Lỗ nặng, đại công ty viễn thông Nga rút khỏi Việt Nam

 


HÀ NỘI (NV) Ðại công ty viễn thông Nga, VimpelCom đang chuẩn bị “khăn gói” để chính thức rút khỏi Việt Nam trong vòng 6 tháng tới vì “kinh doanh không hữu hiệu.”









Mạng Beeline rầm rộ quảng bá hoạt động trong thời gian đầu mới đến Việt Nam.


Gần 3 năm trước, VimpelCom đã liên kết với các công ty Việt Nam để hình thành Tổng công ty Viễn thông Di động Toàn cầu viết tắt là Gtel Mobile và thiết lập hệ thống mạng Beeline hoạt động tại Việt Nam. VimpelCom chiếm 49% cổ phần của Gtel Mobile.


Theo VNExpress, mạng di động Beeline của VimpelCom có tổng cộng 6 triệu thuê bao tại Việt Nam, theo phúc trình của đại công ty này, tính đến hết năm 2011.


VimpelCom cho khai trương mạng Beeline hoạt động tại Việt Nam từ tháng 7 năm 2009, tức cách nay chưa đầy 3 năm, đồng thời với hoạt động tại Ðông Âu và vùng Trung Á. Beeline trở thành hệ thống mạng di động thứ bảy tại Việt Nam, đã thu hút khách hàng ở Việt Nam bằng những chiêu khuyến mại lớn, chẳng hạn như tặng các cuộc gọi mạng nội bộ cho khách hàng trị giá một tỉ đồng, tương đương 50,000 đô la.


Cũng theo VNExpress, VimpelCom định đổ thêm 500 triệu đô la đầu tư vào hoạt động của hệ thống mạng Beeline từ nay cho đến năm 2013. Tuy nhiên, chỉ sau khi chuyển thêm 196 triệu đô la để nâng tỉ lệ góp vốn lên 49% của công ty liên doanh Gtel Mobile thì vào cuối năm 2011, VimpelCom “la làng” đã lỗ 527 triệu đô tại Việt Nam và Cambodia.


VNExpress cũng cho hay, sau khi rút hết 49% vốn cổ phần để nhường lại cho Gtel Mobile, VimpelCom sẽ thu hồi lại 45 triệu đôla tiền mặt. Trong tình thế này, coi như Gtel Mobile trở thành công ty 100% vốn của các cổ đông ở Việt Nam. Cũng theo thỏa thuận rút vốn, VimpelCom “cuốn gói” cũng thu hồi luôn nhãn hiệu Beeline trong vòng sáu tháng tới, mà không để cho Gtel Mobile tiếp tục sử dụng.


Trong khi đó thì phó tổng giám đốc Gtel Mobile khẳng định rằng vẫn tiếp tục “bảo đảm quyền lợi của 6 triệu khách hàng thuê bao mạng Beeline.”


Tất cả thông tin trên được chính thức công bố vào chiều ngày 23 tháng 4 tại Sài Gòn, mà theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, là một “biến động lớn.”


Cũng theo báo Sài Gòn Tiếp Thị, mặc dù thành công tại Trung Á và Ðông Âu với khoảng 200 triệu khách hàng nhưng ở Việt Nam, Beeline chỉ chiếm khoảng 1% thị phần. (PL)

Ngày Mưa Ngồi Quán


* Mường Mán


 


so vai, chạm trán chiều tà


duỗi chân, nhạc rụng la đà bụi mưa


chừng như có chút buồn vừa


rơi theo chiếc lá mùa chưa kịp vàng


chừng như có chút vui tan


long lanh trong ngọn đèn vàng mới chong


ngồi bù những lúc long đong


chờ đêm chở nắng qua sông mình về


(Nguồn: Tony Son Nguyen; [email protected])

Xứ của ta biết ở nơi nào

 


* Cao Thoại Châu


 


Xứ của ta biết ở nơi nào


Ta vẫn mơ nửa phần quê ngoại


Và nửa phần quê nội trộn chung nhau


Như sữa của những người hàng xóm


Pha trộn nuôi ta khôn lớn thuở nào


 


Nghe nói ta có nhiều nhũ mẫu


Không biết con bò có góp sức nuôi ta


Mà thân thể không cao ngoài thước sáu


Cân không hơn nửa tạ bao giờ


 


Là năm mới học đòi tâm sự thế


Học làm người không có quê hương


Tự bạch mình luôn làm kẻ lạ


Mòn biết bao giày vẫn là kẻ lưu vong!


 


Trời sinh bên vui và bên khác u buồn


Ta chọn của trời một bên bất đắc dĩ


Cành cây có bao giờ chọn gió


Chỉ chọn cho mình những lá khô rơi


 


Có một quê ta đã bỏ lâu rồi


Án biệt xứ là án văn chung cuộc


Chiều nhiệt đới run trong giá rét


Không cô đơn vì không có hai người!


 


Ðời đã dạy phi thương bất phú


Ta chối từ nên khánh tận hôm nay


Văn chương đó là thứ hàng độc


Như ánh trăng ngời tỏa sáng đêm ba mươi!


 


Giá một chút vầng trăng quê ngoại


Soi cho ta thành kẻ phi thường


Thì gai góc có đâu ra nông nỗi


Nát bàn chân những bước đi hoang!


 


Trăng quê ngoại và trăng quê nội


Vẫn mọc lên vằng vặc những đêm rằm


Những trăng ấy không soi phía trước


Sáng vô cùng trăng mọc sau lưng!


 


Ðêm viễn xứ mơ về cố xứ


Nhập nhằng không biết tận nơi đâu


Như khi gặp em hồn ta cũng vậy


Em là vầng trăng không biết sáng nơi nào?


(25-1-2012)

Bất Chợt Nhớ


* Luân Hoán


 


rủ ai trở lại ngày thơ


ra thềm gió mát đánh cờ-gánh chơi.


mở bia,


cầm nắp ken,


ngồi


nhớ mặt nền đất bóng ngời nắng mưa


 


rủ ai trở lại ngày xưa


đêm vàng trăng bám đu đưa góc hè


bàn tay “bịt mắt bắt dê”


run run như thể chưa hề quen hơi


 


rủ ai trở lại trò chơi


làm dâu,


tôi cõng,


cong người,


đi quanh


chạng vạng luồn vào chái tranh


mép ao bờ ruộng âm thanh đêm vào


 


rủ ai cùng chống cây sào


thúc cho trái ổi rớt vào bê rê


tồng ngồng


thánh thiện


u mê


lật áo chùi ổi,


em chê,


không thèm


 


rủ ai trở lại vạt đêm


trốn mưa trong miếu ngó lên thần hoàng


hoảng hồn tay vói ôm càng


tỉnh ngay giây phút mơ màng không đâu


 


rủ ai sống lại phút đầu


trưa hiu hiu nắng cụng đầu vào nhau


cái cụng chưa đủ đau đau


mà thành cô bé vẫn hầu hạ tôi


rủ ai?


chi bằng rủ tôi


đi lang thang lại khoảng đời xưa xa


(6-3-2012, Ngày của em)

Chiều Có Lan

 


* Bùi Chí Vinh


 


(Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương


Bất lương bàn luận chuyện hiền lương


Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ


Thơ quốc doanh cười cợt thơ Ðường)


 


Chỉ cần ngón tay đưa lên môi


Ngàn năm nhan sắc ở em rồi


Ngàn năm trời đất thành thơ nhạc


Cây cỏ chào nhau kể lứa đôi


 


Chỉ cần chiếc muỗng em trong ly


Là tim anh chết rất nhu mì


Là thằng du đãng bay đâu mất


Một chút tình anh lẻn trốn đi


 


Chỉ cần em cứ ngồi như thế


Yên lặng nhìn anh suốt buổi chiều


Là anh trôi sạch bao dâu bể


Mở hết lòng ra đợi tiếng… yêu!

Feds make first arrest in BP oil spill case

By CAIN BURDEAU, Associated Press


 


NEW ORLEANS— A BP engineer intentionally deleted more than 300 text messages that said the company’s efforts to control the Gulf of Mexico oil spill were failing, and that the amount of oil leaking was far more than what the company reported, the Justice Department said Tuesday.


In the first criminal charges related to the deadly explosion on the Deepwater Horizon rig in April 2010, the Justice Department arrested Kurt Mix and charged him with two counts of obstruction of justice for allegedly destroying evidence sought by federal authorities, officials announced in a statement.


The charges came a day before a federal judge in New Orleans was to consider preliminary approval of a $7.8 billion settlement between BP and a committee of plaintiffs in a civil case. Shrimp processors have raised objections, saying the settlement does not adequately compensate them.


Having an accurate flow-rate estimate is key to determining how much in civil and criminal penalties BP and the other companies drilling the Macondo will face under the Clean Water Act.


In an emailed statement, BP said it would not comment on the case but is cooperating with the Justice Department and other investigations into the oil spill. “BP had clear policies requiring preservation of evidence in this case and has undertaken substantial and ongoing efforts to preserve evidence,” the statement said.


Mix, 50, of Katy, Texas, appeared before a judge in Houston and was released on $100,000 bail. Mix, who no longer works for BP, said very little during the hearing, answering routine questions about the charges. His attorney declined comment after the hearing. If convicted, he faces up to 20 years in prison and a fine of up to $250,000 on each count.


The engineer deleted more than 200 messages sent to a BP supervisor from his iPhone in October 2010 containing information about how much oil was spilling out — and then erased 100 more the following year after receiving numerous legal notices to preserve the information, the Justice Department said in a news release.


On the first day BP began to use the “top kill” method to plug the leaking well, Katy estimated in a text to his supervisor that 15,000 barrels of oil per day were spilling — an amount greater than what BP said the method could likely handle. The “top kill” method involved pumping heavy mud into the blown-out well head to cap it, and it was one of many unsuccessful attempts to plug the well. The well was ultimately capped July 15, 2010.


The BP-leased rig Deepwater Horizon exploded the night of April 20, 2010, killing 11 workers and setting off the nation’s worst offshore oil disaster. More than 200 million gallons of crude oil flowed out of the well off the Louisiana coast before it was stopped.


As the spill grew into weeks and months, and soiled fishing grounds, beaches and coastal marshes, independent scientists questioned the official flow rates. Academics, environmentalists and federal investigators accused the Obama administration of downplaying scientific findings and misrepresenting data as well as misconstruing the opinions of experts it solicited.


A deepwater drilling moratorium was also put in place, a painful move for the industry and the Gulf states that rely on drilling for jobs and tax revenue.


Meanwhile, BP chief executive Tony Hayward was forced to step down after making a series of gaffes related to the spill. BP’s attempts to create an environmentally friendly image were crushed, and independent gas station owners with BP-branded stations lost business from upset customers.


Recently, scientists said they have found fish in the Gulf with open sores, parasitic infections and chewed-up fins — injuries they suspect are from the effects of the petroleum. The evidence is not conclusive, but it could mean that the environmental damage to the Gulf from the BP disaster is still unfolding and the picture isn’t as rosy as it might have seemed just a year ago.


Associated Press writer Ramit Plushnick-Masti in Houston contributed to this report.


 

Ngồi Ðây Trên Mặt Ðất


* Trần Vấn Lệ


 


Ngồi đây quán trọ hiên người,


một ly trà đá, một trời tà huy,


một non sông hết mong về,


một trái tim héo, còn gì nữa đâu!


 


Mỗi người nói một nửa câu,


ghép trăm câu nửa nên cầu nhân gian?


Qua sông áo cũ màu tàn,


về nhà cắm một cây nhang cho mình!


 


Chẳng dừng chân trước cổng Ðình


làm sao mà thấy trúc xinh bây giờ?


Ngồi đây cắn vụn trái mơ,


ai xinh như mộng không ngờ ca dao…


 


Trèo lên cây bưởi, bưởi cao,


bước xuống chỗ thấp chỗ nào Tầm Xuân?


Chiến tranh ngưng. Tiếng súng ngừng.


Bắc Nam ngó mặt, người dưng giữa đường…


 


Ngồi đây không chán thì chường,


cái đau nào cũng do mường tượng ra?


Cái không mường tượng được là


vườn dâu em hái ruộng cà em chăm…

For this year’s grads, it’s all about being practical


Photo courtesy of www.dollarstorecrafts.com


 


 


By ANDREA WOROCH


With an uncertain job market and perhaps a mountain of loans facing this year’s college graduates, they likely will appreciate a practical gift to help them get started on their post-academic life. Here are 11 that surely will make an impression:


1.     Cash: Life after graduation is exciting but it’s also laden with ugly financial responsibilities like credit card and student loan debt. In fact, total borrowing for student loans in a single year eclipsed $100 billion for the first time ever in 2010. Despite the perceived lack of effort associated with gifting cash, new grads are likely your most enthusiastic recipients.


2.     Gift cards: Though cash is very useful, who’s to say the new grad will spend it wisely when temptations abound? Reduce distractions by creating a http://www.cardavenue.com/and have family and friends purchase cards to restaurants, supermarkets, gas stations and department stores to help your graduate with everyday expenses.


3.     Resume service: Most colleges have career centers with advisers available to assist students with their career search and resume development, but that “free” service is gone upon graduation. If your new grad is still struggling with effectively conveying his accomplishments on paper, consider gifting him with a professional resume service.


4.     Financial planning session: One of the best gifts you can offer a recent grad is the opportunity to begin her new life on the right financial foot. By purchasing one or more professional financial planning sessions, you’re offering the opportunity to learn the most effective approach for establishing a budget, paying off debt and saving for retirement.


5.     Personal finance books: If a professional financial planner is out of the question budget-wise, opt for the DIY approach to personal finance: buy a book. You may think that’s a bad gift for someone who’s just retired their textbooks forever, but personal finance advice is invaluable to a generation laden with debt. Plus, these recommended titles from http://www.budgetsaresexy.com/recommend/ are offered by a man who sports a mohawk and refers to budgets as “sexy.” Ultimately, you can’t find a cooler money mentor.


6.     Foreign language lessons: The job market may be looking up for 2012 grads, but ultimately it never hurts to add to your skill set. Knowing a second language is not only impressive, it opens up job opportunities throughout the globe. Rosetta Stone is an affordable alternative to formal instruction and offers the added advantage of mobility.


7.     Magazine or newspaper subscriptions: In addition to enhancing skills sets, being in the know about the latest happenings helps job seekers stay informed and relevant. A subscription — either digital or hard copy — to The New York Times or The Wall Street Journal ensures a well-rounded education on current events. Alternatively, offering a trade magazine within the graduate’s area of study or interest is another good option.


8.     Roth IRA: Most twenty-somethings are caught up with immediate concerns — where to work, where to live, and how to afford it all — so opening a Roth IRA helps jump-start saving for the future. Account holders can make tax-free withdrawals once they hit retirement age, and better yet, they can withdraw contributions tax and penalty-free. It’s important to know the basics of Roth IRAs from http://www.kiplinger.com/columns/ask/archive/the-basics-of-roth-iras.html, however, in order to effectively manage the account.


9.     Job interview clothing: After living on graphic tees and torn jeans, it’s likely the new grad in your life could use some “grown-up clothes” for job interviews. If the preferred style of the recipient and the required wardrobe of the industry are unknown to you, offer a gift card. Otherwise, schedule a suit fitting or organize a shopping spree and help the budding professional select the proper attire.


10.  Smartphone: As the nomenclature suggests, a smartphone is a savvy way for new grads to stay on top of communications from potential employers, navigate their way through unfamiliar streets and keep in touch with Mom and Dad. Additionally, the abundance of apps for everything from cheap dinner recipes to budget-management tools makes young lives a little easier.


11.  Moving truck: Anyone who’s moved down the street or across the country knows the costs involved are anything but cheap. If the area in which the happy graduate went to school is not where she intends to stay, consider helping her with moving costs by contributing to a truck rental (if needed). Otherwise, offer your labor in exchange for lunch and help her lug boxes for an afternoon.



Andrea Woroch is a nationally-recognized consumer and money-saving expert who helps consumers live on less without radically changing their lifestyles. From smart spending tips to personal finance advice, Andrea transforms everyday consumers into savvy shoppers. She has been featured among top news outlets such as Good Morning America, NBC’s Today, MSNBC, New York Times, Kiplinger Personal Finance, CNNMoney and many more. You can follow her on Twitter @AndreaWoroch for daily savings advice and tips.


 


 

Tháng Tư Cơm Nấu Vo Bằng Lệ

 


* Nhược Thu


 


Tháng Tư lửa ấm tàn trong bếp


Nhưng lửa hận tình ai vẫn khơi


Kẻ góp thêm tên vào Sử sách


Người đau vì thẹn hổ danh đời


 


Tháng Tư bếp dẫu tàn tro lạnh


Nhưng vẫn bùng sôi nước réo vang


Em nấu gì khi dòng nước cạn


Cả vần thơ nhỏ cũng tan hoang…


 


Tháng Tư cơm nấu vo bằng lệ


Những kẻ thăm chồng cũng xác xơ


Vượt suối trèo non lòng chẳng quản


Gặp nhau đôi phút đã tan giờ


 


Tháng Tư em có bao giờ hỏi


Người cũ còn chăng nữa nụ cười


Có thắp giùm nhau môi mắt đợi


Ðợi gì trọn kiếp đã xa xôi…


 


Tháng Tư không xóa mà môi nhạt


Vết thủng tim sâu buốt tận trời


Chưa vá mà nghe đời đã bạc


Cõi người xa lạ đến thơ rơi…

Nhớ


* Nhược Thu


 


Ta nhớ em như gió nhớ mây,


Như sông nhớ biển nước dâng đầy.


Như chim lẻ bạn buồn quên hót,


Như tiếng đàn ai chợt đứt dây…


 


Em có nghe gì khi xa nhau?


Ngoài sân thư viện nắng phai màu.


Mắt buồn em nhuộm phai màu nắng,


Hay nắng phai vì ta vắng nhau…?


 


Ta nhớ em như son nhớ môi,


Như trường nhớ tiếng học sinh cười.


Ðường qua thư viện buồn hiu hắt,


Lối cũ ta về bóng lẻ loi…


 


Ta nhớ em như lá nhớ cây,


Như vòng tay nhớ lấy vòng tay.


Như tim nhớ máu từng giây phút,


Dù phút giây buồn hay đắm say…

Lẻ Loi


* Nhược Thu


 


Cõi nhớ chiều nay sầu diệu vợi


Góc đời lận đận lại tìm nhau


Trời xa đất lạ hồn xuôi ngược


Thơ cũng theo người lặn lội đau


 


Ai trải mây vào cõi nhớ chung


Mà sao quên đợi để tơ chùng


Chắc em thả nhớ vào quên lãng


Nên giữa xuân nồng phai sắc nhung


 


Em ép thơ phai vào tóc ngủ


Bên này ta thức biết chờ ai?


Miền xa một nửa vầng trăng khuyết


Còn vấn vương chi chút dặm dài


 


Sao chẳng là mây lặng lẽ trôi


Hay trăng vằng vặc giữa lưng trời


Ðể ta với nỗi buồn lưu xứ


Mãi mãi là thơ dệt lẻ loi…

Tháng Tư đen, Tháng Tư sáng

 


Từ đắng cay hậu chiến đến bình an tâm hồn


 


* Trangđài Glassey-Trầnguyễn


 


This project “Black April, Bright April” is produced using oral history, community participation, and lived perspectives. Trangđài Glassey-Trầnguyễn reporting on trauma, loss, and emotional health in the Vietnamese diasporas was undertaken as part of the 2011-12 California Endowment Health Journalism Fellowships (CEHJF), a program of the University of Southern California’s Annenberg School for Communication & Journalism. Visit her blog at: http://www. reportingonhealth. org/users/trangdai-0.


Trangđài Glassey-Trầnguyễn thực hiện Dự án “Tháng Tư Ðen, Tháng Tư Sáng” về những ảnh hưởng của tang thương và mất mát trên đời sống tình cảm của người Việt hải ngoại qua học bổng của tiểu bang California cho Chương trình Báo chí về Y tế Sức khỏe (CEHJF), và do Trường Báo chí và Thông tin Annenberg của Ðại học University of Southern California tổ chức. Cô sử dụng phương pháp lịch sử truyền khẩu, cùng kinh nghiệm dấn thân cộng đồng, và tư duy trải nghiệm. Liên lạc: vietamproj@gmail. com


 


Phần 2 (4): Những ngày đắng chát


 


Sau khi ra khỏi tù, Nguyễn Thanh Thủy và gia đình tiếp tục bị đàn áp, trù dập, đe dọa, cho đến khi gia đình bà được sang Mỹ theo diện HO. Sau nhiều đau khổ và mất mát, bà vẫn tiếp tục sống còn, vươn lên. Nhiều thay đổi đã diễn ra trong đời bà trong thời gian này.



Nguyễn Thanh Thủy và hai con gái, sau khi bà ra tù cải tạo.


Trong 13 năm tù đằng đẵng trước đó, bà đã nhiều lần suýt chết, nhưng trong niềm tin của mình, bà nghĩ, Chúa đã cứu bà. Và cả một người bạn tù của bà, khi bà cầu xin cho bạn trong một đêm ngặt nghèo. Và bà đã nguyện – từ những lúc khốn đốn đã được Chúa nhậm lời – rằng bà sẽ trở thành con Chúa trong trọn cuộc đời này. Do đó, sau khi ra tù, nhờ sự hướng dẫn của một người bạn, bà đã gia nhập Hội thánh Tin lành. Tôi nhớ đến giai đoạn này – khi cao trào thuyền nhân lên đến đỉnh cao. Nếu Nguyễn Thanh Thủy trong hỏa lò đã được Chúa nhậm lời, thì tôi nhớ, có biết bao thuyền nhân đã thấy Phật Bà, Ðức Mẹ hiện ra cứu họ, khi họ đang chơi vơi giữa biển khơi mù mịt. Những sức mạnh thiêng liêng đã giúp rất nhiều con dân Việt Nam vượt qua được giai đoạn khó khăn này.


Nhưng làm sao để Nguyễn Thanh Thủy tìm cách mưu sinh cho mẹ già và ba con nhỏ, trong khi bà phải từng giây từng phút đối diện với kỳ thị, bất công, và quản chế sau khi ra khỏi tù cải tạo? Bà tìm mãi không được việc làm, nhà cửa thì đã bị tịch thu, hộ khẩu thì không được cấp. Bà trở thành kẻ vô quốc tịch, vô gia cư. Tuy vậy, bà vẫn tiếp tục cố gắng, tìm mọi cách để bươn chải, lập sinh kế cho gia đình, và chăm sóc cho hai cô con gái khuyết tật và giúp họ có đời sống bình thường. Bà làm tất cả – ngoài sức tưởng tượng của con người, đối với một người đã hoàn toàn bị mất hết sức khỏe – để bù đắp lại cho các con 13 năm tan đàn rẽ nghé. Bà luôn vươn lên, đối mặt với những kỳ thị trong xã hội, chấp nhận những khó khăn trong việc tìm công ăn việc làm, chống chọi với những bế tắc kinh tế, tự tìm cho mình một điểm tựa để đứng vững trước những lo lắng và tuyệt vọng khi nhìn về tương lai mờ mịt.


Nhưng trước hết, chúng ta hãy cùng đến thăm gia đình bà, để biết đời sống hậu-tù-cải-tạo của bà lúc ấy ra sao. Ngày đầu tiên bà trở về gặp mặt mẹ già, con dại, và người chồng của mình đã diễn ra như thế nào? Ngay cả sau khi ra tù, mọi chuyện cũng không dễ dàng cho bà. Cũng xin nhấn mạnh một điều: bà có hai con gái bị khuyết tật, rất cần sự chăm sóc và theo dõi thường xuyên của mẹ. Nhưng ngay cả sau khi ra tù, vì mưu sinh, bà cũng không thể ở bên con mỗi ngày được. Nỗi đau xa cách, tuy có thay đổi, nhưng vẫn còn đó.


Bà kể, “Tôi thắng được cơn sốt rét liệt giường. Tôi thoát được bị phản ứng Penicilline, cố luyện tập để tránh bị liệt chân, thoát khỏi cơn xuất huyết bao tử để trở về được với gia đình, con cái. Nghị lực tôi có được là do niềm hãnh diện tôi phục vụ cho đất nước tự do, chống lại độc tài, áp bức, tàn ác của Cộng Sản. Dù bị bọn Cộng Sản lên án, tôi vẫn cho việc làm trước 1975 là đúng. Tôi vui mà sống. Các cộng sự với tôi đã lần lượt ra về không trở ngại. Còn lại một mình, tôi mới hy vọng đến lượt mình. Thời gian thắm thoát trôi. Lúc cầm tấm giấy tha ra khỏi trại tù cải tạo 230D, hàm răng trên tôi không còn, hàm răng dưới lỏm chỏm cái có cái không. Mặc cái áo tù sửa lại cho vừa vặn với thân hình ốm còi, tôi không còn một bạn gái nào tập trung cải tạo như tôi vì tôi là người tù nữ cuối cùng của tù tập trung cải tạo. Tôi buồn khi nhìn lại một số bạn tù nam không có tên gọi trong đợt này. Tôi vẫy tay từ giã tạm biệt, hẹn ngày hội ngộ ngoài xã hội. Về đến Quận II, tôi bị phỏng vấn, giấy tờ còn nộp trên bàn để làm thủ tục về phường tỉnh mình cư ngụ. Nhà báo hỏi tôi, ‘Có phải Mỹ can thiệp nên chị mới được ra?’ Tôi trả lời, ‘Ở trại, tôi có được nghe tin tức hay đọc báo gì đâu. Hôm nay có lệnh gọi tha về thì tôi nhận giấy về.’ Thật sự giấy tờ còn ở trong tay bọn họ. Nói đúng với ý mình, họ không đưa giấy ra trại lại thì sao? Ở tù nhiều năm, tôi chưa hình dung cái xã hội của Chủ nghĩa Xã hội nó như thế nào. Cầm cái nón lá trong tay, tôi ra sau cùng vì nghĩ nhà cửa bị tịch thu hết, công an phường biết đâu mà thông báo vì cả nhà hồi hương về Mỹ Tho, trong lòng định đi bộ về nhà Dì ở gần chợ Sài Gòn. Ðang đi nghe tiếng gọi tên mình, ngó lên thấy vợ chồng đứa em trai đang chạy tới, mừng rỡ cùng nhau đi bộ về nhà Dì.”


Thật ra, nếu bà không quá yếu và bệnh thập tử nhất sinh liên miên, chưa chắc bà đã được về. Bà nói, “Tôi về theo diện cứu xét người bệnh ở bệnh xá. Tôi bị xuất huyết bao tử hơn tháng, còn uống nước cháo để sống, chưa ăn cơm được. Bạn bè hay tin, đến họp mặt ở căn gác nhỏ của Dì. Tôi gặp chồng tôi ở đó. Hôm sau, vợ chồng tôi cùng về thăm các cháu và Mẹ tôi.”


Rồi thì bà cũng được gặp lại các con – niềm khích lệ lớn nhất đã giúp bà chịu đựng thử thách để sống sót trở về! Trái tim của một người Mẹ xa con, không được chăm sóc con, đã đau đớn như thế nào khi nhìn cảnh con cái mình xơ xác, bơ vơ? Và ắt hẳn ba đứa con – sau mười ba năm xa Mẹ – sẽ nhảy cẫng lên mừng rỡ? Không. Cái khoảng cách mười ba năm, cùng với cái hình ảnh một Nguyễn Thanh Thủy dở sống dở chết khi xuất trại, đã làm con bà sợ. Khi vợ chồng bà về đến Mỹ Tho, thì “Mẹ tôi ra mở cửa. Hai mẹ con ôm nhau, cùng chảy nước mắt. Mẹ tôi gọi hai con gái ra, nói, ‘Mẹ con về kìa!’ Hai đứa nhìn Mẹ, đợi Mẹ tới ôm, vì cả hơn 10 năm hai cháu chưa gặp Mẹ. Tôi chết lặng nhìn hai con, không hồng hào mà xanh xao. Cháu nói, ‘Mẹ không có răng. Mẹ lạ quá!’ Con trai tôi thì đi làm hãng xơ dừa chưa về.”


Lúc đó, bà mới bắt đầu thấm cái cảnh cơ hàn mà Mẹ bà – sau khi Ba bà qua đời – đã côi cút một nách tần tảo nuôi ba cháu nhỏ. Bà kể, “Tôi thấy nhà trống trơn. Chạy xe đạp trong nhà cũng không đụng vào đâu. Tôi vào nhà bếp, giở thạp gạo, thấy còn một lít gạo đang đựng trong cái lít trên đáy khạp. Mẹ tôi nói, sáng đó, có anh Tư của tôi về thăm cho các cháu mấy khúc vải để may quần áo Tết. Và nói, có đợt tù cải tạo được thả. Mẹ hy vọng tôi được về. Phường Mẹ ở cũng đưa báo Công An có phỏng vấn tôi. Ông ấy nói hy vọng kỳ này tôi về.”


Thế mới biết, nỗi mong chờ mòn mỏi của gia đình những người tù cải tạo cũng là cái đau đớn không tên mà họ gánh chịu hằng bao năm, khi người thân phải chịu cảnh hỏa lò. Mẹ của bà còn nói, “Nếu kỳ Tết này con không về, Mẹ cũng không còn khả năng nào đi thăm nuôi con vì nhà đã kiệt quệ.” Kiệt quệ tài chánh, nhưng có lẽ tình thương yêu và niềm mong mỏi sẽ không bao giờ kiệt quệ, nhất là trong trái tim của những bà mẹ Việt Nam thương con vô bờ.


Cái sự thật đau lòng về sự đói rách của Mẹ và con cái bà hiện diện trong cả tên gọi của đứa con nhỏ. Bà cười trong nước mắt, “Con gái út của tôi, thấy cả nhà kêu là Cô Tư Tivi, được giảit hích là vì áo của cháu vá một miếng vải lớn bằng cái Tivi phía sau lưng áo. Tôi thấy lòng đau xót, nghẹn ngào, không nói nên lời.”


Trong bữa cơm gia đình đầu tiên, món ăn sang trọng nhất và quý giá nhất chính là sự hiện diện của bà, và tình thân mà bạn tù dành cho bà, bởi vì “buổi cơm hội ngộ gồm có Dì út Nguyệt nuôi và chăm sóc các cháu, bà ngoại, Long chồng tôi, 3 con tôi, tôi bên dĩa rau luộc và nước mắm. Rất vui, ấm cúng. Tôi đưa Mẹ tôi số tiền bạn bè giúp tôi làm lộ phí trở về nhà.” Mẹ bà đã xúc động, “Các bạn còn nhớ và thương con, Mẹ mừng lắm!”


Gió heo may đã bắt đầu thập thò ngoài hiên. Nguyễn Thanh Thủy đón cái Tết đầu tiên trong cái tù lớn với những nghẹn ngào bắt buộc của hoàn cảnh. Bên nỗi vui đoàn viên, bà cũng đối diện với niềm mất mát. Như con gà mẹ, dùng tất cả sức lực của mình để ủ ấp cho đàn con, bà đã “cắt may áo quần cho các cháu để mồng Một Tết có áo quần mới mặc. Nhìn ảnh Ba tôi trên bàn thờ, tôi ngậm ngùi nhớ thương. Có những điều tôi muốn nói với Ba vì tội giấu cha mẹ về nghề nghiệp, nhưng giờ thì vĩnh viễn không thể nói được với Ba. Tôi xin lỗi Ba.”


Người cha quá cố có nghe được lời xin lỗi của đứa con gái xa nhà 13 năm không? Chắc ở thế giới bên kia, ông đã thấy con gái mình ngất xỉu trong trại tù khi được tin ông qua đời? Bao nhiêu gia đình ở Việt Nam thời gian đó đã chịu cảnh này: con cái không được thọ tang cha mẹ, vợ chồng không được biết sống chết của nhau? Máu nồng hơn nước lã. Chắc Ba của bà đã nghe được tâm sự của bà.


Rồi trong “đêm giao thừa đầu tiên, ngoài xã hội của Chủ nghĩa Xã hội, tôi ngồi kết nút áo cho con để sáng mai ngày Tết, cháu có áo mới mừng tuổi thọ Bà Ngoại. Tôi suy nghĩ về chuyện sẽ làm gì nuôi thân, nuôi mẹ, các con sau cái Tết này. Nhìn hai đứa con gái khuyết tật ngồi cắt cói, xếp cói, đứa con trai xe cói, tôi không biết tương lai sẽ ra sao, khi hai bàn tay trắng, không nơi cư trú, hộ khẩu không có, giấy ra trại ghi địa chỉ nhà cũ (ở Sàigòn, đã bị tịch thu), các con hồi hương trú nhà Bà Ngoại. Tài sản Ba Mẹ tôi, luôn cả trường tư thục, đã bị Cách Mạng tịch thu toàn bộ, chừa lại căn nhà gỗ nhỏ để ở. Tôi tự an ủi: “Trời sanh voi sanh cỏ!”


Bà lạc quan, tin tưởng vào khả năng sinh tồn của con người và sự quan phòng của Tạo Hóa. Bà gặp gỡ thân bằng quyến thuộc, và tìm hiểu về việc học hành của con cái, “Tôi tiếp khách hàng xóm đến thăm với áo tù, mặc quần của con gái tôi. Tất cả những vật dụng đổi được thành tiền đều được bán hết để nuôi con tôi và tôi. Tôi đi thăm cô giáo của các con tôi ở trường Trung học Mỹ Tho. Các cô kể lại về cháu Quân, học rất giỏi, miễn tuổi để lên lớp. Hiệu trưởng là Cách Mạng 30 tháng 4 không cho lên. Các cô phản đối vì cháu đứng nhất cấp II mà không được lãnh thưởng vì có cha mẹ ngụy quân, nhưng phải cho lên lớp. Mười sáu tuổi, cháu đã đậu cấp III. Còn hai cháu khuyết tật, một cháu lớp 4, một cháu lớp 7, là con ngụy, nên không cho ở lại lớp, đuổi ra khỏi trường.”


Nhưng cái trớ trêu của xã hội Việt Nam sau 1975 vẫn bám riết bà, nên “đến ngày tôi phải trình diện ở Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, địa chỉ nhà ghi trong giấy ra trại Bộ Công An đã cấp cho công an ở, Ủy Ban yêu cầu tôi về quê họ sẽ cấp giấy cư trú. Tôi ở lại thành phố Sài Gòn. Tôi may gia công quần áo trẻ con và bỏ đường cát cho các quán nước, nhưng không đủ nuôi sống con cái. Tôi ở nhờ bà con, bạn bè, thay đổi chỗ ở vì ở đâu, đêm đêm cũng bị xét giấy tạm trú, tôi không được cấp giấy gì ngoài giấy ra trại. Chủ nhà khước từ giúp đỡ tôi vì bị công an làm khó dễ. Có nhiều ngày tôi muốn che tấm bạt nilon, trải chiếu ngoài lề đường ngủ như những gia đình bỏ kinh tế mới trở về thành phố sống lang thang bên vỉa hè. Tôi không được sức khỏe như các người đi kinh tế mới trở về. Vả lại, tôi đang sống vào mùa mưa dầm. Mưa gió sẽ gây bệnh cho tôi. Ba Má một chị bạn gặp tôi ở trong nhà con gái họ, đã nói với tôi, ‘Xưa nay, gia đình chúng tôi là hộ tốt trong khu vực này. Nay chị đến đây ở, hộ chúng tôi bị xét liên miên.’ Tôi lang thang, nay ở nhờ nhà này, mai nhà khác, và làm thức ăn bán thay vì bán cơm tấm, phải nấu thức ăn. Tôi đổi bánh cuốn chả bán liền tại chỗ với cà phê, nước ngọt.”


Từ một người tù bị theo dõi nghiêm nhặt, Nguyễn Thanh Thủy trở thành một kẻ vô gia cư, một con người tuy không còn mặc áo tù, nhưng không có nơi dung thân – và vẫn tiếp tục bị theo dõi nghiêm nhặt. Bà vẫn tiếp tục phải xa các con vì sinh kế. “Hàng tuần, ngày Chúa Nhật, tôi giao cho chồng tôi bán. Tôi về thăm 3 con và Bà Ngoại ở Mỹ Tho. Từ sáng sớm tôi đạp xe đi lấy hàng, dọn hàng bán tới chiều cất hàng vô, gửi nhà bạn, rồi chờ chạng vạng tối mới về nhà người quen để người xung quanh không để ý. “May thay, tuy cái tù lớn của Việt Nam hậu 1975 đã giam cơ thể và bao tử con người, nhưng nó không giam được tình người. Một cô giáo dạy nữ công gia chánh cho các phụ nữ chuẩn bị đi nấu ăn hay làm việc nhà cho những ông chủ trong bộ ngoại giao đã động lòng trắc ẩn trước hoàn cảnh của Nguyễn Thanh Thủy – và có lẽ cũng quý mến sự hiền lành, chịu khó của bà. Cô thấy hoàn cảnh bà khó khăn, mới ra tù, nên dạy miễn phí cho bà tất cả những món ăn và công thức bánh trái. Nguyễn Thanh Thủy chỉ phải trả tiền vật liệu. Mỗi ngày, bà đến học rồi làm bánh hay một món ăn sang trọng nào đó, vốn dành cho những thực khách trong giới ngoại giao. Sau giờ học, bà lại mang món ăn đó ra quán lề đường để bán. Xem chừng như có một sự tréo ngoeo nào đó ở đây, khi một món ăn hạng sang được bày bán ở một cái quán lề đường tạm bợ? Có cái gì mà không tréo cẳng ngỗng trong xã hội Việt Nam thời đó? Nhưng cũng chính những bài học nữ công này đã giúp bà nuôi sống gia đình sau khi định cư tại Mỹ.


Rồi hy vọng cũng đã đến một cách bất ngờ cho những mảnh đời bên vỉa hè như bà. “Năm 1989, báo Nhân Dân, Công An của cộng sản đăng tin thỏa hiệp giữa Mỹ-Việt cho những người tù cải tạo 3 năm trở lên được sang Mỹ. Tôi vội vàng mang tờ báo vào Quận 5 là quận tôi đã ở trước 1975 và giấy ra trại cũng về nơi phường Quận 5 để khiếu nại vấn đề nhập hộ khẩu. Cán bộ quận yêu cầu phường giải quyết, cấp tạm trú cho tôi để làm hồ sơ xuất cảnh.”


Việc làm thủ tục xin xuất cảnh của bà có lẽ nhiêu khê hơn rất nhiều người. Mất hơn hai năm bà mới hoàn tất được giấy tờ; và mỗi ngày, công an địa phương không ngừng nhắc nhở bà rằng, “Chỉ khi nào chị ra khỏi đây, thì thôi. Chị còn ở đây là chúng tôi còn quản lý được chị.” Xuất cảnh là con đường sống duy nhất cho Nguyễn Thanh Thủy và gia đình bà – cũng như rất nhiều những gia đình khác tại Việt Nam thời đó. Ðể gỡ những thắt gút mà chính quyền đã tạo ra cho cá nhân bà, trước hết, “Tôi phải làm tạm trú nơi phường tôi ở trước 1975 vào nhà bác của tôi, chỉ ghi tên làm hồ sơ xuất cảnh, còn ở đâu thì tùy. Tôi xin về nhà cô em chồng ở Quận 4 tạm trú chờ xuất cảnh. Cuộc sống không dễ dàng như tôi tưởng: Tôi được sự đồng ý giới thiệu của quận, thế mà cứ khoảng 12 giờ đêm tới 2 giờ sáng là công án tới xét giấy tạm trú. Chưa đủ, công an còn đến xin tiền chủ nhà khi về Bắc thăm gia đình, sinh nhật con, và rủ chủ nhà đi nhậu. Tất cả các chi phí đó tôi phải hoàn trả lại, nhưng rất phiền hà vì cả nhà không an giấc, cứ chập chờn chờ tiếng đập cửa xét nhà của công an. Tụ điểm bán cà phê của vợ chồng tôi là nơi anh em tù cải tạo trao đổi tin tức đi ở, cách làm giấy tờ, xuất cảnh, nhất là xin giấy xác nhận tù chết trong trại mới đủ điều kiện nộp đơn, xin ở Quân Khu 7. Tất cả phải có thù lao riêng cho tụi cán bộ.”


Có lẽ không ai là không nhớ cái cảnh xét nhà bất cứ lúc nào ở Việt Nam thời đó: Công an phường có thể ập vào nhà, không cần giấy lệnh, xét tất cả những gì họ muốn xét, bắt tất cả những ai họ muốn bắt, lấy tất cả những gì họ muốn lấy. Trong khi chờ đợi hồ sơ được xét duyệt, bà vẫn tiếp tục bán cà phê bên lề đường để mưu sinh cho cả gia đình. “Lần đầu tôi bán ở đường hẻm. Sau đó họ xây nhà cao tầng cho ngoại quốc mướn, tôi phải rời đến đường Nguyễn Văn Tần. Bốn năm buôn bán vỉa hè, tôi thấy tình cảnh nghèo đói, họ đã bẻ lọi chân đứa bé gái thành tật nguyền để cháu lết đi xin ăn, lấy tiền nuôi cả gia đình. Cảnh thương phế binh mù lòa, cụt tay cụt chân, đi bán vé số, đi đàn hát xin lấy chút tiền của người hảo tâm. Cảnh công an phạt những người buôn bán vỉa hè gấp đôi gấp ba số tiền họ kiếm trong một ngày. Công an cài những người bán xung quanh, bên kia đường theo dõi quán tôi, báo cáo cho công an phường. Dân nghèo thương nhau, nhất là thấy tôi ở tù lâu quá, họ nói cho tôi biết để đề phòng. Người tù không được buôn bán. Tôi bị công an gọi lên Bộ Nội Vụ, buộc phải dẹp quán. Tôi trả lời với chúng nó rằng, ‘Tôi muốn trở thành người dân lương thiện, kiếm tiền nuôi sống gia đình mà cứ dồn tôi vào cuối chân tường. Vậy yêu cầu các ông gửi tôi vào trại cải tạo để tôi có ngày hai bữa ăn độn. Bắt tôi ký giấy vi phạm, tôi không ký. Tôi nghĩ, tôi đã nộp đơn qua Bangkok, tôi chẳng có gì để lo sợ.’”


Nhưng bù lại, những giây phút đầm ấm bên gia đình đã cho bà một niềm hạnh phúc lớn lao, đủ lớn để vượt thắng những tân toan ngoài xã hội. Bà nói, “Không khí gia đình rất vui, nghèo nàn nhưng ấm cúng. Ở trường của con trai tôi chỉ dạy tiếng Nga hoặc tiếng Pháp. Tôi khuyên con học tiếng Anh qua tự điển, phiên âm quốc tế, phải tự học vì tỉnh lẻ không có lớp dạy Anh văn, mà có chắc tôi cũng không đủ tiền để đóng cho con mình đi học. Tỉnh mở lớp dạy computer cho cán bộ. Con trai tôi xin đóng học phí để học, và thích nghề đó cho đến hôm nay. Nhìn hai con gái khuyết tật, nỗi đau của người mẹ không sao kể xiết. Câu an ủi của tôi để tôi vươn lên là ‘Không lẽ đời mình mãi thế này?’ Tôi dạy hai con gái làm việc nhà giúp Bà Ngoại, rửa chén, giặt quần áo, vo gạo, nhặt rau… Hai con làm rất vụng về, nhưng ham làm lắm. Tập hai con làm toán cộng, tập nói, trả lời, đếm số, những căn bản tiếng Anh để còn ra Hội đồng Giám định Y khoa (HÐGÐYK) với bác sĩ Mỹ. Ngày ra HÐGÐYK, bác sĩ trưởng HÐ xét duyệt phân tích bệnh lý từng đứa một, bác sĩ đã chỉ cho HÐ biết, ‘Hai đứa bé này được gia đình giáo dục rất kỹ, nên mới được tốt như vậy. Ở đây có nhiều em khá hơn mà không biết một chữ nào, gia đình không giáo dục chúng.’ Qua được cuộc phỏng vấn với HÐYK, gia đình rất vui mừng. Vì vậy gia đình tôi là HO12, phải đi cùng HO14 vì lý do sức khỏe của hai con gái.”


Nguyễn Thanh Thủy, sau kinh nghiệm tù cải tạo, vẫn mãi mãi nằm trong sổ đen của chính quyền Việt Nam. Nên “tôi biết tôi sẽ gặp nhiều khó khăn trong những ngày cuối ở Việt Nam. Tôi chỉ dẹp quán bên đường 10 ngày trước khi đi. Nhưng tôi làm giấy xin về quê thăm Mẹ tôi, cốt ý tránh xa công an phường. Tôi tạm đã dời chỗ ở khác, thế mà công an vẫn đòi chủ nhà cho một số tiền. Chủ nhà thoái thác là tôi không còn ở đó.” Thậm chí, Bộ Công An còn ra lệnh cho bà: “Không được đãi tiệc, không được đón đưa. Nếu bên Mỹ có ai tổ chức đón, chúng tôi sẽ không cho chị đi. Và chỉ khi nào máy bay cất cánh, chị mới rời khỏi Việt Nam. Máy bay chưa bay, chúng tôi vẫn giữ chị lại được.”


Trong cái niềm vui thoát được cảnh bị đàn áp, chèn ép mỗi ngày, cái tương lai sáng sủa hơn mở ra trước mắt, là cái nỗi đau phải chia lìa với người Mẹ của bà – trụ cột của gia đình bà trong suốt 13 năm bà chịu cảnh tù đày. Nhưng hoàn cảnh như vậy không cho phép người ta giằng co với tình cảm. Nguyễn Thanh Thủy ngưỡng phục mẹ mình, bà nói, “Mẹ tôi là bà mẹ hết sức can đảm. Bà giữ bình thản để cho con và các cháu ra đi. Vì Mẹ tôi thường nói, ‘Con phải ra khỏi chỗ này, con mới khá được.’ Lần sung sướng nhất trong đời là lúc cả gia đình rời nấc thang cuối cùng vào phi cơ, lòng phơi phới nhẹ nhõm như đang trên mây, trong lúc phải để lại sau lưng mẹ và những người thân thương của mình. Thật đứt ruột!”


Cánh cửa hy vọng đã mở toang. Những cơ hội tốt đẹp đang đón đợi gia đình bà ở xứ Cờ Hoa. Nhưng cuộc đời của Nguyễn Thanh Thủy không hẳn sẽ trơn tru từ đây. Bà sẽ tiếp tục đối diện với những bể dâu của đời thường, và chịu cảnh tre già khóc măng non ở xứ người. Bà sẽ làm gì khi đứng trước một chọn lựa bế tắc: đồng ý để cho con mình được giải phẫu, dù biết cơ hội sống sót không nhiều, mà không giải phẫu cũng đồng nghĩa với cái chết? Sự lạc quan của bà, liệu có còn tỏa sáng trong biến cố này không?


Chúng ta cùng đồng hành với Nguyễn Thanh Thủy và gia đình trong hành trình trên Ðất Hứa trong Phần 3 của loạt bài này.


(Nguồn: Tác giả gửi bài & hình, qua Thư viện Sáng tạo)

Bà Maria Nguyễn Thị Uyển



Bà Maria Nguyễn Thị Uyển sinh ngày 11 tháng 12 năm 1930 tại Hà Nội, Bắc Phần, Việt Nam.


Được sinh trưởng trong một gia đình đức hạnh, lễ giáo. Thân phụ và Thân Mẫu bà hạ sinh được 4 người con. Thân phụ bà là một tư chức gương mẫu và Thân Mẫu là một nội trợ đảm đang, quán xuyến. Bà Maria Uyển là chị cả trong gia đình.


Trong thời niên thiếu, bà đã phải gánh chịu 2 đại tang của Thân Phụ và Thân Mẫu liên tiếp chỉ trong vòng vài năm. Bà Maria với sự phò hộ của Thiên Chúa đã có sức mạnh tinh thần vượt qua mọi nghịch cảnh để gánh vác và làm tròn trách nhiệm của người chị cả dậy dỗ và nuôi dưỡng các em.


Bà Maria Nguyễn Thị Uyển và ông Kim Quốc Tế đã thành gia thất ngày 16 tháng 04 năm 1949 và định cư tại Hải Phòng. Sau hiệp định Geneve 1954, gia đình ông bà đã vượt tuyến vào miền nam và định cư tại Biên Hòa.


Vào năm 1988, gia đình ông bà đã đoàn tụ với đại gia đình tại Hoa Kỳ.


Hiện nay, đại gia đình ông bà Kim Quốc Tế hầu hết đều sinh sống tại quận Orange, California. Ngoại trừ gia đình người con trưởng, anh Kim Ngọc Hùng, hiện định cư tại London, Anh Quốc.


Ông bà Kim Quốc Tế hạ sinh tất cả 15 người con, gồm 7 trai và 8 gái. Cho tới nay tổng số con, cháu ông bà lên tới 50 người, thật là một đại phúc. Tất cả các con của ông bà đều đã trưởng thành và hoạt động thành công trên mọi lãnh vực. Nhưng cao quý hơn hết là có một người con đã hiến mình cho Chúa.


Sau 3 tuần lễ điều trị tại bịnh viện Orange Coast Memoriol, bà Maria Nguyễn Thị Uyển đã chuyển về tĩnh dưỡng tại tư gia: Bà Maria đã yên nghỉ trong tay Chúa sau khi đã đón nhận đầy đủ phép Bí Tích vào lúc 5 giờ 02 phút sáng, Thứ Năm ngày 22 tháng 03 năm 2012 (Nhằm ngày 07 tháng 02 năm Nhâm Thìn) tại Santa Ana, California. Bà Maria Nguyễn Thị Uyển hưởng thọ 82 tuổi.


Bà Maria có tâm nguyện là khi còn sống cho đến lúc lâm chung luôn luôn được sống trong đơn sơ, giản dị, thanh khiết như hình ảnh Thánh Nữ Teresa Hài Đồng Giêsu; và suốt cả đời luôn “Xin Vâng” theo ý Thiên Chúa như tinh thần Đức Trinh Nữ Maria.


Bà Maria Nguyễn Thị Uyển là hình ảnh tiêu biểu của một người phụ nữ Việt Nam thuần khiết, chiều chồng, yêu con, quý mến các anh chị em bà con trong dòng tộc.


Bà Mari ra đi là một cái tang lớn lao cho toàn thể đại gia đình. Cầu xin Thiên Chúa, qua lời cầu bầu của Mẹ Maria sớm đưa linh hồn Maria Nguyễn Thị Uyển về hưởng nhan Thánh Chúa trên nước Thiên Đàng.


 


 

Ông Giuse Nguyễn Dương Thuộc

 


Không biết do là một thầy thuốc Bắc nên thông suốt mạch đập trong cơ thể của mình, hay có một lực huyền bí nào đó ban cho ông, khiến ông biết trước ngày mất của mình một cách chính xác. Người con gái thứ tư của ông kể lại, ông nói hai tuần nữa sẽ ra đi và chính ông sắp xếp sẵn ảnh thờ, áo quần mặc khi khâm liệm cũng như dặn dò mọi thứ cần thiết cho con cháu. Mọi sự xảy ra đúng không sai một ly.


Là một thầy thuốc Bắc, ngay từ những năm còn ở quê nhà, không những dùng kiến thức để cứu giúp những con bệnh đến với mình, ông còn đem tiền bạc giúp không biết bao nhiêu người. Đến độ cô con gái thứ tư, chị Nguyễn Bích Thuận đùa “Ông cụ có biệt tài đó” “biệt tài” trong câu nói của chị có nghĩa, ông “hay” lắm trong chuyện nghe lời những người đến ngon ngọt để mượn tiền, để xin tiền, và bao nhiêu cũng đưa, bao nhiêu cũng gật. Ông không biết từ chối một ai, có khi bị con cái rầy rà quá, không cho các con biết, ông lén lút đưa tiền cho người khác.


Nhưng luật tạo hóa cũng rất hay, suốt một đời ông chỉ biết rong chơi khắp nơi, từ Âu sang Á, từ Đông sang Tây…chỗ nào ông cũng muốn ấn đấu chân mình xuống. Và rất kỳ lạ, từ làm thầy thuốc, đến buôn bán này nọ…cái gì ông cũng làm chơi chơi, không toàn tâm toàn ý, mà tiền cứ như rơi hết vào cái phễu, trút vào túi gia đình ông. Ông như có sức hút, đụng đâu cũng ra tiền. Có người nói rằng chắc trên cao Đức Chúa lòng lành đã mượn tay ông để cứu giúp kẻ nghèo khó.


Đối với người ngoài dễ dàng bao nhiêu thì đối với con cái khó khăn bấy nhiêu. Là cha của 11 người con, ông để mắt từng người con một. Nhất là những cô con gái, ông khó đến độ chỉ cần thấy một cậu trai đi ngoài đường nhìn vào nhà là ông đã nghiêm sắc mặt cảnh cáo con gái. Có thế nên sau này, dù rằng con cái đông nhưng gia đình trên dưới đâu ra đó.


Ngày ông mất, không chỉ gia đình, thân thuộc đau buồn, mà nơi quê nhà, bà con xóm giềng khóc thương ông. Họ biết rằng từ nay, hằng năm họ sẽ chẳng còn cơ hội gặp lại ông, người ơn từ ái, rộng rãi, chân tình, chu đáo…Suốt 85 năm nơi trần thế, ông đã làm tốt công việc Chúa giao phó, nay Chúa đón ông về. Gia đình tuy có buồn đau khi mất một người chồng chung thủy, người cha tốt lành, nhưng gia đình cũng rất vui khi biết rằng từ nay ông đang hưởng nhan Thánh Chúa.




tp

Chúng ta phải là chứng nhân trung thực của lịch sử

 


Bài nói chuyện của GS Uwe Siemon-Netto


 


 


Dịch thuật: Ban Biên Tập Diễn Ðàn Cựu Sinh Viên Quân Y/QLVHCH


 


Trân trọng giới thiệu bài nói chuyện của GS Uwe Siemon-Netto trong ngày Hội Ngộ Quân Y 2012 vào Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012 tại thành phố Westminster, NamCalifornia. Các tài liệu này có thể được in ra sau khi download từ những files kèm theo đây: http://www.youtube.com/watch?v=bMs_C0VRYIM.


Xin cảm ơn và thân kính chào.


Lý Văn Quý.


 


Kính chào quý vị,


Tôi rất hân hạnh được mời đến nói chuyện ngày hôm nay, gần nửa thế kỷ sau lần đầu tiên tôi đến Việt Nam với tư cách một phóng viên chiến trường Tây Ðức. Thời điểm đó còn trước lúc những đơn vị chiến đấu đầu tiên Hoa Kỳ đổ bộ xuống Ðà Nẵng.



(Nguồn: Mauthan@org)


Từ đó tôi cảm thấy niềm thương mãnh liệt đất nước của các bạn cùng với dân tộc đã vinh danh người Ðức chúng tôi bằng câu gọi: “Ðức,” chữ đồng nghĩa với “Phúc Ðức…”


Tôi nhớ một ngày có một em bán báo vô gia cư sống trên lề đường Tự Do, Sài Gòn đã đến gần và đề nghị tôi: “Ông là người Ðức, tôi tên Ðức, vậy chúng ta cùng là Ðức cả. Vậy tôi đề nghị thế này. Nếu ông cho phép tôi và bạn tôi được ngủ trong xe của ông, chúng tôi sẽ bảo vệ và giữ gìn nó thật sạch sẽ.”


Ngày đó tôi thuê gần như thường trực một chiếc Traction Citroen 15 mã lực. Ðây là một chiếc xe Pháp khổng lồ lúc nào cũng khát xăng và có lẽ được sản xuất năm trước khi tôi sinh ra đời. Cái khóa cửa thì đã mất từ lâu. Do đó chẳng thà có ai đó trông chừng nó thì hay quá. Từ đó thỉnh thoảng, tụi nhỏ bụi đời chất đống tới sáu, bẩy em ngủ trong đó và giữ gìn chiếc xe thật sạch sẽ cả trong lẫn ngoài.


Tôi luôn luôn đậu chiếc xe trên đường Tự Do đối diện với khác sạn Continental, bên cạnh quán Givral, chắc quý vị còn nhớ những địa điểm này. Chiếc xe còn hơn cả một phương tiện di chuyển cho tôi mà quan trọng hơn đã biến thành một vật dụng chuyên chở tình bạn giữa phóng viên “Ðức” và một đám trẻ em kỳ diệu dẫn đầu bởi “Ðức“đi bán và giao báo Saigon Daily News, Saigon Post và nhiều tờ báo khác.


Tình bạn này đã kéo dài nổi trôi cho tới khi chiếc xe của tôi đã biến thành một “tổn thất” trong trận Mậu Thân 1968 và những đứa trẻ đó đã biến mất khỏi phố Tự Do trong một thời gian.


Tôi tự nhủ không biết chuyện gì đã xảy ra cho Ðức từ đó đến nay? Có thể em đang sống tại Hoa Kỳ? Hoặc đang ngồi ngay trong phòng này? Thật là tuyệt diệu nếu tôi có dịp được cười nói với em lần nữa, em là một đứa trẻ tuyệt vời.


Nói thế không phải là tôi chỉ ở Sài Gòn không thôi. Tôi vẫn thường theo những cánh quân của các bạn ra ngoài chiến trường. Và tại đó, tôi đã chứng kiến những quân y sĩ và y tá QLVNCH cố gắng cứu chữa thương bệnh binh với lòng quả cảm. Có thể tôi và một số các bạn đã từng gặp nhau, gần Quảng Trị, Huế, Pleiku hay Pleime, Nha Trang, hay vùng đồng bằng sông Cửu Long, hoặc tại những trại giam tù binh đảo Phú Quốc…


Ðó là thời kỳ đầu 1965.


Cuối năm đó tôi bị chấn thương cột sống khi chiếc trực thăng tản thương Hoa Kỳ chở tôi bị bắn rơi phía Tây An Khê và tôi được các bác sĩ Hoa Kỳ săn sóc. Nhưng nghĩa lý gì quốc tịch của các quân y sĩ và y tá. Thời gian 5 năm ở Việt Nam đã khiến tôi biết trân trọng hết sức sự hi sinh, lòng quả cảm và tay nghề chuyên môn của tất cả quý vị y tế, Mỹ, Việt, Ðại Hàn và Úc.


Do đó có thể chúng ta đã từng gặp nhau. Kể ra thì chắc tôi cũng dễ nhận ra khi đi thăm các đơn vị của các bạn, bởi vì trong thời kỳ sớm sủa của cuộc chiến, tôi thường là phóng viên Tây Ðức duy nhất tại Miền Nam Việt Nam, và bảng tên của tôi ghi rõ tôi là người Ðức.


Trong một khoảng thời gian ngắn tôi đã trở thành bạn đồng đội của các bạn vì bắt được một người lính Việt Cộng.


Việc này quả thật là tức cười. Câu chuyện xảy ra như vầy:


Trong tháng 2 năm 1965 tôi theo chân một toán quân thuộc Lực Lượng Ðặc Nhiệm Hoa Kỳ – tham dự vào một cuộc tập trận nhảy dù ở phía tây thành phố Mỹ Tho. Sau khi chạm đất, tôi cuốn xếp dù lại và chợt nhận ra mình bị hỏng chân vì đất lún xuống.


Tôi bước lui. Mặt đất lại lồi lên một lần nữa. Tôi nhảy lên và dùng cả hai chân đạp mạnh xuống điểm nhỏ đó. Mặt đất lõm xuống. Tôi nghe tiếng rên xiết. Một lần nữa, tôi lại bước lùi, dở một lớp cỏ lên và khám phá ra cái nón cối bằng nhựa được ngụy trang của một người lính VC cùng với mũi súng M-1 cổ lỗ sĩ chĩa lên.


Trước hết tôi kéo cây súng lên khỏi lỗ hổng đó, rồi kế đến là kéo anh VC lên. Anh ta là một người đàn ông nhỏ con, thân gầy mặc đồ bà-ba đen và cả người đang run rẩy. Tôi bảo hắn: “Courage, camarade, pour toi la guerre est fini…” Tôi không biết rõ là anh ta có nói được tiếng Pháp không nhưng chắc chắn là hiểu được lời tôi nói: “Này đồng chí, can đảm lên, đối với bạn cuộc chiến tranh đã chấm dứt rồi.” Bấy giờ anh ta mới mỉm miệng cười. Tôi giao anh VC và khẩu súng cho người Hoa Kỳ nhưng giữ lại cái mũ bảo vệ bằng nhựa đó như là một chiến lợi phẩm. Trong suốt 46 năm sau đó, chiếc mũ ấy vẫn ngự trị trong thư viện của tôi cho đến khi người bạn Nha Sĩ Lý Văn Quý và phu nhân là Châu đến thăm tôi tại nhà ở Pháp quốc vào tháng 10 năm ngoái. Thế nên tôi đã trao tặng chiếc mũ cho anh chị ấy như là một kỷ vật. Không phải để tỏ cho biết là tôi đã làm một việc của một anh hùng vĩ đại.


Vẫn thế, tôi vui mừng hỗ trợ. Vì thế đây này – cái mũ bảo vệ. Ðây là chiến lợi phẩm của tôi. Bây giờ nó là của các bạn.


Tới đây, tôi xin kể một cuộc đụng độ nhẹ mà tâm tôi luôn hằng ấp ủ.


Vài tuần sau đó, tôi phải trải qua một kinh nghiệm đau đớn ở vùng phía Tây của thành phố Nha Trang. Nhưng đó là sự kiện đầy ý nghĩa để tôi hiểu về trách nhiệm của mình. Vì điều đó đã cho tôi thấy rõ bộ mặt thật của chiến tranh Việt Nam.


Lý do tại sao tôi chi tiết hóa biến cố này là vì nó minh họa lý do tại sao có rất nhiều người Hoa Kỳ chưa bao giờ hoàn toàn hiểu rõ tận gốc tất cả về cuộc chiến này.


Tổng Thống Richard M. Nixon sau đó có trích dẫn bản báo cáo của tôi về cuộc đụng độ này trong cuốn sách ông viết mang tên Bộ Mặt Thật Của Chiến Tranh (The Real War). Xin các bạn tha lỗi cho một chút tự hào của tôi khi nhắc lại lời của một tổng thống Hoa Kỳ đã trích dẫn từ bài viết của tôi:


Nixon viết: “Ký giả người Ðức Uwe Siemon-Netto đã cung cấp một minh họa sống động về du kích quân cộng sản dùng khủng bố để tạo tác dụng trên mục đích của họ. Siemon-Netto – khi theo chân một tiểu đoàn của quân đội Miền Nam Việt Nam đến một ngôi làng lớn mà Việt Cộng đã đột kích trong năm 1965 – đã báo cáo: “Treo lủng lẳng trên cây và các cột trụ ở một quảng trường là người trưởng làng, vợ ông, và mười hai đứa con, nhiều người đàn ông, có một em bé nữa…”


Việt Cộng đã ra lệnh cho tất cả mọi người trong làng phải chứng kiến gia đình đầu tiên bị tra tấn và sau đó treo lên. “Họ bắt đầu bằng em bé và từ từ thực hiện từ đứa con nhỏ lần lên đến những đứa con lớn, rồi người vợ, và cuối cùng chính là người trưởng làng… mọi việc họ làm đầy lạnh lùng, y như một hành động bóp cò bắn máy bay…”


Ðây là tất cả những gì Nixon đã trích từ câu chuyện của tôi.


Nixon giải thích đó là lý do tại sao cộng sản chiếm được trái tim và tâm thức của người dân quê. Họ không thắng trái tim và tâm thức bằng hành động của từ bi mà chính bằng những hình thức không thương xót cùng cực của sự hăm dọa.


Những người dân làng nói với tôi là các cán bộ Việt Cộng đã vào làng nhiều lần trước đó và cảnh cáo ông Trưởng làng là nếu ông không chấm dứt việc hợp tác với chính phủ miền Nam Việt Nam thì ông phải chịu một hậu quả trầm trọng.


Nhưng ông vẫn tiếp tục trung thành, vì thế họ đã trở lại vào giữa đêm khuya và đánh thức tất cả mọi người dậy để bắt họ chứng kiến cuộc tàn sát đó trong khi những cán bộ tuyên truyền nói với dân chúng: “Nếu không theo chúng tôi thì chuyện này sẽ xảy ra cho mọi người, nhớ đấy nhá!”


Tôi cảm thấy hổ thẹn khi phải nói là mình không còn nhớ tên của ngôi làng đó nữa. Nhưng điều đó cũng chẳng thành vấn đề bởi vì loại sự kiện như vậy xảy ra khắp mọi nơi ở miền Nam Việt Nam hằng đêm của ngày xưa đó.


Phần lớn cộng đồng người Hoa Kỳ cũng không biết điều này vì giới truyền thông không lên tiếng. Mỗi ngày trong phần tin vắn tại Sài Gòn – vào lúc 5 giờ, giờ ngu xuẩn ít ai biết đến – phân đoạn phát thanh như vầy chỉ là những con số thống kê. Người đọc bản tin ngắn theo lệ thường thông báo cho các phóng viên ngoại quốc một số lượng khổng lồ “các trận đụng độ” xảy ra trong 24 giờ trước.


Ðiều này tương tự như một bản báo cáo thương mại: “I Corps: 184 enemy incidents.” II Corps: 360 incidents. III Corps: 225. IV Corps 480.” “Quân đoàn 1: 184 trận đụng độ với địch.” “Quân đoàn 2: 360 trận đụng độ. Quân đoàn 3: 225. Quân đoàn 4: 480.” Chỉ có vậy thôi. Không một chi tiết nào được bạch hóa. Một con số lớn về các loại trận đụng độ này khó mà có thể xảy ra trong 24 giờ.


Chúng tôi những người ký giả không làm cách nào tìm hiểu tất cả những dữ kiện đặc biệt này, ngoại trừ chúng tôi trượt chân vào các sự kiện như thế như tôi đã tháp tùng một tiểu đoàn thuộc Sư Ðoàn 22 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Những gì tôi đã chứng kiến gần Nha Trang thật sự mang một ý nghĩa lớn lao vì đó là những gì tiêu biểu cho thực chất của giai đoạn đặc biệt này trong cuộc chiến Việt Nam.


Hành động khủng bố để hăm dọa thường dân là đặc tính của giai đoạn thứ hai trong chiến lược của chiến tranh du kích do Tướng Võ Nguyên Giáp – bộ trưởng Bộ Quốc Phòng – hoạch định.


Tôi nghi ngờ một cách nghiêm trọng rằng nhiều người Mỹ đã chống lại chiến tranh Việt Nam vì giới truyền thông đã liên tục đưa tin về những hành động vô nhân đạo xảy ra khắp cả miền Nam Việt Nam.


Họ đã không được biết như vậy, một phần bởi vì các ký giả không có phương tiện để làm điều đó, một phần vì các thông tín viên và chủ bút đơn giản có một chương trình nghị sự khác. Tôi nói: nhiều – nhiều lắm, không phải là tất cả.


Ba năm sau, trong cuộc tấn công vào dịp Tết ở Huế, tôi đứng với một đồng nghiệp Peter Braestrup phóng viên của tờ báo Washington Post tại vòng đai quanh ngôi mộ tập thể bị sát hại và nghe thấy ông hỏi người quay phim của một đài truyền hình Hoa Kỳ: “Tại sao ông không quay cảnh này?” Người quay phim này trả lời: “Chúng tôi tới đây không phải để tuyên truyền cho phong trào chống cộng sản.”


Ðiều này cho thấy một tâm ý đáng hổ thẹn của nhiều đồng nghiệp của tôi, một tâm ý mà tôi tin tưởng đó chính là khí cụ để định hình ước vọng chấm dứt cuộc chiến tranh này bằng bất cứ giá nào của người Mỹ.


Tướng Giáp biết rằng điếu này sẽ xảy ra. Ông ta biết các cử tri người Mỹ quá mệt mỏi vì cuộc chiến này. Cũng bởi vì ông ta đã biết rõ khuyết điểm của một xã hội tự do, đáng kế chính là chủ tâm đó chỉ ngắn hạn thôi. Sáu mươi năm trước, ông ta đã đề cập: “Kẻ thù” – thực nghĩa là chỉ tất cả các chế độ dân chủ Tây phương – “đã không sở hữu những phương tiện tâm lý và chính trị để chiến đấu chống lại một cuộc chiến tranh trường kỳ.” Ông ta tiên đoán được sự mệt mỏi vì chiến tranh, giây phút hòa bình, khuynh hướng đạo đức giả của các nhà sáng tạo tư tưởng hệ nhìn xuống bản chất rất dễ sợ của một phong trào cách mạng tạo dựng một chế độ cai trị độc đảng chuyên chế không có phe đối lập; khuynh hướng làm nổi bật khuyết điểm của chính phe mình; bản chất của sự tham nhũng có thật không chứng cứ của xã hội dân chủ “đồng minh” đang hy sinh cuộc đời của nhiều thanh niên; và kết quả cuối cùng là ước vọng “đi tìm kiếm một cuộc rút lui trong danh dự,” tìm kiếm “hòa bình trong danh dự,” và một thỏa thuận thương thảo hợp tình hợp lý.


Những gì đáng chú ý về vai trò của truyền thông tại Việt Nam là thuộc về những thông tín viên người Mỹ nhận thức rõ ràng về sự nguy hiểm này, sau đó họ trở thành những người lên tiếng nói mạnh mẽ trong việc chống chiến tranh Việt Nam.


Vào ngày 13 tháng 1 năm 1965, nhà bỉnh bút nổi tiếng và cũng là sử gia Stanley Karnow trích dẫn lời tuyên bố của Tướng Giáp về sự bất lực của các quốc gia tự do về việc chiến đấu chống lại những cuộc chiến tranh cố tình kéo dài này và cảnh cáo bạn đọc về hậu quả của sự sai lầm khủng khiếp này trong cấu trúc của bất cứ hệ thống dân chủ nào. Và không lâu sau đó, Karnow dẫn đầu một số lớn các cây viết khuấy động một phong trào có tên gọi là “hòa bình trong danh dự” mà ông ta biết rất rõ là khó mà có được.


Ngày hôm nay chúng ta nghe những vang vọng này trong vấn đề của A Phú Hãn. Một lần nữa chúng ta nghe sự kêu gọi thương thuyết thỏa thuận. Chúng ta nghe thấy những cuộc bàn thảo bí mật giữa Hoa Kỳ và phe Taliban. Không có một ý kiến nào được bạch hóa về những gì mà phong trào độc đảng này thỏa thuận tuân theo.


Sự thỏa hiệp bắt buộc thực hiện theo một trình tự đó là gì?: Thay vì cấm đoán việc học đọc và viết, phụ nữ được cho phép học một nửa mẫu tự? Ðiều đó là trong 5 năm đầu tiên sau khi thống lãnh, một nửa số người vi phạm việc ngoại tình sẽ bị ném đá cho đến chết như thường thấy trước khi phe Taliban muốn chiếm ngự quyền lực? Ðiều đó chính là phụ nữ sẽ chịu một nửa số lượng roi đánh mà thường họ phải chịu vì đã để cho mọi người thấy mắt cá chân khi mặc áo trùm kín thân. Mười hai năm trước, một nhóm nữ giới Hoa Kỳ nổi tiếng, đó là “Tổ chức Phụ Nữ Toàn Quốc” đã công bố trên trang mạng của họ một con số gây xúc động mạnh về sự vi phạm nhân quyền kinh khủng đối với phụ nữ. Thật là lãng phí khi ngày hôm nay không ai nghĩ về việc có xác suất cao của những sự sỉ nhục đó sẽ tiếp tục tái diễn một khi NATO rút hết lực lượng, bởi những đối xử tồi tệ này chính là bản chất hiện hữu trong ý thức hệ về chủng tộc của người theo Hồi Giáo, như là những trại tập trung là cố hữu của ý thức hệ Cộng Sản.


Ai trong các bạn có kinh nghiệm về việc bị Việt Cộng bắt giam tù sẽ hiểu được điều tôi muốn nói ở đây.


Tôi tin tưởng rằng tất cả chúng ta đều có trách vụ là những chứng nhân của lịch sử. Chúng ta phải giữ tất cả ký ức sống động về sự thật của lịch sử đề tạo lợi lạc cho những ai theo bước chân mình.


Chúng ta phải luôn nhắc nhở giới truyền thông nơi quốc gia mình đang sinh sống về vai trò then chốt của họ trong việc bảo tồn sự tự do. Chúng ta phải cảnh cáo họ – những người hậu sinh – về những hậu quả kinh khủng do nghề làm báo không trung thực, đạo đức giả khoa bảng và một cuộc bầu cử chán ngấy chẳng tìm được phương cách giải quyết vấn đề.


Các bạn là những người đang ở vị thế tốt nhất đề làm việc này. Các bạn đã chứng kiến và đã từng đau đớn không cùng.


Cho tôi nói thêm vài điều nữa ở đây: Tôi là một tín đồ Cơ Ðốc Giáo, và là một sử gia không chuyên nghiệp. Như là một người có tín tâm vào Cơ Ðốc Giáo, tôi biết ai là Thượng Ðế tối thượng của lịch sử. Và với tư cách một sử gia tài tử tôi biết là lịch sử luôn luôn mở ngỏ cho tương lai.


Ðặt hai yếu tố này lại với nhau là chúng ta có hy vọng – hy vọng cho Việt Nam, hy vọng cho A Phú Hãn, hy vọng cho nhân loại. Chúng ta không là người tinh thông về tương lai. Nhưng chúng ta kêu gọi sự đóng góp của mọi người cho một tương lai tươi sáng hơn.


Thế nên, chúng ta đã, đang và sẽ không thấy những hành động độc ác cực kỳ đó đang là vô vọng, cũng như chúng ta không thấy sự đau đớn ấy là bất chợt vu vơ. Có một lý do cho tất cả các điều này, và lý do đó chính là tất cả chúng ta đều có thể cho thế hệ tương lai biết rõ những gì đã thực sự xảy ra, bất kể bao nhiêu người còn sống lập đi lập lại về chiến tranh Việt Nam.


Xin cám ơn các bạn đã cho tôi hiện diện trong tập hợp này như là một thân hữu và đã lắng nghe tôi tỏ bày.


 


Vài hàng về tác giả: Giáo Sư Uwe Siemon-Netto, Ph.D gốc người Ðức, nguyên tổng biên tập về tôn giáo của United Press International, hiện là bình luận gia quốc tế và một nhà thần học (không phong chức) của đạo Lutheran. Ông là sáng lập viên của Center for Lutheran Theology and Public Life (CLTPL) và chủ tịch của tổ chức “The League of Faithful Masks” đặt bản doanh tại Capistrano Beach và trường Concordia University Irvine, California.Với tư cách một nhà báo, ông chuyên về những đề tài liên quan đến niềm tin, xã hội và ngoại giao. Ông hiện là cộng tác viên thường trực của tờ “The Atlantic Times,” một tờ báo tiếng Anh hàng đầu của giới báo chí Ðức tại Mỹ. Ông đã từng là phóng viên tường thuật những sự kiện lịch sử quan trọng như vụ xây dựng bức tường Bá Linh năm 1961, hoạt động của Liên Hiệp Quốc, phong trào nhân quyền tại Mỹ, vụ ám sát TT John F. Kennedy, cuộc chiến Việt Nam (trong thời gian 5 năm), cuộc chiến 6 ngày Ả Rập-Do Thái, và Cách Mạng Văn Hóa tại Trung Cộng. Trong thời gian làm phóng viên chiến trường tại Việt Nam, ông đã chứng kiến tội ác Việt Cộng tại Huế kỳ Mậu Thân 1968, trong đó một số người quen của ông là 3 bác sĩ người Ðức cùng với vợ của một người đang làm việc thiện nguyện tại trường Y Khoa Huế đã bị thảm sát.


* Tựa do tòa soạn chọn.

Register now for essay contest


Photo courtesy of The Korea Daily


 


NGUOI VIET 2


          Registration is now open for the International English Writing Competition (IEWC), an English essay-writing event scheduled for May 19.


          The IEWC is open to students from the third grade through 12th grade, with the contest divided into four divisions by age. It provides an opportunity for students to learn their writing skill level as all applicants will receive an eight-page report evaluating their essays. Essays will be scored on the basis of development, organization, sentence fluency, word choice and expression.


          Students will be have 80 minutes to complete their essay, and they should write about 400 to 600 words for the topic given in the exam.


          The contest is sponsored by Joongang Ilbo, Yonsei University, along with the Korea Daily.


          “We believe that the most important skill that all the leaders need to have is to write their ideas and opinion logically. Writing is very essential and necessary for students to become a leader in the future,” said Philip Chang, marketing representative for the Korea Daily newspaper in Los Angeles, the largest Korean-language newspaper in the U.S.


          “The IEWC contest helps students to prepare for college prep exam, such as the essay portion of the SAT,” he said. “And they also get feedback of their writing from a professor of English Literature at Yonsei University,” one of South Korea’s leading institutions for higher education.


          In the most recent competition, more than 5,000 applicants from Korea, the United States, China, Canada and the Philippines have participated in this competition to showcase their talent in the writing. In the last competition, about 350 students took part from Los Angeles alone, and there were 67 prize winners among them.


          The deadline to register is May 7, and that must be done by contacting one of the registration centers in the Los Angeles or Orange County areas. Visit http://leadership-prep.com/event/iewc/registration.html to find the registration center nearest you.


          The contest will be held on May 19 at 4 p.m. at one of the registration centers. The nearest to Orange County’s Little Saigon is the Top Learning Center in Garden Grove.


          The fee to participate is $55. Each of the applicants in elementary and middle school will receive a credit of $55 if they take part in a 2012 Leadership Summer Camp, and high school students will become a member of the Korea Daily Student Reporters Program.


 


 


 


 


Story:

Ðịa ốc vất vả phục hồi

 


HOA KỲTheo một báo cáo của kỹ nghệ hôm Thứ Năm tuần trước, trong Tháng Ba, thị trường nhà đất tiếp tục chật vật, mặc dù giá nhà hạ và lãi suất thấp kỷ lục.








Những vụ mua bán nhà hiện hữu giảm 2.6% so với một tháng trước, còn một nhịp độ hàng năm là 4.48 triệu căn nhà, theo báo cáo của Hiệp Hội Ðịa Ốc Toàn Quốc (NAR).


Ông Gus Faucher, kinh tế gia cao cấp tại công ty dịch vụ tài chánh PNC Financial, coi báo cáo trên là đáng thất vọng.


Ông nói: “Chúng tôi đã hy vọng một sự gia tăng. Chúng ta cần một sự chuyển hướng để giúp nền kinh tế hồi phục.”


Kinh tế gia trưởng của Hiệp Hội Ðịa Ốc, ông Lawrence Yun, muốn nhìn vào mặt tốt của bản báo cáo – những vụ mua bán tăng 5.2% khi so sánh theo năm.


“Chúng ta đã nhìn thấy những vụ mua bán gia tăng trong chín tháng liên tiếp khi so sánh theo năm,” ông nói. “Những vụ mua bán nhà hiện hữu đang trồi sụt với một tầm tương đối hẹp và cao hơn đáng kể so với mức hoạt động trong nửa đầu của năm ngoái.”


Thị trường trồi sụt trái ngược với những gia tăng liên tiếp về khả năng mua nhà của người dân.


Xét thêm những sụt giảm về giá cả, trung bình khoảng 34% trên toàn quốc, theo chỉ số giá nhà của S&P/Case-Shiller, và lãi suất vay tiền mua nhà thấp kỷ lục, việc mua nhà dễ kham nổi hơn bao giờ hết.


“Ðối với những người mua đủ điều kiện để vay một món tiền mua nhà, bay giờ là một thời điểm rất tốt để trở thành một chủ nhà,” theo lời ông Moe Veissi, chủ tịch của NAR.


Theo ông Yun, những điều kiện kinh tế tốt đẹp hơn sẽ thúc đẩy những vụ mua bán lên cao hơn từ nay đến cuối năm.


“Với sự phát triển việc làm, lãi suất thấp, giá nhà hạ và một nền kinh tế đang cải thiện, nhu cầu bị dồn nén đang đi tới thị trường và chúng tôi hy vọng thị trường nhà đất sẽ cải thiện đáng kể trong năm nay,” ông Yun nói.


Từ nay tới cuối năm, người mua có thể sẽ thấy ít nhà hơn để lựa chọn.


Số nhà bán sụt giảm 1.3% trong Tháng Ba, còn 2.37 triệu căn nhà hiện hữu. Ðó là một số cung 6.3 tháng ở nhịp độ mua bán hiện nay. Danh sách nhà bán giảm 21.8% so với Tháng Ba 2011 và thấp hơn nhiều so với con số kỷ lục 4.04 triệu vào Tháng Bảy 2007.


Thật oái oăm, số cung eo hẹp hơn có thể đã làm giảm những vụ mua bán, với những người săn lùng nhà trong vài vùng trong nước gặp khó khăn trong việc tìm nhà phù hợp với nhu cầu và sở thích của họ.


“Chúng tôi đã nhìn thấy điều này trong các tiểu bang phía Tây và tại Nam Florida,” ông Yun nói.


Nếu sự eo hẹp lan rộng tới những nơi khác, nó có thể báo hiệu một sự hồi sinh cho những người xây dựng nhà, những người sẽ phải gia tốc sự phát triển để trám khoảng trống. Và đặt các công nhân xây dựng trở lại làm việc sẽ là một liều thuốc kích thích cho nền kinh tế nói chung và thị trường địa ốc nói riêng.


“Các điều kiện đang sẵn sàng cho một sự xoay chuyển,” ông Faucher nói. “Chúng tôi chỉ còn chờ để những người mua thêm tin tưởng. Chúng tôi hy vọng điều đó sẽ xảy ra trong vài tháng tới đây.”(nn)

Kinh tế khó khăn, nhiều thế hệ sống chung dưới một mái nhà

 


HOA KỲVới người Mỹ hiện nay, sau đại học, một số người nói họ sẽ không bao giờ ở chung phòng với một người khác. Nhưng thời buổi kinh tế khó khăn đang khiến cho người ta xem xét giải pháp nhà ở cho nhiều thế hệ.








Thật vậy, theo những con số báo cáo mới nhất của Phòng Kiểm Kê Dân Số, có tới 4.4 triệu nhà ở Mỹ có ba thế hệ trở lên sống chung trong cùng căn nhà trong năm 2010.


Ba thế hệ sống trong một căn nhà đang trở nên phổ biến đến độ những nhà xây dựng đang thiết kế nhắm vào thị trường này. Công ty xây dựng Toll Brothers đang thay thế vài trong số các phòng gia đình của nó với các sơ đồ phòng bao gồm một dãy phòng dành cho khách cùng với một căn bếp nhỏ (thích hợp cho bà nội, bà ngoại). Loại thiết kế này trước đây chỉ là một lựa chọn theo đơn đặt hàng nhưng hiện đang trở thành thông dụng hơn.


Những nhà xây dựng khác đang thiết kế lại một trong các nhà xe chứa được hai xe để bên trong nhà có thêm chỗ cho một phòng dành cho khách.


Theo Phòng Kiểm Kê Dân Số Hoa Kỳ, “các gia đình gấp đôi” đã gia tăng đáng kể (10.7%), từ 19.7 triệu gia đình vào năm 2007 lên tới 21.8 triệu gia đình vào Mùa Xuân 2011. Những gia đình gấp đôi có thêm một người lớn, không phải là sinh viên, không phải là một người sống chung hoặc người phối ngẫu nhưng sống trong nhà.


Những gia đình này bao gồm nhiều người con đã trưởng thành, những người hiện sống với cha mẹ của họ vì không thể tìm được việc làm. Phòng Kiểm Kê báo cáo con số những người từ 25 đến 34 tuổi đang sống với cha mẹ của họ từ 2001 đến 2007 đã tăng vọt 25%.


Sự thay đổi này đang trở nên thịnh hành đến độ đáng để chúng ta nhìn vào những gì giúp ích cho các các điều kiện sinh sống này. Sách vở hiện xuất hiện nhiều hơn bao giờ hết, cung cấp những lời khuyên và hướng dẫn cho việc chung sống nhiều thế hệ.


Tuy nhiên, những người đã trải qua khuyên những người khác hãy xem xét cẩn thận ý tưởng đó và có nhiều cuộc đối thoại với những người mà họ dự tính dọn vào để sống chung. Ðôi khi tình trạng sinh sống này là một vấn đề cần thiết và không có nhiều thời giờ để suy đi tính lại. Nhưng nếu điều đó không phải là khẩn cấp, những người từng trải nói, hãy lập một danh sách những điều nên và không nên và cân nhắc mọi điều một cách cẩn thận.


Thỉnh thoảng, khi các thế hệ khác nhau sống chung với nhau, nó có thể là một may mắn và tiết kiệm tiền bạc bằng nhiều cách, chẳng hạn như ông bà có thể giúp trông nom con cái còn nhỏ và cuối cùng tiết kiệm về phí tổn giữ trẻ đối với những người con trưởng thành đang làm việc.


Tuy nhiên, điều này có thể phức tạp. Cũng như một đứa con lớn có thể không muốn trông coi những đứa nhỏ hơn, vài ông bà không thích bỏ ra những năm nhàn hạ lúc tuổi già của họ để nuôi nấng ngay cả những đứa cháu của chính họ. Vấn đề là loại sinh sống này không thể để mặc cho sự may rủi hoặc giả định. Ðừng đinh ninh rằng những người trong gia đình sẽ nhận lãnh một số vai trò nào đó. Hãy có những cuộc đối thoại về những khó khăn, các lợi ích, nhu cầu, và ngay cả khi mỗi thành viên gia đình đều có không gian và thời gian sống một mình.


Trong khi có nhiều điều cần xem xét, tin mừng là có nhiều nhà hoặc mới được xây dựng hoặc mới được tân trang với chủ tâm dành cho nhiều gia đình sống chung. Ðiều đó có nghĩa việc săn lùng nhà của bạn có thể được thu xếp để đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của bạn và có thể bạn không cần sửa sang nhiều, hoặc ngay cả bất cứ sự sửa sang nào, để đáp ứng các nhu cầu của bạn. (nn)

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492
P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967
Email: [email protected]; [email protected]
Website: http://www.camonanhtb.com

Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ
Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh
 


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:


(Tính đến ngày 15 tháng 4, 2012)


 


Ô. Ðôn Cao (Wealthy Investments Inc.), Pearland, TX $500


Cô Khuê Nguyễn, Fountain Valley, CA $300


Sơn Lê, Orange, CA $100


Catherine Nguyễn, Tracy, CA $200


Mike H. & Tammy T. Nguyễn, Lynnwood, WA $200


Hiep Văn Nguyễn, Duluth, MN $200


Betty Lan Nguyễn, Estero, FL $100


Ngọc Thành Nguyễn, Miramar, FL $100


Sơn Ðỗ, Chicago, IL $100


Anh Lân Trịnh, Cypress, CA $100


Khâu Muội, San Diego, CA $10


ÔB. Lạc Hoàng, Anaheim, CA $50


Phước Ðặng, Burnsville, MN $20


Mary Nghĩa T. Vũ, Milpitas, CA $20 (kèm 1 xấp hồ sơ)


Thu & Ngọc Hung Lý, Westminster, CA $30


Dương Quang Lên, Oakland, CA $30


Ninh Vương, Blaine, MN $50


Kim Ngô, Irvine, CA $50


Lợi Thanh Tạ, Long Beach, CA $50


 


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ V:


 


GÐ Thiết Giáp Lê Quang Thảo, Long Beach, CA $100


Trần Arene, Long Beach, CA $10


Trần Văn, Long Beach, CA $20


Hội Ðồng Ðế Nha Trang, Lawndale, CA $200


Hội Ái Hữu Ðơn vị 101, Lawndale, CA $200


ÔB. Chu Mỹ, $200


Anh Khiềm Quân Cảnh, $100


Hồ Văn Huỳnh (Pro Nails), Tustin, CA $200


Bà Năm ở Riverside, CA $20


Ô. Nguyễn Ðình Hoàn, Westminster, CA $50


Bà Tô Thị Vân Anh & Bạn, Santa Ana, CA $405


ÔB. Phạm Hà Hải, Orange, CA $100


Villalpando T. Châu, Phoenix, AZ $150


Nguyễn P. Christine, Santa Ana, CA $50


K. 24, $100


BTC ÐNH Kỳ 3 Bắc Cali, San Jose, CA $500 (2 lần $400+$100)


ÔB. Nguyễn Văn Khôi, Santa Clara, CA $100


Phạm Vũ Hạnh, Phoenix, AZ $180


TÐ Khóa Bất Khuất, $50


Phạm Vũ Hạnh, Phoenix, AZ $200


Chùa Minnesota, $100


GÐ Ðặng Ðoan Trang, Minneapolis, MN $50


Bà Nguyễn Cẩm Sơn Becky, Beverly Hills, CA $150


Antoniewicz C. Julliana, Walnut, CA $10


LM Nhà Thờ Tam Biên, Garden Grove, CA $300


Ô. Nguyễn Steve, Garden Grove, CA $200


Ô. Hoàng Xuân Toàn, San Diego, CA $100


Ô. Nguyễn V. Giám, Gardena, CA $50


Ô. Phạm Thắm, Garden Grove, CA $50


Yang Ana, Garden Grove, CA $50


GÐ Calif., $500


Chả Lụa Ngọc Hưng, Falls Church, VA $1,500


Hội CTCT, Garden Grove, CA $3,800


Ô. Lê Quý Dậu, Santa Ana, CA $100


ÔB. Trần Dật, Glendale, CA $300


Ô. Phán, San Diego, CA $100


Hội Quang Hải, Fountain Valley, CA $200


LA Nail Spa, El Monte, CA $300


Nguyễn Deon Bé, Santa Ana, CA $100


ÔB. Vũ D. Nguyên, Santa Ana, CA $250


Thuận + Nhóm HQ Cửu Long, Glendale, CA $210


Ann, Los Angeles, CA $320


Hội Kiên Giang, Westminster, CA $713


Quan Tài Mộ Bia Tobia, Westminster, CA $100


Công Ty Việt Satellite, Westminster, CA $200


Long, Westminster, CA $300


Ðinh Tuyết Nhung, North Hollywood, CA $20


Nguyễn Thị Diệu Loan, Garden Grove, CA $20


Mai Cúc, Garden Grove, CA $20


ÔB. Hồng Giang, Long Beach, CA $500


Trung Tâm Công Giáo, Santa Ana, CA $300


LM Nguyễn Thái Joseph, $100


Bà Lê Thị Hoa, Garden Grove, CA $100


ÔB. Thiếu Sinh Quân, Santa Ana, CA $50


Law Office of Ðinh Trần, Garden Grove, CA $1,000


Nguyễn Hảo, Garden Grove, CA $50


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Ung Văn Hết, Saigon, B2 ÐPQ Sq:769.010. Cụt chân trái.


Huỳnh Cao Hoàng, Saigon, HS Nhảy Dù Sq:158.612. Mù mắt phải, mờ mắt trái.


Nguyễn Văn Chi, Saigon, B1 Nhảy Dù Sq:137.152. Mù mắt trái.


Ðỗ Thành Công, Saigon, B1 CLQ Sq:109.215. Mù mắt trái. Gãy chân phải.


Trần Văn Ðao, Saigon, CLQ Sq:180.937. Gãy chân phải.


Lê Minh Ảnh, Saigon, TU KQ Sq:604.429. Cụt chân trái.


Lê Văn Lém (Lượng), Saigon, Nhảy Dù Sq:138.001. Cụt chân trái.


Lương Văn Tèo, Saigon, B1 Nhảy Dù Sq:113.100. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Hùng, Saigon, B1 TQLC Sq:161.798. Liệt chân trái.


Trần Tuyển, Saigon, B1 Nhảy Dù Sq:152.201. Cụt chân phải. Bị thương ở đầu.


Trần Ðức Ngữ, Saigon, Nhảy Dù Sq:123.134. Cụt tay trái.


Huỳnh Văn Trang, Saigon, B2 CLQ Sq:163.373. Gãy chân phải.


Nguyễn Văn Minh, Saigon, Sq:127.568. Cụt chân phải.


Nguyễn Phi Long, Saigon, HS CLQ Sq:126.040. Cụt tay trái.


Huỳnh Văn Nhỏ, Saigon, B2 ÐPQ Sq:801.732. Cụt chân phải.


Lê Văn Mận, Saigon, CLQ Sq:119.114. Liệt tay phải.


Nguyễn Văn Mười, Saigon, Nhảy Dù Sq:130.033. Ðau xương chân phải.


Ðào Văn Mạnh, Saigon, B1 CLQ Sq:107.815. Gãy tay phải.


Nguyễn Hữu Quy, Saigon, ThS CLQ Sq:356.24?. Cụt chân trái.


Trần Văn Việt, Saigon, CLQ Sq:120.217. Liệt chân trái.


Mai Mộng, Saigon, HS1 CLQ Sq:206.369. Liệt 2 chân. Bị thương ở cổ.


Huỳnh Văn Tén, Saigon, XDNT Sq:170.422. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Minh, Saigon, Nhảy Dù Sq:160.170. Liệt chân trái.


Nguyễn Thành Chúng, Bạc Liêu, TS CLQ Sq:117.124. Cụt chân phải.


Ðỗ Vinh Sang, Saigon, HS CLQ Sq:145.292. Mù mắt trái.


Hoàng Bá Ðiệt, Saigon. HS TQLC Sq:125.234. Cụt chân trái.


Phan Văn Tám, Saigon, B1 CLQ Sq:189.388. Mù mắt trái, mờ mắt phải.


Phạm Thế Thái, Saigon, B1 CLQ Sq:140.566. Cụt chân trái.


Ngô Văn The, Saigon, NQ Sq:308.898. Bị thương ở chân trái.


Võ Hưng Việt, Saigon, TU CLQ Sq:142.781. Bị thương ở bụng.


Lê Văn Vỷ, Saigon, Nhảy Dù Sq:116.695. Mù mắt phải. Bị thương ở mặt.


Tạ Duy Hậu, Saigon, B2 BÐQ Sq:128.797. Bị thương ở chân trái.


Nguyễn Văn Ngợi, Saigon, B1 CLQ Sq:802.993. Cụt chân phải.


Diêu Cơ Cầu, Saigon, HS CLQ Sq:157.215. Cụt chân phải.


Ðinh Như Tuyết, Saigon, ChU CLQ Sq:148.069. Cụt chân trái.


Bùi Viết Minh, Saigon, TU CLQ Sq:411.584. Gãy chân trái.


Nguyễn Văn Tên, Saigon, HS CLQ Sq:144.816. Cụt chân trái.


Lê Thương Mẫn, Saigon, ÐU CLQ Sq:118.480. Liệt chân trái.


Nguyễn Duy Hoàng, Saigon, ÐU CLQ Sq:109.308. Bị thương ở đầu, chân phải.


NguyễnNguyễn Ðình Ninh, Saigon, SVSQ CLQ Sq:126.403. Gãy chân phải.


Hoàng Ngọc Can, Saigon, TrU ÐPQ Sq:410.498. Gãy chân phải.


Lê Văn Ðính, Saigon, B2 ÐPQ Sq:775.499. Cụt chân phải.


Quách Văn Minh, Saigon, B2 CLQ Sq:138.175. Cụt chân trái.


Lê Trân Châu, Saigon, B1 CLQ Sq:148.380. Cụt chân trái.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trương Thị Miêng, Tiền Giang, Quả phụ Cố Nguyễn Văn Mum. Tử trận năm 1972.


Phạm Thị Hòa, Saigon, Quả phụ Cố ThS Phạm Văn Long. Mất năm 1980.


Nguyễn Thị An, Bà Rịa, Quả phụ Cố HS Nhảy Dù Trần Thanh Xuân. Tử trận năm 1972.


Trần Thị Ba, Vĩnh Long, Quả phụ Cố HS1 CLQ Thái Văn Phát. Tử trận năm 1967.


Lê Thị Lạc, Cần Thơ, Quả phụ Cố B2 CLQ Trần Văn Sĩ. Tử trận năm 1970.


Lê Thị Liêm, Vĩnh Long, Quả phụ Cố B2 CLQ Nguyễn Văn Vũ. Tử trận năm 1974.


Tăng Thị Sanh, Saigon, Quả phụ Cố B1 Nhảy Dù Huỳnh Văn Diệp. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Ái, Bình Thuận, Quả phụ Cố TS1 ÐPQ Thạch Ly. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Nam, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS Nguyễn Văn Sử. Mất năm 1972.


Lê Thị Ánh, Bạc Liêu, Quả phụ Cố HS1 Lê Văn Tơ. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Châu, Khánh Hòa, Quả phụ Cố HS Nguyễn Kế. Tử trận năm 1964.


Mai Thị Nhiều, Khánh Hòa, Quả phụ Cố B1 BÐQ Ðinh Văn Tiết. Tử trận năm 1975.


Hồ Thị Sen, Ninh Thuận, Quả phụ Cố Dân Vệ Võ Văn Ri. Tử trận năm 1963.


Nguyễn Thị Liên, Lâm Ðồng, Quả phụ Cố HS ÐPQVõ Ðình Thiều. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Nông, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Công Trung. Tử trận năm 1968.


Dương Thị Sâm, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố TS Ðinh Mạnh. Tử trận năm 1968.


Trần Thị Tuyên, Ðồng Nai, Quả phụ Cố B2 Ðặng Dưỡng. Tử trận năm 1967.


Ðỗ Thị Tịnh, Ðồng Nai, Quả phụ Cố HS Nguyễn Văn Tạo. Tử trận năm 1974.


Lê Thị Trọc, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố B2 Cáp Sơn. Tử trận năm 1967.


Nguyễn Thị Cảnh, Ninh Thuận, Quả phụ Cố TPB Nguyễn Ðại. Mất năm 19??


Nguyễn Thị Mua, Tây Ninh, Quả phụ Cố TS Lý Văn Lũy. Tử trận năm 1971.


ÐặnÐặngThị Ðẹp, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố HS1 Nguyễn Liêm. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Nghiên, Tây Ninh, Quả phụ Cố TS Trần Văn Cho. Tử trận năm 19??


Dương Thị Mót, An Giang, Tổ phụ Cố B2 Lê Văn Kha. Tử trận năm 1970.


Võ Thị Phu (Thu), Tây Ninh, Quả phụ Cố TS Ðặng Văn Dao. Tử trận năm 1969.


Trần Thị Lục, Ninh Thuận, Con Cố TS Trần Trợ. Tử trận năm 1969.


Phạm Thị Hai, Ninh Thuận, Quả phụ Cố B2 Trần Thành. Mất tích năm 1973.


Hà Thị Lược, Ninh Thuận, Quả phụ Cố B1 Ðào Năng. Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Di, Ninh Thuận, Quả phụ Cố TS Nguyễn Duy Cảnh. Tử trận năm 1974.


Phan Thị Lo, Khánh Hòa, Tổ phụ Cố B2 Nguyễn Văn Tịnh. Mất tích năm 1974.


Nguyễn Thị Bê, Long An, Tổ phụ Cố B2 Nguyễn Văn Thịnh. Tử trận năm 19??


Huỳnh Thị Trình, Bến Tre, Quả phụ Cố TrU Tăng Vĩnh Triều. Tử trận năm 1972.


Trần Văn Phiên, An Giang, Tổ phụ Cố TS Trần Văn Dung. Tử trận năm 1971.


Tsu Man Mui, Saigon, Quả phụ Cố ThS Lương Pac Trọng. Tử trận năm 1970.


Lê Thị Tri, Bà Rịa-Vũng Tàu, Quả phụ Cố HS Huỳnh Lý. Tử trận năm 1969.


Nguyễn Thị Hoài, Ninh Thuận, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Văn Ðể. Mất tích năm 1973.


Võ Thị Viên, Saigon, Quả phụ Cố ThT Phan Ngọc Lang. Mất năm 1988.


Nguyễn Thị Tốt, Ninh Thuận, Quả phụ Cố HS Lê Ðức Huệ. Tử trận năm 1965.


Nguyễn Thị Dưa, Ninh Thuận, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Châu. Tử thương năm 1968.


Nguyễn Thị Tiêng, Ninh Thuận, Quả phụ Cố NQ Lê Xuyên. Tử trận năm 1974.


Trần Thị Hoàng, Bình Ðịnh, Quả phụ Cố B2 Nguyễn Thục. Tử trận năm 1961.


Nguyễn Thị Ðây, Ninh Thuận, Quả phụ Cố TS Nguyễn Chương. Tử trận năm 1973.


Nguyễn Thị Song, Ninh Thuận, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Nam. Tử trận năm 1973.

30.4.1975 Trung Tá CSQG Nguyễn Văn Long đã chọn một cái chết không bao giờ chết

 


Cựu CSQG Lê Xuân Nhuận


Cộng sản chiếm được miền Nam đã mười năm rồi mà tôi vẫn còn tiếp tục bị chúng kêu lên, kêu xuống hỏi cung. Tuy thế, nhờ những thời gian đợi “đi làm việc” như thế tại các trại giam như Thanh Liệt ở Hà Nội; Kho Ðạn, Hội An, và Hòa Sơn ở Quảng Nam; mà tôi có dịp gặp nhiều cán bộ Việt Cộng cấp cao bị bắt về tội “kinh tế” hoặc “tham ô” và cả “bạo loạn” nữa, cũng như đồng bào nhiều giới phạm tội “phản động hiện hành,” vượt biên, vượt biển, đưa hối lộ, xâm phạm hoặc phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa, vân vân, nên tôi biết nhiều và biết sớm những biến cố xảy ra bên ngoài thế giới “cải tạo” hơn các anh chị em khác trong tù.


Tôi đã nghe tin Trung Tá Nguyễn Văn Long tự tử từ lâu. Nhưng vì có những trường hợp sự thật khác với tin đồn; vả lại, biết đâu đó không là một người khác mà lại trùng tên với người mà tôi thân+thương; hơn nữa, anh Nguyễn Văn Long của tôi là một tín đồ Ky Tô Giáo, lẽ nào lại tự hủy mình; do đó, tôi vừa âm thầm đau khổ về hoàn cảnh chung, vừa bán tín bán nghi về phần anh Long. Ðến khi tôi được nghe thêm hai viên thủ trưởng – một thuộc Cục Xuất Nhập Khẩu 2 tại “thành phố Hồ Chí Minh,” một thuộc Ban Hậu Cần Quân Khu 5 – khẳng định là họ có nghe đề cập trong nội bộ cơ quan rằng, ngoài một số tướng lĩnh miền Nam đã tự sát chứ không chịu đầu hàng hay trốn chạy ra nước ngoài, có một trung tá Cảnh Sát tên Nguyễn Văn Long, từ Ðà Nẵng di tản vào, đã tự tử chết phía trước trụ sở Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa, tôi mới tin chắc đó chính là anh Nguyễn Văn Long.


Anh Long vĩnh biệt cõi đời giữa cảnh lửa bỏng dầu sôi, bạn bè nói riêng và đồng bào nói chung thì còn bận lo tự cứu lấy mình, trong khi kẻ thù thì càng thù hận anh thêm, lấy đâu có những vòng hoa và những nén nhang cùng những dòng lệ thương tiếc tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng.


Năm 1982, tại trại bí mật Thanh Liệt, thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội, là nơi giam cứu các phần tử quan trọng nhất, mà đa số là cán bộ đảng, nhà nước và bộ đội ở cấp trung ương, do Bộ Nội Vụ trực tiếp quản lý, tôi mới được một “bạn tù” cho biết thêm một chi tiết quý báu về cái chết hùng vinh của Trung Tá Nguyễn Văn Long. Ðó là Phạm Trung Linh, một trung tá bộ đội Bắc Việt, nguyên trưởng Tiểu Ban Thanh Tra & Xét Khiếu Tố thuộc Trung Ương Cục Miền Nam – tổng thư ký của một tổ chức đảo chính quân sự dự định hành động vào đêm 24 rạng ngày Nô En năm 1979 nhưng bất thành nên bị bắt cùng với một số tướng, tá và cán bộ cao cấp khác – xác nhận rằng gã đã có trông thấy bức ảnh chụp cảnh Trung Tá Nguyễn Văn Long mặc cảnh phục chỉnh tề nằm chết trước một tượng đài Chiến Sĩ Quốc Gia phía trước trụ sở Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa, in trên bìa trước của một tạp chí Hoa Kỳ, trong kho sách báo ngoại quốc mà Việt Cộng ở một số cấp cao đã sưu tầm để nghiên cứu những gì có liên quan đến Việt Nam.


Thế là từ đó không những tôi nguôi tủi sầu mà trái lại còn cảm thấy lòng mình vui thỏa cho anh Long. Báo Mỹ mà đã đăng lên thì khắp thế giới đều biết. Anh, cùng với những vị anh hùng tuẫn quốc khác trong biến cố lịch sử 30 tháng 4, 1975, đã nói lên được hùng hồn và cụ thể tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam yêu chuộng tự do trước quyền lực của cộng sản bạo tàn.


***


Thuở ấy, vào khoảng 1950, ở miền Trung có hai hệ thống an ninh: một bên là Pháp với cơ quan Sûreté Fédérale (Liêm Phóng Liên Bang) và Police française (Cảnh Sát Pháp), một bên là Việt Nam với cơ quan Công An & Cảnh Sát Quốc Gia. Anh Nguyễn Văn Long tùng sự bên Sûreté Fédérale (chính trị) của Pháp, trong số vài người phụ trách nội ô Thần Kinh; còn tôi thì bên Cảnh Sát (hình sự) của Việt Nam. Tôi kiêm cả việc sáng tác, ra báo, và dựng kịch cho sở làm, và cho riêng mình.


Chúng tôi thường uống cà phê ở quán Lạc Sơn, nhà hàng lộ thiên trên lề đại lộ Trần Hưng Ðạo, quay lưng vào chợ Ðông Ba.


Nhân viên hai bên không ưa gì nhau, nhưng gặp mặt mãi cũng thành quen nhau.


Dạo ấy, tôi viết cuốn truyện “Trai Thời Loạn” chống Pháp xâm lược và Bảo Ðại bù nhìn, nên bị bắt giam; sau nhờ phái đoàn của các nhân sĩ Cao Văn Tường, Cao Văn Chiểu, cùng với nhà báo Phạm Bá Nguyên và cả Giám Ðốc Thông Tin Lê Tảo can thiệp với Thủ Hiến Phan Văn Giáo, tôi mới được trả tự do. Ra tù, tự nhiên tôi được thiện cảm của nhiều người hơn.


Một hôm, anh Long tâm sự với tôi: “Tôi chống Việt Minh nên lỡ vào làm với Tây; nay tôi đã quyết sẽ thôi để qua làm với người mình.”


Anh ít nói, không văn hoa, lại lớn tuổi hơn tôi nhiều, mà đã nói thẳng với tôi như thế thì tôi hiểu rằng anh đã đau lòng khổ trí đến ngần nào trước thời cuộc bấp bênh của nước nhà. Trong thời gian chờ đợi, anh Long đã nghe theo lời thuyết phục của tôi, bỏ qua cho nhiều bạn thơ của tôi, thí dụ Nhất Hiên, Vân Sơn PMT, Như Trị, v.v… mà SƯreté Fédérale đã định bắt giam. Liêm Phóng Liên Bang của Pháp mà đã bắt ai thì người ấy khó về được vẹn toàn.


Sau đó, anh đã chuyển qua công an Việt Nam; và Vân Sơn Phan Mỹ Trúc cũng như Như Trị Bùi Chánh Thời thì vào Sài Gòn; kẻ thành ký giả tên tuổi, người nên luật sư tài danh.


Sau khi gia nhập vào đúng hàng ngũ thích hợp để phụng thờ chính nghĩa quốc gia, trải qua mấy chục năm trời gắn bó với Lực Lượng Cảnh Sát & Công An Việt Nam Cộng Hòa, anh Nguyễn Văn Long tận tụy phục vụ, và đã nổi tiếng là một trong số những cấp chỉ huy tích cực, cương trực và liêm khiết nhất trong ngành.


***


Tôi về lại miền Trung đảm trách giám đốc Ngành Ðặc Cảnh tại Bộ Tư Lệnh Cảnh Lực Vùng I vào ngày 26 tháng 9 năm 1973. Tìm gặp lại các bạn cũ, thuộc lứa tuổi trên tứ tuần, đã từng giữ các chức vụ trưởng ty Công An, cảnh sát trưởng, trưởng ty CSQG trở lên, từ thời Bảo Ðại qua thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đến nay, mà hiện còn lại tại vùng này, tôi thấy chỉ có 6 người, trong đó có anh Nguyễn Văn Long.


Một số chưa có chức vụ tương xứng thì tôi nâng lên hoặc hợp thức hóa cho làm phó giám đốc, chánh sở. Anh Long thì đã là một chánh sở nắm Sở Tư Pháp rồi, nên tôi không giúp gì về chức vụ mà chỉ giúp về công vụ mà thôi; những tin tức về hình sự mà tôi có được, thay vì xếp bỏ thì tôi chuyển qua cho anh. Tuy nhiên, đáp lại, chính anh giúp tôi nhiều hơn, rất nhiều, cả trong công tác cụ thể hằng ngày lẫn về phương diện tinh thần.


Anh Long tự nguyện làm thêm nhiệm vụ chính trị – diệt Cộng – ngoài phần vụ chính của anh là truy lùng kẻ phạm pháp về mặt hình. Là một tay cừ trong giới tình báo cũ, anh đã nhận làm công tác sưu tầm về hình phạm mà thu thập thêm tin tức về quốc phạm, và đã cung cấp cho ngành Ðặc Cảnh của tôi nhiều manh mối về cộng sản nằm vùng. Theo anh quan niệm, đã là Cảnh Sát Quốc Gia, với chức năng an ninh trật tự, thì phải góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp vào lãnh vực tình báo, để phát hiện và loại trừ cộng sản – mà trong giai đoạn hiện tại thì đối tượng Việt Cộng phải là ưu tiên hàng đầu – để bảo vệ và duy trì an ninh và trật tự chung. Anh không thể chỉ tự bằng lòng với phận sự tiễu trừ tội phạm xã hội, mà phải tham gia phần nào, trong khả năng mình, vào trách nhiệm thanh trừng giặc loạn để giữ nước và cứu dân.


Qua thái độ và hành động chính đáng của mình, trung tá Nguyễn Văn Long đã mặc nhiên gửi một thông điệp, một lời nhắn nhe tâm huyết, đến những anh chị em đồng nghiệp nào mà vì lý do nào đó đã tự cho mình là Cảnh Sát Sắc Phục thì không dính dấp gì về tình báo, nhất là Cộng Tặc Miền Nam và Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng.


Trung Tâm Huấn Luyện Tình Báo của tôi nằm trên bãi biển Sơn Chà, tuốt bên kia bờ Hàn Giang. Lần nào khai giảng hoặc bế giảng khóa nào nhà trường cũng đều có mời các cấp chỉ huy cả Ðặc Cảnh lẫn Sắc Phục đến dự. Về sau, tôi bỏ bớt tiệc mãn khóa, chấm dứt tình trạng bắt các học viên góp tiền. Không còn tiệc tùng, thì phần lớn quan khách ngớt vãng lai, viện cớ bận việc và đường quá xa; nhưng anh Long vẫn tiếp tục đến dự – anh nói – để yểm trợ tinh thần chung.


Anh thăng cấp trước tôi, nhưng bao giờ cũng ý tứ nhường tôi về ngôi thứ đứng+ngồi, nhất là trong các cuộc họp chính thức có các cấp dưới từ các nơi về, vì chức vị anh thấp hơn. Anh nói: “Mình phải nêu gương kỷ luật cho thuộc viên, mà mấu chốt của kỷ luật là tôn ti.”


Về mặt tư pháp, Trung Tá Nguyễn Văn Long đã thực hiện đúng khẩu hiệu “pháp bất vị thân.” Ngay đối với chính đồng nghiệp, bất cứ nhân viên cảnh sát nào mà phạm tội hình sự là anh truy tố ra tòa thẳng tay – anh nói – để lành mạnh hóa nội bộ, và nêu gương thượng tôn luật pháp cho người dân. Bởi thế, anh bị nhiều người gọi bằng cái tên “Long Lý,” ý nói anh chỉ biết chiếu lý chứ không vị tình.


Sau Hiệp Ðịnh Paris 1973, tình hình xã hội miền Nam thật là rối ren. Bên ngoài thì Cộng Sản Bắc Việt công khai ồ ạt đổ thêm quân và chiến cụ, vũ khí vào tấn công ta; bên trong thì các tổ chức xưng danh đối lập và lợi dụng tự do quá khích, tiếp tay với các phần tử nằm vùng, ngày càng gia tăng mức độ và cường độ gây hỗn loạn trật tự và làm suy thoái tinh thần các lực lượng quốc gia. Về mặt chính trị, Cảnh sát Quốc Gia vừa phải đối phó với các bộ phận đảng, mặt trận, nhà nước và nhân dân của cộng sản xâm lăng và “Việt Cộng,” vừa phải chống đỡ các phần tử, phe nhóm chủ bại và nội ứng cho kẻ thù.


Về mặt tệ đoan xã hội, ung nhọt tràn lan khắp nơi. Riêng về nạn dịch nhũng nhiễu tham lam, công tác đương đầu đã gặp quá nhiều khó khăn. Hầu như kẻ nào làm bậy cũng đều nấp dưới danh nghĩa của một chính đảng, tìm sự che chở của một đoàn thể hay một số cấp lãnh đạo nào đó trong chính quyền. Ðụng vào họ, dù họ là kẻ phạm pháp, có thể là tự rước lấy tai họa vào mình. Thế mà anh Long đã dám xúc tiến điều tra, lập hồ sơ truy tố nhiều nhân vật đáng sợ. Nhiều vụ lắm. Và vụ mà tôi thích nhất là vụ “Tiền trợ cấp dân Quảng Trị tị nạn.” Ðại khái như sau:


Ðầu năm 1975, đồng bào từ tỉnh Quảng Trị bắt đầu di tản. Chính quyền trung ương tổ chức đón tiếp và cứu trợ họ tại trại tạm cư Ðà Nẵng. Trên thực tế, có người đã vào, có người vẫn còn ở lại ngoài kia. Do đó, có một tổ chức quy mô đứng ra lập hồ sơ ma để lãnh các món cứu trợ di tản nhiều hơn bội phần: tiền mặt, thực phẩm, thuốc men, áo quần, giường mùng chăn chiếu, xi măng, tôn, v.v… cấp cho cả đồng bào ở trại lẫn đồng bào vẫn còn ở tỉnh cũ mà được chứng nhận là đã nhập trại tạm cư, do ngân sách của Bộ Xã Hội đài thọ. Thậm chí, họ còn lập thêm hồ sơ theo diện tị nạn, dành cho đồng bào dời cư từ các xã bất an và xôi đậu đến định cư tại các xã an ninh, để lãnh thêm loại trợ cấp này vốn áp dụng chung cho bất cứ vùng quê nào. Chưa thỏa, họ còn chứng nhận cho cũng những đồng bào ấy là nguyên cơ sở của Việt Cộng ở vùng địch kiểm soát, nay bỏ kẻ thù về với quốc gia, để hưởng các khoản trợ cấp loại này do Bộ Chiêu Hồi cung cấp định kỳ, v.v… Ngoài ra, người dân di tản cũng bị lôi cuốn vào tình trạng hỗn tạp chung bên ngoài trại, lẫn lộn giữa hợp pháp và bất hợp pháp. Một số trở thành nhân viên Chương Trình Áo Xanh, do một tổ chức xã hội Hoa Kỳ tài trợ, cung cấp việc làm cho người lao động thất nghiệp. Một số cũng là hội viên Hội Cựu Chiến Binh và Dân Phế, quy tụ lính cũ đâu từ thời Pháp thuộc, thời Nhật chiếm, thời kháng Pháp, thời Bảo Ðại, và nạn nhân các vụ tai nạn lưu thông, ẩu đả, hủy hoại thân thể, tàn tật bẩm sinh, vân vân, nhưng cũng được lập hồ sơ và lãnh đều đều từ một tổ chức nhân đạo Hoa Kỳ những món viện trợ tiền mặt, thực phẩm, thuốc men, đồ dùng, v.v… Hơn nữa, một số giả danh là thương phế binh, cưỡng thu “hụi chết” tại các hàng quán, bến xe. Phanh phui vụ này lòi ra vụ kia. Tóm lại, một người lãnh nhiều trợ cấp với nhiều tư cách trong nhiều hoàn cảnh khác nhau; nhưng chỉ lãnh được một ít, còn thì nạp vào túi riêng của bọn gian tham.


Vụ án đã làm chấn động dư luận, vì dính đến nhiều cấp chức thuộc nhiều giới, ngành, từ cấp tổ, toán, khóm, thôn, xã, phường, lên đến quận, tỉnh, vào thấu Sài Gòn, là những phần tử chứng nhận láo, chấp thuận bừa, do đó, đã phí phạm công quỹ và phá hoại chính sách của trung ương.


Trong việc móc nối đầu mối, nuôi dưỡng đường dây, lắm lúc nhân viên Ðặc Cảnh phải giao tiếp với những kẻ bất lương. Bởi thế, đã có một số trưởng mối bị trừng phạt oan, vì phía Hình Cảnh nghi là đồng lõa hay đỡ đầu. Sau khi có thêm bộ phận An Ninh Cảnh Lực, Ðặc Cảnh càng gặp nhiều khó khăn hơn, đến nỗi Tư Lệnh Ðặc Cảnh Trung Ương hồi đó là đại tá Nguyễn Mâu đã phải lên tiếng phản đối công khai trước một đại hội toàn quốc, do Tổng Giám Ðốc chủ tọa, nhưng chưa ngã ngũ ra sao.


Với tôi, anh Long đã chịu nhượng bộ: nếu gặp nhân viên Ðặc Cảnh liên can đến các vụ hình, anh để tùy tôi xét trước, để tránh oan ức, trở ngại cho công tác chìm. Ấy là nhờ anh hiểu rõ phương thức tình báo và đặt nhu cầu chống Cộng lên hàng ưu tiên. Ðó là quyết định linh động duy nhất trong cương vị Chánh Sở Tư Pháp của anh Long.


***


Kỷ niệm đậm nét nhất trong đời tôi về anh Long là vụ rút lui ra khỏi Ðà Nẵng, thành lũy cuối cùng của Quân Khu I Việt Nam Cộng Hòa. Lúc ấy vào khoảng 10 giờ tối ngày 28 tháng 3, 1975.


Trên máy vô tuyến truyền tin thuộc hệ Cảnh Sát Sắc Phục nội thành Ðà Nẵng, tôi nghe một đài gọi đài trung ương, nhưng không có ai trả lời. Lát sau, có một đài khác cất tiếng: “Ðừng gọi vô ích, bọn chúng chạy hết cả rồi!” Tôi bèn hỏi đài hồi nãy, thì được báo cáo là có nhiều người ăn mặc lộn xộn, vũ khí cầm tay, đang nép hai bên lề đường từ hướng Hòa Cường tiến vào.


Tôi dùng làn sóng của hệ Ðặc Cảnh ra lệnh cho Sở Tác Vụ Vùng và Sở Ðặc Cảnh sở tại đối phó, đồng thời gọi máy điện thoại cho đại tá Nguyễn Xuân Lộc, Tư Lệnh Cảnh Lực Vùng I, lúc ấy đang cùng có mặt với các Chánh Sở Vùng và một số Chỉ Huy Cảnh Lực Tỉnh tập trung tại đây.


Lát sau, anh Long đến ngồi tại phòng truyền tin của Ngành Ðặc Cảnh Vùng nơi đây có máy âm thoại của cả 2 hệ nổi chìm địa phương lẫn hệ toàn quốc, và máy điện thoại bưu điện, điện thoại quân sự cách dăm mười phút lại gọi hỏi tôi tình hình thế nào.


Vì máy quá bận, tôi khuyên anh vào phòng giấy của Ðại Tá Lộc để cùng theo dõi diễn biến tình hình chung.


Khoảng sau 11 giờ đêm, từ đài Ðặc Cảnh Vùng I trung tá Long gọi tôi. Lần nầy tôi nghe giọng anh run lên, lời lẽ trịnh trọng khác thường: “Tôi xin mời ông phụ tá đến ngay để tổ chức phòng tuyến và chỉ huy đội ngũ tử thủ cùng với anh em chúng tôi!” (Tử thủ là lời cam kết của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đọc trên Ðài Phát Thanh Ðà Nẵng suốt chiều hôm nay).


Tôi hỏi về Ðại Tá Lộc thì anh đáp gọn với giọng bực tức và chán chường: “Các ngài đào ngũ hết rồi!”


Anh Long kể lại với tôi là anh được lệnh, cùng với mọi người có mặt tại trụ sở Vùng – chánh sở các sở, chỉ huy của một số tỉnh, có cả mấy viên đại tá quân đội – theo Ðại Tá Lộc xuống bến Giang Cảnh, lên tàu Giang Cảnh, rời bến hướng ra biển Ðông.


Anh hỏi đi đâu thì Ðại Tá Lộc trả lời: “Chúng ta di tản vào Nam!” Anh thấy máu uất xông lên đỉnh đầu, la lên: “Giặc chưa tấn công, thuộc viên vẫn còn ở lại, mà cấp chỉ huy đã lén lút bỏ đi như thế này là hèn!” Lộc cố giải thích: “Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn đã rút đi rồi. Trong tình huống này chúng ta đành phải phụ lòng anh em mà thôi!” Long bèn rút súng, nhìn thẳng vào mặt từng người với vẻ khinh thường, và bảo tàu ghé vào bờ cho anh trở lui.


Và anh đã về trụ sở, để cùng chiến đấu, sống chết có nhau với anh em.


Tôi tin tưởng và kính phục anh Long vô cùng; nhưng tôi thấy rõ là nếu đến sở thì sẽ dính kẹt ở đó, khó lòng điều động hoạt động bên ngoài, nên nói là tôi bận họp. Anh xin mượn tôi một máy vô tuyến cầm tay, và đòi đến họp với tôi.


Tôi kéo Thiếu Tá Ngô Phi Ðạm, chánh Sở Tác Vụ, ra xe. Ðến bến Bạch Ðằng quả thấy xe Jeep xanh trắng và ô liu bỏ đậu nghênh ngang; gọi máy vô tuyến trên hệ Sắc Phục đến đại tá Lộc ở sở, ở nhà, không ai trả lời; tôi bèn chỉ thị Trung Tâm Hành Quân Ðặc Cảnh báo cáo sự việc lên trung ương.


Anh Long đã đến nhà tôi, hỏi tôi ở đâu, tôi đáp là đến Ðặc Khu, nhưng tôi đến Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn; nơi đây vắng hoe. Anh hỏi, tôi đáp là vào phi trường, nhưng tôi đến Sở An Ninh Quân Ðội; nơi đây cũng chẳng còn ai. Anh không gặp tôi, lại hỏi; và tôi lại dối, tránh anh. Cứ thế mà tôi đến khắp các nơi vốn là chỗ dựa cho niềm tin của dân nhân.


Ðến sau nửa đêm thì cả thành phố đổ dồn qua cầu Trịnh Minh Thế để qua bến cảng, bãi biển Quận III, để mong chạy vào Sài Gòn. Tôi cùng Tác Vụ, Thám Sát Ðặc Biệt, quan sát xong tình hình bên đó, len lách trở về thì thoáng dưới ánh đèn pha thấy rõ hình dáng của anh, mặc cảnh chiến phục, gác khẩu M 16 ngang đùi, mặt mày đỏ gay, tức uất nhưng đầy cương nghị, lái xe vụt qua.


Ðó là hình ảnh cuối cùng của Trung Tá Nguyễn Văn Long, mãi mãi hằn sâu trong ký ức tôi.


***


Gần sáng, ngày 29 tháng 3, 1975, Việt Cộng pháo kích hải cảng, phi trường. Mờ sáng, đặc công từ hướng Núi Non Nước bắt đầu tấn công vào. Ðến trưa, tôi gọi máy về cho đại úy Nguyễn Văn Tuyên, Chánh Sở Nghiên+Kế, lúc đó còn ngồi tại chỗ, ra lệnh giải tán Trung Tâm Hành Quân của Ðặc Cảnh Vùng I, là bộ phận cuối cùng của chính quyền VNCH còn hoạt động đến phút cuối cùng, và cho phép thuộc viên tự tìm phương tiện thoát thân. Xế chiều, tôi mới kiếm được chiếc thúng, rời bờ, liều lĩnh trước các làn đạn pháo kích của địch và trực xạ của chính bạn mình.


Và tôi không còn gặp lại anh Long.


***


Cái chết của Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long làm tôi suy nghĩ rất nhiều.


Anh đã phục vụ dưới nhiều chế độ khác nhau, đảm trách công tác ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng vẫn giữ mình trung chính khiết liêm. Anh tuy lớn tuổi nhưng vẫn trẻ trung trong lối sống và trong công việc, không bị lứa trẻ sau này vượt qua.


Trong lúc nước nhà đang bị cộng sản xâm lăng, anh ý thức được chúng là kẻ thù số một của toàn dân, sự nghiệp chống Cộng phải là ưu tiên số một của mọi người yêu quý tự do, nên anh phải góp phần vào. Thành quả chống Cộng của CSQG nói chung, là đã có lúc hạ được nhiều tên cộng tặc hơn cả con số chúng bị thiệt hại trên chiến trường, do đó, anh tự nhận lãnh vào bản thân mình một phần trách nhiệm đối với đối phương về những tổn thất mà chúng hứng chịu nặng nề; nhưng trên tất cả là sự sụp đổ thảm khốc của Việt Nam Cộng Hòa, mà đối với tổ quốc, dân tộc, lịch sử, và thế giới, thì cái trách nhiệm vô cùng lớn lao ấy nhất định là của mọi người, trong đó có anh; nên anh tự xử – cũng như các anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, vân vân – để tạ tội với tiền nhân và quốc dân, và để nói lên tinh thần bất khuất của người chiến sĩ tự do, không chịu hạ mình đầu hàng kẻ thù.


Cái chết của anh Long làm tôi hãnh diện vô cùng. Tuy người chết không mong được đời nhắc đến, nhưng bổn phận của người sống là phải phát huy những tấm gương trí dũng ngời sáng ấy, để nhờ đó mà mình tin tưởng và phấn khởi tiếp tục lo toan sự nghiệp chung.


Bây giờ, đối với toàn dân, Nguyễn Văn Long không còn là một trung tá, là một chánh Sở Tư Pháp, là một viên chức an ninh, là những gì gì khác nữa… mà anh đã là và vẫn còn là đại diện cho bất cứ chiến hữu ưu tú nào, không phân biệt cấp/bậc, chức vụ, ngành/nghề, hình sự hay phản gián, phái mạnh hay phái đẹp; mà anh đã vinh quang đi vào lịch sử với tư cách một anh hùng của dân tộc Việt Nam nói chung và Lực Lượng Cảnh Sát Quốc Gia nói riêng.

Tin mới cập nhật