Tìm thấy bệnh bò điên ở California


SACRAMENTO (Mercury News) –
Bộ Canh Nông Mỹ hôm Thứ Ba cho hay một trường hợp bệnh bò điên được thấy tại ở vùng Trung California, lời loan báo có thể gây lo ngại về an toàn thực phẩm và làm thiệt hại nền kinh tế nông nghiệp trị giá hàng tỉ dollars ở tiểu bang này.










Bệnh bò điên xuất hiện tại California không chỉ ảnh hưởng thị trường nội địa mà còn ảnh hưởng cả thị trường tại nước ngoài. Hàn Quốc vừa thông báo siết chặt thủ tục kiểm nghiệm sau khi có tin bò điên xuất hiện tại California. (Hình: Jung Yeon-Je/AFP/Getty Images)


Ðây là lần đầu tiên bệnh bò điên được thấy ở California, và cũng là trường hợp đầu tiên ở Mỹ từ năm 2006.


Bộ Nông Nghiệp Mỹ cho hay xác con bò này được thấy ở một kho chứa của công ty chuyên xay nghiền xác súc vật và trộn lẫn với các thứ khác để làm thực phẩm nuôi gia súc. Nguồn tin Bộ Nông Nghiệp nói rằng công chúng không bị nguy hiểm sức khỏe gì bởi con bò này.


John Clifford, người đứng đầu ngành thú y thuộc Bộ Nông Nghiệp Mỹ, cho hay “con bò này không hề được chuẩn bị để đưa đi mổ thịt bán cho người nên không là mối đe dọa cho nguồn cung cấp thực phẩm.”


Tuy nhiên hiện vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời, như: Con bò này từ đâu ra? Làm sao con bò mắc bệnh? Và những con bò khác trong đàn bò có bị bệnh hay không? Và thịt của chúng có được bán cho người tiêu thụ hay không?


Con bò này được thử nghiệm và thấy mắc bệnh khi ở trạm trung chuyển của công ty Baker Commodities tại thành phố Hanford, nằm cách thành phố Visalia thuộc quận Kings chừng 15 miles về phía Tây. Công ty Baker có 21 cơ xưởng trên khắp nước Mỹ để biến chế xác súc vật thành thực phẩm cho gia súc, nuôi heo, và chất dùng trong xà bông, sơn cũng như đồ trang điểm.


Các con bò chết thường được chở đến các trạm trung chuyển này để lột lấy da trước khi đưa đến cơ xưởng xay nghiền ở Kerman, nằm cách đó chừng 48 miles về phía Bắc. Xác con bò sữa này được khám phá là có bệnh qua một cuộc khám nghiệm ngẫu nhiên. (V.Giang)

Thái Lan bồi thường nạn nhân chiến tranh


BANGKOK (AFP) –
Chính phủ Thái Lan hôm Thứ Ba chấp thuận ngân sách $67 triệu bồi thường cho nạn nhân của một cuộc nổi dậy kéo dài từ tám năm nay ở vùng Nam Thái Lan, nơi đa số dân là người theo Hồi Giáo.


Gia đình của những người bị giết trong cuộc chiến này sẽ nhận được 500,000 baht (khoảng $16,130), hay 1.5 triệu baht nếu phía chính phủ chịu trách nhiệm, theo lời Bộ Trưởng Tư Pháp Pracha Promnog, cho hay sau khi Nội các chấp thuận biện pháp này.


“Chúng tôi hy vọng điều này sẽ giúp tình hình ở vùng phía Nam yên bình hơn và hy vọng số tiền này cũng đủ vì một số gia đình từng nhận được bồi thường trước đây,” ông Pracha cho báo chí hay.


Các đề nghị bồi thường này ít hơn con số 7.5 triệu baht chính quyền hứa hẹn sẽ trả cho gia đình các nạn nhân của bạo động chính trị trong một loạt các cuộc biểu tình ở Bangkok từ năm 2005 đến năm 2011.


Gia đình của hơn 4.000 thường dân thiệt mạng cùng với khoảng 6,000 người bị thương và 1,056 giới chức chính quyền bị giết sẽ được hưởng tiền bồi thường, ông Pracha cho hay.


Các nghi can phiến quân bị bắt và giam giữ nhưng sau được thả theo lệnh tòa cũng sẽ được bồi thường, theo ông Pracha. (V.Giang)

Phiến quân cộng sản Philippines giết 11 lính chính phủ


MANILA (AFP) –
Du kích quân cộng sản Philippines vừa mở cuộc phục kích táo bạo, hạ sát 11 binh sĩ chính phủ và một thường dân, theo nguồn tin quân sự hôm Thứ Tư.










Phiến quân NPA trong lễ kỷ niệm 42 năm thành lập Ðảng Cộng Sản Philippines, tại đảo Mindanao, 26 tháng 12, 2010. (Hình: AFP/AFP/Getty Images)


Một đoàn xe quân sự gồm ba chiếc đã bị phiến quân cộng sản NPA phục kích gần thị trấn Tinoc ở khu vực đồi núi trên đảo Luzon, theo Thiếu Tướng Rommel Gomez, tư lệnh quân đội tại vùng Bắc Philippines.


Có một đại úy trong số 11 quân nhân bị giết trong cuộc tấn công diễn ra vào lúc sáng sớm, theo phát ngôn viên quân đội Philippines, Ðại Tá Loreto Maguddayao. Một thường dân là nhạc công trong ban kèn đồng quân đội cũng thiệt mạng.


Hai quân nhân và một thường dân khác bị thương.


“Ðây là cuộc tấn công táo bạo nhất của NPA trong vùng này từ mấy năm nay,” theo lời Ðại Tá Maguddayao.


Mục tiêu chính của cuộc tấn công là một tiểu đoàn trưởng địa phương, Trung Tá Eugenio Batara, người cũng ở trong đoàn xe đang trở về căn cứ sau khi thăm một tiền đồn trên núi, nhưng không bị thương tích gì.


Khoảng 100 quân nhân, cảnh sát và các nhân viên trợ lực đã bị giết trong các cuộc tấn công của NPA khắp Philippines hồi năm ngoái, có giảm bớt so với con số 184 một năm trước đó. (V.Giang)

Ðặt máy nghe lén, bắt quả tang kẻ bắt nạt con


NEW JERSEY –
Một phụ huynh cho con lén mang máy thu âm đi học và khám phá được các nhân viên của một trường ở New Jersey “bắt nạt” và nặng lời với con mình, theo tin của MSNBC.










Akian Chaifetz, 10 tuổi, chơi đùa với ông Stuart ở vườn sau nhà hôm 25 Tháng Tư, 2012. (Hình: AP/Mel Evans)


Ông Stuart Chaifetz, cha của cậu bé Akian 10 tuổi và bị mắc chứng tự kỷ cho biết, cuộn băng ghi âm cho thấy các nhân viên trường tiểu học Horace Mann ở Cherry Hill, gọi con ông là “đồ khốn nạn.” Vào ngày 20 Tháng Tư, ông Chaiferz đưa nội dung cuốn băng lên YouTube.


Trong cuộn băng ông Chaifetz mở nghe vào đêm 17 Tháng Hai, ông khám phá thấy nhân viên nhà trường đã tạo cho con ông một cuộc sống kinh hoàng. “Ðược rồi, Akian, mầy là thằng khốn kiếp,” đó tiếng của một người đàn bà mà theo lời ông Chaifetz là một giáo viên tên Kelly.


Một giọng người khác xen vào, mà ông cho là của người phụ tá tên Jodi: “Mầy cứ khóc thét tiếp đi, vì mầy biết sao không? Mầy sẽ không được ăn gì cả nếu mầy không chịu câm mồm.”


Trước đây, ông Chaifetz từng nhận được giấy thông báo của nhà trường, nói rằng con ông “đánh giáo viên, đánh người phụ tá và quăng ghế trong lớp.” Sau lần đó con ông được người chuyên môn tiếp xúc để cố vấn tinh thần, nhưng nhiều tháng trôi qua ông Chaifetz vẫn chưa hiểu được chuyện gì xảy ra, vì theo ông, Akian là “đứa con ngoan và sống sung sướng.” Do vậy, ông quyết định lén đặt một máy thâu âm giấu bên trong áo quần của Akian.


Ông Chaifetz nói: “Con tôi quăng ghế vì nó quá đau đớn do những lời nói cay độc mà người phụ nữ đó dùng để đâm vào tim nó. Con tôi không đến trường mà bị vào tù và nó tự học chiến đấu để sinh tồn.”


Ông cũng muốn người giáo viên và người phụ tá phải công khai xin lỗi, đồng thời kêu gọi phải có hành động pháp lý “để không người giáo viên bắt nạt con nít nào còn được đi dạy nữa.”


Hôm Thứ Ba, Học Khu Cherry Hill công bố một văn bản cho hay đã nhanh chóng mở cuộc điều tra, và rằng những người liên quan đều đã ngưng làm việc.


Maureen Reusche, giám thị Học Khu Cherry Hill phát biểu hôm Thứ Ba, rằng những người nghe được trong cuộn băng “đã lớn tiếng và có thái độ không đúng đối với trẻ con. Họ không còn làm việc cho học khu này nữa.” (TP)

Phá âm mưu chuyển kỹ thuật tàng hình của Mỹ cho Trung Quốc


WASHINGTON –
Một âm mưu quốc tế nhằm cung cấp cho Trung Quốc kỹ thuật được xếp vào hạng bảo mật cao, vừa mới bị phá vỡ. ABC News trích thuật lời của giới chức liên bang.







 


Chiến đấu cơ tàng hình F-22 Raptor của Không Quân Mỹ đậu tại căn cứ của Hoa Kỳ ở Osan, Nam Hàn. (Hình: Kim Min-Hee/Getty Images)



Theo báo cáo của FBI trình cho tòa, được công bố hôm 25 Tháng Tư, hai người Ðài Loan bị bắt sau khi nói với nhân viên chìm của Mỹ rằng, họ làm việc với “giao liên” thuộc tình báo Trung Quốc, và muốn mua một chiếc phi cơ thám thính không người lái cùng kỹ thuật tàng hình liên hệ đến chiến đấu cơ F-22 Raptor.


Âm mưu này bị phát giác trong cuộc điều tra trước đó về việc hai người này bị cho là liên quan đến một vụ buôn bán hàng giả trị giá hàng trăm triệu dollar, kể cả hoạt động mua bán chất ma túy crystal methamphetamine.


Hui Sheng Shen, được biết với tên “Charlie,” 45 tuổi và Huan Ling Chang, với tên “Alice,” 41 tuổi, bị truy tố tội vi phạm luật kiểm soát xuất cảng vũ khí (Arms Export Control Act), cùng với tội liên quan đến ma túy. Với những tội danh này họ có thể trực diện bản án tù chung thân.


Theo hồ sơ của FBI, một người buôn lậu ma túy trung gian ở Hồng Kông đã vô tình dẫn nhân viên chìm đến gặp Shen và Chang. Hồi mùa Hè 2011, hai người này thảo luận với nhân viên chìm về hoạt động buôn lậu ma túy nhưng đến Tháng Chín họ mới đề cấp đến việc mua máy bay tàng hình, phi cơ trinh sát E-2C Hawkeye, và kỹ thuật tàng hình của chiếc F-22.


Cuộc theo dõi kết thúc hồi Tháng Hai 2012, khi nhân viên FBI gặp gỡ Shen và Chang để “chung kết” cuộc mặc cả quan trọng về ma túy, đồng thời cho phép hai người này chụp hình một số kỹ thuật bảo mật của quân đội Mỹ.


Thẩm phán liên bang Paul Fishman nói: “Lệnh truy tố này cho thấy rõ vì sao chúng ta phải có hành động, và những gì gặp nguy hiểm một khi an ninh ở các bến cảng của chúng ta bị xâm nhập vì bất kỳ lý do nào.” (TP)

Báo động giới trẻ California uống thuốc tẩy trùng để say


LOS ANGELES (AP)
Giới bác sĩ thuộc các phòng cấp cứu báo động thanh thiếu niên ở California đang có một khuynh hướng nguy hiểm: uống nước thuốc dùng tẩy trùng bàn tay (hand sanitizer) để tìm cảm giác say.










Năm 2009, nước tẩy trùng bàn tay được khuyên nên dùng thường xuyên để tránh lây lan cúm gà. Gần đây ở Nam California có báo động về việc 6 thiếu niên phải vào cấp cứu vì ngộ độc cồn do uống thuốc này để được say. (Hình: AP/Damian Dovarganes)


Theo báo LA Times, sáu thanh thiếu niên đến trình diện tại hai phòng cấp cứu ở San Fernando Valley để xin được điều trị ngộ độc cồn, sau khi uống hand sanitizer.


Một số theo chỉ dẫn trên mạng, dùng muối để tách cồn ra khỏi chất tẩy trùng, khiến có được một thức uống có nồng độ cao như rượu mạnh chính hiệu.


Chất lỏng hand sanitizer có chứa 62% ethyl alcohol và có thể chế biến thành rượu nồng độ 120 độ, so với uýt-ki hoặc vodka chỉ có 80 độ là cao. Chỉ cần uống một tí cũng đủ làm cho người ta nói chuyện lắp bắp và bao tử nóng ran, và có thể say đến nỗi phải vào phòng cấp cứu nhờ giúp đỡ.


Mặc dù chỉ mới có vài trường hợp nhưng Cyrus Rangan, chuyên gia sức khỏe cộng đồng về độc chất của quận San Fernando Valley nói rằng, đây có thể là dấu hiệu của một khuynh hướng rất nguy hiểm.


Helen Arbogast, người điều hợp ngăn ngừa thương tích thuộc chương trình chấn thương ở bệnh viện Nhi Ðồng Los Angeles nói: “Trong các năm qua, các em đã uống thử đủ loại thứ, kể cả thuốc trị ho. Chúng tôi mong rằng đây sẽ không trở thành một khuynh hướng mới.” Bà Arbogast khuyên các phụ huynh nếu có mua hand sanitizer thì nên mua loại foam sủi bọt hơn là chất lỏng vì loại foam khó trích chất cồn ra và ở tại nhà nên để ý chừng nước tẩy trùng này như để ý rượu bia. (TP)

Ai bán Việt Nam Cộng Hòa cho Hà Nội?


Võ Long Triều


 


Tôi được mời dự lễ bàn giao giữa Tổng Thống Trần Văn Hương và Ðại Tướng Dương Văn Minh. Ngồi trong phòng khánh tiết Dinh Ðộc Lập, tường kiếng bao quanh nhìn thấy rõ bên ngoài, đột nhiên trời giông gió mạnh làm gãy một nhánh lớn của cây dầu trước sân; tôi hồi tưởng đến những cảnh xuất quân trong truyện Tam Quốc Chí mà cờ soái lệnh đột nhiên bị gẫy là điềm không lành.










Bút tích của Ðại Sứ Bùi Diễm trong bản nháp, viết tay về những điều ông phúc trình với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ðoạn này có nội dung: “Chúng tôi lúc đó có nói lại rằng: Nếu có sự trục trặc giữa hai chính phủ thì một phần lớn cũng là do ở chỗ hồi tháng 10, khi ông và ông Kissinger mang bản dự thảo thỏa hiệp với cộng sản tới Saigon, các ông đã không hỏi ý kiến chính phủ Việt Nam trước. Về điểm nầy ông Haig nhìn nhận là các ông có lầm lẫn.”


Bên cạnh tôi là anh bạn Nguyễn Thanh Liêm, thứ trưởng Giáo Dục. Khách dự lễ tổng cộng có mấy chục người, năm ba ông dân biểu hiện diện, còn có Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Không Quân, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chức, tổng cục trưởng Công Binh và một số sĩ quan, viên chức của Phủ Tổng Thống.


Không lâu sau lễ bàn giao, một sĩ quan Không Quân, cộng sản nội tuyến, giội bom dinh Ðộc Lập, rồi Việt Cộng pháo kích phi trường Tân Sơn Nhứt như mưa, rồi quân của nó tràn vào tứ phía, từ nhà tôi ở đường Mạc Ðỉnh Chi, đứng ngoài bao lơn nhìn thấy xe tăng cộng sản chạy ngang trên đường Thống Nhứt, chúng đi thẳng vào Dinh Ðộc Lập. Thôi hết rồi. Vận nước đến hồi tận!


Tôi trình diện đi tù với danh nghĩa “học tập cải tạo,” một trong nhiều xảo ngôn, mưu mẹo dùng trong xảo thuật tuyên truyền mà chỉ có cộng sản Hà Nội mới sáng tạo ra được những thứ đó. Rồi tôi đi tù, được thả ra sớm, được dụ dỗ hợp tác phục vụ đất nước. Sự từ chối của tôi buộc phải đi tù một lần nữa, rồi lại được dụ dỗ ngon ngọt hơn, nhưng tôi lại khước từ nên phải trả giá 11 năm hành hạ thê thảm trong biệt giam, trong khu tử hình, trong nhà giam tập thể (xin đọc hồi ký Võ Long Triều Tập II). Nhưng số mạng còn cho phép tôi ngồi đây tìm hiểu ai đã phản bội đồng minh, ai ép chết Việt Nam Cộng Hòa?


Ðược trả tự do năm 1988 tôi có dịp đọc hồi ký của ngoại trưởng Mỹ thời đó là ông Henry Kissinger mới biết rõ, chính ông ta dâng miền Nam Việt Nam cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai khi ông nầy yêu cầu: “Nếu Mỹ bỏ miền Nam Việt Nam thì các ông lật đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa cho chúng tôi.” Kissinger trả lời: “Vì danh dự và thể diện, chúng tôi không thể làm việc đó nhưng các ông hành động chúng tôi không ngăn cản.”


Sự phản bội này thể hiện qua cuộc thương thuyết mà Kissinger tự ý móc nối, dàn xếp, thương lượng giùm cho Việt Nam Cộng Hòa trong cái “gọi là hội đàm Paris.” Tiếng là Nam Bắc Việt Nam đàm phán tìm giải pháp hòa bình cho Việt Nam nhưng thực tế là Mỹ đàm phán để giao miền Nam cho Hà Nội. Bằng cớ là nhiều tài liệu của Ðại Sứ Bùi Diễm từ Washington, Paris, London gởi trình cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ ngày 5 đến ngày 19 tháng 1 năm 1973 chứng minh hành động của Kissinger và Tướng Haig, thứ trưởng Ngoại Giao, mật đàm với Lê Ðức Thọ bất kể lập trường và ý kiến của Việt Nam Cộng Hòa.


Bản nháp viết tay tờ trình của Ðại Sứ Bùi Diễm trước khi đánh máy gởi Tổng Thống Thiệu như sau:


“[Kissinger] thố lộ rằng những buổi mật đàm với Lê Ðức Thọ trong những năm qua, Lê Ðức Thọ đã đề nghị với ông rằng chỉ cần đánh đổ chế độ miền Nam Việt Nam thì Bắc Việt sẽ chịu hết mọi điều kiện khác. Ông nói ông đã bày tỏ tất cả những đề nghị ‘đi đôi’ của Lê Ðức Thọ trong nhiều năm không thành.”


Và sự kiện chứng minh rõ ràng nhứt, Kissinger và Tướng Haig tự ý thương lượng với Bắc Việt mà không hề hỏi ý kiến chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong khi cả thế giới hiểu rằng sự đàm phán phải do hai bên Nam, Bắc Việt thương lượng điều kiện để tiến tới hòa bình. Hội đàm Paris chỉ là một màn kịch do Hoa Kỳ đạo diễn để trao Việt Nam Cộng Hòa vào tay cộng sản Hà Nội.


Cũng trong bản chép tay của Ðại Sứ Bùi Diễm:


“Chúng tôi lúc đó có nói lại rằng: Nếu có sự trục trặc giữa hai chính phủ thì một phần lớn cũng là do ở chỗ hồi tháng 10, khi ông và ông Kissinger mang bản dự thảo thỏa hiệp với cộng sản tới Saigon, các ông đã không hỏi ý kiến chính phủ Việt Nam trước. Về điểm nầy ông Haig nhìn nhận là các ông có lầm lẫn.”


Mặc dù đã nhìn nhận có lầm lẫn nhưng hai ông Kissinger và Haig vẫn tiếp tục mật đàm riêng với Bắc Việt, bất kể quyền lợi của Việt Nam Cộng Hòa. Vẫn theo bản viết tay của cựu đại sứ Bùi Diễm:


“Trong buổi họp ông đã kể lại những điểm khác biệt giữa bản dự thảo thỏa hiệp mới và bản dự thảo thỏa hiệp tháng 10, những khác biệt mà ông gọi là ‘Considerable improvements’ lập luận và lời lẽ của ông thì cũng quyết liệt như lập luận và lời lẽ của ông Haig khi gặp chúng tôi ở Hoa Thịnh Ðốn.”


Sau những lời giải thích phi lý luôn luôn có tính cách thuận lợi cho cộng sản Bắc Việt, Kissinger và Tướng Haig giở giọng hăm dọa trắng trợn rằng: Nếu có một thỏa thuận mà Tổng Thống Nixon chấp nhận và Tổng Thống Thiệu bác bỏ thì Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam. Rõ ràng Kissinger thương thuyết cho quyền lợi của Hoa Kỳ bất kể người đồng minh Việt Nam mà báo chí và chính trị gia Mỹ thường vuốt ve đề cao là “Tiền Ðồn Chống Cộng” trong chiến lược của Hoa Kỳ khi chủ trương “be bờ cộng sản.”


Ðại Sứ Bùi Diễm viết tiếp: “Ông nói: ‘If there is an agreement accepted by our president and if your president decides to reject it, it will be the end of everything or in other words it will be the ‘abandon’ of Việt Nam’, ông nói là ông không có một sự nghi ngờ nào về sự quyết tâm của Tổng Thống Nixon.”


Sự hù dọa nầy được Ðại Sứ Bùi Diễm phúc trình như sau: “Còn về phần Hoa Kỳ, khi thái độ của các ông Rogers, Kissinger, Haig có thể chứa đựng một phần nào tính cách ‘hù’ (hay nói một cách nôm na hơn, tính cách dọa dẫm), tính cách ‘hù’ đó chỉ là một phần thôi.”


Và sau đó Tướng Haig thực hiện lời đe dọa của ông trong cuộc gặp Tổng Thống Thiệu lần cuối cùng: “Rồi ông kết luận là ông sẽ đi Saigon trong một tương lai gần và lúc đó sẽ là ‘moment of truth.’”


Người ta còn nhớ cuộc gặp gỡ của Tướng Haig với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Ðộc Lập, Sài Gòn, ông hăm dọa bằng những lời lẽ như thể đánh tiếng: Sẽ là “moment of truth”? Và Tổng Thống Thiệu có hoảng sợ nghĩ tới số phận của người tiền nhiệm ông là cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không? Phải chăng vì sợ Mỹ nhiều hơn lòng can đảm dám hy sinh bản thân mình để bảo vệ nhân dân và đất nước mà ông Thiệu luôn luôn chấp nhận mọi điều kiện và sự cố vấn của người Mỹ, kể cả sự rút quân vội vã, trái ngược với ý kiến của nhiều tướng lãnh Việt Nam trong đó có Tướng Ðặng Văn Quang là người thân cận Tổng Thống Thiệu.


Ðể kết luận, người ta có thể mượn lời thú nhận của Kissinger tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ năm trước trong cuộc thảo luận về kinh nghiệm đã qua, ông nói Việt Nam Cộng Hòa mất về tay cộng sản Hà Nội là do lỗi lầm của Hoa Kỳ. Lời thú tội muộn màng của con người xảo quyệt, đã từng khuyến dụ các ông Ðại Sứ Bùi Diễm, Trần Kim Phượng, Vương Văn Bắc là các ông nên “tự tin” phải xem kết quả này là một “thắng lợi” của các ông!


Mặt khác trong tập hồi ký của cố Tổng Thống Richard Nixon, ông viết rằng, khi thấy đoàn người Việt Nam di tản ngơ ngác trước cảnh lạ quê người, ông thầm nghĩ nếu ông còn tại chức sẽ không có cảnh tượng đáng thương nầy. Lòng trắc ẩn thật hay lương tâm bất ổn vì những quyết định tàn nhẫn của chính mình?

Loạn rồi!


Tâm Việt


 


Sáng hôm nay, 24 tháng 4, tỉnh dậy tôi vào xem tin trên mạng và đập mắt nhất, làm cho tôi tỉnh hẳn là tấm hình trên BBC Vietnamese lấy từ xuandienhannomblog: Tấm hình cho thấy bộ đội dàn quân ở xa trong ánh sương mờ buổi sáng, chuẩn bị cho chuyện cưỡng chế lấy 72 héc ta đất của dân ba xã Xuân Quang, Phụng Công và Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang, Hưng Yên, để cho công ty Việt Hưng (Vihajico) chuyển thành Ecopark, một loại công viên giải trí kiểu Disneyland.










Công an, cảnh sát cơ động, bộ đội được huy động đến huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hôm 24 tháng 4, để cưỡng chế 70 hecta đất xây dựng khu đô thị Ecopark.


Theo một nhân chứng, ông Kiên, nói với BBC thì: “Sáng nay 4g30 sáng nó đưa công an đến nó giải vây trước. Nó đi dàn hàng ngang, dồn bà con vào đánh đập. Nó ném lựu đạn pháo, xong rồi nó dồn về cánh đồng [xã] Xuân Quang, rồi nó đưa gần 100 cái máy ủi xuống nó càn quét, phá phách vườn cây cối của dân.”


Vẫn theo BBC, “Người dân Văn Giang tự trang bị gậy gộc trong vụ giữ đất [song] bất thành.”


Hãng tin Reuters thì dẫn lời một người tên Tuyên nói: “Nếu họ muốn lấy đất, chúng tôi đề nghị các nhà đầu tư đến nói chuyện trực tiếp với chúng tôi nhưng họ không làm vậy.”


Còn theo AFP, số người dân “bám trụ” để bảo vệ đất trong vụ chống cưỡng chế “lên tới 700 người.”


Tin tức về sự phản đối của dân làng và vụ cưỡng chế chưa xuất hiện trên truyền thông trong nước nhưng một vài bloggers đã về tận nơi để đưa tin. Video từ các trang mạng xã hội cho thấy người dân xuất hiện với số đông, nhiều người đầu đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang. Một số người mang theo gậy gộc.


Hình ảnh từ video cũng cho thấy cảnh sát chống bạo động với những lá chắn lớn tiến vào khu đất vào sáng 24 tháng 4. Có những lúc họ phải lùi lại khi bị dân làng ném đá, thậm chí cả chai xăng. Nhưng số đông công an và những người mặc thường phục cuối cùng đã áp đảo hàng trăm dân làng.


Vẫn theo ông Kiên, “Chúng tôi ném chai xăng vào họ nhưng không ăn thua gì vì họ có lá chắn. Họ dùng dùi cui đánh chúng tôi. Kể cả khi chúng tôi chạy về làng họ vẫn đuổi theo và đánh tiếp. Họ đã chiếm đất và dùng xe ủi phá hủy mùa màng. Chúng tôi đã thua. Tôi không biết sẽ làm gì tiếp.”


Ông Kiên cũng nói cảnh sát đã ném lựu đạn gây choáng vào dân làng và bắt đi 10 người. Ngoài ra, còn có tin là bà con ở một hai tỉnh, huyện lân cận như Bắc Ninh và Dương Nội cũng tìm cách kéo sang để ủng hộ người dân ở Văn Giang chống lại bạo quyền đang “cướp đất” của dân.


 


Những liên tưởng đến Nazi và thời Xô Viết


 


Chúng ta không có những hình ảnh xa xưa để biết khi Pháp sang xâm chiếm VN và cưỡng chiếm đất của dân ta làm nông trại hay vườn cao su, họ có phải điều động đến những lực lượng công an, bộ đội đông đảo đến như dưới thời “CSVN dân chủ hơn vạn triệu lần các nước dân chủ Tây phương” không.


Có điều người Việt chúng ta ngày nay có ít nhất ba triệu đôi mắt mở to trên khắp thế giới và tôi ngờ là không ở đâu, trong các nước Tây phương (hay chỉ cần văn minh như Nhật Bản hay Ðại Hàn thôi), ta lại được chứng kiến những việc làm thô bạo như ở Văn Giang ngày hôm nay.


Ðể có những hình ảnh tương tự, ta chắc phải trở về những năm 1930-40 ở Ðức Quốc xã hay các nước bị Hitler xâm chiếm hoặc khi quân đội Nhật đánh chiếm Nam Kinh (1937) mới có thể có được những hình ảnh kinh hoàng đến như thế. Và cũng như người Do Thái ở Tây Âu ngày đó hay người Miên dưới thời Pol Pot, người dân Việt ngày hôm nay cũng bất lực không kém, họ không thể ngờ được rằng đây là những công an, bộ đội “đồng bào” của họ mà giờ đây sẵn sàng đang tâm giết chết “đồng bào” của mình để phục vụ cho những lợi ích bẩn thỉu của tư bản đỏ cấu kết với tư bản nước ngoài (trường hợp này có lẽ là tư bản Ðại Hàn có cổ phần trong công ty Vihajico).


Có lẽ vì thế mà ta còn thấy rơi rớt một chút lương tâm trong ngay những toán quân đi làm việc cưỡng chế. Theo Blog [Nguyễn] Xuân Diện, một số nhân viên an ninh trẻ đã khóc khi bị cụ bà Lê Hiền Ðức “mắng” họ là “đem súng ống bắn vào dân” và đi “cướp đất của cha mẹ… cho bọn quan chức tham nhũng.”


 


Sắp đến ngày tàn của chế độ?


 


Những vụ như Văn Giang hay Tiên Lãng (tức vụ Ðoàn Văn Vươn, tuy ở một quy mô nhỏ hơn) chứng tỏ:


Người dân có thể bị ức hiếp nhưng họ hết sợ rồi. Vì sao? Vì họ biết là lẽ phải ở về phía họ. Rằng không chế độ nào có thể tồn tại được khi nó phải dựa vào bạo lực (triền miên, trải khắp) để “cướp” của dân.


Vấn đề quyền tư hữu ruộng đất là vấn đề sống còn của ít nhất 70-80% dân số Việt Nam, như “Tuyên bố” mới nhất của Khối 8406 (ra ngày 20 tháng 4, 2012) đã khẳng định và cũng như một tác phẩm nổi tiếng mới đây của cựu Thẩm Phán Nguyễn Cao Quyền ở ngoài này chứng minh.


Ðã đến lúc người dân, 90 triệu dân Việt Nam từ Nam chí Bắc và nhất là ở hải ngoại, phải trưởng thành và không còn mù quáng để cho một “chính quyền” bất lực và phản quốc dẫn dắt đi mãi như một đàn bò vào ngõ bế tắc, lệ thuộc ngoại bang (Trung Cộng).


Ðã đến lúc 90 triệu dân VN, như Luật Sư Lê Quốc Quân viết mới đây trên BBC, phải có nhân phẩm và hưởng những quyền tự do căn bản của con người như được Liên Hiệp Quốc và quốc tế công nhận, đặc biệt khi những quyền này đã được minh thị định nghĩa và Hà Nội bắt buộc phải tôn trọng (như trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 và hai Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị cũng như về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa mà Hà nội đã ký kết từ tháng 9, 1982).


Nói cách khác, ta không cần phải đi đâu xa để mà nhìn ra ngày tàn của chế độ ở trong nước trong lúc này. Ta chỉ cần trích dẫn ngay những người chóp bu trong chế độ tàn mạt đó như:


Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước, mới ngày nào đã phải thổ lộ ở Tokyo: “Bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp [cho đảng CS độc quyền lãnh đạo đất nước] là tự sát.”


Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN, tuy thường được gọi là “Trọng Lú” cũng đã phải tỉnh táo mà nói với Tổng Cục 2 (tức Tổng Cục Tình Báo của Bộ Quốc Phòng Hà Nội) mới hôm 23 tháng 4: Tình hình trong nước và thế giới hiện đang có những “diễn biến khó lường” cũng như đang có các nguy cơ “diễn biến hòa bình,” “tấn công mềm,” “tự chuyển hóa” và thúc đẩy “tự diễn biến” của “các thế lực thù địch.” Thậm chí, ông còn nói Tổng cục 2 cần phải quản lý chặt chẽ cán bộ trong chính Tổng cục để tránh xảy ra tình trạng “người trong đội ngũ mình phản lại mình.”


Nếu đó là những nguy cơ mà Tổng Trọng trông ra ngay trong nội bộ Ðảng, nội bộ quân đội và ngay cả nội bộ của cái tổng cục “con cưng” của chế độ thì ta đâu cần đến “thế lực thù địch” nào. Kẻ thù ngồi ngay sau lưng ngựa đó thôi! Nó có thể đâm sau lưng “ta” một nhát bất cứ lúc nào đó, đồng chí Trọng ạ!

Bách Việt, trăm dòng

 


Viên Linh


 


Sinh ở đâu mà giạt bốn phương


Trăm con cười nói tiếng trăm dòng


Ngày mai nếu trở về quê cũ


Hy vọng ta còn tiếng khóc chung.


(Thủy Mộ Quan)


 


Bách Việt là tên “gọi chung các nước ở phía Nam nước Tàu ngày xưa, ở miền Chiết Giang và Mân Việt.” (1. Ðào Duy Anh, Từ điển Hán Việt) Một số những định nghĩa khác, nói Bách Việt là những nước ở phía Nam sông Dương Tử; “theo ức đoán, có lẽ người Việt Nam là một giống của Bách Việt.” (2. Lê Văn Ðức và Lê Ngọc Trụ, Việt Nam Tự Ðiển)











Những chiến nón, điển hình cho phụ nữ Việt Nam, nổi trôi chìm đắm trên mặt nước, trong đáy mộ dưới Biển Ðông. Hình vẽ của Viên Linh. (Hình: Người Việt)



Bách là một trăm, mà ngày xưa, cũng là một số nhiều, nhiều lắm, không cần đích xác là một trăm, hay chín chục, đó “là con số trong huyền thoại của nhiều dân tộc.” (3. Hoàng Văn Chí, Duy Văn Sử Quan) Con số 100 trong Huyền sử Văn Lang, Âu Lạc, lại thêm một lần nữa, được dùng để chỉ dân Việt, qua câu chuyện bà Âu Cơ sinh ra 100 trứng, nở ra 100 con trai, 50 người theo mẹ lên Núi, vì là giống Tiên; 50 người theo cha xuống Biển, vì là giống Rồng. Lịch sử ta phân ly ngay tự buổi đầu, tuy chỉ phân đôi chứ không phân ba, nhưng chỉ mới phân đôi thôi cũng đã đánh nhau, giết nhau từ thuở sơ khai cho đến tận bây giờ.


Cuộc phân ly nào cũng bi thảm. Ðã phân ly từ dòng giống, còn phân ly từ gia đình, hôn nhân. Như chuyện vua Hùng gả công chúa cho Sơn Tinh, khiến Thủy Tinh hàng năm nhớ chuyện mất vợ hụt, dâng nước lên núi đánh tình địch, làm cua cá rồng rắn lên theo, chết vô số kể. Sơn Tinh đánh xuống, hẳn là bằng hỏa công các thứ, cũng làm hươu nai cọp báo chết đuối rất nhiều. Ðọc lại sử sách Việt, thấy cuộc chiến tương tàn xảy ra hết đời này tới đời khác. Cuộc tương tàn hiện tại vẫn còn xảy ra, 37 năm sau ngày đất nước gọi là thống nhất. Ðây chỉ là cuộc “thống nhất hận thù, thống nhất đau thương,” nói theo một nhà thơ. (3. Nguyễn Chí Thiện, Tiếng vọng từ đáy vực) Nhà cầm quyền thắng trận trị vì ở trong nước vẫn gọi những người thua trận, ở trong nước hay đã ra hải ngoại, là “các thế lực thù địch.” Thời thế một nước từ khi có sử, đã được kể lại trong sử sách, thơ văn. Tư tưởng và lý thuyết thơ văn mỗi thời đã cho ta thấy quá khứ phân ly tàn hại như thế nào. Ở Tầu có Ðông Châu Liệt Quốc, Thủy Hử, ở ta có Hận Sông Gianh, Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Bến Hải, các hồi ký trại tù tập trung cải tạo Trại Ba Sao, và sau 30 tháng tư 1975 tác giả bài này có Thủy Mộ Quan, toàn tập thơ nói về những cái chết trên đường vượt biên, những nấm mồ dưới đáy Biển Ðông. (4.Viên Linh, Thủy Mộ Quan)


Tập thơ xuất bản năm 1982, lúc ấy có hàng chục ngàn người Việt Nam đang sống trong các trại tị nạn cộng sản ở Ðông Nam Á. Cuộc trốn chạy cộng sản Việt Nam xảy ra như thế nào, báo chí thế giới có ghi lại, loan tin hay làm phóng sự. Dư luận và Quốc Hội Mỹ đem ra bản thảo, danh từ “thuyền nhân” chính thức được dùng trong các văn kiện của nước Mỹ.


Nhà thơ Nguyên Sa viết: “Thủy Mộ Quan với 171 đoạn thơ, mỗi đoạn bốn câu, mỗi câu bảy chữ, nhị thập bát tú […] Bạn tìm thấy không trong đáy sâu thẳm của Thủy Mộ Quan tâm sự của người binh bại, thật nhiều hồi tưởng, đầy ắp những thuyền nhân u uất trong lòng biển […] Còn nhiều thứ khác nữa, lịch sử nước ta, sự ngăn cách vạn lý người phương Bắc và người phương Nam, suy tưởng về văn chương ta mấy chục năm.


Ðoạn 76 Viên Linh viết:


 


Lưu vực điêu tàn ở Biển Ðông


Xương bày như thú cháy rừng hoang


Nhưng rừng không cháy nào đâu thú:


Người chết thân chìm Thủy Mộ Quan.


(trang 38)


 


Có kẻ bên trời thức trắng canh


Hồn xưa binh bại quẩn chân thành


Lắng nghe tiếng kẻng đồn quân cũ


Hối hả ra đường rảo bước nhanh.


(đoạn 2, trang 13)


 


Ôi tôi muốn mặc vội quần áo, chạy ra cho kịp, hô to có mặt. Tôi muốn khóc.


(Nguyên Sa, Ðọc thơ Viên Linh, tạp chí Ðời – Ðăng lại trên Người Việt số 238, 1983)


Trong mục Ðiểm Sách của tuần báo Tin Việt ngày 8 tháng 8, 1983, nhà phê bình Lê Huy Oanh viết: “Nhưng từ Tháng Tư Ðen 1975 Viên Linh đã nhận thấy chuyện riêng của đời mình nhỏ hẳn lại trước một biến cố khủng khiếp nhất của đất nước, […]Cảnh huống bi đát đó đã tạo ra một phong trào vượt biển vĩ đại nhất trong lịch sử của nhân loại, vừa hào hùng vừa bi thảm, kéo dài suốt mấy năm nay và hiện vẫn đang tiếp diễn. Biển Ðông gần như là ngả đường duy nhất giúp hàng triệu người thoát khỏi địa ngục của cộng sản, nhưng vốn có sự tàn nhẫn vô tình cố hữu của nó, Biển Ðông đã là mồ chôn của rất nhiều thuyền nhân xấu số. Hai phần đầu của tập thơ Thủy Mộ Quan đã phát biểu nỗi đau chung của đất nước. Ta thấy tác giả bị ám ảnh ghê gớm bởi cái chết tập thể: cái chết của chế độ tự do tại miền Nam, cái chết của biết bao chiến sĩ tự do trong các nhà tù cộng sản, cái chết của trăm ngàn thuyền nhân trên đường vượt biển. Do đấy tập thơ có đầy đủ hình ảnh của Sự Chết, đã khiến cho kho tàng thi ca Việt Nam có thêm một loại thơ chứa đựng những hình ảnh mới lạ chưa hề có trước 1975. Hãy thử đọc vài bài:



Một “Boat People,” hình trích từ tác phẩm “Boat People.” (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)


Ðời sau vét biển Thái Bình Dương


Thợ lặn tìm ra vạn cốt xương


(Hậu thế áng chừng ta động đất


Nền văn minh cổ cũng điêu tàn.)


(Ðoạn 18, Ðời sau vét biển, trang 18)


 


Thuyền trôi hơn tháng giữa trùng khơi


Gạo hết từ lâu nước cạn rồi


Em nhỏ trắng thơm mùi thịt ngọt


Ngày thuyền tới bến mất em tôi.


(Ðoạn 87, Thuyền trôi, trang 41)


 


Mười một cùng đi hề sót bốn


Năm người chết đói hề hai chìm


Nhìn xem tên mập hề vô dụng


Trừ bắp đùi y hề thịt mềm.


(Ðoạn 88, Mười một cùng đi, trang 42)


 


Nhưng mong ước của Trăm Dòng cuối cùng là sự trở về của một dòng: Dù con cái của các thuyền nhân sinh ở nước nào cười nói tiếng nước ấy, nhưng tác giả nhìn thấy cuối cùng khi đau đớn vì vận nước, rồi ra họ chỉ khóc bằng một thứ tiếng: tiếng Mẹ đẻ.


Westminster, 25 Tháng Tư năm thứ 37, 2012

Ðại Hội 18 của Ðảng Cộng Sản Trung Hoa


LTS – Thời sự dồn dập hàng ngày trên cả địa cầu có thể giúp chúng ta biết được rằng chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta không hiểu được vì sao lại xảy ra một biến cố như vậy, và hậu quả sau này sẽ ra sao… Cũng vì lý do ấy, nhật báo Người Việt mở thêm một tiết mục và lưu trữ trên trang mạng Người Việt Online để quý độc giả tham khảo. Ðó là mục “Hồ Sơ Người-Việt,” xuất hiện ngày Thứ Năm mỗi tuần, với nội dung trình bày khung cảnh khách quan của một vấn đề và, nếu có thể, một số dự báo về tương lai hầu độc giả khỏi ngỡ ngàng khi sự biến xảy ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả…


 


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Nếu không có gì thay đổi thì trung tuần tháng 10 tới, đảng Cộng Sản Trung Hoa sẽ tổ chức Ðại Hội Khóa 18. Nếu có trục trặc, mà e rằng có, người ta phải đợi đến thượng tuần tháng 11. Nghĩa là lãnh đạo đảng mất thêm hai tuần để thống nhất quan điểm.


Lý do trục trặc là 5 năm vừa qua, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quá nhiều đổi thay và gặp những thách đố mới. Vào dịp khác, “Hồ Sơ Người-Việt” sẽ nói về những thách đố mà thời sự hàng ngày đã có thể cho thấy.


So với đại hội trước, Ðại Hội 18 vào năm nay có tầm quan trọng 10 năm mới thấy một lần, vì đảng sẽ đề cử những người lãnh đạo cho thập niên tới và chuẩn bị tìm người cho thập niên sau đó. Giới quan sát Trung Quốc gọi đó là “Thế hệ lãnh đạo thứ năm.” Thế hệ sẽ giải quyết những thách đố mới và chuyển giao cho thế hệ thứ sáu, sẽ lãnh đạo từ năm 2022 trở đi, nếu như đảng Cộng Sản vẫn tồn tại.


“Hồ sơ Người-Việt” tuần này mở đầu với chuyện thế hệ và nói về những đổi thay nhân sự trên thượng tầng đảng.


 


Năm thế hệ lãnh đạo


 


Quy ước thông thường của giới nghiên cứu về đảng Cộng Sản Trung Hoa định nghĩa như sau về các thế hệ lãnh đạo.


Thế hệ thứ nhất là những người đã trưởng thành và tham gia việc thành lập đảng năm 1921 và cuộc Vạn Lý Trường Chinh trong thập niên 1930. Họ lên lãnh đạo Trung Quốc từ 1949 đến 1976. Mao Trạch Ðông là người tiêu biểu.


Thế hệ thứ nhì là các đảng viên dưới quyền lãnh đạo của Mao đã tham gia kháng chiến chống Nhật (Thế Chiến II) và lên lãnh đạo khi Mao tạ thế, từ năm 1976 đến 1992. Khuôn mặt tiêu biểu là Ðặng Tiểu Bình và các “lão đồng chí” đã đẻ ra nhóm “Thái tử đảng” hiện nay.


Thế hệ thứ ba là những người trưởng thành thời nội chiến Quốc-Cộng và tham gia xây dựng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc năm 1949, rồi lên lãnh đạo từ 1992 đến 2002. Giang Trạch Dân là người tiêu biểu cho thế hệ đó.


Cả ba thế hệ này đều có một đặc tính chung là “cách mạng” – chống ngoại xâm và xây dựng xã hội chủ nghĩa trong một chuỗi mưu thuật chính trị đầy chất gian hùng.


Khi nhìn lại thì từ Mao Trạch Ðông (1893-1976) qua Ðặng Tiểu Bình (1904-1997) đến Giang Trạch Dân (sinh năm 1926), lớp người lên lãnh đạo đều trải qua nhiều cuộc chính biến và thanh trừng đẫm máu trong đảng, từ những năm 1927 đến 1989. Như Giang Trạch Dân lên lãnh đạo khi Tổng Bí Thư Triệu Tử Dương bị cách chức rồi bị quản thúc tại gia năm 1989 (vụ thảm sát Thiên An Môn) cho đến khi từ trần năm 2005.


Giữ vị trí bản lề giữa ba thế hệ, Ðặng Tiểu Bình đã chứng kiến và vượt qua ngần ấy hoạn nạn. Ba lần bị “xuống chuồng bò,” nghĩa là hạ tầng công tác và bị giam lỏng, thậm chí bị truy lùng, mà ông vẫn vượt thoát và trở lại nắm quyền để đưa đảng và đất nước qua hướng khác.


Rút kinh nghiệm đó, Ðặng Tiểu Bình là người chọn Giang Trạch Dân cùng Kiều Thạch, Lý Bằng và Chu Dung Cơ lên cầm quyền. Cũng chính ông đã tuyển người sẽ lên lãnh đạo thuộc thế hệ thứ tư. Tiêu biểu nhất là đương kim Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào, sinh năm 1942, bên cạnh là Ngô Bang Quốc (1941), Ôn Gia Bảo (1942)…


Thế hệ thứ tư này là những người trưởng thành trong thời khủng hoảng của Trung Quốc là “Bước Nhảy Vọt Vĩ Ðại” (Ðại Dược Tiến, từ 1958 đến 1961) và “Cách Mạng Văn Hóa Vô Sản Vĩ Ðại” (Ðại Văn Cách, từ 1966 đến 1976). Ðộng lực kinh tế rồi chính trị của Mao đã gây biến động kéo dài nên ảnh hưởng đến tâm tư và cách ứng xử của họ. Là các kỹ thuật gia dè dặt, kín đáo, họ giữ nét chung là sự chừng mực. Nhưng nổi bật nhất là nỗi sợ hãi “cách mạng” – hiểu theo nghĩa phiêu lưu.


Thế hệ thứ năm là những người không nhớ hoặc không thể biết (vì sinh sau) những gian nan thời “dựng nước” là các biến cố trước 1949. Tuổi ấu thơ của họ còn bị vết hằn của Ðại Văn Cách vì đi chăn bò khi trường đóng cửa. Họ trưởng thành từ những năm 1970 về sau và tương đối có học hơn các thế hệ trước. Nét chung là nếu đa số thế hệ thứ tư là những người tốt nghiệp kỹ sư thì thế hệ thứ năm có nhiều người học luật, kinh tế, khoa học nhân văn và cả bang giao quốc tế.


Phó Chủ Tịch Tập Cận Bình (sinh năm 1953) và Phó Thủ Tướng Lý Khắc Cường (1955) thuộc vào thế hệ đó. Ðấy là hai người sẽ lên lãnh đạo Trung Quốc sau Ðại Hội 18. Vì sao người ta đoán như vậy?


 


Thường Vụ Bộ Chính Trị


 


Trên lý thuyết, lãnh đạo đảng là Ðại Hội Toàn Ðảng, năm năm tổ chức một lần. Sự thật lại là sự chọn lựa từ trên xuống chứ không từ dưới lên. “Dân chủ Tập trung” là vậy.


Tham dự đại hội là hơn 2400 đại diện của 80 triệu đảng viên. Ðại hội bầu ra Ban Chấp Hành Trung Ương gồm hơn 200 Ủy viên Trung ương và khoảng 170 Ủy viên Dự khuyết. Ban Chấp Hành bầu ra Bộ Chính Trị gồm 25 người, cao nhất bên trong là 9 người của Thường Vụ Bộ Chính Trị, và 6, 7 người trong Ban Bí Thư Trung Ương.


Thường Vụ BCT là cơ quan lãnh đạo tối cao sau khi tham khảo ý kiến của cả Bộ Chính Trị. Còn lại, chuẩn bị nghị trình thảo luận để quyết định là Ban Bí Thư. Sau thời Hồ Diệu Bang làm tổng bí thư (1982-1987), Ban Bí Thư này hết còn tầm quan trọng như xưa.


Do một quy luật bất thành văn của Ðặng Tiểu Bình, những người lãnh đạo phải về hưu ở tuổi 70. Sau đó, nhu cầu trẻ trung hóa đã hạ mức hồi hưu xuống 68 tuổi, và lần này có thể còn thấp hơn.


Do quy luật đó, 7 trong 9 người của Thường Vụ BCT hiện nay sẽ phải về hưu, hai người trẻ nhất còn lại là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường. Họ sẽ lãnh đạo cùng các ủy viên Bộ Chính Trị hiện nay được nâng vào Thường Vụ. Như vậy, nếu Ðại Hội 18 quy định số ủy viên Thường Vụ vẫn là 9 người thì trên nguyên tắc có 7 cái ghế sắp trống. Từ mấy năm qua, mọi cuộc vận động, tranh thủ hoặc đấu tranh trên thượng tầng đều nhắm vào 7 chỗ trống này.


Nhưng quyết định chung cuộc vẫn do sự dồng thuận giữa 9 ủy viên được đưa vào Thường Vụ BCT qua các Ðại Hội 16 năm 2002 và Ðại Hội 17 năm 2007. Họ là những ai?


 


Thứ bậc bên trong


 


Thực ra, Thường Vụ BCT cũng có đẳng trật trong nội bộ. Báo chí quốc doanh có nhiệm vụ tôn trọng đẳng trật đó khi tường thuật. Muốn hiểu rõ về đẳng trật cao thấp và quyền uy thực tế của từng người khi họ chuẩn bị nhân sự lãnh đạo sau này thì ta còn phải hiểu thêm về cách tổ chức của đảng.


Trung Quốc có ba cơ chế lãnh đạo quan trọng nhất là đảng, nhà nước rồi tới quân đội.


Bên trong đảng thì đó là lần lượt Thường Vụ Bộ Chính Trị, Bộ Chính Trị và các ủy ban Trung Ương Ðảng mà họ gọi là Ủy Hội. Bên trong bộ máy nhà nước thì có 1) Ðại Biểu Nhân Dân (Quốc Hội), thường được gọi tắt là “Nhân Ðại,” mà thật sự lãnh đạo là Thường Vụ Quốc Hội, rồi 2) Quốc Vụ Viện (Hội Ðồng Chính Phủ) mà người cầm đầu là tổng lý, tức là thủ tướng, rồi 3) một cơ chế tư vấn gọi là Hội nghị Hiệp thương Chính trị, thường được gọi tắt là “Chính Hiệp.”


Cơ chế đảng và nhà nước cùng nhau lãnh đạo quân đội qua hai cơ quan có cùng tên, cùng thành phần nhân sự và cùng chức năng. Ðó là Trung Ương Quân Ủy Hội của đảng và của nhà nước. Tổng bí thư đảng, số một trong Thường Vụ BCT, là chủ tịch cả hai cơ quan cùng tên này, thường được gọi tắt là Quân Ủy, bên dưới mới là các tướng lãnh cầm đầu Bộ Quốc Phòng và quân đội. Chính cái thế hai mũ một chức vụ khiến quân đội và các tướng lãnh có ảnh hưởng chìm mà mạnh trong đảng và nhà nước mặc dù quân đội “phải nằm dưới sự chỉ huy của đảng.”


Ðại Hội 17 đã đưa 9 người lên lãnh đạo theo đẳng trật từ cao đến thấp sau đây:


1. Hồ Cẩm Ðào (1942), Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch hai Quân Ủy Trung Ương của đảng và của nhà nước.


2. Ngô Bang Quốc (1941), Bí thư đảng trong Thường Vụ Quốc Hội và Chủ Tịch Quốc Hội.


3. Ôn Gia Bảo (1942), Bí thư đảng trong Quốc Vụ Viện, tức là Tổng Lý Quốc Vụ Viện mà ta gọi là Thủ Tướng. Dù vẫn được thời sự nhắc đến hàng ngày, trong hệ thống đảng, ông này còn thấp hơn Ngô Bang Quốc.


4. Giả Khánh Lâm (1940), Bí thư đảng kiêm Chủ tịch Chính Hiệp, cơ quan tư vấn quy tụ các đoàn thể quần chúng do đảng lập ra và thực tế lãnh đạo, từ “mặt trận tổ quốc” đến công đoàn.


5. Lý Trường Xuân (1944), Trưởng ban Kiến thiết Tinh thần Văn minh của Trung ương đảng.


6. Tập Cận Bình (1953), Phó chủ tịch nước, Phó Chủ tịch hai Quân Ủy của đảng và nhà nước, Trưởng ban Bí Thư Trung ương và Giám đốc Trường đảng (Trung Ương Ðảng Giáo) cơ quan đào tạo 1.300 đảng viên ưu tú sẽ lên lãnh đạo sau này.


7. Lý Khắc Cường (1955), Phó Bí thư Quốc Vụ Viện nên cũng là Phó Thủ tướng.


8. Hạ Quốc Cường (1943), Bí thư (Trưởng ban) Kiểm Tra Kỷ Luật của Trung ương đảng.


9. Chu Vĩnh Khang (1942), Bí thư (Trưởng ban) Chính Trị và Pháp Luật Trung Ương.


Trong lối tổ chức này, người có nhiều quyền uy nhất phải lãnh đạo cả đảng, nhà nước lẫn quân đội. Kế tiếp là người của đảng có nhiệm vụ lãnh đạo Quốc Hội, sau đó mới là lãnh đạo Chính phủ và các đoàn thể quần chúng (Chính Hiệp).


Khi nhìn vào cách tổ chức, người ta cũng có thể thấy vai trò quan trọng của tư tưởng xuyên qua vị trí của nhân vật số năm, Lý Trường Xuân, ông ta chỉ đạo các ban tuyên truyền, huấn luyện và kiểm soát tư tưởng, truyền thông báo chí.


Song song, vai trò của Ban Kỷ Luật Trung Ương (Hạ Quốc Cường) cũng đáng kể vì có nhiệm vụ thanh lọc hàng ngũ đảng viên, và còn quan trọng hơn Ban Tổ Chức. Hạ Quốc Cường từng là Trưởng ban Tổ Chức trước khi Lý Nguyên Triều lên thay thế.


Sau cùng, trong hệ thống lãnh đạo, Chu Vĩnh Khang là người cuối bảng, cầm đầu Ban Chính Pháp với nhiệm vụ chỉ đạo hai bộ máy nội vụ (Bộ Công An) và an ninh (Bộ An Toàn Quốc Gia). Bộ Công An chỉ huy lực lượng cảnh sát, có võ trang hay không, và Bộ Quốc An chỉ huy hệ thống tình báo, an ninh và phản gián. Chu Vĩnh Khang là bộ trưởng Công An từ 2002 đến 2007 và đang bị dính líu đến việc nâng đỡ hoặc bênh vực Bạc Hy Lai.


Chín người trong Thường Vụ Bộ Chính Trị này phải dàn xếp để chọn trong số ủy viên Bộ Chính Trị còn lại những ai sẽ lên kế vị. Ngoài Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, các nhân vật có triển vọng hiện nay là Trưởng Ban Tổ Chức Lý Nguyên Triều (1950), Bí thư Quảng Ðông Uông Dương (1955), Ủy viên Quốc vụ viện kiêm Phó Thủ tướng Vương Kỳ Sơn (1948), Trưởng ban Tuyên Truyền Lưu Vân Sơn (1947), Phó Thủ tướng Trương Ðức Giang (1946), người vừa thay Bạc Hy Lai làm Bí thư Trùng Khánh.


Ngoài ra, cũng có chút hy vọng là Lưu Yến Ðông (1945) Ủy viên Quốc vụ viện kiêm Phó Chủ tịch Hiệp Chính – phụ nữ duy nhất trong Bộ Chính Trị – kế đó là Trương Cao Lệ (1947) Bí thư thành phố Thiên Tân, hay Ðại tướng Từ Tài Hậu (1943), Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, sĩ quan duy nhất trong Bộ Chính Trị hiện nay.


Nếu nhớ lại tiêu chuẩn về hưu là 67 hay 68 tuổi thì ai sinh vào quãng 1944 coi như ít hy vọng (Từ Tài Hậu và Lưu Yến Ðông) và nếu có thì chỉ được một nhiệm kỳ, đến Ðại Hội 19 vào năm 2017 là phải đi (Trương Ðức Giang, Trương Cao Lệ hay Lưu Vân Sơn). Chi tiết đó nói lên một khía cạnh khác: việc quy định tuổi tác có thể là yếu tố đấu tranh.


Sau khi mô tả hệ thống tổ chức, vào một kỳ sau, “Hồ Sơ Người-Việt” giới thiệu tiếp các phe phái trong trận, như “Thái tử đảng,” “Ðoàn phái,” “cánh Thượng Hải” và “Thái thượng hoàng,” các lãnh tụ đã hoặc sắp về hưu như Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Ðào. (HT/NV)

Bầu cử đô trưởng Luân Ðôn

 


Lê Mạnh Hùng


 


Năm nay nước Anh không có một cuộc bầu cử toàn quốc nào, thành ra cuộc bầu cử đô trưởng Luân Ðôn có thể nói là cuộc bầu cử lớn nhất và gây chú ý nhiều nhất.


Hai ứng cử viên hàng đầu trong việc tranh chức đô trưởng lần này, Boris Johnson thuộc đảng Bảo Thủ, đương kim đô trưởng và Ken Livingstone, thuộc đảng Lao Ðộng, cựu đô trưởng đều là những nhân vật quen thuộc với cử tri. Họ là hai người độc nhất giữ chức vụ này kể từ khi nó được thành lập bởi chính phủ đảng Lao Ðộng của ông Tony Blair vào năm 2000. Nhưng người mà có thể tạo ra ảnh hưởng quan trọng nhất đối với lịch sử qua cuộc bầu cử này lại là một ứng cử viên mà chính mình cũng công nhận là không có hy vọng thắng cử.


Jenny Jones, ứng cử viên của đảng Xanh (Green) ra tranh cử chức đô trưởng Luân Ðôn có thể chỉ thu được chừng 5% số phiếu khi cuộc bầu cử diễn ra vào Tháng Năm tới. Nhưng bà cũng để lại dấu ấn trên chính trị Anh. Trong một cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên trên đài BBC, vào lúc mà ông Ken Livingstone, ứng cử viên của đảng Lao Ðộng Anh bị buộc không biết đến lúc này là lần thứ mấy phải biện minh việc ông chuyển số thu nhập sáu con số của ông qua một công ty để tránh thuế thì bà Jones lên tiếng, “Tôi tự hỏi tại sao ta không chấm dứt việc này bằng cách mọi người ai nấy đều công bố số thu nhập của mình và số thuế mình đóng. Như vậy mọi chuyện đều được công khai hóa.” Thế là mọi người đều đồng ý và cuộc bầu cử đô trưởng Luân Ðôn trở thành cuộc bầu cử đầu tiên tại Anh theo kiểu Mỹ với các cuộc tranh luận trên truyền hình và mọi người đều công bố tài sản và thu nhập của mình cho mọi người biết.


Ðến ngày hôm sau, tất cả các ứng cử viên khác đều công bố bản khai thuế của mình trong ba năm với một ngoại lệ: Ken Livingstone. Người cầm đầu chiến dịch tranh cử của ông Livingstone, Patrick Heneghan viết cho những ứng cử viên khác rằng ông Livingstone sẽ không công bố một dữ kiện gì cho đến khi tất cả những người khác đồng ý công bố thu nhập của cả những người trong gia đình họ. Tuy nhiên sau một loạt những bài chế diễu, ông Livingstone bị buộc phải làm một cái U-turn. Vấn đề là những con số mà ông đưa ra còn xa mới trở thành “tất cả những thu nhập của tôi” và đẩy ông sâu thêm vào vũng lầy của giả dối.


Trong những năm sau khi mất chức đô trưởng, ông Livingstone khai là thu nhập của ông chỉ đạt được 21,645 bảng Anh (khoảng 33,000 đô la). Nhưng trên thực tế, sổ sách của công ty Silvera, công ty mà hai cổ đông độc nhất là ông Livingstone và bà vợ cho thấy ông thu được một số tiền là 232,550 bảng Anh (khoảng 370,000 đô la). Chuyển số tiền này qua Silvera, ông Livingstone lợi dụng được luật thuế để tránh đóng một số tiền lớn cho sở thuế. Ông chỉ phải đóng thuế doanh nghiệp (21%) thay vì đóng thuế lợi tức cá nhân (đến 40%) cộng thêm đóng cho An Sinh Xã Hội (đến 9%) như tất cả những người khác kể cả Boris Johnson.


Nhưng làm vậy nó quả là tương phản với những gì ông Livingstone nói ra trong khi vận động tranh cử trong đó ông chửi những người tránh né thuế là “rich SOB” mà đáng lẽ “không được quyền đầu phiếu.”


Kể từ khi vụ tránh thuế của ông Livingstone bị phát hiện vào Tháng Hai năm nay, nó đã trở thành chủ đề chính của cuộc bầu cử lần này. Trong một “memo” bị lậu ra ngoài vào ngày 25 Tháng Ba, ông Heneghan người cầm đầu chiến dịch vận động tranh cử của ông Livingstone công nhận rằng “những chỉ trích liên tục đối với Ken, đặc biệt là chung quanh vấn đề thuế” đã khiến cho cuộc vận động tranh cử ông ông trở thành “khó khăn” và làm “giảm khả năng của chúng ta làm người ta tin chương trình hành động của chúng ta.”


Trong bản “memo” này, ông Heneghan mô tả ngân sách mà ông George Osborne đưa ra với những chính sách khắc khổ đánh vào những người trung lưu và người nghèo trong lúc cắt giảm thuế lợi tức – từ 50% xuống còn 45% – cho những người giầu là “cơ hội bằng vàng” để quay ngược tình thế. Và quả thật những gì diễn ra sau đó đã dẫn đến một sự giảm sút đáng kể trong số ủng hộ ông Boris Johnson và đảng Bảo Thủ. Nhưng nay vấn đề thuế lại nổ ra vào lúc mà chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa là bầu cử xảy ra. Ông Ken Livingstone đã cố gắng mạnh mẽ để lái cuộc tranh luận sang vấn đề chính sách trong đó họ đưa ra một chương trình mỵ dân với những hứa hẹn như là sẽ cắt giảm giá vé xe điện ngầm. Nhưng một trong những lý do vấn đề thuế má cá nhân của ông Livingstone trở thành đề tài chính là vì nó cho thấy rõ một nhược điểm then chốt của ông. Như Lynton Crosby một nhà phân tích chính trị nhận xét, “Tín nhiệm là trọng tâm của chính trị và điều mà vấn đề thuế cho ta thấy là Ken nói một đằng làm một nẻo.” Theo các cuộc khảo sát, ông Livingstone có một chương trình hành động được dân chúng ưa thích hơn, nhưng chương trình này có vẻ không giúp ông được bao nhiêu vì người ta không tin là ông sẽ thực hiện được nó.


Một trong những khía cạnh đáng chú ý của cuộc bầu cử Luân Ðôn này là nếu nó chỉ được quyết định theo đảng phái thì không có gì phải tranh luận nữa. Ðảng Lao Ðộng đã dẫn trước đảng Bảo Thủ đến hai con số tại Luân Ðôn trong mọi cuộc thăm dò từ hai năm nay. Nhưng có đến một phần ba cử tri Lao Ðộng tại Luân Ðôn từ chối không chịu ủng hộ ông Livingstone. Ðặc biệt trong số này có một nhóm nhỏ những người Lao Ðộng rất có ảnh hưởng trong đảng cho là ông Livingstone như một dân biểu Lao Ðộng của Luân Ðôn sẽ là “thất bại một cách nhục nhã” vì theo họ, ông là biểu tượng của tất cả những gì mà đảng Lao Ðộng phải từ bỏ nếu muốn lấy lại quyền lực “bè phái, ủng hộ những kẻ cực đoan Hồi Giáo, xa hoa phung phí, đó chính là những cái làm chúng ta mất niềm tin của dân,” theo lời của vị dân biểu.


Thế nhưng dù điều gì xảy ra trong cuộc bầu cử, một điều quan trọng đã xảy ra trong cuộc vận động tranh cử. Tuần qua, ông George Osborne, bộ trưởng Tài Chánh cho biết “ông rất vui vẻ” trong việc công bố bản khai thuế của mình và số thuế đóng. Những vị bộ trưởng khác cũng tương tự. Thành ra có thể tại Anh nay một nhà chính trị khó có thể “làm theo Livingstone” được nữa. Vô tình, con người mà đã từng được mệnh danh là chàng Ken “đỏ” (Red Ken) đã đóng góp vào việc làm chính trị Anh trở nên minh bạch hơn một chút.

Xin rửa tội tôi… bằng lửa

 


Du Tử Lê


(Tiếp theo)


 


Tới hôm nay, dù đã trên hai mươi năm, tôi vẫn nhớ người thanh niên có nụ cười hiền hậu mà dáng vẻ xa cách. Mãi sau này, tôi mới biết, nghề nghiệp chuyên môn của anh, là một bác sĩ y khoa.



Nhạc sĩ Nguyên Bích. (Hình: Nguyên Bích)


Nhớ Houston, đầu thập niên (19)90, khi phần nói chuyện của tôi kết thúc bằng câu hỏi trả lời cho Bác Sĩ Hồ Tấn Phước về bệnh thyroid của tôi – Người điều khiển chương trình loan báo, phần thứ hai của cuộc họp mặt Tất Niên là phần trình diễn văn nghệ.


“Phần này sẽ do nhạc sĩ Nguyên Bích, đảm trách.”


Ở một khoảng cách vừa đủ để có thể quan sát mọi cử chỉ, lắng nghe từng lời nói của Nguyên Bích, một đồng môn chưa từng gặp, nhưng lại sớm gây trong tôi điều gì, giống như ấn tượng hai mặt: Có thể lại gần mà, cùng lúc lại ngập ngừng. Không nên.


Tôi quay hỏi bạn tôi, Trương Trọng Trác.


Trác bảo, đó là một bác sĩ y khoa, mở phòng mạch riêng ở một khu ít người Việt, gần nhà Trác. Hỏi về tương quan giữa hai người, Trác nói, không thân lắm, nhưng:


“Tên này chơi được!”


Là bạn học với Trác từ thời đầu trung học, tôi hiểu, Trác có thể nói nhiều, rất nhiều về những người Trác quý hoặc, thân thiết. Ngược lại, Trác thường kiệm lời khi nói tới những người “không thân lắm.” Hoặc những người Trác phải giữ xã giao với cụm từ “vòng ngoài,” đầy ẩn ý.


Hai chữ “chơi được” Trác dành cho Nguyên Bích không phải là chữ Trác thường dùng. Vì thế, tôi đã định tâm, sẽ gặp Nguyên Bích, khi chương trình buổi họp mặt chấm dứt. Tôi muốn nghe Bích nói về những sáng tác âm nhạc của anh.


Tôi nhớ, cuối cùng, tôi không nói chuyện được với Nguyên Bích vì, dường như tôi phải trả lời những câu hỏi thêm của Bác Sĩ Hồ Tấn Phước, về căn bệnh thyroid tôi mang đã nhiều năm. Lại nữa, Trác cũng muốn giữa tôi và Bác Sĩ Phước, một khuôn mặt của thành phố Houston mà, theo Trác cũng là một thứ Trác không thân; nhưng “…tên này chơi được!”


(Tôi hoàn toàn đồng ý với Trác. Tôi không thấy một phân vân, ngập ngừng nào khi mà mới vài tiếng trước, với sự chứng kiến của một số thầy và, nhiều đồng môn, bất ngờ, Bác Sĩ Phước cho biết sẽ chữa, hoặc trả mọi y phí trị bệnh thyroid cho tôi, nếu tôi chịu di chuyển từ Nam Cali về Texas…)


Tôi nhớ giao tình giữa tôi và Nguyên Bích cũng không “tăng tốc” trong thời gian gần hai năm tôi về Houston chữa bệnh, dưới chiếc dù bảo bọc phần y phí của Bác Sĩ Phước. Riêng nơi ăn, chốn ở những ngày đầu của chúng tôi, do Trương Trọng Trác và Lê Văn Hào thu xếp. Ðó cũng là thời gian tôi cùng Cao Ðông Khánh, Phạm Thông, Ðăng Khánh, Lê Văn Hào… (sau, có thêm Việt Nguyên, Nguyễn Trí Tuệ…) hợp tác làm tờ Văn Nghệ.


Qua nhiều gặp gỡ nhân những buổi sinh hoạt văn nghệ, hay họp mặt giới hạn ở nhà riêng của Phương Hoa/Ðăng Khánh, tôi có nhiều cơ hội hơn, trò chuyện với Nguyên Bích. Nhưng lần nào, câu chuyện của chúng tôi cũng bị ngắt quãng hay, rẽ hướng, khi giữa chúng tôi có thêm các bạn khác. Dẫu vậy, tôi cũng được biết thêm ít nhiều về người thanh niên có nụ cười hiền hậu, khiêm tốn mà, dáng vẻ xa cách ấy.


Tôi không biết cái mặt thứ hai của ấn tượng hai mặt, là “ngập ngừng, không nên” ở tôi về Nguyên Bích, đã tan biến lúc nào!


Tôi chỉ nhớ mỗi gặp thêm tác giả ca khúc “Sao Vội Nhạt Phai” tôi một cảm thấy gần gũi, tin cậy anh hơn. Như sự phó thác hay, tin cậy mặc nhiên của một tình bạn cho ta êm đềm và, an tâm.


Cũng từ “phó thác, tin cậy” kia, thỉnh thoảng, chúng tôi đã có với nhau những trao đổi ngắn về văn học, nghệ thuật. Ðó là một thói quen không hề có chỗ đứng tốt trong tôi.


Tôi có thói quen xấu là, trong mọi giao tình, rất ít khi tôi nói về văn chương hoặc luận bàn một điều gì, liên quan gần xa tới vấn đề đó.


Do đấy, tôi không biết điều gì nơi Nguyên Bích, khiến tôi vượt qua được thói quen vốn đã thành nếp của mình?


Tôi nhớ, cách đây vài năm, nhân dịp trở lại Houston, vì thời gian ở lại quá ngắn, không thể gặp gỡ nhiều bằng hữu, hai bạn tôi Phương Hoa/Ðăng Khánh đã tổ chức cho tôi cuộc họp mặt, trong vòng thân mật, tại một nhà hàng ở tầng lầu nhất, nằm trên đường Bellair. Trong lúc chờ Phương Hoa “bật đèn xanh” bắt đầu chương trình, khi nắng chiều còn quyến luyến, bịn rịn những mái nhà thấp bên kia lộ, trả lời một câu hỏi của Nguyên Bích về một đoạn thơ, tôi đã nói với Bích một cách thoải mái về một vài kỹ thuật của đoạn thơ ấy.


Tôi nhớ, bên cạnh Bích lúc đó, có nhà thơ Mùi Quý Bồng, một bạn học rất thân của tác giả “Hãy Bảo Tôi.” (Tôi biết Mùi Quý Bồng từ những ngày họ Mùi còn hành nghề y khoa ở New Orleans, trước khi được biết, Bồng là con rể của nhạc sĩ Ðan Thọ, một người tôi rất quý.)


Tôi nhớ, dường như quá lâu tôi mới lại có dịp nói chuyện về vai trò của hình ảnh trong thơ. Vị trí và kỹ thuật liên tưởng gián cách – Từ hình ảnh này, nhẩy cóc qua một hình ảnh khác… giống thế võ “cách sơn đả ngưu” trong truyện chưởng Kim Dung…


Tôi nhớ, nếu Phương Hoa không nhắc nhở tôi… “đèn xanh đã bật” thì, tôi cũng không biết cuộc nói chuyện, sẽ lôi kéo chúng tôi tới chân trời nào?


Tôi có cảm tưởng, sau buổi chiều ấy, những khoảng cách cuối cùng giữa tôi và người nhạc sĩ luôn giữ cho mình “một xa cách vừa đủ” đã được san bằng, một cách “êm đềm và, an tâm!”


Tôi cũng nhớ, đâu khoảng một năm trước khi Trác bất ngờ, theo chân Hồ Tấn Phước “đi xa,” chúng tôi có một ăn trưa ở một nhà hàng… “giữa rừng.” Nơi Vera Ching phải điện thoại đặt bàn, giữ chỗ. Trong khung cảnh riêng tư, Trác đề cập tới những ngày cuối cùng của Bác Sĩ Hồ Tấn Phước, ân nhân của tôi…


Tôi hỏi, phải Phước được hỏa thiêu?


Trác đáp, không nhớ rõ. Rồi thêm:


“Hình như những tên chơi được thường đi sớm… cậu ạ!”


Hai chữ “đi sớm” của Trác như một tia chớp, cháy đỏ giai điệu ngậm ngùi của ca khúc “Xin rửa tội tôi,” một sáng tác của Nguyên Bích, qua tiếng hát Tuấn Ngọc, trong thần trí tôi, hỗn độn hình ảnh:


 


Ta, bia mộ lãng quên


Níu gì thời đã mất


Mở tung ta gió ngất lưng trời


Cho cháy rực nỗi đìu hiu.


……..


Ta đi trên đường gai


Dù Chúa không hề trải


Cảnh đời thôi cũng xế tàn


Nào ai không trở về?


……..


Ta ngồi mòn ghế cũ


Nghe mưa trên từng ngọn cây


Muộn phiền của bủa vây quanh


Sau lưng ta lá bày.


…….


Xin rửa tội tôi


Xin rửa tội tôi… bằng lửa!


Cho kẻ chết là ta


Ðến một ngày mai


Ðến một ngày mai…sống lại


Trong tay người mãi xa!” (4)


 


Khi âm vọng ca khúc vừa kể, chưa tắt hẳn trong tôi, tôi bảo Trác:


“Tớ thấy vẫn còn đấy chứ cậu!”


Trác ngơ ngác! Tôi nói:


“Thí dụ, Nguyên Bích!”


Trác lập lại, gần như nguyên văn câu nói của Trác hai chục năm trước:


“…Ừ, tên đó chơi được!”


Tôi buột miệng hỏi Trác một câu, không liên quan gì tới câu chuyện:


“Cậu có tin tớ đang muốn được… ‘rửa tội bằng lửa?’”


Lần này thì Trác không chỉ ngơ ngác mà, trong mắt Trác, tôi đọc được âu lo:


“Cậu có sao không vậy?”


Tôi im lặng, coi như tai điếc, quay nhìn hồ nước. Những con thiên nga như làm bằng giấy láng, được gió đẩy trôi, tựa những linh hồn trắng muốt, đang mở rộng vòng tay, múa, hát bài ca vô thường không tên gọi, trên sóng gợn.


Tôi tiếc, nếu có Nguyên Bích, tôi sẽ trả lời Trác. Trả lời Trác nhưng chính là để Bích nghe, rằng:


“Không. Tớ không sao cả! Tớ chỉ đang nghĩ tới những điều ngoài tầm tay chúng ta…”


(20 Tháng Tư, 2012)

Vàng Ðen (Kỳ 78)


“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.


 


Kỳ 78


 


Lúc còn lần mò từ những núi rừng của Trường Sơn qua đến núi rừng Ai Lao, Phong cũng đã có dịp nhìn thấy nhiều loại lan rừng thật đẹp, nhưng không biết giá trị quý của chúng đến mức độ nào.


Hiện giờ, trước mặt lủng lẳng những giò phong lan được treo thật mỹ thuật trên những liếp tre làm Phong choáng người. Ánh sáng của đèn được thiết trí rất hài hòa, khiến mọi người có cảm tưởng như đang lạc vào mê hồn trận.


Hơn thế nữa, Phong ngẩn người khi nhìn thấy hai đóa lan thật đang chắp tay vái chào từng người. Vội vàng cúi đầu đáp lễ như mọi người, Phong tự hỏi, trên đời sao lại có những cô gái xinh đẹp như vậy. Hai cô gái người thiểu số ăn mặc giống hệt nhau, đều lùng thùng hai tay trong đôi tay áo rộng mầu hồng, một chiếc yếm đen đan bằng sợi thả từ ngực xuống thành chiếc thắt lưng bó gọn chiếc eo nhỏ, rồi nối liền với chiếc váy xanh đậm mầu nước biển, thật gọn ghẽ.


Mầu sắc của quần áo đã thay cho phấn son, cả hai đều không một chút son phấn, nhưng vẻ đẹp tự nhiên vẫn hiển hiện. Hai mái tóc dài được kéo ra phía trước, thả dài hờ hững bên vai trái, che khuất một phần nữ trang bằng bạc, đeo đầy ngực. Những đồng tiền bằng bạc, lớn nhỏ, vuông tròn được nối với nhau thành một tấm nữ trang khá ngộ nghĩnh trước ngực hai cô. Nhưng cái bắt mắt Phong nhất vẫn là hai chiếc mũ do các cô đội. Hai chiếc mũ tròn được đan bằng tre, mầu đen, viền đầy những đóa hoa phù dung, đủ mầu chung quanh. Ngạo nghễ trên chiếc mũ, một đóa phù dung thật lớn nằm ngay chính giữa, những lông công được nhuộm đủ mầu sặc sỡ tua tủa mọc lên ở phía sau. Như để bảo vệ cho đôi gáy thon, nhỏ của các cô khi trời nắng, mũ được gắn một hàng tua lụa mầu hồng thả dài sau vai. Rõ ràng mầu sắc chỏi nhau, nhưng Phong vẫn tìm thấy được những hài hòa trong mầu sắc, vì cả hai người nữ đều không son phấn. Dường như cả hai dùng những mầu sắc mạnh như vậy để đẩy bật cái kiều diễm thật tự nhiên của khuôn mặt.


Từ hai đóa lan thật đến những giò phong lan đang nở, Phong tự nghĩ, quả thật lãnh chúa Khun Sa đáng sống một đời. Lạc vào bên trong thế giới thần tiên ấy, Phong dường như quên mất mình đang ở đây để làm gì.


-Ngồi xuống, mọi người ngồi xuống, Conchita ngồi đây…


Vẫn dùng Anh ngữ để nói chuyện với mọi người, riêng thấy già Trí còn chắp hai tay trước ngực đứng yên, Khun Sa nói một tràng tiếng Thái như an ủi, ủy lạo già Trí. Già Trí thật sự mất hẳn cái ngang tàng, khí phách của con người đi rừng, sống với rừng. Hai tay vái lia lịa, khép nép ngồi xuống. Phong Sương lập lại lời giới thiệu dang dở lúc còn ở trong nhà:


-Anh Phong, chồng của con.


-Hà, hà, tốt, tốt, ngồi xuống.


Cái niềm nở của hắn có vẻ khả quan hơn, song giọng nói sang sảng vẫn thật trịch thượng. Không biết hắn đã mồi điếu thuốc từ lúc nào, chỉ thấy hắn thẩy bao 555 cùng chiếc bật lửa vàng xuống bàn. Trông cách cầm điếu thuốc, đến cách hít, thở khói của hắn, Phong thấy nơi hắn vẫn tiết ra một chất gì khá phong lưu.


Ngang vai áo trái của hắn có mang một huy hiệu giống những người lính của hắn tại những trạm kiểm soát. Huy hiệu với những ngọn núi mầu vàng, dưới vòm trời xanh, trên vòm trời có một ngôi sao độc nhất. Có lẽ ngôi sao Bắc Ðẩu độc nhất ấy chính là Khun Sa, ngôi sao sáng duy nhất cho những ngọn núi cuối cùng của rặng Hy Mã, hay niềm hy vọng đơn độc, cuối cùng của sắc tộc người Chan.


Quây quần bên chiếc bàn hình chữ nhật với phong lan bao phủ chung quanh, còn có thêm một người mặc quân phục nữa vừa luồn vào, chỉ thấy hắn âm thầm xuất hiện từ sau một dàn máy Karaoke.


Dàn máy cùng chiếc truyền hình lớn, thật hiện đại được đặt gọn ghẽ ở một góc. Người này cũng giống Khun Sa, chỉ khẽ hất hàm chào lại, tuyệt không bắt tay. Phong Sương giới thiệu quá nhanh làm Phong nghe không kịp tên của hắn, chỉ hiểu lờ mờ, một trong những cánh tay phải, trái của Khun Sa. Cả hai chào hỏi nhau bằng tiếng Chan lẫn tiếng Trung Hoa. Thức ăn đã bắt đầu được mang lại bằng những mâm đồng lớn. Hai cô gái lăng xăng chuyền những đĩa, tô thức ăn từ mâm xuống.


-Này, ăn xong mình sẽ hát Karaoke, có đủ cả, tình ca Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Miến Ðiện, cả Mỹ nữa…


Khun Sa hớn hở mời mọc Phong Sương.


-Ta và cô sẽ song ca vài bản, thu vào cassette làm kỷ niệm.


Không ngờ tên lãnh chúa này ngoài chuyện súng đạn, ma túy, hắn lại có khá nhiều máu văn nghệ, biết hưởng thụ cuộc sống một cách nhẹ nhàng với hoa rừng, cỏ nội. Bữa ăn được dọn với thịt rừng và xôi trắng, bầy la liệt trên bàn. Chai Cognac được khui tại chỗ. Người mặc quân phục lẻn vào sau, đang ngồi cạnh Phong, nhã nhặn hỏi Phong cũng bằng một thứ Anh ngữ tuyệt hảo:


-Anh muốn dùng cognac hay bia, chúng tôi có cả bia.


-Cám ơn ông, cognac cũng được. Xin lỗi ông, vừa rồi tôi không kịp nghe rõ tên ông cùng chức vụ?


-Tôi là Khawan Muang, tôi theo đại tướng đã gần bốn mươi năm. Hiện tôi là bộ trưởng bộ nội vụ. Tôi có nghe chuyện các anh bị phục kích. Anh đã cảm thấy đỡ chưa?


-Cám ơn ông, vì đỡ nhiều lắm rồi tôi mới có thể ngồi được ở đây…

Đàn áp, cưỡng chế đất ở Văn Giang: công an “coi nhân dân như kẻ thù”

 



Xem Clip công an đánh dân Văn Giang


 


HƯNG YÊN (NV) “Coi nhân dân như kẻ thù,” “chính quyền chưa bao giờ làm ác với dân như lần này”… Ðó là lời người dân ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, mô tả về cuộc đàn áp của gần 3,000 nhân viên công lực, bao gồm công an, cảnh sát cơ động, dân quân và cán bộ địa phương đối với vài trăm nông dân chống cưỡng chế đất vào ngày 24 tháng 4, 2012.








Công an, cảnh sát cơ động tràn ngập thôn xóm khi cưỡng chế đất. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Vụ cưỡng chế liên quan đến 72 héc ta đất thuộc ba xã Cửu Cao, Phụng Công và Xuân Quan mà nhà cầm quyền muốn quy hoạch để xây dựng khu đô thị thương mại du lịch lớn nhất miền Bắc là Văn Giang Ecopark trong nhiều năm qua đã bị người dân phản đối.


Tin tức cho hay, có khoảng 800 người dân tụ tập trên đất đai của họ suốt đêm 23 và ngày 24 tháng 4 để đối đầu với lực lượng cưỡng chế. Họ mang theo gậy gộc và cả bom xăng.


Cuộc đàn áp được mô tả là quy mô và lớn chưa từng có diễn ra từ lúc 4 giờ 30 phút sáng và kéo dài đến đầu giờ chiều thì những người nông dân thúc thủ. Sau đó lực lượng cưỡng chế đưa khoảng 100 máy xúc, máy ủi san bằng khu đất.


Theo tường thuật của trang Blog Nguyễn Xuân Diện, lực lượng cảnh sát có trang bị lá chắn, dùi cui, súng AK đã ném lựu đạn cay vào dân chúng, nhiều người bị đánh và công an bắt đi khoảng 10 người.


Blogger Nguyễn Lân Thắng tường thuật trên trang Facebook rằng công an “bắn hơi cay như mưa vào dân. Chúng bắn hết lượt một đã hết vài chục thùng đạn hơi cay, chúng nó phải lùi lại giữa đồng Phụng Công để chờ tiếp viện đợt 2, chúng bắn ít nhất hơn 20 quả nữa.”







Cảnh sát cơ động dàn hàng ngang bắt đầu đàn áp. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Trang Blog Nguyễn Xuân Diện hôm 25 tháng 4, công bố 7 video clip cho thấy toàn cảnh vụ đàn áp ở Văn Giang, cho thấy nhiều nông dân bị đánh một cách dã man.


Trả lời phỏng vấn của các cơ quan truyền thông quốc tế như AFP, BBC, một số nông dân cho biết họ bị công an đàn áp không thương tiếc và bị coi như kẻ thù.


Một người ẩn danh khác thì cho biết, chính quyền chưa bao giờ làm ác với dân như lần này và rằng họ chưa biết sẽ phải làm gì. 


* Truyền thông nhà nước im lặng 


Khác với vụ Ðoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, lần này truyền thông nhà nước hầu như im lặng và những người nông dân Văn Giang đã phải đấu tranh trong đơn độc.


Tính đến tối ngày 24 tháng 4, gần như duy nhất có trang tin Vnexpress đề cập đến vụ cưỡng chế nhưng không đưa hình ảnh người dân bị cưỡng chế ra sao.


Vnexpress trích lời Chánh Văn phòng Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên Bùi Huy Thanh cho biết, “việc cưỡng chế và hỗ trợ thi công bắt đầu từ 7 giờ đến 10 giờ 30 sáng 24 tháng 4. Nhiều đơn vị công an, dân quân và phương tiện cưỡng chế đã được huy động.”







Các loại máy xúc, máy ủi san bằng khu đất sau khi cưỡng chế. (Hình: Blog Nguyễn Xuân Diện)


Ông Thanh nói rằng, “Mọi việc diễn ra dưới sự chứng kiến của đại diện Viện KSND, không hề có quân đội tham gia, cũng không hề có nổ súng.” Song, ông cũng nói thêm, công an đã phải dùng “hai quả đạn khói” để “giải tán” những người tụ tập, cản đường không cho xe, máy vào công trường. 


* Mua 135 ngàn đồng/m2, bán lại 6 triệu đồng 


Theo lời ông Bùi Huy Thanh nói với Vnexpress, vào năm 2008, “Các hộ dân chấp hành đúng tiến độ được nhận 135 ngàn đồng mỗi m2 – mức cao nhất trên địa bàn tỉnh tại thời điểm đó.”


Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn của đài RFA, các nông dân nói rằng, sau khi thu hồi đất để làm dự án, chủ đầu tư bán lại với giá 6 triệu đồng một m2, tức gấp hàng chục lần.


Thông tin của tỉnh Hưng Yên, lần cưỡng chế này được áp dụng với 166 gia đình không đồng ý giao đất được cho là “chưa thỏa mãn với phương án đền bù.”


Ông Nguyễn Ngọc Bính, ở xã Xuân Quan được Vnexpress trích lời nói, “tuy là đất nông nghiệp nhưng giá trị kinh tế lớn, mỗi sào đất hàng năm sinh lợi nhiều triệu đồng. Vì thế, người dân “không thỏa mãn” với mức giá đền bù 36 triệu đồng một sào (360 m2) do chủ đầu tư đưa ra.” (KN)

Cộng vô dân bỏ cửa nhà

(Nhân đọc bài “Nhân ngày 30 tháng 4: Một dấu chấm trên chữ ‘i’”)


 


Cộng vô dân bỏ cửa nhà


Vượt biên trối chết đến ba bốn lần


Lỡ mà thất bại, thiệt thân


Ở tù, cuốc đất, cởi trần phơi da


Cộng rằng: “Bọn phản quốc mà!


Bóc dăm cuốn lịch mới ra tù này”


Anh nào vượt được lại hay


Việt kiều yêu nước, vỗ tay Cộng cười


 


Cộng vô, dân sợ bỏ nhà


Vượt biên nguy hiểm đến ba bốn lần


May nhờ gặp hội phong vân


Sang bên nước Mỹ, thành dân bảnh rồi


Bấy giờ Cộng lại khua môi


“Khúc ruột ngàn dặm” xin mời về thăm


Tổ cha một lũ mặt thâm


Cái đồ lẹo lưỡi, chết đâm ấy mà


 


Cộng vô dân sợ bỏ nhà


Cộng vào chiếm ở, khoái cha Cộng rồi


Cộng nuôi cả lợn, eo ơi


Chung cư thối hoắc, Cộng ơi, Cộng à.


 


Cộng vô dân sợ bỏ nhà


Cộng chê “bọn Ngụy” ở mà gớm ghê


Cầu tiêu sao lại cận kề?


Ngay bên phòng ngủ, Cộng chê lấp liền


Cộng bèn đào lỗ lộ thiên


Hơi xa một tí, có phiền nào chi


Thế rồi, ruồi nhặng vu vi


Một vùng thối hoắc, không gì gớm hơn


Cộng ngồi nghĩ lại nguồn cơn


Thôi thì “theo Ngụy” chắc hơn đấy mà.


 


Ðả Cẩu Bổng (24 Tháng Tư)


 


Tòa Soạn: Cám ơn độc giả Ðả Cẩu Bổng đã để một dấu chấm rất đẹp trên đầu chữ “i.”

Romney thắng 5/5 “primary” Ðông Bắc

 






MANCHESTER, NH – Ðến 7 giờ tối (giờ California) ngày 24 Tháng Tư, mọi dự đoán đều cho rằng ứng cử viên Mitt Romney thắng tất cả 5 bầu cử “primary” tại 5 tiểu bang: New York, Connecticut, Delaware, Rhode Island và Pennsylvania. Trong hình, một thiện nguyện viên treo bảng chuẩn bị cho sự xuất hiện của Mitt Romney. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images)

Ũớc chi… thời đó!

 


Ngô Nhân Dụng


Ðang tìm hiểu lý do tại sao, sau một ngàn năm Bắc thuộc, nước Việt Nam không thành một tỉnh của Trung Quốc, chúng tôi có dịp đọc sách sử cũ, thấy có mấy chuyện đáng kể lại trong lúc này.


Cuốn Mân Thành Tạp Thảo của Lý Văn Phức kể chuyến đi Phúc Kiến của ông năm 46 tuổi. Mân Việt là tên của tỉnh Phúc Kiến thời xửa thời xưa; trong cùng lúc người Trung Hoa gọi nước ta là Lạc Việt. Ông Lý Văn Phức đi sứ sang Tàu bốn lần, chưa kể một lần sang Phi Luật Tân (đảo Lucon) và hai lần qua Bengal. Chuyến đi năm Tân Mão (1831) có lý do nhân đạo. Cả gia đình một người Trung Hoa tên là Trần Khải đi biển gặp bão, thuyền trôi dạt vào hải phận Việt Nam. Vua Minh Mạng sai cả một phái bộ dùng đường biển đưa cả gia đình này về nguyên quán. Lý Văn Phức phụ trách việc này, nhân đó có dịp gặp gỡ và đối đáp, đã “tranh đấu ngoại giao” với viên tổng đốc họ Tôn ở đó, về những vấn đề có tính cách nghi thức thù tiếp nhưng lại đụng chạm tới thể diện quốc gia. Ngay hôm đầu tiên, được đưa kiệu đến trước cửa ngôi nhà tạm trú, Lý Văn Phức đã lùi lại, không vào. Vì trên cửa là tấm giấy ghi: “Việt Nam quốc Di sứ Công quán.” Di là chữ người Trung Hoa gọi tên các giống dân “man rợ.” Quan địa phương chịu gỡ tấm bảng đi, ông mới bước vào. Ngày hôm sau, họ phải viết một tấm bảng khác: “Việt Nam quốc Sứ quan Công quán.” Sứ quan, chứ không phải Di sứ!


Mấy ngày sau, Lý Văn Phức viết một bài “Biện Di Luận,” bàn luận về “Di.” Sau khi mô tả nước Việt Nam biển rộng sông dài, ra đến các đảo ở Ðại Hải; lại kể ra các phong tục tập quán, và nền giáo dục, thi cử ở nước ta không thua kém gì bên Tàu; ông hỏi: “Như thế mà lại gọi là Di được hay sao?” Lý Văn Phức lại lục lọi sách sử cũ Trung Hoa ra, trích dẫn nguyên văn: “Vua Thuấn vốn là người Ðông Di, Văn Vương vốn là người Tây Di; truyện sử có chép như thế.” Hai ông đế, ông vương được kính trọng nhất nước Tàu, cũng gốc người “sắc tộc thiểu số!”


Chưa hết, Lý Văn Phức còn phân tích thêm để “nói móc” cho họ phải ngượng. Bài văn viết: Có phải các ông gọi một sắc tộc là Di vì cách ăn mặc và tiếng nói của họ hay không? Nếu vậy thì trong xứ Mân Thành này, quý vị ăn mặc không giống, nói tiếng nói không giống các tỉnh khác của Trung Quốc; quý vị có phải là Di hay không?


Nói vậy là đụng tới một nỗi xấu hổ của người xứ Mân. Hai ngàn năm trước, cũng như Việt Nam, họ không hề thuộc vào nước Tàu. Triệu Ðà là ông tướng đầu tiên đánh chiếm Mân Việt. Bây giờ họ đã biến thành một tỉnh, bị đồng hóa thành người Trung Quốc! Còn chúng tôi, người Việt Nam thì vẫn là một nước độc lập!


Bài Biện Di Luận được Lý Văn Phức viết, đem treo trước công quán, thầy giáo, học trò kéo nhau đến đọc, có người chép lại đem về nhà giữ. Ông kể lại, có một viên quan lo về giáo dục (huấn đạo) tên là Lý Chấn Nhân đã tự giật mũ, ném xuống đất, nói: “Chúng ta là Di mà lại còn gọi người khác là Di làm gì!” Chi tiết “giật mũ ném xuống đất” này quan trọng. Vì một trong những thứ mà người Trung Hoa đời thượng cổ tự hào hơn các giống Di, Ðịch, là họ biết đội mũ! Hậu Hán Thư đã kể công hai ông thái thú Tích Quang và Nhâm Diên dạy dỗ dân Giao Chỉ, Cửu Chân thay đổi trang phục, với việc “chế vi quan, lý” – tức là chế tạo ra mũ đội và làm dép để đi vào chân. Người Phúc Kiến vẫn quen quấn khăn chứ không đội mũ, đó là một phong tục cũng được Lý Văn Phức nêu ra trong bài văn! Ðọc tới đó, người ta phải thấy xấu hổ, giựt mũ ném xuống đất là phải!


Lý Văn Phức xứng đáng làm một người đại diện cho nước Việt Nam ra nước ngoài, để bảo vệ thể diện dân tộc. Nếu ngày nay có người có tài trí và đảm lược như ông thì đỡ biết mấy! Mân Thành Tạp Thảo còn kể nhiều cuộc đối đầu lý thú giữa ông sứ thần nước ta với một quan tổng đốc Trung Quốc; nhưng còn một câu chuyện của một tác giả khác, sống trước Lý Văn Phức nửa thế kỷ, cũng đáng kể lại.


Mùa Xuân năm Canh Tuất (1790) Quang Trung cử Phan Huy Ích làm sứ thần đưa một vị võ tướng giả đóng vai nhà vua sang Trung Quốc triều kiến vua Càn Long nhà Thanh. Trước đó một năm quân ta mới đánh Tôn Sĩ Nghị tơi tả ở trận Ðống Ða. Phái đoàn gồm 150 người, có cả một đoàn văn nghệ 10 nhạc sĩ và ca sĩ, bái biệt vua ở Nghệ An ngày 29 Tháng Ba (Âm lịch), đến Tháng Bẩy mới đến Bắc Kinh. Ngày 11 Tháng Bẩy, phái bộ được vua Càn Long tiếp tại nhà nghỉ mát ở Nhiệt Hà, làm thơ xướng họa với nhau. Ba ngày sau gặp lại gặp, Càn Long tặng cho “quốc vương giả” Phạm Công Trí và nhân viên sứ bộ nhiều món quà quý giá. Ðặc biệt, ông vua nhà Thanh nhờ phái bộ chuyển một món quà gồm “hai tấm đoạn,” đem về cho một vị trưởng đồn người Việt Nam, tên là Phạm Quang Chương.


Ông Phạm Quang Chương đã làm gì mà được vua nhà Thanh tặng quà như vậy? Cuốn hồi ký Tinh Sà Kỷ Hành của Phan Huy Ích tường thuật chuyến đi, cho biết lý do. Trước đó ba ngày vị “đồn tướng” Phạm Quang Chương, trong lúc đi tuần trên biển, đã cứu được một chiếc thuyền của người Trung Hoa trong lúc họ đang bị cướp biển tấn công. Tin đưa về Bắc Kinh rất nhanh, Càn Long tạ ơn ngay.


Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó. Ông có thể cứu những ngư phủ Việt Nam bị cướp biển tấn công ngay trong hải phận nước mình. Mà bọn cướp đó lại là quân sĩ của những người ngồi kế vị trên ngai vàng các vua nhà Thanh ở Bắc Kinh, là đảng Cộng Sản Trung Quốc!


Nghe tin 21 đồng bào đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi đi biển bị lính tráng Tàu bắt cóc từ Tháng Ba, bị tra tấn, bỏ đói trong hơn một tháng giam cầm mới được thả về, sau khi đã bị cướp hết thuyền bè, dụng cụ đánh cá, người Việt ở nơi nào cũng phải rớt nước mắt. Mà đây không phải lần đầu tiên ngư dân mình bị trấn lột, hành hạ như vậy. Bọn “cướp biển” mặc đồng phục Trung Quốc đã tung hoành như thế từ bao nhiêu năm nay rồi. Hàng ngàn đồng bào Việt Nam đã bị họ cướp, đánh, nhiều người còn bị giết. Ông Phạm Quang Chương ơi, cứu chúng tôi với! Ông Phạm Quang Chương ơi, ông ở đâu rồi?


Tại sao những người lính Trung Cộng có thái độ và hành vi khinh thường dân Việt Nam như vậy? Phải hỏi những vị quan to trong Câu Lạc Bộ Ba Ðình để nhờ các ông bà giải đáp cho dân chúng tôi nghe.


Trong mấy ngày qua, hai nước Philippines và Việt Nam đều phản đối bản “Quy hoạch bảo vệ hải đảo toàn quốc” của chính phủ Trung Quốc. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam chỉ nói một cách giản dị là nó “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.” Và yêu cầu Trung Quốc phải hủy bỏ ngay bản quy hoạch nêu trên, không có thêm hành động nào làm phức tạp tình hình ở Biển Ðông. Nói xong rồi, không có một hành động nào khác. Vẫn tụng đọc 16 chữ vàng mỏi miệng, chờ coi các “đồng chí anh em” sẽ làm gì tiếp thì lại nói thêm vài câu nữa!


Chính phủ Philippines cũng phản đối Trung Quốc như vậy; nhưng họ còn làm nhiều hơn. Họ cho phép giới quân sự lên tiếng “Quân đội Philippines sẽ không lùi bước!” Philippines còn “kêu gọi các nước phương Tây và Châu Á tỏ rõ lập trường” về tình hình Biển Ðông, để cùng đối đầu với một “mối đe dọa.” Tức là đề nghị quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông. Khi tổng thống Philippines tuyên bố nước ông sẽ “không gây chiến với Trung Quốc ở Biển Ðông” thì người ta hiểu rằng họ sẵn sàng chờ đợi nếu cần phải chống cự bất cứ một cuộc gây hấn nào, dù là chiến tranh! Trung Quốc yêu cầu Philippines rút con tàu khảo cổ đang vớt lên một con tàu đắm gần bãi đá ngầm Scarborough ở Biển Ðông, chính phủ Manila cương quyết từ chối.


Có vị tướng lãnh nào ở Việt Nam được phép lên tiếng về vấn đề Biển Ðông hay không? Hay là các ông tướng còn đang lo các biện pháp đối phó với “Cơn sóng Ðoàn Văn Vươn” đang dâng trào; khi đồng bào Hưng Yên ào ào kéo nhau biểu tình đòi đền bù đất đai bị “cưỡng chế,” lại được đồng bào từ Bắc Ninh đến hỗ trợ?


Không cần hỏi tại sao những người lính Trung Quốc ngang nhiên cướp bóc ngư dân Việt Nam, khinh rẻ mạng sống, tài sản của người Việt Nam. Nhà dột từ nóc dột xuống!


Năm 1992 cả một đoàn lãnh đạo Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam xin phép kéo nhau sang triều yết Ðặng Tiểu Bình để xin được làm “đồng chí anh em” như cũ. Ðặng Tiểu Bình không thèm tiếp, còn không cho được đến Bắc Kinh. Bắt gặp gỡ ở Thành Ðô, tuốt muốt ở Tứ Xuyên, một tỉnh ở góc nước Trung Hoa vĩ đại. Ðặng Tiểu Bình còn đòi bằng được phải đưa cả ông Phạm Văn Ðồng sang gặp, dù ông cựu thủ tướng này không còn chức vụ nào nữa. Bởi vì chính ông Phạm Văn Ðồng là người đã ký lá thư năm 1958 công nhận bản tuyên bố về hải phận của Trung Quốc, trong đó nói họ làm chủ cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa! Cứ như vậy mà cả sứ bộ Cộng Sản Việt Nam lục tục kéo sang chầu để xin giải hòa, thề từ nay ngưng không chửi bới “Trung Quốc xâm lược” nữa! Chẳng còn chút thể diện nào cả! Làm sao người ta không khinh được?


Ước chi lúc này có được những nhà ngoại giao như Lý Văn Phức thời đó! Ước chi lúc này có được những vị đồn trưởng như ông Phạm Quang Chương thời đó!

Vụ Bạc Hy Lai: Tiết lộ vụ trùm công an xin tị nạn

 



 


BẮC KINH (NV) Ngày 15 tháng 3 năm 2012, Bạc Hy Lai (Bo Xilai), ngôi sao đang lên trong tập đoàn lãnh đạo tối cao ở Trung Quốc, bị cách chức bí thư đảng ủy Trùng Khánh. Vụ cách chức làm chấn động dư luận, nhưng bí ẩn và nguồn gốc của trận động đất chính trị này phải kể từ vụ cảnh sát trưởng thành phố Trùng Khánh lái xe cả trăm dặm, vào Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ, xin tị nạn.







Giám đốc Công An Trùng Khánh, Vương Lập Quân, ngày còn quyền lực. (Hình: Feng Li/Getty Images)


Vương Lập Quân (Wang Lijun), cựu cục trưởng Cục Công An Trùng Khánh, vào ngày 6 tháng 2, chạy vào tị nạn tại Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Thành Ðô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, cách Trùng Khánh khoảng 200 dặm về phía Tây Bắc. Chính quyền thành phố Trùng Khánh hai ngày sau chính thức loan báo sự “mất tích” của Vương là “được nghỉ phép để điều dưỡng do bị căng thẳng thần kinh qua thời gian làm việc quá sức lâu dài.” Nhưng cùng ngày Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Washington xác nhận Vương đã vào tòa lãnh sự rồi 30 giờ sau “tự nguyện rời khỏi” và cơ sở ngoại giao này không có liên hệ gì được nữa.


Bộ Ngoại Giao Trung Quốc tiếp đó thừa nhận Vương có đến tòa lãnh sự và “vấn đề đang được điều tra.”


Thông thường đối với Hoa Kỳ, Vương có thể là người đủ tư cách để được hưởng sự bảo vệ chính trị hay tị nạn chính trị, nhất là đương sự có quan hệ tới những giới chức cao cấp đảng Cộng Sản Trung Quốc và cung cấp được nhiều tin tình báo. Nhưng chính quyền Obama trong trường hợp này rõ ràng không muốn dính dáng nhiều đến chuyện chính trị nội bộ của Trung Quốc. Những giới chức Hoa Kỳ am hiểu vấn đề giải thích rằng không có chính sách dành cho Vương quy chế tị nạn. Vương là một viên chức, nhất là một cựu giới chức ngành công an, không phải trong hoàn cảnh bị đàn áp nhân quyền như những người tranh đấu dân chủ.


Từng có một vụ tị nạn, tưởng chừng như tương tự, nhưng không tương tự. Sau vụ đàn áp Thiên An Môn năm 1989, Phương Lệ Chi (Fang Lizhi) đã được Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ ở Bắc Kinh cho tị nạn và ở đó hơn 1 năm, và sau đó chính quyền Tổng Thống George H.W. Bush (Bush bố) thương lượng với Ðặng Tiểu Bình cho hai vợ chồng ông được sang Hoa Kỳ tái định cư. Các giới chức Hoa Kỳ nói trường hợp Vương Lập Quân khác xa Phương Lệ Chi, và không có lý do nhân quyền để bảo vệ một cựu viên chức công an dù người này cung cấp những tin tức về tình trạng tham những lạm quyền ở địa phương.Vương có thể bị truy tố về hành động bội phản trong việc chạy vào một cơ sở ngoại giao nước ngoài, một tội trạng ở Trung Quốc có thể lãnh án nặng từ nhiều năm tù đến tử hình. Nhưng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhấn mạnh là Vương tự ý muốn rời tòa lãnh sự, và như vậy để cho chính quyền trung ương Bắc Kinh bắt giữ thay vì chính quyền địa phương Trùng Khánh trả thù. Ðiều này được coi là đủ an toàn cho đương sự.


Hơn nữa một trong những điều kiện để Hoa Kỳ có thể chấp nhận cho hưởng quy chế tị nạn là cá nhân này không trốn tránh luật pháp nước mình, không phạm tội hình sự hay trợ giúp vào việc đàn áp những người khác. Với Vương Lập Quân sẽ có thể có nhiều lý do để đưa tới rắc rối về ngoại giao với Trung Quốc nếu Hoa Kỳ cho hưởng quyền tị nạn.


Tuy nhiên có lẽ vụ việc của Vương đã xảy ra trong một thời điểm không thuận lợi, chỉ ít ngày trước khi Tập Cận Bình, lãnh đạo tương lai sắp thay thế Hồ Cẩm Ðào đến Washington và Hoa Kỳ không muốn tạo rắc rối ngoại giao với Trung Quốc trong lúc ấy. Các giới chức Hoa Kỳ cho biết thành viên Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ đã được báo cáo đầy đủ sự kiện trong lúc Vương còn ở trong tòa lãnh sự tại Thành Ðô, nhưng Tổng Thống Obama chỉ được phúc trình sau khi Vương đã rời khỏi nơi đây.


Người ta biết rằng khi đến Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ, Vương đã cung cấp nhiều tin tức bí mật, trong đó có vụ bà vợ của Bạc Ly Hai đã tổ chức ám sát thương gia người Anh. Tuy vậy Vương không được coi như một nguồn tin tình báo có giá trị đối với an ninh của Hoa Kỳ.


Trong 30 giờ ở tòa lãnh sự, Vương đã trình bày cho các viên chức Hoa Kỳ tin tức về cái chết của thương gia Neil Heywood người Anh và điều này chỉ liên quan đến Anh và chính quyền Trung Quốc. Một phóng viên BBC ở Trung Quốc nói là Vương đã chạy tới Tòa Lãnh Sự Anh trước khi vào Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ, tuy nhiên do một sự sắp xếp không ăn khớp nào đó nên việc này đã không đưa đến kết quả.


Cách giải quyết của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong trường hợp Vương có thể được xem là thích đáng, tuy nhiên sẽ còn một trường hợp khác có thể khó quyết định, đó là con trai của Bạc Hy Lai đang học tại Harvard. Giới chức Hoa Kỳ từ chối không bình luận về khả năng sinh viên này xin tị nạn trong tương lai mà chỉ nói với các phóng viên rằng: “Anh ta là một sinh viên tốt. Quý vị có thể tự tìm ra kết luận cho chuyện ấy.”


Vương Lập Quân, 52 tuổi, dân tộc Mông Cổ, từ khi được Bạc Hy Lai cử làm cục trưởng Công An Trùng Khánh đã tích cực tham gia vào chiến dịch truy diệt băng đảng tội phạm và tham nhũng. Trong vòng hai năm, Vương đã phát giác hơn 12,000 vụ án, bắt giữ hơn 3,300 đối tượng hình sự trong đó có hơn 100 cảnh sát biến chất. Trùng Khánh là đất hoạt động của các băng đảng xã hội đen lâu từ hai thế kỷ và có liên hệ với các tổ chức tội ác ở Hong Kong và Macao. Vương đã là cánh tay đắc lực của Bạc Hy Lai, đem lại danh tiếng cho Bạc về “mô hình Trùng Khánh” với một xã hội ổn định theo kiểu Mao Trạch Ðông.


Nhưng ngày 2 tháng 2 năm 2012, Vương đột ngột bị chuyển đổi công tác sang một vị trí “trách nhiệm về giáo dục, khoa học và môi trường.” Có lẽ nguyên nhân của việc này là do Vương đã có ý định điều tra vụ vợ của Bạc Hy Lai liên can tới cái chết của Neil Heywood và mọi chuyện sau đó diễn biến như chúng ta đã thấy.


Mặc dù sẽ còn rất nhiều bí ẩn chưa lộ ra, cho đến bây giờ, đây là vụ tai tiếng chính trị lớn nhất ở Trung Quốc từ nhiều năm và có thể còn có dẫn đến những hậu quả không ngờ trong tập đoàn lãnh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc. (HC)

Quán xưa Sài Gòn không còn dấu vết

 


Bài và hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt


SÀI GÒN (NV) Bằng hữu thân quen ở các nơi xa vẫn thường thăm hỏi chúng tôi về những quán cà phê đặc chất Sài Gòn trước 30 tháng 4, 1975, nay ra sao? Những quán cà phê ấy, có thể kể tên: Hân, Thái Chi, Năm Dưỡng, Năm Ðường, Lão Tử, Thu Hương, Phong, Thăng Long…









Quán cà phê Năm Ðường trở thành quán Napoli.


Ðấy là những quán cà phê, có quán lớn có quán nhỏ, có quán chỉ là quán cóc; nhưng đều nổi tiếng, hầu như dân ghiền cà phê ở Sài Gòn thuở ấy ai cũng biết.


Những quán cà phê kể trên, hiện nay chỉ còn ba quán hoạt động: Lão Tử, Thái Chi, và Năm Ðường. Tuy nhiên, ngoài quán cóc cà phê Lão Tử kế bên tiệm phở Tàu Bay mà chúng tôi đã nhắc nhớ trong bài viết ở một số báo Người Việt; hai quán cà phê Thái Chi và Năm Ðường vẫn hoạt động nhưng thay đổi hoàn toàn, không còn là quán cũ đặc sắc một thời.


Cà phê Thái Chi ở khúc đầu đường Nguyễn Phi Khanh, phía sau rạp chiếu bóng Casino Ðakao – hiện nay Casino Ðakao không còn là rạp chiếu bóng nữa. Quán cà phê Thái Chi là một căn nhà phố nhỏ bé; bàn ghế thấp trên nền nhà cao, tinh tươm sạch sẽ. Quán không biển hiệu, mọi người gọi tên quán bằng tên bà chủ quán, bà Thái Chi.


Thời gian đầu chúng tôi tới quán cà phê Thái Chi, thường nghe bà chủ quán nhắc nhở khách uống cà phê đừng tựa đầu sát vách tường. Thì ra, bà Thái Chi không chịu được vách tường quán cà phê của bà hoen ố bởi những người khách chải tóc bằng “brillantine.”









Quán Năm Dưỡng trở thành Phòng Cho Thuê-Thanh Phương.


Thời gian sau, không nghe bà chủ quán nhắc nhở khách như vậy nữa: ở vách tường, đã được dán lớp simili như dải ruy-băng chỗ khách thường tựa đầu. Bà pha chế cà phê phía sau một bức vách ngăn, mang ra cho khách. Ai nóng vội, loay hoay với cái phin để làm sao cho cà phê mau nhỏ giọt xuống cái tách, bà can thiệp liền. Khách uống cà phê Thái Chi mặc nhiên phải hiểu rằng, chỉ bắt đầu uống cà phê khi chính bàn tay bà chủ quán đã nhấc cái phin ra khỏi tách. Chúng tôi nhiều lần nghe bà cằn nhằn những người khách, dù lớn tuổi hay nhỏ tuổi hơn bà, khi những người khách ấy “vi phạm luật lệ” uống cà phê tại quán Thái Chi.


Cà phê Thái Chi không lúc nào vắng khách, có lẽ chính vì cái “tinh thần trách nhiệm” của chủ quán trước tách cà phê dành cho khách uống; và cái tinh tươm sạch sẽ của quán. Chúng tôi và nhạc sĩ Anh Việt Thu, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, nhà thơ Phạm Lê Phan (cả ba người đều đã qua đời), sáng nào trước khi tới cơ quan làm việc – Phòng Văn Nghệ thuộc Cục Tâm Lý Chiến – đều ghé uống tách cà phê ở quán bà Thái Chi khó tính.


Những ngày kỷ niệm lễ lạt gì đó, hầu như cả Phòng Văn Nghệ chúng tôi gặp nhau tại quán cà phê Thái Chi; trong đó gồm cả đại úy phó phòng và thiếu tá trưởng phòng, nhà thơ Tô Thùy Yên.


Sau 30 tháng 4, mấy người cháu của bà Thái Chi tiếp tục mở cửa quán, nhưng không còn là cà phê Thái Chi nữa. Bàn ghế trong quán thay đổi để sắp đặt được nhiều, bày ra cả vỉa hè; quán không còn không khí cũ, nhất là không còn bà Thái Chi nhấc từng cái phin cà phê ra khỏi tách để khách uống. Và không người khách uống cà phê nào còn nhắc, nhớ, đây là quán cà phê Thái Chi khó tính.


Cà phê Năm Ðường ở đầu đường Nguyễn Kim, quận 10, trước và sau 30 tháng 4 đều mở cửa quán rất sớm, khách uống đa số là những người lao động nghèo; cũng không thiếu khách thuộc mọi giới, cư ngụ trong khu vực. Thường khi nào có việc phải thức dậy rất sớm, ra khỏi nhà cứ nhắm tới cà phê Năm Ðường, uống ly cà phê cho tỉnh táo; và đốt điếu thuốc hút, để mơ màng ngắm nhìn thành phố chưa thức giấc.


Ngồi quán cà phê Năm Ðường, dù sau này ghế ngồi bằng nhựa thấp chủn, bày đầy trong và ngoài quán; và dù giá rẻ, chúng tôi không có khái niệm đây là quán cà phê bình dân hay là gì hết. Chỉ thấy đây là một nơi uống cà phê thú vị. Cũng có thể chúng tôi nhớ tới quán cà phê Năm Ðường như một lịch sử dày dạn, lưu giữ bao tâm tình của người dân Sài Gòn. Quán Năm Ðường là nơi từng xảy ra vụ khủng bố của Việt Cộng; chúng nổ lựu đạn để sát hại những cảnh sát dã chiến ở trại Triệu Ðà gần quán cà phê Năm Ðường, sáng sáng tới uống cà phê tại quán.


Có quán Năm Ðường, nơi uống cà phê từ lúc ngày chưa rạng; quán rộng rãi thoáng mát, là một thú vị. Nhưng thú vị ấy không còn nữa; từ hai năm qua, quán cà phê Năm Ðường đã mất tích tại chỗ! Nghĩa là, quán đã thay hình đổi dạng hoàn toàn; trở thành một quán cà phê có máy lạnh, cửa lắp kính trong suốt. Không còn là quán cà phê Năm Ðường nữa, mà là quán Napoli hiện đại, như vô số quán hiện nay tại Sài Gòn.


Chúng tôi không thể thấy thú vị để uống cà phê tại những quán hiện đại của Sài Gòn hôm nay. Thấy đấy không còn là quán cà phê, mà là một nơi thiết kế cho công nghệ cà phê, cho kinh doanh lạnh lùng, cho “khách-hàng-là-thượng-đế”!


Nhắc tới cà phê Năm Ðường, chúng tôi nhớ tới quán cà phê có tên hao hao giống vậy: cà phê Năm Dưỡng, ở một hẻm rộng của đường Nguyễn Thiện Thuật, khu Bàn Cờ, quận 3. Sau 30 tháng 4, mở cửa hoạt động một thời gian, rồi quán cà phê Năm Dưỡng trở thành Phòng Cho Thuê-Thanh Phương.


Chúng tôi từng uống cà phê Năm Dưỡng từ thuở học trò; đi theo các anh Nguyễn Nhật Duật, Lê Ðình Ðiểu, vào quán Năm Dưỡng; các anh vừa uống cà phê vừa ăn lạc rang húng lìu, để nhớ những ngày Hà Nội. Bây giờ Sài Gòn bán lạc rang húng lìu đầy khắp các ngả đường; chúng tôi lại không có lấy một chút cảm xúc nào, ngoài cảm xúc về lạc rang húng lìu của một ông già người Hoa, bán trước quán cà phê Năm Dưỡng thuở nào.

‘The Lucky Few’ hội ngộ, tri ân

 


Câu chuyện của Kirk


 


Nguyên Huy/Người Việt 


WESTMINSTER Trong không gian mênh mông của Nhà Thờ Kiếng thuộc thành phố Garden Grove vào chiều hôm Chủ Nhật, 22 tháng 4, nhiều ngàn người tị nạn Việt Nam đã tìm đến để cùng nhau bày tỏ lòng tri ân đối với những người đã cứu vớt họ sau biến cố 30 tháng 4, 1975.








Quang cảnh trong Nhà Thờ Kiếng trong buổi người tị nạn Việt Nam vinh danh và tri ân Hải Quân Hoa Kỳ và Hải Quân VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Ðó là những chiến sĩ Hải Quân thuộc Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ, rõ hơn là thuộc một phân đội của Hạm Ðội 7, trong đó có chiến hạm Kirk và lực lượng Hải Quân VNCH.


Ðây là lần thứ hai có cuộc họp mặt của người tị nạn Việt Nam tìm về với nhau để vinh danh và tri ân những ân nhân của mình. Lần gặp mặt này được định danh là “Vietnamese American, The Lucky Few.” Cả hai lần đều được tổ chức bởi “Federal Asian Pacific American Council Southwest” (FAPAC – SW – Hiệp Hội Liên Bang Á Châu – Thái Bình Dương Tây Nam Hoa Kỳ).


Trong cuộc gặp gỡ tri ân này, nhiều sĩ quan và thủy thủ chiến hạm Kirk đã có mặt, như Phó Ðô Ðốc hồi hưu Adam Robinson và các cựu sĩ quan hải quân trên chiến hạm Kirk, như Paul Jacobs, Richard Mc Kenna… Phía Việt Nam có cựu Ðại Tá Ðỗ Kiểm, nguyên là sĩ quan trong thành phần chỉ huy đoàn tàu HQ/VNCH 30 chiếc chở hơn 32 ngàn người Việt Nam đến được bến bờ tự do sau 30 tháng 4, 1975.


Theo ban tổ chức, tất cả sĩ quan và thủy thủ đoàn trên chiến hạm Kirk từ nhiều năm nay muốn gặp lại những người Việt Nam mà họ đã tận tình giúp đỡ khi trốn chạy khỏi nanh vuốt cộng sản, nhất là khi họ lại được biết những người tị nạn này vẫn luôn nhớ đến họ. Có người khi sanh con đã lấy tên chiến hạm mà đặt cho con. Ðó là bà Lan Trần và cô gái mang danh Kirk, là cô Trần Nguyễn Kirk Giáng Tiên, hiện ở Orlando, Florida.









Cô Sharon Nicholas, chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị tổ chức FAPAC-SW.
(Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Cựu Ðại Úy Paul Jacobs, sĩ quan hải hành trên chiến hạm Kirk, kể lại những nỗ lực của sĩ quan và thủy thủ đoàn trên chiến hạm Kirk từ nhiều năm nay mong mỏi có cuộc gặp gỡ như thế này.


Tất cả những sĩ quan và thủy thủ Hoa Kỳ trên các chiến hạm thuộc phân đội của Hạm Ðội 7 đều cho rằng cuộc cứu trợ 37 năm trước là một chuyện tuyệt vời của Hải Quân Hoa Kỳ. Cựu Ðại Úy Richard Mc Kenna nói: “Chúng tôi đã rất hạnh phúc khi nhìn thấy cộng đồng Việt Nam đã hòa mình vào cuộc sống của nước Mỹ để phục vụ, để trở thành những công dân thịnh vượng của một quốc gia lớn mạnh của chúng ta.”


Một cuốn phim kể về thảm cảnh của những người tị nạn Việt Nam và sự cứu trợ hết lòng của toàn thể sĩ quan thủy thủ trên chiến hạm Kirk cũng đã được chiếu giới thiệu trong dịp này.


Cựu Hải Quân Ðại Tá Ðỗ Kiểm, một trong những vị sĩ quan chỉ huy đoàn tàu 30 chiếc của HQ/VNCH, phát biểu rằng: “Gạt bỏ một vài kỷ niệm cay đắng về việc, không ít thì nhiều, một số dân cử và viên chức cao cấp phản chiến của chính quyền Hoa Kỳ lúc bấy giờ đã góp phần không nhỏ vào việc đưa VNCH vào đường cùng để rồi bị bức tử vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng ta phải ghi nhận công ơn của người lính Hoa Kỳ đã nhiều năm sát cánh chiến đấu gian khổ cùng chúng ta chống lại CSVN.”


“Chúng ta không quên 58 ngàn người lính Hoa Kỳ đã bỏ mình trên chiến trường Việt Nam. Bóng dáng người lính Hoa Kỳ đã hầu như không còn tại Việt Nam sau hiệp ước tái thiết hòa bình tại Paris vào đầu năm 1973 để rồi đến ngày cuối cùng của VNCH một phân đội của Ðệ Thất Hạm Ðội đã lại đến với Hải Quân VNCH như những người bạn quí, lần này để trợ giúp chúng ta đem 30 chiến hạm và hơn 30 ngàn người VN đến bến bờ tự do…”


“Họ đã hành động cao cả và xa hơn trách nhiệm và bổn phận đã được trao phó. Họ đã tận tụy săn sóc người dân Việt Nam đang trong cảnh ngặt nghèo một cách hồn nhiên, vui vẻ và chân thật.”


Cựu Hải Quân Ðại Tá Ðỗ Kiểm cũng đã nhắc đến tinh thần và sự hy sinh của người lính hải quân VNCH. Ông nói: “Giờ đây họ đang xa rời quê hương. Họ bỏ lại ruộng vườn nhà cửa tài sản. Họ bỏ lại ông bà cha mẹ anh em họ hàng thân thích để đi vào một chuyến lưu đầy vô định. Họ đang ở tại điểm đau khổ cùng độ của một người lính không thua trận mà phải bỏ nước ra đi. Thế nhưng những người thủy thủ của QLVNCH đã không chịu ngồi xuống để than thân trách phận. Họ đã đứng lên vì một tinh thần tự giác cao độ, để tự động làm phần nhiệm coi sóc máy móc, vận chuyển hải hành như thường lệ mà không cần phải một lệnh lạc, một lời năn nỉ hay một cưỡng ép nào. Họ đã hoàn tất nhiệm vụ một cách hữu hiệu và âm thầm.”


Hầu hết những lời phát biểu trong buổi tri ân này, cả về phía Hoa Kỳ cũng như phía những người tị nạn Việt Nam, đều nói lên tấm lòng chân thiết của mình để bày tỏ những xúc động sau bao nhiêu năm được gặp lại nhau kể từ ngày ấy.


Ông Mã Gia Trí, một trong những người được cứu vớt trong dịp này, cho biết: “Tôi có được chứng kiến khi các tàu Hải Quân của mình vào vịnh Subic của Philippines đã phải hạ cờ VNCH, treo cờ Hoa Kỳ vì chính phủ Philippines cho biết cộng sản Việt Nam đang đòi những chiến hạm mà Hải Quân VNCH đã chạy tới đây. Nhưng Hải Quân Hoa Kỳ không đáp ứng, và để cho hợp pháp, những chiến hạm của Hải Quân VNCH phải hạ cờ VNCH, giương cờ Hoa Kỳ mới được vào đất Philippines. Buổi lễ hạ cờ rất long trọng và đầy xúc động, không như một số người không biết rõ đã kể sai lạc. Lá cờ Vàng khi hạ xuống theo lễ nghi quân cách đã được trao lại cho Ðại Tá Ðỗ Kiểm.”


 


––––––-


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tin mới cập nhật