trong tình nghĩa, người Việt chúng ta đâu có thể coi ngày 30 tháng 4 cũng như mọi ngày, một ngày cuối tuần, một ngày lễ, một ngày để vui chơi, hội hè, một ngày thuận lợi để kiếm khách, đàn ca hát xướng theo sở thích riêng của mình? Ðem mục đích chính trị đặt cho một buổi trình diễn văn nghệ như thế theo tôi là hơi cao, vì sao chúng ta không nghĩ chẳng qua lý do là bởi đồng tiền, mà mỗi khi đã vì tiền, người ta có thể quên tất cả.

Trong luật giao thông của DMV, vấn đề an toàn quan trọng hơn là quyền ưu tiên khi lái xe, mặc dầu quyền ưu tiên thuộc về pháp lý.

Và không phải lúc nào chúng ta cũng hãnh tiến, lấy lý sự ra mà đương đầu, đối đáp, nhiều lúc phải xử sự, lấy tình nghĩa ra mà ăn ở với nhau. Những chuyện chúng ta lấy làm vui, cho là phải, chúng ta có quyền làm, nhưng nếu làm cho người khác bị tổn thương, đau xót thì sao? Ðến một lúc nào đó, người ta sống không phải vì tiền, cũng không phải vì danh vọng, nhưng sống sao cho thuận với lòng người, không thẹn với lương tâm, không phản bội những người đã chết, sống sao cho được là người tử tế, không phải để thỏa mãn lòng tự ái nhất thời, cho dư luận chỉ là lời gió thoảng. Lắng nghe dư luận không phải là có đầu óc nô lệ, mà là có tri thức. Ông Âu Dương Tu, đời Tống cho rằng, trong đạo làm người, bỏ ngoài tai lời thiên hạ, khinh thường mà không suy xét, thì trăm việc đều hư, mà đưa đến sự tan vỡ!

Tình và lý như chuyện những đứa con bất hiếu, bỏ bê cha mẹ, không xã hội nào lấy luật pháp, lý lẽ ra mà trừng phạt, cũng không thể dùng xe bắt chó mà xử lý, nhưng về tình nghĩa, đạo lý, dư luận có quyền lên án hay không?

Bà Bùi Thị Minh Hằng có tin được tha, nhưng 2 ngày vẫn chưa về

 

HÀ NỘI (NV) Bà Bùi Thị Minh Hằng, một người kiên trì biểu tình bảo vệ chủ quyền biển Đông và bị bắt đi cải tạo, được báo chi trong nước đưa tin là đã được thả hôm 26 tháng 4 nhân dịp lễ. Tuy nhiên, hai ngày sau bà vẫn chưa về nhà.

Bà Bùi Thị Minh Hằng trong một cuộc biểu tình tại Hà Nội năm 2011. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)

Báo An Ninh Thủ Đô, thuộc Sở Công An Hà Nội, đưa tin bà Hằng được “bàn giao cho chính quyền địa phương.”

Tuy nhiên, một số thân hữu tới nhà bà Hằng ở Vũng Tàu thông báo trên các mạng xã hội, tới đêm 28, rạng sáng ngày 29, bà Hằng vẫn chưa có tin gì.

Trang blog Nguyễn Xuân Diện đưa tin khi đọc lệnh thả và “khoan hồng,” bà Hằng không chấp nhận và không ra khỏi trại.

Bà Hằng hiện đang khiếu nại quyết định đưa đi cải tạo, do Luật sư Hà Huy Sơn đại diện. Tuy nhiên, Ủy ban Nhân dân Hà Nội từ chối không trả lời đơn khiếu nại do không có chữ ký bà Hằng.

Bà Hằng được nhiều người biết đến vì khi đi biểu tình bà thường xuyên mặc áo dài nghiêm chỉnh.

Trong cuộc biểu tình tại Hà Nội ngày 21 tháng 8, 2011, đoàn biểu tình mới tới bờ hồ Hoàn Kiếm thì bị bắt hết lên xe bus. Nhiều đoạn video do người biểu tình quay bằng điện thoại cho thấy bà Hằng dù đã bị bắt vẫn tiếp tục dẫn đầu đoàn người trên xe hô khẩu hiệu “Trường Sa – Việt Nam – Hoàng Sa – Việt Nam.”

Với nhiều nhân viên công lực đeo băng đỏ cùng đi trên xe, bà Hằng cũng hô “Đứa nào không yêu nước đứa đó là con chó” – một động thái gây tranh cãi trên mạng.

Bà Hằng được giới blogger bầu làm “Phụ nữ của năm” trong năm 2011.

Ngày 27 tháng 11 năm 2011, bà bị bắt khi đứng biểu tình ở bên hông Nhà Thờ Ðức Bà, Sài Gòn, để ủng hộ những người biểu tình ở Hà Nội bị đàn áp khi họ ủng hộ đề nghị của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm luật biểu tình.

Việc bắt giam bà Hằng suốt nhiều ngày, không ai biết bà bị giữ ở đâu. Con bà đi tìm ở nhiều cơ quan công an cũng không ai cho biết gì, thậm chí còn bị giam 2 ngày. Hơn 10 ngày sau thì “Cơ Sở Giáo Dục Thanh Hà” tỉnh Vĩnh Phúc mới gửi giấy về địa chỉ nhà bà ở Vũng Tàu nói bà bị giam ở đây 2 năm theo lệnh của nhà cầm quyền thành phố Hà Nội.

Việc bắt nhốt một người dân không qua xét xử của tòa án dù người ta chỉ hành xử quyền công dân một cách ôn hòa cho thấy “mặt trái của cái gọi là luật pháp tại Việt Nam,” Phil Robertson, phó giám đốc khu vực Á Châu của Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) phát biểu khi hay tin bà Hằng bị giam ở Vĩnh Phúc.

Ngày 5 tháng 1, 2012 chính phủ Hoa Kỳ qua tòa đại sứ ở Hà Nội kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho bà Hằng.

Bà Trần Thị Dung

 

Ông Lê Minh Triết

 

Tháng Tư, 37 năm và cuộc đời một thợ nail

 

Ngọc Lan/Người Việt

 

WESTMINSTER (NV) – “30 Tháng Tư! Tôi nhớ ngày này, 37 năm trước, tôi sang đây. Bắt đầu cuộc đời của một người thợ làm nail từ cuối năm 1975.”

Bà Thuần Lê, một trong 20 phụ nữ gốc Việt đầu tiên học nghề nail tại Hoa Kỳ vào Tháng Năm, 1975. (Hình: (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Người thợ nail này không ai khác hơn là bà Thuần Lê, một trong 20 phụ nữ gốc Việt đầu tiên theo học làm nail trên đất Mỹ, và hiện tại vẫn còn nặng nợ với nghề này.

“Nhờ nghề nail, tôi để dành được tiền gửi về giúp bố mẹ và gia đình. Nhờ nghề nail mà tôi mang được hết cả gia đình sang đây. Thành ra tôi biết ơn nghề này lắm!”

Câu chuyện của bà Thuần Lê cùng những suy nghĩ, tâm tư của bà giúp người ta hiểu thêm về lịch sử, sự hình thành và phát triển của nghề nail, một nghề như đặc ân mà mảnh đất này dành riêng cho phần lớn người di dân gốc Việt, từ mấy mươi năm qua.

***

 

Người Việt đầu tiên học nghề nail tại Hoa Kỳ

 

Thành thực mà nói, cho đến hôm nay, có lẽ không ai có thâm niên đối với nghề nail lâu hơn người phụ nữ này, và cũng không ai khác hơn người phụ nữ này nhìn thấy được sự thay đổi của nghề nail đối với cộng đồng Việt trên xứ Cờ Hoa, trong gần bốn thập niên qua.

Ba mươi bảy năm trước, vào những giờ phút cuối của Sài Gòn, bà Thuần Lê, “khi đó còn trẻ lắm”, cùng chồng mang theo ba đứa con nhỏ, ra đảo Côn Sơn, và bay qua Thái Lan ngay lúc nghe tin “Sài Gòn thất thủ”. Từ Thái Lan, gia đình bà cùng nhiều người Việt khác được đưa sang đảo Guam, rồi đến trại Camp Pendleton, góp mặt vào số người tị nạn đầu tiên đến Hoa Kỳ.

Một tháng sau, gia đình bà Thuần cùng khoảng 80 người khác, dưới sự bảo trợ của hội thiện nguyện “Food for the Hungry,” do nữ tài tử Tippi Hedren sáng lập, được đưa về trại Hope Village ở Sacramento. Trong lúc nhiều người ghi danh vào các lớp học đánh máy hay học may, bà Thuần lại ghi tên vào lớp học làm móng tay, cùng khoảng 20 phụ nữ khác. Và đó có thể xem như những người Việt Nam đầu tiên làm quen với công việc này tại Mỹ.

Bà Thuần Lê nhớ lại những ngày đi học nail bằng sự hoài niệm: “Bà Tippi mang cho mỗi người một bộ dụng cụ làm móng tay. Rồi mỗi cuối tuần, người thợ làm móng tay của bà Tippi từ Beverly Hills bay lên Sacramento để dạy nhóm chúng tôi làm móng tay. Có điều, ngay từ đầu bà nói không dạy làm móng thông thường mà là ‘special macurist’ để kiếm tiền nhiều hơn.”

Học xong thì phải thi. Bà Tippi Hedren, tài tử điện ảnh nổi tiếng từ thập niên 1960 của Hoa Kỳ, lại tìm trường gửi 20 phụ nữ Việt này đến để được huấn luyện đi thi lấy bằng hành nghề.

“Trong trường thì toàn là người Mỹ học tóc, chỉ có nhóm 20 người này là học nghề nail thôi. Lúc đó học toàn bằng tiếng Anh, nên cứ sau giờ ăn là cả nhóm gom lại, người giỏi chỉ người dở để cùng nhau học bài, cứ ráng mà học. Ði học về, tối đến, sau khi lo cơm nước cho chồng con xong, cùng xúm lại học tiếp. Vui lắm, nhưng vừa vui vừa lo vì không biết có đậu không.” bà Thuần kể tiếp.

Trong những ngày tháng chân ướt chân ráo đặt chân đến Mỹ, chuyện kiếm cái quần tấm áo mặc đến trường cũng là những kỷ niệm đáng nhớ với người phụ nữ này. “Lúc đó đi học cũng bắt mặc ‘uniform’ mà tụi này thì làm gì có quần áo trắng đâu, thành ra khi thấy quần áo người ta mang đến trại cho thì mình kiếm coi có cái nào vừa thì lấy mà mặc, rồi cũng phải đi kiếm, đi xin bata mà mang vào để đến trường theo qui định.”

 

Nghề nail buổi đầu trên đất Mỹ

 

Dù ghi danh theo học nghề nail mới mẻ này, nhưng từ đầu, chồng bà Thuần đã tiên đoán “học cho có nghề trong tay chứ không có làm ra tiền đâu vì Mỹ cũng tự làm móng tay lấy ở nhà chứ có ra tiệm đâu”.

Chính bà Thuần Lê cũng thừa nhận, “Khi đó ở Mỹ không có nhiều tiệm làm móng tay, ít khách lắm, chỉ có người thật sang mới đến tiệm làm nail thôi. Thành ra nhiều người học nail cùng tôi lúc đó, khi dọn đến những thành phố nhỏ để ở, họ đều bỏ nghề hết.”

Sau khi lấy được bằng hành nghề, bà Thuần cùng gia đình dọn về Santa Monica, miền Nam California, sinh sống. Như kiểu “đưa người phải đưa đến bến,” bà Tippi Hedren, mẹ đẻ của nghề nail cho phụ nữ gốc Việt, lại đưa bà Thuần đi tìm chỗ làm sau khi yêu cầu người thợ mới này thực hành ngay trên móng của nữ diễn viên.

“Bộ móng tay của bà Tippi mới làm đẹp gần chết, vậy mà bà kêu tôi tháo ra hết và làm lại sao cho giống y như vậy để bà dẫn tôi đi kiếm việc,” bà Thuần kể.

Tuy nhiên, theo bà Thuần, “Ông chủ nhận tôi có lẽ chẳng qua là nể bà Tippi thôi, vì tiệm đã có sẵn bốn người thợ Mỹ rồi, mình đến cũng chỉ ngồi không, dù mỗi ngày ông chủ chỉ lấy có $10 tiền mướn ‘station’ mà mình cũng đâu có khách đâu để mà có tiền trả tiền thuê chỗ.”

Cũng theo lời bà Thuần, “Hồi đó trong một tiệm tóc chỉ có một hai người thợ làm móng tay chung với thợ làm tóc chứ không có hẳn một tiệm làm móng tay như bây giờ,” hay “đồ làm móng tay lúc đó còn thô sơ lắm, chỉ có cái bàn, cái đèn, chứ không có những chiếc ghế spa hay những thiết kế tối tân như bây giờ, hóa chất và vật dụng cũng không nhiều”.

Bà Thuần còn nhớ “lúc đó làm gì có móng tay giả, nên mình phải dặn khách nếu như móng tay của họ bị gãy thì phải giữ nó lại, mang đến tiệm để mình dùng keo dán lại. Mà lúc đó cũng có nhiều người nuôi móng tay để mang đến tiệm bán nữa”.

Vắng khách, và điều kiện, phương tiện dành cho nghề nail không nhiều, thế nhưng, khi có được khách thì những người khách đó lại trở thành bạn bè thân thiết của người thợ nail buổi ấy.

“Nhiều khách đến với tôi từ lúc tôi mới ra nghề đến giờ vẫn còn ở lại với tôi khá nhiều. Cũng chính vì vậy mà tôi không nghĩ đến chuyện cần phải mở tiệm. Nhiều khách của tôi giờ đã vào ở viện dưỡng lão và tôi vẫn đi thăm họ. Khách với mình nhiều khi thân thiết như gia đình.” Bà Thuần Lê tâm sự.

 

Biết ơn nghề

 

Ba mươi bảy năm theo nghề nail, dù chưa một lần tự mình mở tiệm làm chủ, bà Thuần Lê nói một cách chân tình, “Mỗi người có một cách nhìn khác nhau, tôi không muốn kinh doanh, tôi chỉ muốn có một công việc để phụ giúp gia đình vậy thôi. Nên tôi cảm thấy nghề nail đối xử với tôi cũng tốt, tôi nuôi được ba người con thành tài hết mà không ai theo nghề nail hết.”

Cũng trong dòng hoài niệm, bà Thuần chia sẻ tiếp, “Ngày xưa đi học, tôi không nghĩ là có lúc nghề nail này lại trở nên nổi tiếng như hôm nay. Chỉ nghĩ là học đi làm một thời gian rồi đi tìm việc khác. Nhưng đến khi đi làm thì so sánh với những người đi làm kiếm được $5/giờ, trong khi mình kiếm tiền khá hơn người ta, thì thôi cứ ở lại với nghề nail này vậy. Hơn nữa, khách cũng thương mình, cũng quý mình. Ðám cưới, đi chơi, họ cũng rủ mình. Cho nên, theo tôi, đây không phải là một nghề bạc bẽo, hay không chỉ là nghề làm nail bình thường mà nó còn có tình cảm trong đó nhiều lắm.”

Nhìn lại cuộc đời làm nail, bà Thuần nhận xét, “Cái tốt của ngành nail, theo tôi, là những chủ tiệm nail cung cấp được nhiều công việc làm cho những người ở Việt Nam mới qua, vì họ không cần học nhiều, chỉ lấy bằng là có thể ra làm ngay. Nghề này có thể kiếm tiền nhiều hơn nghề may. Trong lúc làm nghề này, ai có nhu cầu muốn tiến xa hơn thì họ vừa đi làm vừa đi học, rồi cũng ra đại học.”

“Tôi không cảm thấy mặc cảm hay ngượng ngùng gì hết khi đi làm nail. Hãy nghĩ mình cũng là một họa sĩ và hãy tự hào về công việc mà mình đang làm. Hãy làm tốt công việc của mình thì người ta sẽ trân trọng thành quả của mình.” Bà Thuần nói tiếp.

Cũng theo lời kể của bà, sau khi có dịp gặp gỡ và nhìn thấy công việc làm nail của bà vào Tháng Mười Một, 1975, mà vợ chồng ông Diễm Nguyễn, một người bạn của bà Thuần, đã phác họa lên được một kế hoạch từ đi học nail, đến mở tiệm nhỏ và đến năm 1982, họ thành lập trường dạy nail mà đến nay hầu hết mọi người Việt sống tại Hoa Kỳ đều ít nhiều biết đến. Ðó là trường thẩm mỹ ABC (Advance Beauty College) ở Garden Grove.

Kể từ lúc đó, nghề nail tại Mỹ có điều kiện ngày một phát triển, số thợ tăng lên, số tiệm mở càng nhiều, giá làm nail giảm là nguyên nhân lôi kéo thêm được ngày càng nhiều khách đến với tiệm nail. Ðể đến ngày hôm nay, sau 37 năm người Việt đầu tiên bắt tay vào nghề nail, chuyện đến các tiệm làm móng tay đã trở nên bình thường, gần gũi với giới bình dân tại Hoa Kỳ, chứ không còn chỉ là chuyện làm đẹp của giới thượng lưu nhà giàu.

Và cũng từ đó, nghề nail đã làm thay đổi cuộc sống của biết bao gia đình di dân gốc Việt nơi đây.

“Tôi xem bà Tippi là ân nhân, là mẹ đẻ của nghề nail cho phụ nữ gốc Việt. Tôi mang ơn bà rất nhiều, cũng như tôi mang ơn nghề nail rất nhiều.” Bà Thuần Lê kết thúc câu chuyện trước khi bắt tay làm móng cho một người khách quen.

––-

Liên lạc tác giả: [email protected].

Nhìn lại ngày 30 tháng 4 năm 1975


Cuốn sách Tướng Westmoreland của Lewis Sorley


 


Việt Nguyên


 


LTS – Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston


 


Mỗi năm cầm bút viết về 30 tháng 4, vết thương như còn mới và lòng vẫn thấy đau. Như những tiền lệ lịch sử khi chiến tranh kết thúc, kẻ thắng huênh hoang đúng là: “Lịch sử là hồ sơ ghi nhận những sự nói láo của kẻ thắng” còn người thua thì chỉ tay đổ lỗi.


Ba mươi bảy năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến thắng của chủ nghĩa tất thắng Marx Lenin chỉ là chiến thắng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam trên dân tộc Việt. Về phía kẻ thất trận, lý do không giản dị như Tổng Thống Richard Nixon viết trong hồi ký: “Việt Nam Cộng Hòa thua vì Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lãnh còn quân lực VNCH đã chiến đấu anh dũng.”


Những cuốn sách và tài liệu lịch sử như “Không hòa bình chẳng danh dự” của Larry Berman, “Nixon và Mao” của bà Margaret McMillan cùng những tài liệu về hiệp định Ba Lê và những bài viết về phía VNCH của các ông Bùi Diễm, Hoàng Ðức Nhã, Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Phú Ðức và gần đây “Về Trung Hoa” (On China) của Tiến Sĩ Henry Kissinger đã cho thấy ông Kissinger là một trong những nguyên nhân chính gây ra cái chết của VNCH trong bàn cờ thế giới vì những tư lợi, khác với những dư luận và quan điểm những năm trước như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy và Linh Mục Cao Văn Luận cho rằng Henry Kissinger đã đánh đổi VNCH để giữ Trung Ðông vì ông là người gốc Do Thái. Bà McMillan đã cho thấy ông Kissinger đã đạt được hai điều căn bản khi Nixon và Mao gặp nhau năm 1972: Hoa Kỳ không loại bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và Bắc Việt được giữ quân ở lại miền Nam. Hoa Kỳ đã lầm lẫn đánh giá cao tiềm năng quân sự của Xô Viết và không biết quân Trung Hoa nằm lẫn trong quân Bắc Việt kể cả pháo thủ phòng không.


Tiến Sĩ Henry Kissinger đã bi quan về Việt Nam ngay ngày đầu tiên thăm viếng miền Nam giữa thập niên 1960. Trong khi đa số tướng lĩnh Hoa Kỳ tin trận chiến vì lý tưởng tự do như Tổng Thống John F. Kennedy tuyên bố khi gửi cố vấn quân sự qua giúp VNCH và trận chiến chống cộng sản có thể thắng thì Kissinger chỉ muốn rút quân. Kissinger là người phản bội chỉ biết lợi ích cá nhân, trước theo Tổng Thống Johnson sau chạy theo Tổng Thống Richard Nixon, ông phá hiệp định Paris của TT Johnson qua trung gian “Con Rồng Cái” bà Ann Chennault, để TT Nixon gặp Ðại Sứ Bùi Diễm vào tháng 7, 1968, sau đó đặt máy theo dõi tòa Ðại Sứ VNCH ở Hoa Thịnh Ðốn để biết chắc kế hoạch thành công khi bắt được điện tin ngày 23 tháng 10, 1968 của Ðại Sứ Bùi Diễm gởi TT Nguyễn Văn Thiệu: “Các bạn đảng Cộng Hòa đã tiếp xúc với tôi khuyến khích VNCH giữ vững quan điểm không ký hiệp định Paris.” Các cuộc dò xét điện tin đi thẳng về Cartha De Coach (Deke) làm việc cho giám đốc FBI Edgar Hoover.


Năm năm sau, TT Nguyễn Văn Thiệu ký hiệp định Paris, điều khoản vẫn thất lợi cho VNCH, Hoa Kỳ không giữ lời hứa ném bom khi Việt Cộng và Bắc Việt vi phạm Hiệp Ðịnh Paris.


TS Kissinger bán VNCH và giúp Trung Cộng giàu mạnh để chống lại Nga với giá cao cho cá nhân ông. Sáu năm sau khi ông Kissinger không còn giữ chức cố vấn tổng thống, Kissinger Associates ra đời, công ty tham vấn tư được nhiều khế ước với nhiều quốc gia, nhiều đại công ty và các chính quyền. Mỗi lần gặp Henry Kissinger, các công ty phải trả ít nhất 25,000 Mỹ kim, ông còn nắm ảnh hưởng cơ quan truyền thông, tham vấn cho đài truyền hình CBS và ABC.


Quyền lợi lớn nhất của Kissinger đến từ Trung Cộng qua các đại công ty American Express, Lehman, Daewoo, Heinz, Lockheed, Anheuser Busch, Coca Cola, v.v… Vì lợi ích cá nhân, TS Henry Kissinger đã làm hại đại cuộc, Hoa Kỳ bây giờ phải đối phó với con cọp Trung Cộng. Sáu tháng trước biến cố Thiên An Môn năm 1989, ông thành lập China Adventure, công ty trách nhiệm hữu hạn với các công ty đầu tư ở Trung Cộng, cho nên khi biến cố Thiên An Môn xảy ra, Henry Kissinger dửng dưng, theo Ðặng Tiểu Bình, chống chủ trương cấm vận của chính phủ George H. Bush vì “Trung Hoa giữ một vài trò quá quan trọng cho nền an ninh Hoa Kỳ.”


TS Henry Kissinger là kẻ thù của những người yêu chuộng tự do và dân chủ, ông ủng hộ Trung Cộng, tuyên bố, “Không một chính quyền nào trên thế giới có thể đứng yên nhìn hàng chục nghìn người chiếm quảng trường chính ở thủ đô trong hơn 8 tuần lễ.”


Tiền của Kissinger có máu của những nạn nhân Thiên An Môn và người Việt Nam vì vậy 30 tháng 4 năm 2011 ông đã từ chối dự hội thảo về Việt Nam ở Hoa Thịnh Ðốn và đã nói đùa “Nếu thấy tôi đến chắc người Việt Nam sẽ giết tôi!”


 


Ðại Tướng William Westmoreland


 


Hồi tháng 10 năm ngoái, cựu Ðại Sứ Bùi Diễm gửi cho tôi cuốn sách của Lewis Sorley “để tặng người bạn trẻ cất trong tủ sách.” Nhờ Giáo Sư Sorley, giảng dạy quân sử trường võ bị West Point, tôi lại tìm thấy một nguyên nhân chính khác gây ra thất trận ngày 30 tháng 4, 1975: Ðại Tướng William C. Westmoreland.


Giống như TT Richard Nixon, Giáo Sư Sorley đã ca tụng quân đội VNCH chiến đấu anh dũng nhưng vì những lỗi lầm của Tướng Westmoreland mà “thảm cảnh đã xảy ra cho quân đội Hoa Kỳ và nhất là cho cả miền Nam Việt Nam, những người đã hy sinh trong chiến tranh và mất tất cả.”


Tướng William Childs Westmoreland, dòng dõi nhà binh, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1914 tại Saxon, South Carolina, thời chiến tranh Nam Bắc với Tướng Robert Lee, ông là con cưng trong gia đình, người con gương mẫu. Ở trường, ông là học sinh xuất sắc, năng động, nhiều tham vọng, có óc khôi hài, 15 tuổi hoạt động Hướng Ðạo được bằng Hướng Ðạo Ðại Bàng (Eagle Scout), chủ tịch học sinh trong trường trung học, thích đấu quyền Anh (sau dùng chiến thuật đánh võ này áp dụng vào chiến tranh Việt Nam và quân đội VNCH được khuyến khích học quyền Anh). Cuộc đời binh nghiệp của ông thăng tiến rất nhanh từ trường Cao Ðẳng Quân Sự ở South Carolina đi lên West Point, tốt nghiệp năm 1936 đã được bạn bè đặt biệt danh là “Sếp” (Chief) như đoán được tương lai ông sẽ là tham mưu trưởng quân đội. Người cao một thước tám, mũi lớn, lông mày rậm như sâu róm, ông được đồng đội và cấp chỉ huy kính nể. 28 tuổi ông chỉ huy tiểu đoàn pháo binh rồi tham dự chiến tranh thế giới thứ hai ở Casablanca, chịu ảnh hưởng của Tướng Maxwell Taylor, được ông tướng này đỡ đầu, sau đó qua Anh, đến Normandy 4 ngày sau ngày đổ bộ, thành công ở Ðức chỉ huy Sư Ðoàn Bộ Binh 71, về nhà chỉ huy Sư Ðoàn Dù 82. Năm 1950 ông tham dự chiến tranh Ðại Hàn, 13 lần nhảy dù gần sông Hàn, xâm nhập qua lằn ranh Bắc Hàn, qua Nhật sau về lại Ngũ Giác Ðài làm tổng thư ký cho Tướng Maxell Taylor tham mưu trưởng (tháng 7 năm 1955). Ông làm việc rất chăm chỉ, thất bại trong kế hoạch chia sư đoàn làm 5 nhóm mỗi nhóm được chỉ huy bởi đại tá, nhưng một năm rưỡi sau, 42 tuổi ông là thiếu tướng trẻ nhất trong quân đội. Tháng 4 năm 1958, sau bốn năm rưỡi ở Ngũ Giác Ðài ông chỉ huy Sư Ðoàn Dù khét tiếng 101.


Năm 1960, ông chỉ huy trưởng trường võ bị West Point, cải tổ trường, tăng con số sinh viên sĩ quan gấp đôi lên đến 4140. Thiếu trình độ đại học, ông chỉ huy trưởng chịu khó ngồi học lại các môn khoa học căn bản nhưng ông hoàn toàn thiếu sót không học một môn quan trọng trong chiến tranh: khí tượng học. Khuyết điểm này đã có hại về sau, qua những cuộc đụng độ với quân Việt Cộng ở các chiến trường Việt Nam.


Vào thời điểm này, TT John F. Kennedy đến West Point đọc diễn văn năm 1962, đã tiên liệu chiến tranh Việt Nam “chiến tranh du kích, chiến tranh phục kích, xâm nhập làm kẻ thù suy yếu hao mòn để chiến thắng thay vì chiến đấu mặt đối mặt.”


Ngày 3 tháng 12 năm 1963, vị trung tướng trẻ tuổi nhất trong quân đội Hoa Kỳ được Tham Mưu Trưởng Earle Wheeler gởi qua Việt Nam phục vụ dưới quyền Tướng Harkins chỉ huy trưởng quân đội Hoa Kỳ ở VN (COMVS MACV). Sau đó ông thay Tướng Harkins khi ông Cyrus Vance làm bộ trưởng Bộ Binh.


Thành công nhanh, con đường binh nghiệp thăng tiến không trở ngại đã biến Tướng Westmoreland thành một con người kiêu ngạo. Ngày qua Việt Nam, Thiếu Tướng William Yarborough chỉ huy trưởng trung tâm chiến tranh đặc nhiệm ở Fort Bragg đã dặn ông trung tướng, “Chỉ có hai chục phần trăm đụng độ trên chiến trường, tám chục phần trăm còn lại là chiến tranh ý thức hệ, không có gì vô ích hơn là đại hành quân qua vùng Việt Cộng.”


Lời khuyên ấy bị Tướng Westmoreland bỏ ngoài tai, ông đã có chủ đích khi phục vụ cho Tướng Maxwell Taylor. Khác với quan điểm của TT Kennedy, Tướng Taylor chủ trương đánh thẳng đối mặt với chiến tranh du kích bằng những cuộc chiến nhỏ. Gặp Tướng McArthur ở Nữu Ước, Tướng Westmoreland đã chủ trương đối xử với sĩ quan và tướng VNCH như là “sinh viên sĩ quan trường võ bị West Point”! Ôngt đến Saigon, không gặp Tổng Thống Lyndon Johnson ở Hoa Thịnh Ðốn, đặt tổng hành dinh trên lầu cao nhất của rạp Rex (vào ngày Tướng Nguyễn Khánh đảo chánh Tướng Dương Văn Minh) nhìn xuống Saigon “dùng miền Nam VN như phòng thí nghiệm không phải chỉ cho chiến tranh VN mà còn cho các trận chiến du kích khác” (ghi nhận của Trung Tướng Harrold Johnson).


Ngày 20 tháng 6, 1964, Tướng Harkins về Mỹ, Hoa Kỳ bỏ bom Hà Nội, Hoa Thịnh Ðốn không có chiến thật cụ thể ở Việt Nam, để hoàn toàn cho Tướng Westmoreland quyết định. Ngày 1 tháng 8 năm 1964, Ðại Sứ Maxell Taylor gắn lon bốn sao cho Tướng Westmoreland. Kể từ ngày này, Tướng Westmoreland hoàn toàn không hỏi ý kiến VNCH, chủ trương tăng quân, làm xong nhiệm vụ, giao lại VNCH rồi rút quân về và tuyên bố chiến thắng. Tướng Westmoreland điều khiển chiến tranh Việt Nam theo kiểu Hoa Kỳ không cần biết chiến thuật chiến lược có phù hợp với điều kiện phức tạp ở Việt Nam hay không. Ðại sứ VNCH tại Hoa Kỳ, ông Bùi Diễm đã nhận định: “Hoa Kỳ chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh Việt Nam tức là trước đó chấp nhận Hoa Kỳ hóa chiến tranh Việt Nam.” Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Ellsworth Bunker đã đồng ý hoàn toàn với câu chơi chữ của ông Bùi Diễm nhưng Tướng Westmoreland xem thường quân đội VNCH “các anh không thể chiến đấu, chúng tôi không muốn các anh cản đường!”


Tướng Richard Stitwell phê bình, “Tướng Westmoreland đã quên phải đánh Việt Cộng ở bất cứ nơi nào chứ không phải nơi trận địa chiến.” Lỗi lầm này của Tướng Westmoreland đưa đến kết quả là từ 1966, quân đội Hoa Kỳ chủ động, quân VNCH giữ vai trò phụ thuộc và bình định hóa nông thôn nhưng Hoa Kỳ không cung cấp vũ khí và tân trang cho quân đội VNCH.


Chiến dịch “lùng địch diệt địch” của Tướng Westmoreland chủ trương: “Không đánh bại quân Bắc Việt, chỉ áp lực kẻ thù để giới lãnh đạo Bắc Việt biết họ không thể thắng. Họ phải chấp nhận hai nước Việt Nam hoặc phải thương thuyết.”


Trận đánh đầu tiên mà Tướng Westmoreland muốn, đối đầu với quân Bắc Việt tháng 10 năm 1965 ở thung lũng Ia Drang mô tả trong sách nổi tiếng của Trung Tướng Hal Moore và Joe Gallaway “We were soldiers once… and young” sau thành phim với tài tử Mel Gibson và Ðơn Dương. Trung Tá Moore lúc ấy chỉ huy tiểu đoàn đã phàn nàn, “Westmoreland ra lệnh rút lui trước khi trận chiến kết thúc.” Tỷ lệ tử thương trong trận này là mười quân Bắc Việt trên một quân Mỹ (3,561/305 ). Chiến tranh VN thay đổi bộ mặt từ trận này với tinh thần của dân Mỹ đại diện qua Thượng Nghị Sĩ Fritz Hollings, South Carolina, cảnh cáo Tướng Westmoreland “người Mỹ không cần biết con số mười, họ chỉ quan tâm đến con số một.”


Ủng hộ và đứng về phe quân đội VNCH chỉ có thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Tướng Victor H. Krulak làm việc chặt chẽ với quân dân chính VNCH đã gây nhức đầu cho Tướng Westmoreland. Ðiển hình về việc xao lãng tân trang cho VNCH của Tướng Westmoreland là câu chuyện khẩu súng tiểu liên M16. Trong khi quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam được ưu tiên trang bị tiểu liên M16, đại liên M60, súng phóng lựu M79 và máy truyền tin tối tân thì quân đội VNCH vẫn còn trang bị với súng Carbine và khẩu súng cá nhân Garant M1 nặng chình chịch từ Thế Chiến Thứ II. Ưu tiên tân trang của quân đội Hoa Kỳ ở VN là ưu tiên một còn quân lực VNCH nằm trong ưu tiên sáu, trong khi đó quân Bắc Việt đã được trang bị vũ khí hiện đại với AK47. Sau trận Mậu Thân, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên đã phàn nàn thẳng với Tướng Westmoreland. Chính giám đốc CIA, William Colby cũng phải nói “quân VNCH thiếu trang bị và tối tân hóa để tự vệ trong bốn năm Westmoreland ở VN.”


Chính sự ngạo mạn của Tướng Westmoreland đã làm mọi người chung quanh ông thất vọng. Một câu chuyện nhỏ cho thấy khuyết điểm lớn này của ông. Trong buổi lễ gắn huy chương cao quý Silver star cho Ðại Tá Nguyễn Văn Toàn (sau là trung tướng) có sự hiện diện của Ðại Tướng Cao Văn Viên và nhiều sĩ quan Việt Mỹ. Tướng Westmoreland sau khi mở rượu champagne đã vui miệng “nhiều người quá, chúng ta nên tổ chức thành một buổi họp” bỏ quên cả việc chia vui với Ðại Tá Toàn cho đến khi Champagne nóng không còn lạnh!


Tướng Westmoreland đã góp phần vào chiến thắng Mậu Thân 1968 của Cộng Sản. Trận chiến do Tổng Bí Thư Lê Duẩn chủ trương không được Tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý, đã hoàn toàn bị đánh bại nhưng vì ký giả Walter Conkrite đài CBS tường trình sai và sự tiếp xúc phách lối với báo chí của Tướng Westmoreland mà chiến thắng của VNCH và Hoa Kỳ trong trận Mậu thân trở thành chiến bại dưới cặp mắt của dân Mỹ. Báo chí thiên tả The New York Times ngày ấy hoàn toàn ủng hộ chiến tranh VN đã thất vọng. Tuần báo Time năm 1966 bầu Tướng Westmoreland là “Người trong năm” cũng đổi thái độ.


Sau bốn năm phục vụ tại VN, Tướng Westmoreland về Mỹ, lên làm tham mưu trưởng quân đội. Cuối tháng 4 năm 1968, có 543,400 quân Mỹ ở Việt Nam. Sau thời kỳ Westmoreland, Hoa Kỳ không tăng quân. Trong bốn năm Tướng Westmoreland làm tham mưu trưởng quân đội, tòa Bạch ốc không hề hỏi ý kiến ông về chiến tranh VN trong khi chiến tranh vẫn tiếp diễn! Các Tổng Thống Hoa Kỳ xem Tướng Westmoreland là một lỗi lầm chính trị.


Về hưu, Tướng Westmoreland bị các tướng lĩnh chê bai về thành tích của ông ở VN, từ Tướng Fred Weyland đến Tướng Norman Shwarzkoft (chỉ huy trận bão sa mạc) “VNCH đã thua vì thiếu tiếp viện và súng đạn” cho đến Ðại Sứ Maxwell Taylor “Hoa Kỳ hoàn toàn bỏ quên quân đội VNCH.” Sir Robert Thompson chuyên viên du kích người Anh nói “không phải Tướng Võ Nguyên Giáp đánh bại Tổng Thống Johnson mà chính Tướng Westmoreland!” Các sĩ quan cấp tá ở trường cao đẳng quốc phòng đứng lên đả đảo khi ông Westmoreland đến thăm, chưa có ông tướng tham mưu trưởng nào bị mất uy tín và bi thảm vào cuối đời như ông. Ông mất năm 2005, cuộc đời ông không may mắn như Henry Kissinger dù hai người cùng có lỗi nặng ở Việt Nam.


Ba mươi bảy năm qua, người Việt tị nạn hải ngoại mỗi năm vẫn tưởng nhớ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ở Việt Nam chính quyền Cộng sản không còn tổ chức kỷ niệm chiến thắng của chủ nghĩa Cộng sản, có lẽ vì Hoa Kỳ trở lại vùng Thái Bình Dương hoặc vì năm 2005 ông cựu Bộ Trưởng Hải Quân Jim Webb tuyên bố thẳng: “Nếu quý vị còn huênh hoang, chúng ta hãy dàn quân đánh một trận quyết định xem ai thắng ai thua?”


4 tháng 4, 2012

Con trai Bạc Hy Lai nổi lên sau tai tiếng chính trị ở Trung Quốc


Hồ sơ


 


 


Hà Tường Cát/Người Việt (tổng hợp)


 


Vụ tai tiếng chính trị tại thành phố Trùng Khánh một mặt thể hiện sự tranh chấp quyền lực luôn luôn âm ỉ trong nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc, mặt khác là cơ hội để phơi bày ra ánh sáng nhiều mặt trái của xã hội và những thủ đoạn của giới lãnh đạo ở nước này.










Một cặp thanh niên đứng quan sát toàn cảnh thành phố Trùng Khánh. (Hình: AP/Alexander F. Yuan)


Nhật báo Washington Post hôm Thứ Tư loan tin Bạc Qua Qua (Bo Guagua), đứa con trai 24 tuổi của Bạc Hy Lai (Bo Xilai), lần đầu tiên lên lên tiếng “bày tỏ sự quan tâm sâu sắc về những biến cố xảy ra với gia đình” và đồng thời phủ nhận cáo buộc về lối sống xa hoa hư hỏng của bản thân anh. Lời lên tiếng được gởi đến báo Harvard Crimson của trường đại học anh đang theo học. Hôm Thứ Ba, Ben Samuels, giám đốc tờ Crimson cho biết phóng viên Justin Wordland đã gặp nói chuyện với Bạc Qua Qua và xác nhận bản lên tiếng ấy là chính xác.


Theo lời Bạc Qua Qua, anh “không bình luận gì liên quan đến vụ việc còn đang được điều tra ở Trung Quốc” mà chỉ muốn nói đến những dư luận đồn đại về anh. Bạc cho biết “chưa bao giờ lái một chiếc Ferrari,” kiểu xe thể thao đắt tiền, và phủ nhận việc dùng danh nghĩa gia đình để kiếm tiền.


Bạc Qua Qua, 24 tuổi là con trai thứ nhì của Bạc Hy Lai và con duy nhất của Bạc Hy Lai với bà Cốc Khai Lai, vợ thứ hai của ông, từng là doanh gia và luật sư có tiếng tăm ở Bắc Kinh. Hiện nay Bạc Qua Qua đang là sinh viên cao học khoa chính quyền học, trường Kennedy School thuộc Ðại Học Harvard.


Bạc Qua Qua không tiết lộ điều gì về tình trạng hay quy chế của mình bây giờ. Sau khi ông bố bị cất chức Bí thư Thành ủy Trùng Khánh và bà mẹ bị bắt giữ điều tra vì tình nghi ám sát thương gia người Anh Neil Heywood, Bạc Qua Qua biến mất khỏi căn phòng cư ngụ gần Harvard Square trung tâm thành phố Cambridge, Massachusetts, thuê với giá $2,950 một tháng. Có những dự đoán cho rằng anh được quản thúc để bảo vệ tránh việc có thể bị gián điệp Trung Quốc bắt cóc. Nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ phủ nhận là Bạc Qua Qua đã được nhân viên an ninh Mỹ đem đi và đã xin tị nạn chính trị tại Hoa Kỳ.


Tờ The Guardian tại London cho rằng chàng thanh niên con ông cháu cha 24 tuổi thuộc một gia đình đã thu vét được nhiều tiền bạc này, muốn tìm cách xóa bỏ hình ảnh về mình là một tay ăn chơi bị tập trung chú ý trong vụ việc như thế. Lời biện minh ấy không cần thiết trên mặt pháp lý bởi lẽ Bạc Qua Qua không có hành động phạm tội nào. Tuy nhiên về mặt chính trị, trong tình trạng bà mẹ bị điều tra tội tình nghi ám sát và ông bố một nhà lãnh đạo bị thanh trừng vì cáo buộc tham nhũng lạm quyền, Bạc Qua Qua không thể tránh khỏi sự dò xét về những sự việc mà anh ta là thể hiện.


Những gia đình giầu có và quyền thế ở Trung Quốc đều tìm cách đầu tư tài sản – tiền bạc và con cái của họ – ở nước ngoài. Bạc Qua Qua gần như hoàn toàn được giáo dục ở ngoại quốc, thoạt đầu vào Harrow – một trường tư nổi tiếng cho con em các gia đình danh giá với học phí hàng năm $50,000 – rồi lên Balliol College ở Oxford, Anh quốc và bây giờ tới Harvard, Hoa Kỳ.


Theo báo chí Anh, tại Oxford, Bạc Qua Qua học hành kém cỏi nhưng anh ta lập luận rằng mình cũng đã đạt thành tích khá và “đã dành nhiều thời gian và năng lực cho những sinh hoạt ngoài học đường.” Ðiều ấy không được kiểm chứng rõ ràng nhưng trong ít tuần lễ gần đây người ta thấy trên Internet nhiều hình ảnh của anh ta trong những buổi hội họp tiệc tùng bên cạnh các thiếu nữ Tây phương với bộ điệu say khướt.


Nhưng bằng những quan hệ cá nhân của mình, Bạc Qua Qua cũng từng giúp ích được cho Oxford. Anh đã đưa diễn viên điện ảnh Hong Kong Thành Long (Jackie Chan) đến trường nói chuyện và tổ chức buổi dạ vũ “Con đường tơ lụa” cho Tổng hội Sinh viên Oxford. Sinh hoạt này được bảo trợ bởi hãng xe hơi Shenyang Jinbei ở Liêu Ninh (Liaoning). Liêu Ninh, và thành phố Ðại Liên (Dalian) ở đây, là nơi Bạc Hy Lai đã nhiều năm làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân và bí thư Ðảng Ủy. Nhiều người thắc mắc là hãng xe Shenyang Jinbei không có quan hệ thương mại gì ở Âu Châu tại sao lại đứng bảo trợ và một phát ngôn viên của hãng này sau đó trả lời mập mờ rằng ông ta không biết rõ hãng có thương mại ở Anh cũng như có bảo trợ sinh hoạt tại Oxford hay không.


Một bí mật khó hiểu khác là vì sao một website mang địa chỉ – Guagua.com – có thể được một công ty có liên hệ với gia đình Bạc mua lại tới giá $100,000 từ một người ở Tenerife năm 2010. Nguyên thủy website là của Antonio Marin, 53 tuổi, một người ở Tenerife, ham thích xe lửa và xe điện. Theo lời Marin, thoạt đầu ông từ chối đề nghị mua domaine name này của một người Trung Quốc, ông không nhớ e-mail đề nghị mua từ đâu tới “nhưng chắc chắn không phải người nào mang tên Guagua.” Ông cho biết: “Sáu tháng sau họ đưa đề nghị một lần nữa và với một giá rất hời. Tôi không bao giờ hỏi vì sao họ muốn website này, nhưng họ đã trả đúng $100,000 và tôi bán.”


Guagua.com sau đó đăng ký ở Hoa Kỳ, theo luật có thể giữ kín tên chủ nhân, nhưng cho tới năm ngoái đăng ký cùng địa chỉ với Guagua Technology Company do người cô Gu Wangning – một thương gia giầu có – thành lập với vốn 2 triệu nhân dân tệ ($320,000). Những tin tức khác nhau nói Bạc Qua Qua là giám đốc hoặc cố vấn, nhưng sau đó lại có cải chính nói là do sự lầm lẫn.


Trong bản lên tiếng gởi bằng e-mail đến báo Harvard Crimson, Bạc Qua Qua nói: “Tôi không bao giờ cho mượn tên hay tham gia bất cứ một dịch vụ thương mại kiếm lời nào, ở Trung Quốc cũng như hải ngoại. Tôi chỉ tham dự vào những mạng xã hội bất vụ lợi ở Trung Quốc…” Bạc Qua Qua cho rằng không thể nào trả lời mọi lời đồn đại hay cáo giác và “hiểu rằng hiện nay những sự tò mò về đời tư của tôi không thể nào hết, nhưng tôi tha thiết mong mỏi các giới truyền thông kềm chế không nên xâm nhập đến đời tư của các ông thầy, đồng học và bạn bè của tôi.”


Về tin tức báo chí nói năm ngoái Bạc Qua Qua đã có lần lái một chiếc Ferrari màu đỏ đến tư thất đại sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh đón cô con gái của đại sứ lúc đó là Jon Huntsman, Bạc Qua Qua khẳng định, “Tôi chưa bao giờ lái một chiếc xe Ferrari vào tòa đại sứ Hoa Kỳ.” Nhưng nhật báo New York Times phỏng vấn cô Abby Huntsman Livingston, con gái cựu đại sứ, cho biết một buổi sau bữa ăn tối, Bạc Qua Qua có tới chở cô em là Mary Anne đi, nhưng cô không để ý là bằng xe hiệu gì. Từ ngày Thứ Tư, trên mạng của dịch vụ Sina Weibo ở Trung Quốc, người ta không thể tìm được những mục có tên “Ferrari” và “Guagua.”


Bài báo trên tờ Wall Street Journal hôm Thứ Sáu cho biết ở Massachusetts, từ 2009 đến 2011, Bạc Qua Qua ba lần bị cảnh sát ghi giấy phạt trong lúc lái một chiếc xe Porsche Panamera màu đen, trị giá khoảng $80,000.


Theo điều tra của hãng thông tấn Bloomberg, gia đình và thân nhân của Bạc Lai Hy, trong nhiều trường hợp bằng những tên khác nhau, có phần tham gia trong mạng lưới thương vụ quốc tế trị giá tổng cộng $160 triệu. Bạc Qua Qua nhấn mạnh rằng tiền học của mình ở các trường Anh và Mỹ là nhờ học bổng và “tiết kiệm của gia đình, bao gồm tiền hành nghề luật sư và viết sách của mẹ.”


Li Wangzhi, người anh của Bạc Qua Qua, có khi dùng tên Li Xiaobai hay Brendan Li, đầu tư vào các công ty ở Ðại Liên và giám đốc các công ty đăng ký hoạt động Mauritius, Virgin Islands cũng như đã làm việc trong Citigroup. Bác của Bạc Hy Lai, Bo Xiyong, cũng có tên là Li Xueming, là giám đốc một công ty phát triển địa ốc ở Hong Kong và phó giám đốc China Everbright Group có đầu tư vào ngành năng lượng sạch. Ông vừa từ chức hôm Thứ Tư.


Jiang Weiping, một nhà báo nổi tiếng quốc tế khi bị bắt năm 2001 ở Trung Quốc và lãnh án tù 8 năm về tội “tiết lộ bí mật quốc gia” và 5 năm sau được tống xuất qua Canada, đã viết nhiều phóng sự điều tra về tệ nạn tham nhũng trong chính quyền Cộng Sản Trung Quốc. Về Bạc Hy Lai, theo ông: “Thu nhập hợp pháp của Bạc chỉ là số tiền lương không đáng kể, khoảng $19,000 một năm. Tài sản thực sự của gia đình này là từ những gì Bạc đã kiếm được bằng sự chấp thuận hợp đồng của các công ty, những dự án đầu tư và nhiều phương cách khác nhờ quyền lực trong thời gian lãnh đạo tỉnh Liêu Ninh và thành phố Ðại Liên. Anh của Bạc, vợ và em vợ đều tham gia trong những hoạt động tham nhũng toàn diện ấy.”


Tại đại hội đảng Cộng Sản Trung Quốc kỳ thứ 16 năm 2002, Bạc Hy Lai là một trong những nhân vật đủ tư thế của “thế hệ lãnh đạo thứ 5” nắm quyền năm 2012. Nhưng cá tính, hoàn cảnh và nhiều lý do phức tạp khác trong vấn đề tranh đấu nội bộ lúc ấy đã không đưa đến cho Bạc cơ hội nổi lên hơn hai đối thủ là Tập Cận Bình (Xi Jinping) bí thư Thành Ủy Thượng Hải và Lý Khắc Cường (Li Keqiang) bí thư Tỉnh Ủy Hà Nam.


Năm 2007 về làm bí thư Thành Ủy Trùng Khánh, bằng những chiến dịch chống tội phạm, băng đảng và đường lối xã hội kiểu Cách Mạng Văn Hóa của Mao Trạch Ðông, Bạc Hy Lai đã nổi tiếng với “mô hình Trùng Khánh.” Nhưng có lẽ sự nổi tiếng trên bề mặt không giúp cho Bạc tiến xa hơn và vô số những nhược điểm cá nhân phía sau khiến cho khi các đối thủ chính trị dễ dàng tìm cách khai trừ ông khi bắt đầu cảm thấy có sự đe dọa nguy hiểm.


Vụ ám sát doanh nhân người Anh của Cốc Khai Lai sẽ không xảy ra và những chuyện về Bạc Qua Qua chẳng là gì đáng kể nếu Bạc Hy Lai còn vị thế trong tập đoàn lãnh đạo. Nhưng bây giờ tất cả đều trở thành những yếu tố góp phần cho sự suy tàn của một ngôi sao đang lên và sắp tắt trong bộ máy chính trị Trung Quốc. Theo nhận định của tờ Guardian, những liên hệ dòng dõi và quyền thế của thành phần ưu tú trong xã hội Trung Quốc thật ra cũng không khác giai cấp quý tộc Âu Châu hay giới tài phiệt Hoa Kỳ xưa kia. Nhưng tại đại quốc Á Châu này, mọi sự đều mờ ám hơn nhiều cho tới khi nào xảy ra một chuyện tai tiếng làm sụp đổ những bức tường giấu diếm và cấu kết che đậy. Người ta sẽ rất khó để dự đoán tương lai cuối cùng của nó.


Một vấn đề nhỏ cũng có thể là tế nhị trên mặt chính trị với Trung Quốc mà chính quyền Obama sẽ còn phải giải quyết là tình trạng của Bạc Qua Qua khi hộ chiếu du học hết hạn, chưa được rõ là bao giờ.


Trong những ngày gần đây, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ từ chối bình luận về quy chế tương lai của anh ta cũng như về chi tiết hộ chiếu mà anh ta đang giữ. Tuyên bố với các phóng viên hôm Thứ Hai, nữ phát ngôn viên Victoria Nuland Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ mô tả Bạc Qua Qua “là một sinh viên có thành quả tốt ở Harvard. Quý vị tùy nghi rút ra kết luận từ đó.”

Tòa chưa quyết định tăng tiền tại ngoại của Zimmerman


SANFORD, Florida (Reuters) –
Thẩm phán tòa Seminole County hôm Thứ Sáu bác bỏ yêu cầu của luật sư bên phía gia đình Trayvon Martin đòi George Zimmerman phải nạp thêm tiền tại ngoại.

Thẩm Phán Kenneth Lester, Jr. nghe hai phía trình bày về vụ George Zimmerman bắn chết thiếu niên Trayvon Martin. (Hình: Red Huber/The Orlando Sentinel-Pool/Getty Images)

Công tố viên Bernardo de la Rionda trình bày là Zimmerman đã gây quỹ được trên $200,000, như thế tiền bond có thể xét lại. Zimmerman đã được tạm thời trả tự do sau khi đóng bail tuần này. Trước đây các công tố viên đề nghị bail $1 triệu nhưng sau khi nghe gia đình Zimmerman trình bày là họ không có tài nguyên cần thiết để đóng một số tiền lớn như thế Thẩm Phán Kenneth Lester Jr. đã ấn định tiền tại ngoại $150,000.

Thẩm Phán Lester nói ông chưa vội vã có quyết định khác trong khi còn cần biết thêm thông tin về việc gây quỹ của Zimmerman. Những mạnh tường quân vô danh đã đóng góp tiền giúp quỹ pháp lý cho Zimmerman.

Ông Ben Crump, một luật sư của gia đình Trayvon Martin, bày tỏ sự phẫn nộ về việc gây quỹ, nói rằng đã không được tiết lộ trước phiên tòa ấn định tiền tại ngoại, và như vậy phải ấn định lại vì Luật Sư Mark O’Mara của bị can đã từng mô tả Zimmerman là không có một xu dính túi.

Zimmerman được ra khỏi nhà tù đi đến một nơi bí mật vì Thẩm Phán Lester đồng ý với Luật Sư O’Mara rằng đương sự bị đe dọa có thể nguy hiểm đến sinh mạng. Tuy nhiên, Zimmerman phải đeo một dụng cụ điện tử để nhân viên hữu trách theo dõi. (H.C.)

Mức thất nghiệp tăng trước bầu cử tổng thống vòng nhì ở Pháp


PARIS (AP) –
Viễn tượng kinh tế suy thoái của Pháp nay đang là đề tài hàng đầu trong cuộc vận động tranh cử tổng thống quốc gia này sau khi các dữ kiện công bố hôm Thứ Sáu cho thấy mức thất nghiệp tăng trong Tháng Ba, liên tục trong 11 tháng qua.

Nhân viên hãng Technicolor ở Rennes hôm Thứ Sáu mặc trang phục nhân vật truyện tranh Astérix, biểu tình phản đối quyết định đóng xưởng ở Angers. Mức thất nghiệp ở Pháp tăng trong Tháng Ba, liên tục trong 11 tháng qua. (Hình: Thomas Bregardis/AFP/GettyImages)

Ông Francois Hollande, người đại diện đảng Xã Hội đối lập ra tranh cử chống ông Nicolas Sarkozy trong cuộc bầu cử vòng nhì hôm 6 Tháng Năm này, nhanh chóng dùng con số thất nghiệp do Bộ Lao Ðộng đưa ra là tăng thêm 0.6%, nghĩa là hiện có 2.88 triêu người Pháp thất nghiệp, để tấn công ông Sarkozy.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài phát thanh RTL hôm Thứ Sáu, ông Hollande nói rằng tạo ra công việc làm là vấn đề chính trong cuộc tranh cử hiện nay.

Ông Hollande đả kích rằng ông Sarkozy từng hứa sẽ giảm mức thất nghiệp xuống còn 5% nhưng nay ở cuối nhiệm kỳ của ông ta, mức thất nghiệp lại là 10%.

Ông Sarkozy nói rằng sở dĩ nước Pháp tiếp tục có mức thất nghiệp cao là vì cuộc khủng hoảng nợ công đang xảy ra ở Âu Châu. Thủ Tướng Francois Fillon cho hay tuy vậy mức thất nghiệp ở Pháp còn thấp hơn các quốc gia Âu Châu khác. (V.Giang)

Thất nghiệp Tây Ban Nha gần 25%


MADRID (AP) –
Nền kinh tế Tây Ban Nha có các chỉ dấu khủng hoảng trầm trọng hơn hôm Thứ Sáu qua việc chính phủ tiết lộ mức thất nghiệp nay lên tới gần 25%, chỉ một ngày sau khi một cơ quan thẩm định tín dụng có quyết định giảm giá trị của nợ quốc gia này và cảnh cáo rằng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phục hồi kinh tế.

Người dân Tây Ban Nha đứng xếp hàng ở văn phòng sở thất nghiệp tại Palma de Mallorca hôm Thứ Sáu. Tỷ lệ thất nghiệp tại đây lên tới 24.4%. (Hình: Jaime Reina/AFP/GettyImages)

Các con số của chính phủ cho thấy mức thất nghiệp nay lên tới 24.4% trong ba tháng đầu năm 2012-cao nhất trong 17 quốc gia sử dụng đồng Euro-từ mức 22.9% vào cuối năm 2011. Dữ kiện này cho thấy có thêm 365,000 người thất nghiệp trong ba tháng đầu năm nay, đưa tổng số người thất nghiệp tại Tây Ban Nha lên tới 5.6 triệu người. Mức thất nghiệp trong những người dưới 25 tuổi hiện là 52% so với con số 48.5% ba tháng trước đó.

“Các con số này tệ hại cho mọi người và cũng tệ hại cho chính phủ,” theo lời Ngoại Trưởng Jose Manuel Garcia-Margallo nói với đài phát thanh quốc gia. “Tây Ban Nha đang trong cuộc khủng hoảng với tầm vóc lớn lao.” (V.Giang)

Sẽ còn nhiều vụ cướp đất ở Văn Giang


HÀ NỘI (NV) –
Theo một bài viết của Thời Báo Kinh Tế Việt Nam (TBKTVN) hôm Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012, một số tư bản đỏ nổi tiếng đang nhăm nhe một số dự án nhà đất ở huyện Văn Giang, nơi vừa xảy ra vụ cưỡng chế vang dội cả thế giới.










Lễ cất nóc tòa tháp D, dự án Rừng Cọ thuộc Ecopark vào cuối năm 2011. Vị thế đắc địa đã khiến cho Văn Giang đặc biệt hấp dẫn các nhà đầu tư bất động sản. (Hình: Thời Báo Kinh Tế Việt Nam)


Theo chiều hướng này, hàng ngàn gia đình nông dân địa phương có thể sắp bị đẩy vào những vụ “quy hoạch” đô thị kiểu Ecopark của công ty Việt Hưng, chỉ vì huyện Văn Giang chỉ cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10 cây số.


Nhà cầm quyền “quy hoạch” đất sản xuất và nhà cửa của nông dân rồi bán lại cho các công ty tư bản đỏ xây dựng chung cư, biệt thự kiếm lời, đẩy người ta vào vòng cùng khổ.


Huyện Văn Giang gồm 10 xã và 1 thị trấn, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Hưng Yên, tả ngạn sông Hồng. Phía Bắc và Tây Bắc giáp huyện Gia Lâm, phía Tây giáp huyện Thanh Trì và phía Tây Nam giáp huyện Thường Tín của thành phố Hà Nội.


Nhìn trên bản đồ, người ta có thể thấy thị trấn Văn Giang chỉ cách hồ Gươm khoảng 12 km trong khi điểm gần nhất của huyện này là điểm đầu của khu đô thị Ecopark cũng chỉ cách hồ Gươm khoảng 9 km theo đường chim bay. Với các cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy và Vĩnh Tuy giai đoạn 2 đang xây dựng, thời gian di chuyển từ Văn Giang về Hà Nội được rút ngắn khá nhiều.


TBKTVN cho hay ngoài dự án Ecopark đang tiến hành với các chung cư và biệt thự bán với giá từ 20 triệu đồng m2 tới 45 triệu đồng m2, “hàng loạt công ty khác đã và đang triển khai các dự án bất động sản tại đây.”


Trong số đó, TBKTVN nói “phải kể đến Công ty Cổ phần Vincom, nhà đầu tư của hàng loạt dự án bất động sản lớn trên toàn quốc” của ông Phạm Nhật Vượng.


Nguồn tin cho biết, “Theo đề xuất của Vincom, đã được UBND tỉnh Hưng Yên tiếp nhận và đang xem xét, công ty này muốn lập quy hoạch xây dựng một dự án khu đô thị sinh thái trên địa bàn xã Nghĩa Trụ và Long Hưng (Văn Giang).”


Bên cạnh đó “công ty TNHH Xuân Cầu, một nhà đầu tư có trụ sở tại Hà Nội cũng đã được UBND tỉnh Hưng Yên ‘thống nhất về nguyên tắc’ về việc triển khai dự án ‘Khu đô thị nhà vườn sinh thái’ và ‘Khu nghỉ dưỡng Văn Giang’ trên địa bàn thị trấn Văn Giang và xã Liên Nghĩa, với diện tích 243 ha.”


Và đây là một số dự án khác được TBKTVN mô tả tóm tắt: “Techconvina, một công ty nổi tiếng với hoạt động xây dựng công nghiệp hiện cũng đang triển khai một dự án mang tên ‘Khu đô thị mới Ðông Văn Giang’ tại xã Long Hưng với diện tích 117 ha, dự kiến tổng vốn đầu tư 35 triệu USD. Nhà đầu tư này cho biết dự án sẽ bao gồm các khu nhà liền kề, biệt thự và chung cư cao tầng. Ở quy mô khiêm tốn hơn, Công ty Cổ phần Ðầu tư Xây dựng Thương mại Thăng Long có trụ sở tại Hưng Yên cũng đã đề xuất một dự án mang tên ‘Khu vui chơi giải trí và nghỉ dưỡng Thăng Long’ trên diện tích 5.5 ha trên địa bàn thị trấn Văn Giang. Trong khi đó, Công ty Cổ phần Hanec, một công ty cũng có trụ sở tại Hưng Yên đã đề xuất dự án ‘Chợ và nhà ở thương mại huyện Văn Giang’ trên diện tích 6 ha tại thị trấn Văn Giang.”


Một bài viết trên tờ báo nghiêng về phân tích và bình luận “Tầm Nhìn” ngày 26 tháng 4, 2012 cảnh cáo vụ cưỡng chế ở Văn Giang ngày 24 tháng 4, 2012 có “nhiều hệ lụy.” Bài viết này đã bị gỡ xuống ngay trong ngày xuất hiện trên Internet.


Các vụ cưỡng chế phục vụ tư bản đỏ luôn luôn được hiểu ngầm là có sự móc ngoặc, chia chác giữa kẻ có quyền và kẻ có tiền. Tác giả bài viết trên “Tầm Nhìn” cảnh cáo “với thực trạng tham nhũng đã ăn vào tận ruột từ nhiều năm qua, có thể không loại trừ những Bạc Hy Lai Việt Nam.” (TN)

Tin mới cập nhật