Kinh tế khó khăn, người ta vẫn thích nhà to và nhiều phòng


Giữa lúc sự chi tiêu và lợi tức gia đình thay đổi để đáp ứng nhu cầu của tình hình kinh tế hiện nay, loại nhà mới dành cho một gia đình cũng thay đổi. Khác với các chiều hướng mới đây, thật đáng ngạc nhiên khi nhà cửa có vẻ như lớn trở lại.



Theo các dữ kiện mới nhất từ Phòng Kiểm Kê Dân Số cho nửa đầu của năm 2011, nhà mới đang được xây dựng theo chiều hướng đáng ngạc nhiên này. Các dữ kiện cho thấy rằng khi so sánh với năm 2010, cỡ nhà trung bình gia tăng cùng với con số những căn nhà có bốn phòng ngủ trở lên.


Dữ kiện này gây ngạc nhiên vì nhiều người muốn mua nhà đã bị gạt ra một bên vì thất nghiệp cao và phát triển kinh tế yếu. Ông Ben Bernanke, chủ tịch Quỹ Dự Trữ Liên Bang (Fed), mới đây đã đề cập tới sự hồi phục kinh tế chậm chạp tại cuộc triển lãm năm 2012 của Những Nhà Xây Dựng Quốc Tế (International Builders) thuộc Hiệp Hội Xây Dựng Nhà Toàn Quốc (NAHB) ở Orlando, Florida.


Ông ghi nhận rằng “mặc dù vài tiến bộ đã đạt được trong việc đảo ngược những thiệt hại về việc làm và lợi tức kéo dài trong cuộc suy thoái, nhịp độ phát triển đã chậm chạp một cách đáng thất vọng và tỉ lệ thất nghiệp vẫn rất cao theo các tiêu chuẩn lịch sử. Tình trạng của ngành địa ốc đã là một trở ngại chính cho một sự hồi phục nhanh chóng hơn.”


Có phải các dữ kiện này của Phòng Kiểm Kê có nghĩa chúng ta đang trên đường trở lại các dinh cơ đồ sộ hay không? Hiệp Hội Xây Dựng Nhà Toàn Quốc cũng đang đặt ra những câu hỏi như vậy. “Những sự kiện này đưa tới một câu hỏi đáng lưu ý: làm thế nào căn nhà trung bình có thể trở nên lớn hơn, đắt tiền hơn, và có nhiều tiện nghi hơn, trong khi thị trường nhà đất tiếp tục yếu và nền kinh tế nói chung vẫn chưa nhìn thấy một sự hồi phục mạnh mẽ?”


Sự khác biệt chính trong những kết luận vào đầu năm 2011 này là ai đang xây dựng nhà cũng như con số những vụ khởi sự xây nhà. Chỉ có khoảng 429,000 vụ khởi sự xây dựng nhà mới trong nửa đầu của năm ngoái.


Bởi vì sự can thiệp mới đây trong việc cho vay tiền mua nhà, nhiều người mua tương lai về loại nhà mới thay vào đó đang chờ đợi bên lề. Những người mua nhà ngày nay cần có tín dụng xuất sắc cũng như ít nhất 20% để đặt cọc. Ðiều này đã thay đổi khối người mua và những người mua này đang xây nhà lớn hơn.


Các kết quả chính yếu khác của cuộc nghiên cứu được thấy như sau:


– Cỡ nhà trung bình tăng lên tới 2,522 feet vuông so với 2,381 feet vuông vào năm 2010, tức tăng 6%.


– Số nhà có bốn phòng ngủ trở lên tăng lên tới 42%, so với 36% trong năm 2010.


– Số nhà có ba phòng tắm trở tăng lên tới 28%, so với 23% trong năm 2010.


– Số nhà có một tầng hầm đã hoàn tất tăng lên tới 30%, so với 25% trong năm 2010 (tầng hầm chỉ được tính vào diện tích tổng cộng nếu nó đã được xây dựng hoàn chỉnh).


– Số nhà có nhà xe chứa được ba xe trở lên đảo ngược một chiều hướng từ sáu năm nay, tăng lên tới 18% so với 16% trong năm 2010.


– Giá trung bình của những căn nhà khởi sự được rao bán tăng lên tới $274,400, so với $264,900 trong năm 2010.


Tuy nhiên, ông Bernanke nhấn mạnh, để bảo đảm có thêm những vụ khởi sự xây dựng nhà mới được đưa ra thị trường trong năm 2012, cần phải thực hiện những thay đổi. “Thị trường địa ốc yếu kém cũng làm tê liệt khả năng tài chánh của các chủ nhà và giảm bớt phẩm chất và sự ổn định của các khu dân cư và cộng đồng. Vì những lý do này, và bởi vì thị trường nhà đất bị khó khăn hiện đè nén hoạt động xây dựng và tuyển dụng, chúng ta cần tiếp tục phát triển và thi hành các chính sách nhằm giúp lãnh vực địa ốc đứng vững trở lại.” (n.n.)

San Francisco murder of five spotlights Asian gambling addiction


Photo courtesy of Michael Blann, Getty Images


 


 


By NGOC NGUYEN and VIVIAN PO, New America Media


 


            SAN FRANCISCO ― What led Binh Thai Luc, 35, to be charged this week with slaying five people in a San Francisco home? The grisly murders have rocked the city and left investigators and the public searching for a motive.


            “We’re not discussing any potential motive for these killings,” said Omid Talai, spokesman for San Francisco District Attorney George Gascon, who said he couldn’t comment further because the investigation is ongoing. Asked whether gambling might be involved, he replied, “We’ll be exploring everything.”


            News media reports have suggested that the killer may have been trying to collect on gambling debts. Although gambling addiction affects every group, researchers have found unusually high levels among Asians.


            The website of the Responsible Gambling Council (RGC) notes, “A regional study in California shows that 35 to 42 percent of Asian American casino clientèle are problem gamblers, a much higher rate than in the general population.”


 


 


Growing problem can lead to violence


            For the city’s Asian residents, the violent nature of the crime in their communities ― Luc, could face the death penalty, is of Chinese Vietnamese descent and the victims were all Chinese ― has stirred suspicions that it could be tied to gambling, a growing problem in the community that has sometimes erupted in violence.


            “Gambling is a huge problem in the Chinese community,” said Kent Woo, executive director of the NICOS Chinese Health Coalition in San Francisco’s Chinatown. (NICOS is an acronym for the group’s five founding organizations.)


            Woo co-founded the Chinese Community Problem Gambling Project, a California-wide program that runs a gambling hotline, offers counseling services and does research and outreach.


            A survey the group conducted in 1997 found that 70 percent of Chinese Americans in San Francisco believe gambling is a problem in their community.


            Woo said money issues stemming from problem gambling and crime often go hand in hand.


            “It’s actually somewhat common for our clients to report that they have gone to loan sharks for money,” said Woo, adding that loan sharks scout casinos and card rooms looking for desperate gamblers, who have run out of money. In some cases, Woo continued, loan sharks bribe casino staff to track customers who are losing money.


            In June 2010, California Department of Justice’s Bureau of Gaming Control cracked down on an Asian loan-sharking ring at the tribal casinos outside of Sacramento.


            The bureau arrested five lenders, who allegedly charged exorbitant interest rates and threatened borrowers and their family members to collect debts.


            One lender, a member of a violent international gang in China, used his ties to pressure borrowers by threatening their family members back home.


            The number of people calling the NICOS hotline doubled to 300 calls from 2009 to 2011. Most of callers have a debt of about $50,000 before they reach out for help.


 


 



Photo courtesy of Burcin Tuncer, Getty Images


 


 


 


Why Asians?


           Tony Nguyen, a counselor and business analyst at the Southeast Asian Community Center in San Francisco’s Tenderloin district, said a lot of immigrants gamble because they are exposed to it at a young age. It is culturally accepted in Asian culture, and gambling is often part of holidays and celebrations.


            Nguyen, who provides assistance to small businesses in need of loans and start-up assistance, said his mainly Vietnamese clients struggle for employment and tend to have lower incomes. But, that doesn’t stop them from gambling away money they can’t afford to lose.


            “They go to work and get a paycheck. The first thing they do is go to the casino and burn it,” he said.


            “They always hope they can make the big bucks and once in awhile they make money, but then they come back the next day [to the casino] to burn it again.”


            Compulsive or pathological gambling come with a wide range of signs, such as preoccupation, restlessness or irritability when attempting to stop, “chasing” losses with more money, lying and performing illegal acts.


            According to the RGC website, “The issue is more severe in the Asian American community, with pockets of the population experiencing trends of acute problem gambling ― especially in areas with high concentrations of casinos, such as California and Connecticut.”


            Nguyen, the business analyst with the Southeast Asian Community Center, observed that problem gambling affects Vietnamese men of all ages. He also said he sees many female gamblers, who are trying to make “quick money.”


            Recently, Nguyen said, he’s seen a disturbing trend: Homeowners who resort to gambling to come up with large sums of money to save their homes from foreclosure.


            Woo, the director of the Bay Area’s NICOS health coalition, says Asians may be attracted to gambling because of their immigration experience. People who are willing to start a new life in another country are generally greater risk takers and more likely to gravitate toward the risk-taking nature of gambling, he said.


 


 


Casinos make it easy


            Nguyen emphasized that the proliferation of casinos in the Bay Area has made it easier for people to gamble without having to go to Nevada cities Reno, Lake Tahoe or Las Vegas.


            “There are so many casinos in the Bay Area now. People can go there anytime they want until they lose all their money, until their last dollar,” he said, adding that many casinos offer lines of credit to special customers.


            For some Asian immigrants, “casinos have become main social institutions, replacing churches, family associations, restaurants, et cetera,” said Timothy Fong, assistant clinical psychiatry professor and co-director of the Gambling Studies Program at the University of California, Los Angeles. He spoke during a University of Massachusetts, Boston, forum on problem gambling in the Asian American community.


            Jennie Hua, a counselor for NICOS’ gambling hotline, said gambling fills a void in people’s lives.


            “The main reason that Chinese men take on gambling is that they don’t have much social life or hobbies. Therefore, they choose casinos to kill the time,” she said.


            Also, Hua said, many seniors are attracted to casinos to fill their time: “Their kids are moving away, they find that they don’t have many friends to hang out with, they then go to casinos.”


            Nam Paik, pastor of the Northern California Deaf Church based in Fremont, Calif., has long worked with Korean-community members struggling with gambling addiction. He recently launched a Korean-language website where visitors can join an anonymous online forum to discuss their problems with gambling.


            “When Koreans first arrive in the U.S., they often find themselves isolated from mainstream society and unaware of many of the recreational diversions available,” said Paik. With Las Vegas and other major gambling centers nearby, it becomes an easily available source of entertainment, he added.


 


 


Family impact


            Although problem gambling can lead to violence in isolated cases, the more typical impacts on families can still be devastating.


            “I can see broken families, divorces, lost jobs,” said Nguyen of the Southeast Asian Community Center.


            In a commentary published by Silicon Valley De-Bug/Viet Tide in 2010, contributor Thuy Ngo described the fallout of her stepfather’s gambling addiction of her family life in San Jose.


            “I sometimes think his actions were a result of a long rocky marriage, feelings of depression, and a loss of hope that things would ever get better. In the end there was a lot of analyzing we all did, the what-ifs or the could-bes. But at the end of my mom’s marriage to him, the finalization of their divorce was his only wake-up call to his gambling addiction.”


            Ngo concluded, “There was nothing that could get him to stop his addiction. I think things could have gotten worse, and at least, we all survived.”


            New America Media’s Aruna Lee, Andrew Lam and Summer Chiang contributed reporting.


 


 

Giá nhà năm nay là thấp nhất


– Merrill Lynch, xí nghiệp đầu tư của Bank of America, cho rằng giá nhà năm nay thấp nhất, nhưng sẽ khởi sự tăng


– Lượng nhà bán đã giảm bớt và các biện pháp liên quan đến chính sách đã giúp thúc đẩy nhu cầu về nhà cửa, theo Merrill Lynch


– Xí nghiệp không thay đổi quan điểm dài hạn, nhưng nay cho rằng sự hồi phục địa ốc sẽ khởi sự sớm hơn, tuy chậm chạp hơn


 


NEW YORK –Các dữ kiện kinh tế đang cải thiện và những phát triển chính sách của chính phủ đã khiến xí nghiệp Merrill Lynch của Bank of America tiên đoán giá nhà sẽ xuống tới đáy trong năm nay, như người ta đã trông đợi từ lâu.









Xí nghiệp tài chánh trên đã thay đổi tiên đoán của họ vào Tháng Mười Một, khi họ tiên đoán giá nhà sẽ sụt giảm 3.5% trong năm 2012. Bây giờ, họ tiên đoán một mức gia tăng vừa phải là 0.5%, một dấu hiệu tốt cho ngành địa ốc vốn tiếp tục khập khiễng trải qua sự suy sụp tệ hại nhất từ nhiều thế hệ nay.


Tuy nhiên, xí nghiệp trên cảnh cáo: “Cùng với việc xuống tới đáy sớm hơn là sự hồi phục chậm chạp hơn.” Họ tiên đoán giá nhà sẽ tăng 2.8% trong năm 2014, kém xa sự ước tính trước đây là 8.1%. Sự tiên đoán của họ cho năm 2020 vẫn xấp xỉ như cũ, khi họ hy vọng giá nhà sau khi bị giảm mạnh sẽ hồi phục khoảng 42%.


Lượng nhà bán giảm đáng kể trong nửa sau của năm 2011, theo cuộc nghiên cứu của xí nghiệp. Trong khi Merrill Lynch hy vọng những con số đó sẽ gia tăng bởi vì mùa Ðông ấm áp một cách bất thường có thể đã giúp ích cho những vụ mua bán, hiện giờ họ tiên đoán lượng nhà bán thấp hơn so với sự ước tính trước đây. Ngoài ra, các chiều hướng mới đây về mức kiến tạo việc làm cao hơn dự đoán và lãi suất vay tiền mua nhà thấp kỷ lục, theo họ, củng cố quan điểm cho rằng nhà cửa đang bị đánh giá thấp.


Các tác giả của bản nhận định – các chiến lược gia Ryan Asato và Chris Flanagan của MBS/ABS và kinh tế gia Hoa Kỳ Michelle Meyer – viết rằng các chính sách của chính phủ cũng đã giúp ích thị trường. Trong khi không có hành động nào mới đây là một liều thuốc thần cho giá nhà, “chúng biểu hiện một bước tiến tích cực.” Xí nghiệp đề cập tới một cuộc dàn xếp giữa các bộ trưởng Tư Pháp tiểu bang trên toàn quốc và các ngân hàng Hoa Kỳ về các lề lối xiết nhà và sự tài trợ dễ dàng hơn cho các chủ nhà như hai trong số các hành động này.


Tuy nhiên, xí nghiệp viết rằng quan điểm của họ có thể thay đổi dễ dàng nếu các chính sách hoặc các yếu tố kinh tế vĩ mô thay đổi. Nếu nền kinh tế Hoa Kỳ lại yếu đi trong nửa sau của năm 2012, nhu cầu nhà cửa có thể sẽ hạ giảm, khiến giá nhà tiếp tục giảm. Cho dù giá cả xuống tới đáy trong năm nay, cần nhiều năm để thị trường hồi phục hoàn toàn. “Mặc dù thị trường địa ốc đang hồi phục, còn xa nó mới hồi phục mạnh mẽ,” xí nghiệp viết.


Chắc chắn, vài nhà quan sát kỹ nghệ không lạc quan như vậy, bởi vì ngành địa ốc liên tiếp gặp gió ngược. Những vụ xiết nhà vẫn là một vấn đề ương ngạnh, trong khi các tiêu chuẩn cho vay tiếp tục khó khăn đối với nhiều người muốn mua nhà. Thị trường nhà cho thuê đặt ra sự cạnh tranh gay gắt, trong khi nhiều người tiêu thụ vẫn quá e ngại trong việc mua nhà.


“Bất chấp những dấu hiệu lạc quan trong mùa mua bán nhà, chúng tôi vẫn thận trọng,” theo lời ông David Goldberg, một nhà phân tích về xây dựng nhà, làm việc cho công ty tài chánh UBS. (nn)

Four GGUSD schools honored

       Four Garden Grove Unified School District schools have been named 2012 recipients of the prestigious California Distinguished School award. The district honorees ― Cook, Excelsior, Stanford and Sunnyside elementary schools ― received the good news Thursday from Tom Torlakson, state superintendent of public instruction.


          The four GGUSD schools are among 42 elementary schools in Orange County and 387 statewide chosen due to overall excellence, performance on state and federal accountability measures, and documented progress in narrowing achievement gaps among key student groups.


          Schools invited to submit applications this year underwent a rigorous review process conducted by state and county education officials. Those schools judged to be exemplary were visited by independent teams to validate information provided in their applications, including first-hand scrutiny of two successful signature practices identified by the school.


          All selected schools also must meet identified benchmarks of the Academic Performance Index (API), a composite measure of state test scores ranging from 400 to 1000, with 800 being the state target. For Distinguished School eligibility, elementary schools must satisfy all API improvement targets and have an overall 2011 growth API of 832 or better.


          Cook School recorded a 2011 API of 881, a 115-point increase from 2007, although 57 percent of its students are English learners and 72 percent qualify for subsidized school meals. The API at Excelsior School has exceeded 800 since 2003 and reached an all-time high 883 in 2011, an increase of 27 points from the previous year. Sixty-six percent of its students are eligible for subsidized school meals and 79 percent are classified as English learners.


          At Stanford School, its API reached 859 in 2011, a jump of 74 points in six years. The school’s API surpassed the state target of 800 in 2008 with an API that year of 816. At Stanford School, 50 percent of the students are eligible for subsidized meals and 72 percent are English learners.


          Sunnyside School’s API reached 908 in 2011, placing it among the top 10 percent of all California elementary schools. Its API has grown by 115 points since 2005. At Sunnyside School, 56 percent of the students are eligible for subsidized meals and 65 percent are English learners.


          Distinguished Schools represent approximately 10 percent of California’s public elementary schools. As 2012 winners, each school receives a plaque, flag, and state recognition.


          2012 California Distinguished Schools will be honored at one of six regional awards programs in May. Ceremonies honoring the schools from Orange, Riverside, and San Bernardino counties will take place May 4.


          California elementary and secondary schools are selected on alternate years for distinguished school honors.


          Log on to the http://www.cde.ca.gov/ta/sr/cs/ for the full listing of 2012 California Distinguished Schools.


 


 

Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai…


Nguồn: Nguyễn Hưng Quốc (Blog VOA)


 


“Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ cho bạn biết bạn là người như thế nào.” Ðó là một câu danh ngôn mà có lẽ ai cũng biết. Và có lẽ, phần lớn đều đồng ý.


Vượt lên trên bình diện cá nhân, trong quan hệ đối ngoại của các quốc gia, người ta cũng có thể nói điều đó: quan hệ đối ngoại tiết lộ rất nhiều bản sắc và bản chất của một chế độ.


Trong bài này, tôi muốn nói đến quan hệ đối ngoại của Trung Quốc trong một hai thập niên vừa qua. Trên lý thuyết và về mặt tuyên truyền, Trung Quốc lúc nào cũng muốn trấn an thế giới: Sự phát triển của họ là một sự “phát triển hòa bình.” Họ không uy hiếp ai và cũng không có tham vọng bá quyền gì cả. Họ chỉ muốn xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với tất cả mọi người.


Tuy nhiên, không mấy ai tin vào những lời lẽ tuyên truyền ấy. Có nhiều lý do. Một số lý do tôi đã nêu trong các bài trước: một, Trung Quốc không thể giấu diếm tham vọng làm bá chủ của họ qua việc không ngừng gia tăng ngân sách quốc phòng; hai, Trung Quốc cũng không thể lừa dối dư luận khi họ thường xuyên trấn áp Tây Tạng và cũng thường xuyên gây hấn với các nước láng giềng, từ Việt Nam đến Nhật Bản và Philippines. Cần thêm một lý do này nữa: cách thức tiến hành các chính sách đối ngoại của Trung Quốc.


Trừ với Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Miến Ðiện, quả thật, phải công nhận là Trung Quốc hiếm khi can thiệp vào nội bộ các nước khác. Từ một hai thập niên vừa qua, họ gia tăng các mối hợp tác song phương cũng như nâng cao mức viện trợ cho rất nhiều quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ Latin và Trung Á. Thường, họ không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì cả. Họ nhắm mắt làm ngơ trước tội ác của các chế độ độc tài, bất chấp việc các chế độ độc tài ấy nhũng nhiễu, thậm chí, giết hại dân chúng của họ như thế nào. Họ mặc kệ.


Ðó chính là sự khác biệt lớn nhất giữa Trung Quốc và Tây phương.


Hầu hết các quốc gia Tây phương, khi đặt quan hệ với một nước khác, đặc biệt khi đóng vai trò kẻ gia ân, thường nêu lên một số điều kiện nhất định, bao gồm, thứ nhất, chính quyền các nước ấy phải tôn trọng nhân quyền và từng bước tiến tới dân chủ; thứ hai, chính quyền các nước ấy phải chứng tỏ họ có khả năng quản trị để tiền viện trợ không bị lãng phí hay thất thoát vì tham nhũng. Trong trường hợp một số nước không đáp ứng được hai điều kiện đó, Tây phương sẽ tuyên bố cúp viện trợ, thậm chí, đôi khi gây sức ép hoặc trực tiếp tiến hành các cuộc thay đổi chế độ.


Trung Quốc thì khác. Họ chỉ nhắm đến kinh tế. Các quốc gia họ tiến tới làm thân sớm và chặt chẽ nhất là các nước có nhiều dầu khí, từ Venezuela ở Nam Mỹ đến Nigeria và Sudan ở Châu Phi, Kazakhstan ở Trung Á, Yemen ở Tây Á và Iran ở Trung Ðông. Họ viện trợ và xóa nợ cho vô số các quốc gia Phi Châu với số tiền lên đến hàng tỉ đồng. Mới đây, Trung Quốc tài trợ hoàn toàn cho việc xây dựng tổng hành dinh của Liên Ðoàn Phi Châu (African Union) ở Ethiopia trị giá 200 triệu Mỹ kim; một ngôi đền Hồi Giáo cực lớn đủ chỗ cho 120,000 tín đồ cầu nguyện ở Algeria, trị giá đến 1.3 tỉ Mỹ kim; một cái đập khổng lồ ở Ghana trị giá 700 triệu Mỹ kim; một trung tâm hội nghị mênh mông và tráng lệ ở Equatorial Guinea trị giá 800 triệu Mỹ kim; một khu phố rộng lớn bao gồm 710 căn hộ đủ chỗ ở cho 120,000 người, trường học, trung tâm thương mại và các bãi đậu xe ở Angola trị giá đến 3.5 tỉ Mỹ kim; một xa lộ dài 50 cây số (31 miles), được xem là rộng nhất Ðông Phi, trị giá 300 triệu Mỹ kim ở Kenya.


Viện trợ một cách hào phóng như vậy, Trung Quốc đòi hỏi điều gì? Họ chỉ đòi hỏi hai điều kiện: Một, không đặt quan hệ chính thức với Ðài Loan và hai, ủng hộ các tổ chức quốc tế của Trung Quốc. Hết.


Còn chuyện các nước ấy tham nhũng ư? – Họ không cần biết. Các nước ấy đàn áp dân chúng nước họ một cách dã man ư? – Họ cũng không cần biết. Cũng như họ ngoảnh mặt không cần biết chính phủ Iran âm mưu chế tạo bom nguyên tử có thể gây hiểm họa trong khu vực như thế nào, và chính phủ Syria tàn sát dân chúng nước họ trong cuộc tranh đấu đòi hỏi dân chủ như thế nào. Họ không cần biết. Vấn đề nhân quyền không nằm trong bảng từ vựng đối ngoại của họ.


Chính vì thế một số học giả mới nhận định: Các chính phủ thất bại (failed states, hiểu theo cả hai nghĩa, quản trị tồi và không có dân chủ), với Tây phương là một vấn đề; với Trung Quốc, là một cơ hội.


Sự khác biệt ấy cho thấy một số điểm quan trọng trong các chính sách của Trung Quốc:


Thứ nhất, họ chỉ nhắm đến các lợi ích kinh tế chứ hoàn toàn không có một bản giá trị nhân văn nào cả. Thậm chí, họ cũng không chia sẻ với bản giá trị nhân văn phổ quát của nhân loại, trong đó, hai yếu tố quan trọng nhất là: tôn trọng quyền làm người và sự công chính. Chính vì điều này, nhiều người không tin là Trung Quốc có thể trở thành siêu cường quốc có khả năng thay thế Mỹ để lãnh đạo thế giới.


Thứ hai, trong việc theo đuổi cái lợi về kinh tế, họ chỉ nhắm đến những cái lợi gần gũi trước mắt. Vì thế họ dễ dàng kết giao với những quốc gia bị mọi người phê phán gay gắt và lúc nào cũng đứng trước nguy cơ bị sụp đổ, như Zimbabwe, Yemen, Sudan, Syria, Miến Ðiện và Bắc Hàn. Chính vì điều này, nhiều người không tin Trung Quốc có tầm nhìn chiến lược lâu dài trên phạm vi toàn cầu.


Thứ ba, không chia sẻ một bản giá trị và niềm tin chung, quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khác chỉ dừng lại ở mức hòn bấc ném qua hòn chì ném lại chứ không dẫn đến bất cứ một quan hệ đồng minh nào cả.


Chính vì điều này, nhiều người, kể cả các học giả Trung Quốc, không tin là nếu xảy ra chiến tranh với Mỹ, Trung Quốc có thể nắm được ưu thế: Trong khi Mỹ có vô số đồng minh sẵn sàng lao ra chiến trường với họ, Trung Quốc không có ai cả.


Từ chính sách đối ngoại chung như thế, chúng ta không thể không nghĩ ngợi về quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam.


Cũng giống như trong quan hệ với các nước khác ở Nam Mỹ, Nam Phi và Trung Ðông, Trung Quốc xem cái “chính quyền thất bại” (failed state) ở Việt Nam là một cơ hội. Không những là cơ hội cho việc phát triển kinh tế mà cho cả việc phát triển chính trị cũng như lãnh thổ và lãnh hải của họ không chừng.

Tản Mạn Thơ Văn


Lê Hoàng Long


 


Chúng tôi xin đa tạ sự đóng góp của quý vị độc giả khắp nơi. Vườn hoa văn nghệ sẽ khởi sắc với muôn mầu, muôn vẻ nhờ những áng thơ của quý vị với tiết tấu truyền cảm và những văn thể đanh thép, cương cường, ngọt ngào, lãng mạn, trữ tình, châm biếm, dí dỏm, khôi hài, v.v.


Ðể đóng góp, xin quý vị gởi về emails dưới đây:


[email protected]hay [email protected]


Khi đóng góp, xin đề “Mục Tản Mạn Thơ Văn”


***


Dưới đây là một số bài thơ quý vị độc giả đóng góp:


Việt Khang là nhạc sĩ trẻ sống tại Việt Nam. Mang dòng máu Lạc Hồng, cùng với những chí sĩ yêu nước khác trong nước và hải ngoại, anh bất bình trước hành động hèn nhát và khuất phục trước giặc Tàu của Ðảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay.


Ðể khơi ngọn lửa yêu nước và ý chí bất khuất của dân tộc trước kẻ xâm lăng Trung Quốc, anh sáng tác hai bản nhạc hùng hồn “Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Ðâu?” để thức tỉnh bọn cầm quyền ngu, dốt, hèn, nhục đã đưa dân tộc vào vòng nô lệ từ từ theo thời gian. Chúng là những kẻ bán nước cầu vinh. Anh tạo được tiếng vang khắp năm châu. Hai bản nhạc đã rung động thế giới và tất cả đồng bảo hải ngoại Việt Nam yêu nước. Ðã có nhiều tổ chức cộng đồng Việt Nam hải ngoại và đồng bào đóng góp công sức tinh thần và vật chất qua mọi phương tiện: báo chí, truyền thông, biểu tình, thỉnh nguyện thư để hưởng ứng với và cổ võ đồng bào trong nước lật đổ chính quyền thối nát, hèn mạt, và đi ngược nguyện vọng dân tộc: tự do, hạnh phúc, độc lập.


Các sinh hoạt chính trị ở hải ngoại là những cơn gió lớn thổi bùng ngọn lửa yêu nước của toàn dân Việt trước sự sống còn của đất nước và dân tộc, một vấn nạn trọng đại không ai có thể thờ ơ nếu mang dòng máu Việt. Sau cơn mưa trời lại sáng. Chế độ Cộng Sản phải tàn lụi sau khi đạt đến đỉnh cao đánh lừa cả dân tộc từ Bắc, Trung tới Nam từ ngày thành lập đến nay.


Sự hưởng ứng cũng được thể hiện qua thi văn của một số đồng bào yêu nước hải ngoại. Dưới đây là hai bài thơ bày tỏ nỗi uất hờn dân tộc trước sự bành trướng của quân xâm lược Trung Quốc và tinh thần Diên Hồng trước vận nước tối đen. Với lời lẽ đanh thép, sắc bén qua giọng thơ sĩ khí, hùng tráng, hai bài thơ thôi thúc toàn dân Việt đứng lên và hy sinh dựng ngọn cờ chính nghĩa đem lại quang vinh cho dân tộc đã có bốn ngàn năm văn hiến với tinh thần bất khuất chống ngoại xâm vững như núi Trường Sơn.


 


Việt Khang


 


Nghe em hát mà tim tôi rướm máu


Mà Hoàng Sa, Bản Giốc dậy căm hờn


Em đã hát lời quật cường, tranh đấu


Ðiểm mặt tội đồ bán đứng giang sơn!


Em đã hát tiếng muôn đời bất khuất


Cảm ơn em, ơi tiếng hát can trường


Chấp nhận tù đầy với bao nanh vuốt


Tiếng hát tung trời, lồng lộng muôn phương


Như dũng tướng xông pha ngoài chiến địa


Mỗi lời ca là muôn vạn binh hùng


Là súng lệnh tiến lên đường chính nghĩa


Phá gông xiềng đòi toàn vẹn núi sông


Ðòi quê Việt trả về cho dân Việt


Ðòi biển xanh cho ngư phủ vẫy vùng


Ðòi Bản Dốc, Nam Quan từng phân diện


Ðòi Hoàng Sa cho hải sử oai hùng


Tiếng em hát là lời đau đất nước


Là ngọn triều, là núi lửa, là gươm


Ðã xoáy mạnh vào Vết Thương Tổ Quốc


Máu vỡ ra từng mạch ngút căm hờn


Máu của Quang Trung, máu người Trưng Triệu


Máu của dân lành đỏ Tháng Tư Ðen


Máu Mậu Thân, máu Việt Nam trung hiếu


Sôi sục oan cừu trong tiếng hát em…


Ơi, tiếng hát làm rừng rung, biển động


Lay thức người say độc chất, ngủ quên


Tiếng hát hào hùng, tiếng hờn dân tộc


Giục giã lòng yêu nước đứng vùng lên


Em thét gọi và quê đang bừng tỉnh


Ðang vươn vai cho một cuộc lên đường


Lòng dân quyết như ý trời đã định


Khang ơi, Hoa Lài sẽ ngát quê hương…


(Ngô Minh Hằng)


 


Sĩ Khí


 


Ta vẫn đi trên con đường chính nghĩa


Dù sức mòn, lưng cuốn xếp vành vai


Tóc bạc trắng, khí phách không sờn phai


Quyết tranh đấu đến làn hơi phút cuối!


Ta vẫn đi con đường không nhục tủi


Coi xích xiềng như ngọc chuỗi linh thiêng


Xem tù tội là nơi dưỡng thần tiên


Nếu một mai theo hồn thiêng sông núi!


Ta vẫn đi theo đồng hành lứa tuổi


Sá gì thân dâng hiến cho quê hương


Tự ngàn xưa dòng máu đã cang cường


Lòng giữ mãi tình thương vô bờ bến!


Ta vẫn đi diệt cộng thù nguy hiểm


Rửa hờn căm cho Tổ quốc, dân ta


Ðường chính nghĩa trừ lũ quỉ gian tà


Lòng không phụ công ông, cha gầy dựng!


Ta vẫn đi noi gương hùng trí dũng


Của vĩ nhân từ trước cũng như sau


Ta vẫn đi đấp thành lũy, chiến hào


Dù có chết trong hương tàn khói lạnh!


(Mũ xanh Delta81BCD)

Viện Báo Chí Á Châu



Mai Hoàng


 


Viện Báo Chí Á Châu


 


Trong chiều hướng phát triển báo chí để phục vụ cộng đồng, Viện Báo Chí Á Châu (Asian Community Media Institute- ACMI) đã thành lập và phát triển nhiều công tác hữu ích đặc biệt. Tuy cơ sở do người Việt điều hành, nhưng mục đích phục vụ là cho cả cộng đồng Á Châu.










Học viên báo chí thực tập dự án tại Viện Báo Chí Á Châu.


Ðược thành lập từ tháng 10 năm 2010 ACMI đã đạt được nhiều dự án khả quan.


Trong lãnh vực huấn luyện báo chí cơ quan này đã tổ chức nhiều lớp cho học sinh trung học vào những mùa Hè, nhằm giúp các em có ý niệm về nghề báo, ngõ hầu khi lên đại học có thể theo học trường báo chí. Lớp huấn luyện cho người lớn được hoàn tất vào ngày 24 tháng 3 sau 10 tuần đào tạo.


ACMI và 11 trung tâm khác thuộc cộng đồng thiểu số trong Song Thành đã cùng với Ðại Học Minnesota tổ chức 3 năm dạy điện toán theo loại cao cấp với tên là Broadband Access Project. Dự án này được sự tài trợ của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ. Trước đây trung tâm cùng với MIGIZI communication cũng được một ngân khoản dạy điện toán căn bản cũ Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ.


Ngoài các chương trình dạy báo chí và điện toán, ACMI còn thực hiện các dự án phim tài liệu nói đến lịch sử và sinh hoạt của mỗi sắc dân trong khối người Mỹ gốc Á Châu. Cuốn phim tài liệu “Người Việt Trên Ðất Mỹ” đã được tạo dựng những bước căn bản cho việc thực hiện. Hiện nay ACMI cũng tham gia vào nhóm phim tài liệu Việt Nam để trình làng một phim lịch sử nói về Cộng Sản trên đất Việt.










Học viên báo chí chụp hình lưu niệm nhân ngày mãn khóa trước cơ sở của Viện Báo Chí Á Châu.


Viện Báo Chí Á Châu có chương trình thực tập (internship) cho sinh viên báo chí, người thích làm báo và làm phim. Viện cũng giúp các hội đoàn, các nhà đầu tư những dữ kiện căn bản cho việc phát hành báo in, báo mạng, phát thanh, truyền hình và phim ảnh.


Asian Media Community Institute


417 University Avenue W.


St. Paul, MN 55103


Phone: 651-287-3091


Fax: 651-224-7032


Email: [email protected]

Tâm Tình Người Con Việt


Trăng Vàng


 


Tâm Tình Người Con Việt


 


Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết là một khoa học gia chuyên ngành. Trong lãnh vực môi trường, ông đã viết rất nhiều, nào là Câu Chuyện Da Cam/Dioxin, Từ Bauxite Ðến Uranium, Những Vấn Ðề Môi Trường Việt Nam v.v…


  Ông đã đi rất nhiều nơi để diễn thuyết, trình bày, phân tích các hiểm họa môi trường. Nhưng lần này tác giả Mai Thanh Truyết chỉ muốn chia sẻ “những suy tư giản dị của một người con xứ Hậu Nghĩa và Tây Ninh.”


Là một người năng động ông đã dấn thân, trải qua nhiều gian truân nguy hiểm và chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại trong suốt 43 năm lăn lộn với đời.


Trăng Vàng xin được giới thiệu cùng quý độc giả và đồng hương tập truyện “Tâm Tình Người Con Việt” của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết.


Sách dày 274 trang, khổ nhỏ, được trình bày trang nhã do nhà xuất bản Enviro-Việt phát hành.


Muốn có sách xin liên lạc với nhà xuất bản Enviro-Việt qua địa chỉ:


Email: [email protected], Ðiện thoại: 714-322-8081

Sau thỉnh nguyện thư, ta làm gì nữa?


Hãy tiếp tay duy trì ban Việt Ngữ đài VOA


 


Tâm Việt


 


Vừa qua, Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ mà người trong nước quen gọi là Ðài “VOA” (đọc như “loa,” tắt cho nhóm chữ “Voice of America”) đánh dấu 75 năm thành lập đài.


 Thế có nghĩa là đài đã có mặt từ năm 1937 và những buổi phát thanh tiếng Việt đã bắt đầu từ năm 1942 trong Thế Chiến II khi Hoa Kỳ có nhu cầu đưa tiếng nói của mình vào Việt Nam trong cuộc chiến chống lại Nhật bản.


Tôi được cái may mắn đã gặp và quen với những người đầu tiên làm việc cho đài VOA ban Việt Ngữ, những người như ông Nguyễn Ðức Thanh và ông Lý Ðức Lâm. Ông Thanh là một thanh niên ở Hải Phòng khi quân đội Nhật bắt đầu sang VN vào năm 1940. Một hôm, ông thấy một quân nhân Nhật ăn hiếp một người VN. Tức khí, ông tát cho anh quân nhân Nhật kia một cái xong ngay sau đó, đã phải chạy trốn bán sống bán chết vì sợ người quân nhân kia sẽ kéo bè kéo đảng đến trả thù. Theo ông kể, bí đường trốn, ông bèn chạy lên một chiếc tàu ngoại quốc sắp ra khơi và thế là ông thoát rồi trở thành một thủy thủ. Về sau, khi tàu cặp bến New York ông nhảy tàu và ở lại để rồi dần dần trở thành công dân Mỹ và trong một thời gian dài, khoảng hơn 20 năm, đã là một thứ cột trụ mà người Việt Nam nào đi qua New York cũng quen biết và được đón rước về nhà đãi đằng một cách rất ân cần.


Sở dĩ ông thành được công dân Mỹ dù đi lậu vào Hoa Kỳ là vì người Mỹ rất thực tiễn, khi họ cần người thì họ không hỏi anh học tới đâu, có bằng cấp gì về phát thanh không mà lập tức thu nhận vào đài, rồi tìm cách huấn luyện anh sau. Ðó là lý do ông Nguyễn Ðức Thanh, tuy có tật cà lăm vẫn được thu nhận như thường. Còn ông Lý Ðức Lâm thì là người Nghệ, giọng rất nặng, nhưng cũng vậy, Mỹ họ không cần biết ông ta có nói tiếng tiêu chuẩn hay không, họ thâu nhận liền và còn cho dạy cả tiếng Việt cho những quân nhân hay nhà tình báo đầu tiên của Mỹ (như trong OSS, Office of Strategic Services, tiền thân của CIA) gửi sang VN thời bấy giờ. Có lẽ vì ông Lâm không hẳn đã là một nhà giáo nên phía Mỹ họ đã cặp ông với một nhà ngôn ngữ học lịch sử hàng đầu của Mỹ lúc bấy giờ đang dạy ở Columbia University, ông Murray B. Emeneau, một chuyên gia thượng thặng về tiếng Phạn (Sanskrit) của Ấn Ðộ. Cứ như thế, ông Lâm dạy đến đâu thì ông Emeneau phỏng vấn ông tới đó để tìm ra những nguyên tắc về ngữ pháp tiếng Việt, và cuối cùng ông đã viết được nên một trong những cuốn ngữ pháp giá trị nhất về tiếng Việt của chúng ta (cuốn Studies in Vietnamese (Annamese) Grammar mà viện Ðại Học Berkeley in ra năm 1951).


Ông Thanh thì mất đã lâu, khoảng cuối thập niên 1960 ở New York, nhưng ông Lâm thì sau này còn đi theo đài VOA xuống làm việc nhiều năm ở đó khi đài chuyển về Washington DC và ông chỉ mất ở Maryland cách đây khoảng 10 năm hơn mà thôi.


 


Tin động trời


 


Với một đài có lịch sử lâu năm như thế gắn bó với VN, người ta không khỏi sửng sốt khi gần đây có tin là, viện cớ chính phủ Mỹ cần tiết kiệm ngân sách, Ban Việt Ngữ Ðài VOA cần giảm nhân viên từ 14 người xuống còn có 5 người. Nói cách khác, đây là một hình thức dẹp luôn chương trình này, sau khi nó đã tồn tại 70 năm (1942-2012). Rõ ràng đây là một chuyện làm mờ ám, có thể là vì ban Việt Ngữ hiện không có giám đốc, tức là một người có thể nhân danh nó mà tranh đấu cho sự duy trì chương trình.


Tin này khủng khiếp tới mức, ở ngay từ ở VN đã có sự lên tiếng của Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ từ hôm 27 tháng 2, 2012. Viết thư cho Tổng Thống Obama cũng như Chủ Tịch Hạ Viện (tức Chủ Tịch Quốc Hội) John Boehner, vị đệ ngũ tăng thống của Giáo Hội Phật Giáo VN Thống Nhất nói:


“Trong những năm dài bị lưu đày, sống cô lập trong ngôi chùa nhỏ ở miền Bắc từ năm 1982 đến 1992, đài phát thanh là phương tiện duy nhất nối tôi với thế giới bên ngoài. Mỗi ngày, tôi theo dõi các đài quốc tế, trong có Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ – VOA. Ðối với tôi, các đài ấy là cầu nối thực hữu đưa tôi về sự sống. Không những cung cấp cho tôi tin tức trong thế giới, mà chúng còn là người bạn đồng hành, giúp tôi thoát cảnh quạnh hiu. Trong những ngày đen tối ấy, cùng bị lưu đày theo tôi, mẹ tôi đã qua đời vì đói và lạnh, các đài quốc tế đã giúp tôi bớt cô độc, giữ vững tinh thần và đương đầu với hoàn cảnh.


Tôi vừa được tin Ðài VOA sẽ bị cắt giảm ngân sách và có nguy cơ chấm dứt các chương trình phát thanh về Việt Nam. Ðây sẽ là sự mất mát lớn, không những cho hàng triệu thính giả tại Việt Nam và tại các nước phi dân chủ khác, mà còn là sự mất mát cho Hoa Kỳ, vì đài VOA cưu mang cho cả uy thế của Hoa Kỳ.


“Trong thế giới dân chủ, tin tức được xem như chuyện hiển nhiên. Từ những nguồn khác nhau, tin tức tràn ngập tới các quốc gia bằng báo chí, đài phát thanh, Internet hay truyền hình, nhiều đến nỗi không biết nên chọn thứ gì. Tại Việt Nam thì không được như thế. Dưới chế độ độc đảng, nước chúng tôi chẳng có báo chí tự do, chẳng có đài phát thanh hay truyền hình tư nhân và độc lập. Ðảng Cộng Sản kiểm soát mọi nguồn tin. Ngay cả truyền hình vệ tinh quốc tế chỉ phát đi ba mươi phút sau, để cho Ðảng Cộng Sản có thể nghe trước và kiểm duyệt những chi không thích ứng. Ðối với người dân sống dưới chế độ kiểm duyệt, nghe được các đài quốc tế như đài VOA là chuyện cực kỳ quan trọng. Sẽ là một bi kịch nếu Tiếng Nói Hoa Kỳ – VOA – bị giảm thiểu thành “tiếng thì thầm của nước Mỹ.” Tôi hy vọng rằng tổng thống sẽ khẩn cấp xét lại vấn đề này, và tiếp tục lưu giữ chương trình phát thanh cùng tiếng nói thiết yếu ấy.”


 


Tiếng nói của các nhà dân chủ


 


Ngày hôm sau, ba nhà tranh đấu cho dân chủ ở Hà Nội cũng tức khắc viết thư chung cho Quốc Hội Hoa Kỳ, với nội dung như sau:


 


“Hà Nội, ngày 28 tháng 2 năm 2012


Kính thưa các vị dân biểu, các thượng nghị sĩ của Quốc Hội Hoa Kỳ


Chúng tôi, những người ký tên dưới đây xin gửi tới các ngài thỉnh nguyện thư kêu gọi sự ủng hộ của các ngài dành cho Ban Việt Ngữ VOA.


Chúng tôi được biết ban lãnh đạo VOA có kế hoạch ngừng chương trình phát thanh của VOA tiếng Việt, đồng thời cắt giảm từ 14 nhân viên xuống còn 5 nhân viên. Chúng tôi cho rằng kế hoạch này không phù hợp với tình hình hiện nay tại Việt Nam.


Ðài VOA tiếng Việt đã phát sóng về Việt Nam trong suốt hơn 60 năm qua, nó đã chuyển tải tiếng nói của nhân dân Hoa Kỳ đến nhân dân Việt Nam. VOA tiếng Việt đã cung cấp những thông tin trung thực và cần thiết từ khắp nơi trên thế giới cho nhân dân Việt Nam.


Ðài VOA tiếng Việt đã và đang được đông đảo người dân Việt Nam trên khắp cả nước, mà đặc biệt là ở các vùng nông thôn và miền núi lắng nghe. Bởi ở những nơi đó báo chí của nhà nước Việt Nam và internet chưa được kết nối.


Ðài VOA tiếng Việt đã thực sự là người bạn thân thiết và tin cậy của nhân dân Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ qua.


Ðặc biệt, đối với những người đang tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Việt Nam. Những người đang mong muốn xây dựng mối quan hệ đồng minh với chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ. VOA tiếng Việt là công cụ, phương tiện để chúng tôi bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình với nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế. Ðó là những điều mà chúng tôi không thể có được ở trong đất nước Việt Nam. Trong khi chính phủ cộng sản có trong tay khoảng 70 đài phát thanh và truyền hình, cùng với hơn 600 tờ báo, tạp chí. Chính phủ Cộng Sản Việt Nam đã đầu tư hàng trăm triệu đô-la mỗi năm để duy trì hoạt động của những đài phát thanh và báo chí. Với mục đích duy trì chế độ độc đảng phi dân chủ, chế độ này không đem lại lợi ích cho chính nhân dân Việt Nam cũng như lợi ích của Hoa Kỳ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Hiện nay, phong trào đấu tranh dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam đang có bước phát triển mạnh mẽ. Vì vậy, chúng tôi rất cần sự hỗ trợ của đài VOA tiếng Việt trong việc chuyển tải thông tin đến nhân dân Việt Nam và bạn quốc tế.


Bởi sự cần thiết của đài VOA tiếng Việt đối với nhân dân Việt Nam. Và đó cũng là ảnh hưởng của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ với nhân dân Việt Nam. Vì lợi ích chung của nhân dân hai nước.


Chúng tôi kêu gọi các thành viên của Quốc Hội Hoa Kỳ, chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ hay ủng hộ cho việc tiếp tục duy trì chương trình phát thanh của đài VOA tiếng Việt.


Chúng tôi chân thành cảm ơn.


Ký tên:


Luật Sư Nguyễn Văn Ðài, Luật Sư Lê Quốc Quân, Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn.”


 


Từ Ðài Loan


 


Từ Ðài loan, ngày 2 tháng 3, hai Linh Mục Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Hùng Cường cũng có thư gởi bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton để nói:


“Là những linh mục Công Giáo đã từng giúp đỡ cho hàng ngàn nạn nhân của việc buôn người từ VN sang Ðài Loan từ gần một thập kỷ, chúng tôi có thể làm chứng về giá trị của các chương trình phát thanh tiếng Việt của Ðài VOA. Những buổi phát thanh này đã mang lại hy vọng cho người dân Việt về một tương lai khá hơn trong đó có tự do, dân chủ và nhân phẩm. Trong khi các tự do căn bản tiếp tục bị đàn áp ở Việt Nam và Hà Nội thì cưỡng lại những lời kêu gọi đương đầu với tệ nạn buôn người, chúng tôi tin tưởng mãnh liệt rằng việc tiếp tục các chương trình tiếng Việt của Ðài VOA còn thiết yếu hơn bao giờ hết để mang lại những đổi thay dân chủ ở VN và đẩy mạnh việc gắn bó hơn nữa trong quan hệ giữa hai dân tộc. Chúng tôi khẩn khoản yêu cầu bà hãy can thiệp để giữ lại chương trình phát thanh tiếng Việt trên Ðài VOA vì lợi ích quốc gia của cả hai nước, nhất là trong khi Hoa Kỳ đang ‘trở lại Á Châu’ để bảo vệ tốt hơn nữa nền hòa bình, an ninh và thịnh vượng trong khu vực.”


 


Vì sao ta cần nhập cuộc?


 


Dựa lên trên ba chứng từ nặng ký trên đây, chúng ta có thể thấy hết cả sự nguy ngập của tình hình nếu như Ban Quản Trị các đài phát thanh phát hình (BBG, Broadcasting Board of Governors) của Mỹ nhất quyết tiến hành với ý định dẹp bỏ 2/3 số nhân viên của Ban Việt Ngữ Ðài VOA trong một ngày rất gần đây.


Là những người Mỹ gốc Việt, trước nhất chúng ta cần đồng cảm với các đồng bào ở trong nước. Nói như Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, chúng ta ở ngoài này, ở trong một nước tự do, chúng ta dễ coi chuyện thông tin là quá tự nhiên, bất cứ giờ nào ta muốn tìm tin tức về bất cứ vấn đề gì trên thế giới, ta có thể tức khắc có ngay: qua báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình và Internet. Vì thế nên ta dễ tưởng lầm là ở VN giờ đây, người dân VN cũng dễ có tin tức và những quan điểm, xã luận hay thảo luận đa chiều về đủ mọi vấn đề trên thế giới. Nghĩ như vậy là chúng ta sai hoàn toàn và đó có lẽ là lý do ở ngoài này, chúng ta chưa thấy có phong trào hay một cuộc vận động rầm rộ để mà cứu các chương trình Việt ngữ của Ðài VOA.


Ðồng ý là hôm mồng 6 tháng 3 vừa qua, trong cuộc ra quân rầm rộ của hơn 500 đồng bào lên náo động Quốc Hội Hoa kỳ, cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện, chúng ta đã đến thăm được gần 200 văn phòng dân biểu nghị sĩ để đưa những yêu cầu và nguyện vọng của chúng ta về nhân quyền, chúng ta cũng đã nêu được ra quan tâm của chúng ta về quyết định thiếu suy nghĩ của Ban Quản Trị các đài phát thanh phát hình. Trong đoạn 8 của bảng lập luận (“Talking Points”) mà các phái đoàn mang lên Quốc Hội hôm đó, chúng ta có nêu ra:


“Thí dụ, gần đây Ban Quản Trị các đài phát thanh phát hình (Broadcasting Board of Governors) quyết định cắt bỏ ngân sách cho chương trình phát thanh tiếng Việt của Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ. Trong một nước [như VN] mà tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng nằm trong tay chính phủ, Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ cũng như Ðài Á Châu Tự Do là những cánh cửa vô cùng quan trọng để nhìn ra thế giới bên ngoài cũng như là những nguồn tin không bị kiểm duyệt. Lẽ ra, cộng đồng chúng tôi cần phải được tham khảo về những hiệu ứng có thể của một sự cắt giảm ngân sách dữ dội như vậy cũng như là thông điệp mà một sự cắt xén như vậy sẽ đưa đến cho chính phủ và nhân dân VN.


Do vậy chúng tôi yêu cầu dân biểu hay nghị sĩ:


…( 4) Bảo vệ chương trình Việt ngữ của Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ để cho nó khỏi bị những cắt xén dữ tợn như đang được Ban Quản Trị các Ðài phát thanh phát hình dự tính.”


Mặc dầu tiếng nói của hơn 500 đồng bào đã góp vào việc vận động cho Ðài Tiếng Nói Hoa Kỳ hôm rồi, điều này vẫn chưa đảm bảo là Ban Quản Trị các đài phát thanh phát hình đã nghe ra chúng ta. Vì thế nên chúng ta cần “bồi thêm” bằng cách viết cho các dân biểu nghị sĩ của đơn vị hay tiểu bang chúng ta một lá thư đơn giản, mà nội dung có thể chỉ như sau (độc giả có thể chép lại và điền những chỗ thiếu rồi gởi đi):


[Tên thành phố… Ngày]


Honorable [Tên dân biểu hay nghị sĩ]


[Ðịa chỉ văn phòng ở Washington hay ở địa phương]


Dear Senator (hay Congressman):


We have learned to our dismay that the Broadcasting Board of Governors has recently decided to cut out 2/3 of the personnel (9 out of 14 staff) of the Vietnamese Service at the Voice of America, pretexting the need to cut down on the budget of VOA.


We believe this to be an unconscionable act on the part of the BBG in view of the fact that such a cut would basically represent the elimination of a service that for fully sixty years has faithfully played the role of daily and living link between the government and people of the United States and the Vietnamese people.


Apparently, the people proposing such a cut have no idea what people’s diplomacy is about and what the role of a media like the Voice of America represents. At a time when the avowed aim of the United States is to wish to see Vietnam democratized, it is unimaginable that one would want to cut the only source of official news coming from the United States of America.


With this letter, I would therefore plead with you to use your best influence not to let such an unwise proposition become reality. Please save the VOA Vietnamese Service.


Sincerely yours,


(Ký tên và địa-chỉ, số ÐT hay/và E-mail)

Ðại Học Rice thảo luận về Lịch sử người Mỹ gốc Việt



Sự đóng góp của các nhà giáo dục trẻ Mỹ gốc Việt


Rice thành lập thư khố về người Mỹ gốc Á Châu


 


Triều Giang


 


Người Mỹ gốc Á đông nhất Houston


 


“Hiện người Mỹ gốc Việt là sắc dân Mỹ gốc Á đông đảo nhất tại Houston với con số trên 80,000 người, theo thống kê của cuộc kiểm tra nhân số 2010. Sau đó là người Ấn Ðộ và người Tàu. Trước đây người Tàu đứng số một.


 







Các thuyết trình viên đang trả lời câu hỏi của khách tham dự. (Hình: VAHF)


 Tuy nhiên,vì người Mỹ gốc Việt hầu hết từng là những người tị nạn chính trị từ năm 1975 nên trình độ học vấn, mức lợi tức còn thấp so với những sắc dân Á Châu khác khá xa. Ngoài ra, cộng đồng người Việt cũng còn không ít những khó khăn cần phải có sự lưu tâm của chính phủ để có thể vượt qua.”


Ðó là lời phát biểu của Giáo sư Tiến sĩ Stephen L. Klineberg và cũng là một sử gia danh tiếng của Ðại Học Rice tại Houston trước một cử tọa khoảng trên 70 nhà nghiên cứu, giáo sư, sinh viên và một số những người quan tâm, tham dự cuộc hội thảo về đề tài: “Người Mỹ gốc Việt trong khối người việt hải ngoại 35 năm sau chiến Việt Nam” (Vietnamese American in the Global Diaspora 35 Year After the Vietnam War) do Ðại Học Rice tổ chức tại Chao, trung tâm nghiên cứu về Người Mỹ gốc Á Châu, vào lúc 4 giờ 30 chiều ngày 17 tháng 2 vừa qua với mục đích giới thiệu tới những nhà nghiên cứu và giáo dục tại Ðại Học Rice một công trình nghiên cứu mới. Ðó là: kiến thức về lịch sử và văn hóa người Mỹ gốc Việt, một trong những nhóm di dân trẻ nhất tại Hoa Kỳ.


 


Nhưng ít được chú ý nhất


Cũng theo Tiến Sĩ Klineberg, sách sử và truyền thông Hoa Kỳ vẫn chưa quan tâm đúng mức tới người Mỹ gốc Á nói chung, mặc dù người Mỹ gốc Á đã đi được một đoạn đường khá dài so với năm 1890, là năm mà Hoa Kỳ có đạo luật cấm sự di dân của người Á vào Hoa Kỳ và những người Á Châu có mặt tại Mỹ lúc bấy giờ, không có quyền công dân và không được hưởng bất kỳ phúc lợi gì. Riêng với người Mỹ gốc Việt thì hầu như còn vắng bóng trong lịch sử Hoa Kỳ, hoặc có cũng rất ít oi mặc dầu chiến tranh Việt Nam đưa họ đến đây đã hơn 35 năm qua.










Người tham dự phần đông là giới trẻ trong ngành giáo dục. (Hình: VAHF)


Vắng bóng trong lịch sử Hoa Kỳ


 


Ngoài Tiến Sĩ Klineberg còn có bốn thuyết trình viên khác: Tiến Sĩ Võ Thúy Ðặng, thuộc đại học California tại Irvine (UCI), Tiến Sĩ Linda Ho Peche của Ðại Học Texas tại Austin (UT Austin), nhà văn Andrew Lâm, từ San Jose, và bà Nancy Bùi thuộc hội Bảo Tồn Văn Hóa và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt (VAHF).


Tiến sĩ trẻ Võ Thúy Ðặng đã trình bày phần nghiên cứu của cô về người Mỹ gốc Việt, cô cho rằng báo chí và một số những công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ thường nói về người Mỹ gốc Việt như những nạn nhân của chiến tranh, hoặc là một nhón di dân gương mẫu, hay là những người tị nạn chỉ quan tâm đến vấn đề chính trị và thường bỏ quên sự đa dạng cũng như những đóng góp quan trọng của sắc dân này trong mọi lãnh vực. Cô cũng giới thiệu đến cử tọa chương trình Lịch sử Truyền khẩu (The Vietnamese Oral Heritage Project-VOHP) mà cô đang thực hiện tại UCI và sự hợp tác của UCI với chương trình 500 Lịch Sử Phỏng Vấn của Hội VAHF.










Nancy Bui (VAHF), bên trái. Thúy Võ Ðặng (UCI, giữa). Linda Ho Peché (Hình: UT Austin)


Nhà văn Andrew Lâm trình bày về những khó khăn của người trẻ Mỹ gốc Việt lớn lên trong hai nền văn hóa Việt và Mỹ. Những yêu thương bảo bọc nhưng đầy những kỷ luật khắt khe của bậc cha mẹ trước bao chào mời đầy hấp dẫn của xã hội, khiến người trẻ lớn lên trong nhiều áp lực khó quên. Ông cũng giới thiệu hai cuốn sách đã xuất bản của ông: Hương Perfum River và East Eat West trước khi đọc một đoạn văn ngắn trong Hương Perfum River trước sự thích thú của cử tọa. Andrew hiện là một editor cho nhà xuất bản?


 


Những cố gắng nhằm cải thiện


 


Giáo Sư Linda Ho Peche’ trình bày về sự thiếu vắng của lịch sử người Mỹ gốc Việt trong lịch sử Hoa Kỳ và trong sách giáo khoa khiến cho việc giảng dạy về lịch sử và văn hóa người Mỹ gốc Việt thật khó khăn. Ðó là lý do khiến cô và Trung Tâm Nghiên cứu Lịch Sử Người Mỹ Gốc Á (CAAS) tại đại học UT tại Austin hợp tác với hội VAHF, một hội thiện nguyện từ trong cộng đồng đứng lên để tiếp tay với các đại học và sử gia cải thiện sự thiếu sót này.


Ðể nói về lý do khiến bà và hội viên Hội VAHF đã thành lập hội trên 7 năm qua, bà Nancy Bùi kể lại câu chuyện của người con gái của bà đã bị điểm F cho bài luận viết về VN dựa trên những kinh nghiệm và hiểu biết của bà. Khi bà đến nói chuyện với nhà trường thì được giải thích là những điều viết trong bài luận không hề có trong sách vở tại Hoa Kỳ. Sau hơn bảy năm thành lập, hội đã cùng với Ðại Học Texas Tech hoàn thành bộ sưu tập nói về tù nhân chính Việt Nam. Bộ sưu tập thứ hai về làn sóng định cư vĩ đại của gần 200,000 người tị nạn đến Hoa Kỳ qua hải đảo Guam và bộ sưu tập thứ ba là 500 Lịch Sử Phỏng Vấn hội đang kết hợp vói CAAS và Liên Hội Sinh Viên vùng Bắc Mỹ uNAVSA để thực hiện. Bà Bùi tỏ lời cám ơn Ðại Học Rice đã quan tâm và hy vọng nhiều đại học khác sẽ mở phân khoa nghiên cứu về người Mỹ gốc Á với môn học về người Mỹ gốc Việt để chương sử Người Mỹ gốc Việt, một phần quan trọng của lịch sử Hoa Kỳ được chú tâm đúng mức.


Những người tham dự sau đó đã đặt nhũng câu hỏi về làm thế nào để lịch sử về các sắc dân Á Châu có chỗ đứng xứng đáng cũng như chính phủ Hoa Kỳ cần phải quan tâm nhiều hơn nữa. Tham luận viên đã đề nghị nhiều giải pháp như vận động với chính phủ, với phụ huynh và sinh viên hãy khuyến khích nhiều người theo học những môn sử người Mỹ gốc Á và kêu gọi các đại học mở nhiều hơn phân khoa học về người Mỹ gốc Á. Một số người tham dự tỏ vẻ vui mừng và cám ơn nhũng giáo sư trẻ thuộc thế hệ thứ hai của người Mỹ gốc Việt cũng như hội VAHF đã có những nỗ lực và đóng góp trong việc viết lên trang sử trung thực và đúng đắn để đưa vào chính sử Hoa Kỳ.










Nhà văn Andrew Lâm (California) và Tiến Sĩ Kimberly Hoàng tại Ðại Học Rice. (Hình: VAHF)


Buổi hội thảo đã kết thúc vào lúc 6 giờ 30 chiều cùng ngày. Trong hàng ngũ quan khách, chúng tôi còn nghi nhận được sự có mặt của một số thân hào nhân sĩ người Mỹ gốc Việt và bà Sara Hoàng, chủ tịch cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Houston.


Trung Tâm Chao sau đó đã liên lạc với Hội VAHF để bàn về sự hợp tác giữa Ðại Học Rice và Hội VAHF trong những ngày sắp tới.


 


Sinh viên nghèo được học miễn phí tại Rice?


 


Tiến sĩ trẻ Kimberly Hoàng trong dịp này cũng cho biết Rice là một đại học tư nhân danh tiếng đứng hàng thứ năm trên toàn nước Mỹ, sinh viên tốt nghiệp tại đây hầu hết được thu nhận bởi các cơ quan tầm vóc quốc tế như World Bank, Liên Hiệp Quốc, hoặc các công ty đứng hàng đầu trong mọi ngành nghề. Hơn thế nữa, Rice còn nằm tại trung tâm thành phố Houston, nơi có đông đảo người Mỹ gốc Việt sinh sống nhưng số sinh viên người Mỹ gốc Việt theo học tại đây còn rất khiêm nhường. Vẫn theo cô Kimberly thì một trong những lý do chính là vì sự hiểu biết không cặn kẽ về giá học phí của Rice. Dù Rice có giá học phí cao, nhưng nếu phụ huynh của sinh viên có lợi tức dưới $80,000 sinh viên có đủ điểm để nhận vào Rice sẽ gần như được học miễn phí hoặc trả một số tiền rất tượng trưng nhờ nhữờng chương trình học bổng cũng như trợ giúp sinh viên với lợi tức thấp rất dồi dào tại Rice. Cô Kimberly cho biết cô sẵn sàng hướng dẫn việc điền đơn cho nhũng sinh viên muốn theo học cử nhân 4 năm tại Rice. Cô Kimberly cũng cho biết Ðại Học Rice mong mỏi được liên kết chặt chẽ với cộng đồng người Việt Houston để có những hỗ trợ hỗ tương và cô sẵn sàng làm cầu nối. Xin liên lạc với Kimberly Hoàng qua email: [email protected]


Tháng 2, 2012

Cặp vợ chồng đồng tính ở East Bay tranh đấu chống trục xuất

 


Jennifer Modenessi – Contra Costa Times


Thẩm Vân dịch


 


Ông Brian Willingham có thể đã xin được cho chồng mình, ông Alfonso Garcia, khỏi bị trục xuất lúc này, nhưng việc chống lại trục xuất của cặp đồng tính này còn rất khó khăn.










Cặp hôn nhân đồng tính Brian Willingham and Alfonso Garcia. (Hình: Karl Mondon)


Một thẩm phán nhập cư hôm Thứ Năm đã hoãn việc trục xuất ông Alfonso Garcia về Mexico cho đến Tháng Mười. Việc hoãn này, được thực hiện theo quyết định của thẩm phán, sẽ cho phép Sở Công Dân Hoa Kỳ và Nhập Cư, gọi tắc là USCIS, xem xét trong vòng bảy tháng đơn xin thị thực nhập cảnh (visa) hôn nhân mà Willingham đã đệ nạp cho người phối ngẫu của mình hồi đầu năm nay.


Vấn đề là, cuộc hôn nhân của họ bị ngăn trở bởi đạo luật Defense of Marriage, gọi tắt là DOMA. DOMA, một đạo luật liên bang đã được thông qua vào năm 1996, định nghĩa hôn nhân là sự liên kết hợp pháp giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Mặc dù nó đã được Tổng Thống Barack Obama cho là không công bằng và được xét xử trái với Hiến Pháp bởi các thẩm phán, kể cả Thẩm Phán Jeffrey White của Tòa Án Liên Bang ở San Francisco, luật này vẫn còn hiệu lực.


Vì vậy, không giống như những cặp vợ chồng dị tịch khác giới khác đang dự phiên điều trần trục xuất, ông Willingham, 37 tuổi, và ông Garcia, 35, cưới nhau ở New York năm ngoái, không được phép hoãn hoặc chấm dứt các thủ tục trục xuất để tiếp tục xin thẻ xanh cho Garcia.


Willingham cho biết trong khi quàng cánh tay của ông qua người phối ngẫu: “Ðối với các cặp vợ chồng có quốc tịch Hoa Kỳ, số lượng visa lúc nào cũng sẵn, không giới hạn. Không hề có hạn ngạch hoặc giới hạn về điều đó, trừ khi họ là đồng tính.”


Cặp vợ chồng này sẽ trở lại tòa án vào Tháng Mười, lúc đó các thẩm phán và luật sư của chính phủ sẽ kiểm tra xem những gì đang xảy ra với kiến nghị dựa trên hôn nhân của họ. Willingham cho biết nếu pháp luật thay đổi trước đó, thì kiến nghị có thể được phê duyệt và thẻ xanh được cấp cho Garcia. Hay chính phủ có thể giữ lại hoặc hoãn lại, nghĩa là họ sẽ không chấp nhận mà cũng không phủ nhận điều đó.


Luật sư của cặp vợ chồng Willingham và Garcia, ông Lavi Soloway, cho biết: “Ðây cũng là một loại kiến nghị mà bất kỳ cặp công dân Hoa Kỳ nào cũng phải nộp khi xin visa. Mục tiêu của chúng tôi là muốn cho Brian và Alfonso được đối xử theo cùng một cách như các cặp vợ chồng khác cùng tình huống.” Nếu Garcia bị trục xuất, ông sẽ không thể trở lại Hoa Kỳ một cách hợp pháp trong vòng 10 năm.


Kể từ khi được cha mẹ đưa tới Hoa Kỳ từ Michoacan, Mexico, khi ông mới được 14 tuổi, Garcia luôn cho rằng East Bay là quê hương của ông. Ông đã sống với Willingham và con chó Maggie trong một cabin thuộc vùng đồi East Bay. Cách xa nơi ồn ào náo nhiệt của đô thị đang phát triển, nơi trú ẩn yên bình của họ cách xa nhà tù Dublin, nơi mà Garcia được đưa đến hồi năm ngoái sau khi bị một cảnh sát chận lại để kiểm tra giao thông.


Bị ép dừng xe ngay trên Bay Bridge vì lý do đi quá tốc độ, Garcia được lấy dấu tay. Và chỉ trong vài giờ sau, ông đã bị giữ lại để tra xét tình trạng nhập cư. Mặc dù chị gái của ông, một công dân Hoa Kỳ, đã nộp đơn xin thẻ xanh cho ông hơn một thập niên trước, nhưng thủ tục giấy tờ của ông bị chậm lại vì hồ sơ thuộc diện ưu tiên thấp.


Sau vài lời giải thích, ông được đưa đến giam ở nhà tù Oakland trước khi được chuyển đến nhà tù ở Santa Rita. Ðể bảo đảm an toàn, ông lại được chuyển sang biệt giam.


Willingham cũng đã được báo cho biết việc Garcia bị bỏ tù. Sau đó, Garcia lại được đưa đến San Francisco, nơi ông nhìn thấy người phối ngẫu của mình trong 10 phút và đã được nhanh chóng chuyển đến giam ở Arizona. Ông đã được thả vài tuần sau đó và Willingham tìm thấy ông gần một trạm Greyhound.


Họ đã ở với nhau nhiều tuần lễ, cố gắng trở lại cuộc sống bình thường; sau đó, họ gia nhập nhóm Ngưng Trục Xuất – Dự Án DOMA, do một nhóm ủng hộ đồng sáng lập bởi luật sư của họ để giúp nâng cao nhận thức về những gì họ và những người khác đang trải qua. Willingham nói về hoàn cảnh pháp lý của mình: “Dường như chính quyền thiết lập hai hệ thống: một, dành cho các cặp khác phái tính, và một, dành cho các cặp vợ chồng đồng phái tính.”


Tuy nhiên, ông nhận ra họ không phải là những người duy nhất phải đối mặt với những trở ngại. Có hàng ngàn cặp đồng tính dị tịch khác đang chung sống với nhau tại Hoa Kỳ.


“Có lẽ chúng tôi là cặp được đăng tin tuần này về vấn đề này, nhưng còn có khoảng 40,000 cặp vợ chồng khác cũng cùng đối mặt với vấn đề này.”


Amos Lim, đồng sáng lập nhóm Out4Immigration, một nhóm thiện nguyện giải quyết vấn đề luật di trú và các ảnh hưởng của họ về cộng đồng LGBT (tức cộng đồng những người đồng, lưỡng và chuyến phái tính), cho biết trường hợp tương tự của Willingham và Garcia đã được giảm xuống, nhưng nó tùy thuộc quyết định của công tố viên và thẩm phán. Nhiều cặp vợ chồng đồng tính dị tịch đã rời phải khỏi đất nước hoặc duy trì mối quan hệ lâu dài, đến thăm nhau mỗi năm một lần. Lim cho biết, mọi thứ không có gì thay đổi, cuộc sống con người vẫn bị chia cách.


Trong khi Willingham thừa nhận rằng có rất nhiều phúc lợi khác mà những cặp vợ chồng đồng tính không được hưởng, nhưng ngay lúc này, ông chỉ quan tâm đến việc xin visa cho chồng mình. Ông nói: “Những gì chúng tôi đang yêu cầu là được đối xử công bằng như bất kỳ cặp vợ chồng nào khác.”

Mẹ của cô Vũ Phương Anh, nhân chứng nạn buôn người, bị đâm trả thù

Hôm Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012, vào khoảng 6 giờ chiều, mẹ của cô Vũ Phương Anh đã bị “một nhóm người” đâm trọng thương ngay tại quê nhà.










Cô Vũ Phương Anh (thứ nhì từ bên phải), nạn nhân của nạn buôn người, phát biểu trước tiểu ban nhân quyền của Ủy Ban Ðối Ngoại Hạ Viện Hoa Kỳ, tháng 1, 2012. (Hình: VOA)

 


Theo lời cô trình bày qua mạng Paltalk, thì từ mấy năm nay mẹ cô liên tục bị gọi điện thoại để khủng bố tinh thần, bị “va quẹt” dằn mặt trên đường phố và đỉnh điểm là vụ sát thương hôm Thứ Sáu vừa qua. Hiện tình trạng của bà rất nguy kịch.


Ðược biết cô Vũ Phương Anh, cùng với gần ba trăm cô gái khác, đã bị bọn môi giới lao động trong nước lừa đi lao động tại Jordan, họ đã bị Ðại Sứ Quán Việt Nam tại Jordan bỏ rơi, thậm chí hợp tác với chủ lao động gọi cảnh sát nước sở tại đàn áp dã man. Một số đã bị cưỡng bức quay lại làm việc, một số “cứng đầu” bị lùa về nước trong tình trạng thể chất bị đánh đập, tinh thần hoảng loạn, nhà cửa và tài sản bị mất trắng do cầm cố cho môi giới lao động. Sau một thời gian lẩn tránh sự truy sát từ phía xã hội đen lẫn đỏ của Việt Nam ngay tại đất Thái Lan, hiện nay cô được cấp quy chế tị nạn tại Hoa Kỳ.


Ðây là hành động trả thù đê tiện của phía chính quyền Việt Nam qua việc cô Vũ Phương Anh đã dám công khai tố cáo nạn buôn người lao động trước Quốc Hội Hoa Kỳ hồi tháng 1 và 2, 2012 vừa qua.


 

Tên của bạn là gì?


 Mục Tử Vi


 


 


Sen Trắng


 


Vừa lọt lòng mẹ, con đã được đặt tên, và cái tên đó sẽ đi theo con suốt cuộc đời này… Tên có thể là niềm tự hào, là nguồn động viên nâng mỗi bước con đi.


  Nhưng cũng có người lại cảm thấy xấu hổ, tủi thân, thậm chí tức giận mỗi khi ai đó gọi tên mình, hoặc khi nghĩ đến người đã đặt tên cho mình.


Năm tháng trôi qua, con người cảnh vật thay đổi nhưng Tên chúng ta đa phần đi theo đến ga cuối cuộc đời, ngự trên bia mộ… Và ngoài danh xưng, chúng ta còn có tên Thánh, Pháp Danh…


Duyên nghiệp cho chúng ta làm người, trong cõi nhân sinh ấy, ta có duyên Ông Bà, Bố Mẹ, Anh Em, bạn hữu và cả kẻ thù. Duyên nghiệp cũng ban cho ta một danh xưng. Và vì thế không có gì đáng ngạc nhiên khi Sen tôi viết rằng: “Tên người có trong lá số tử vi.”


Trong cùng một giờ có biết bao sinh linh chào đón cuộc đời. Trong một lớp học đa phần có điểm chung là cùng năm sinh, cùng chung một mái trường, một lớp học, cùng là học trò của một nhóm thầy cô. Ðó là điểm chung tối thiểu của một tập hợp những con người sinh cùng năm ở cùng một địa phương. Trong những điểm chung đó, chúng ta hãy nhìn danh sách lớp thì sự khác cái tên thuộc phần đa số. Phải chăng danh xưng của một con người là điểm ta cần lưu ý khi quán xét một lá số tử vi?


Có những người khác nhau có cùng năm tháng ngày giờ sinh, ngoại trừ trường hợp sinh đôi (không phải là đối tượng được đề cập ở bài này) thì một điều chắc chắc có những điểm khác nhau nữa, đó là:


Khác nhau Bố Mẹ – họ tộc, khác nhau địa lý sinh và thành. Những điều khác nhau đương nhiên đó đã góp phần làm khác đi hai số phận có cùng một lá số tử vi. Và đa phần đó là khác nhau về Tên ố Danh xưng.


Sự khác nhau của Tên chính là sự khác nhau về gốc gác gia đình, họ tộc, văn hóa địa phương cho đến khác nhau về địa lý quốc gia. Và chính vì khác nhau đó dẫn đến những số phận khác nhau cho những lá số có cùng năm tháng ngày giờ sinh.


Tên của bạn được thấy ở đâu trong lá số Tử vi?


Nó được tìm thấy ở cung Mệnh, mà cung Di đã nhìn thấy nó và gọi ra tên bạn.


Nó được tìm thấy ở cung Phụ Mẫu, ở cung Huynh Ðệ, và cả cung Nô.


Một lá số có thể có rất nhiều cái tên sẽ xuất hiện tương ứng với số người cùng ra đời ở một thời điểm. Tùy nghiệp quả của chúng ta thế nào, sẽ cho ta một sự lựa chọn mà tưởng như bị áp đặt bởi bố mẹ, ông bà… Như ta đã biết vì duyên nhau mà thành quyến thuộc, trùng trùng duyên khởi đó tạo ra dòng họ. Vậy Tên bạn là gì?


Chúng ta ai ai cũng biết đến nhà yêu nước Phan Bội Châu, người khởi xướng và sáng lập ra Phong Trào Ðông Du. Ông sinh ngày 11 tháng 5 Ðinh Mão, giờ Sửu. Mệnh Cự Môn Ðà tại Tỵ, tuổi Ðinh do vậy Mệnh có Việt tam hợp và Khôi xung ở cung Di…


Vậy tên ông được tìm thấy ở đâu trong lá số? Hỡi các Tử Vi Gia có biết chăng Thiên Cơ ngoài bao nghĩa huyền bí không mấy ai hiểu thì nó còn có nghĩa là đá, Cự Cơ là hòn đá lớn… Và đá lớn hay nhỏ càng được khẳng định khi nó đi với Ðại hay Tiểu Hao.


Một viên đá có Khôi, có Việt ắt phải là đá quý, là châu ngọc. Một chữ Ðà còn có nghĩa là đeo, trong đeo trang sức, đeo đuổi một lý tưởng. Nói rõ ra, tên của ông được thấy ở tam hợp Mệnh và cung Di: Bội Châu!


Nhà cách mạng Phan Bội Châu, hay còn gọi là “Ông già Bến Ngự” bạn hãy nhìn cung Ðiền của ông, với cách cục Sát Phá Tham và xung là Tử Phủ ngộ Triệt đây là cách bị bắt, bị an trí và tại đây có con sông Lưu Hà… Các bạn thấy đó, không chỉ là Tên, ngay cả một danh xưng dân gian hay gọi cũng xuất hiện trên lá số.


Một trường hợp khác, chính Sen Trắng tôi đã kiểm chứng về một lá số của hai cô bé sinh cùng năm tháng ngày giờ. Hai cô bé đều tuổi Nhâm Thân (1992), Mệnh lập tại Hợi với cách cục Ðồng Cự Cơ ngộ Tồn Hình Hà, sinh giờ sửu nên Mệnh giáp Không Kiếp ở Phụ Mẫu và Huynh Ðệ. Và Sen Trắng cùng lúc được hai ông bố hỏi về tử vi cho hai cô con gái. Tôi chỉ hỏi hai bé tên gì? Một cô có tên là Kim, và một cô có tên là Bảo Trân.


Cùng một lá số, nhưng sinh trưởng ở hai gia đình khác nhau, có hai tên khác nhau. Về số phận hiện giờ cũng hai hoàn cảnh khác nhau ngoài vài chi tiết tương đồng.


Cô tên Kim, tên gọi được nhìn thấy ở cung Phụ Mẫu, Tử Phủ Vũ Tướng Liêm ngộ Kiếp Kỵ. Ta đã biết Vũ Khúc còn có nghĩa là tiền.


Cô tên Bảo Trân, được nhìn thấy từ Mệnh và cung Thiên Di, như ví dụ của lá số ngài Phan Bội Châu. Cách cục Thiên Cơ ngộ Khôi Việt, đặt biệt ở đây còn có Việt Triệt có nghĩa là vượt thoát hoàn cảnh, rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn.


Cô tên Kim, nhìn từ cung Phụ Mẫu còn có cách người tài gặp nạn, người con gái gặp nạn tình duyên. Quả thật, cô ta yêu sớm, lập gia đình sớm và sớm tan rã gia đình. Ngược lại, Bảo Trân đã rời Việt Nam với cương vị một sinh viên được học bổng. Học giỏi, sớm nổi tiếng vì học và còn nhiều hứa hẹn ở tương lai.


Một điểm chung của hai gia đình, sau khi sinh hai cô con gái, hai ông bố đều phá sản khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp kinh doanh. Nhưng có lẽ do khác nhau ở xuất thân, một người vẫn lao vào tìm kiếm cơ hội kinh doanh khác như con bạc khát nước… Và kết quả thì lún sâu trong nợ nần, gia đình tan nát… Còn ông bố cô Trân, đã biết dừng cương đúng lúc, chuyển hướng nghề nghiệp, chăm sóc con cái chu đáo… Sự giống nhau và khác nhau đó nằm ở lời khuyên khi được xem số, một gia đình biết lắng nghe, biết đánh giá lại hoàn cảnh. Và một gia đình trôi lăn theo nghiệp lực nên cùng một thất bại nhưng dư vị khác nhau.


Vậy tên bạn là gì?


(Ðón đọc kỳ tới: Giải phẫu thẩm mỹ có ảnh hưởng đến số phận của bạn không?)

Năm người bị giết thảm ở San Francisco

 


Nghi can gốc Hoa từng bị trục xuất hụt về VN


 


SAN FRANCISCO – Hôm Thứ Sáu, 23 Tháng Ba, một vụ thảm sát xảy ra tại căn nhà số 16 đường Howth gần City College of San Francisco. Tất cả năm người gốc Hoa cư ngụ trong nhà đều bị giết chết.










Lục Thái Bình bị ngồi tù 8 năm vì tội dùng súng để cướp của. (Hình: Handout Photo/San Francisco Police Department)


Lúc 7 giờ 45 phút sáng, một phụ nữ có chìa khóa vào căn nhà, phát hiện thấy một xác chết ngay khi bước chân vào cửa chính, một xác nữa ở đằng sau nhà, một xác ở trên lầu, và hai xác khác ở dưới nhà để xe. Người phụ nữ này hoảng sợ, bèn gọi điện thoại báo cho cảnh sát.


Lúc đầu nhà chức trách nghĩ rằng đây là một vụ tự sát tập thể, vì các nạn nhân là người bà con trong nhà với nhau. Song họ nghĩ cũng có thể là vụ mưu sát theo kiểu trừng phạt của băng đảng, xã hội đen.


Bà hàng xóm, Miriam Mendoza, cho biết bà không nghe tiếng súng nổ, hay đánh nhau ồn ào. Chỉ vào lúc nửa đêm hôm Thứ Năm, bà nghe tiếng một người đàn ông lớn tiếng, có vẻ giận dữ một chút rồi thôi. Cậu Jovi Geaga, 26 tuổi, nhà ở trong khu xóm, thường hay dạy kèm trẻ ở nhà thờ gần đó, nói rằng: “Khu xóm rất yên bình. Nhưng thời buổi này, hàng xóm chẳng còn qua lại nhà chơi với nhau, nên không ai biết chuyện gì xảy ra cho bà con lối xóm.”



Ông Thị Trưởng Ed Lee, gốc Hoa, công bố một văn thư về thảm kịch xảy ra: “Trong lúc Sở Cảnh Sát San Francisco mở cuộc điều tra sâu rộng về sự việc xảy ra, nhân danh thị trưởng thành phố, tôi xin gửi lời chia buồn với thân nhân và bạn hữu của những nạn nhân bị thảm sát.”


 


Bắt được nghi can


 


Sáng Chủ Nhật, Sở Cảnh Sát San Francisco công bố cho báo chí biết nghi can vụ giết chết năm người ở quận Ingleside đã bị bắt. Hắn tên là Lục Thái Bình 35 tuổi, gốc Hoa. Y bị bắt chung với em trai là Brian Lục. Người em trai bị bắt vì liên quan đến một vụ ma túy.


Sở Cảnh Sát cũng tiết lộ rằng Lục Thái Bình là nghi can duy nhất liên quan đến vụ giết người tại căn nhà số 16 đường Howth. Y có liên hệ mật thiết với những nạn nhân, có lẽ y được giao trách nhiệm đòi số tiền nạn nhân mắc nợ vì cờ bạc. Các nạn nhân bị giết chết một cách thê thảm, rùng rợn, không phải bằng súng, mà bằng vật nhọn, bén cạnh. Sau khi được khám nghiệm, tên tuổi năm nạn nhân, là những người di dân gốc Hoa, được công bố gồm: Ông Hua Shun Lei 65 tuổi, bà vợ Wan Yi Wu, 62 tuổi, người con gái là Ying Xue Lei, 37 tuổi, con trai là Vincent Lei, 32 tuổi, và cô bạn gái của Vincent là Chia Huei Chu, 30 tuổi. Ông Hue Lei làm việc cho một nhà hàng sang trọng tên là R&G Lounge dưới Phố Tầu. Nhà hàng này đóng cửa hôm Thứ Hai để cúng hương linh cho ông Lei. Chủ nhà hàng là ông Kinson Wong cho biết ông Lei từng làm phụ bếp nhà hàng của ông từ 18 năm nay. Ông Wong rất quí mến ông Lei, và kể lại rằng ông Lei di cư sang Mỹ được 20 năm. Trước đây ở Trung Hoa, ông là “một giáo sư dạy Toán khả kính.” Hai người thường có những giây phút “cụng ly với nhau thâu đêm” để chia ngọt sẻ bùi đời sống người di dân xa xứ. Ông Wong khóc khi nhớ đến bạn, và nói: “Ông Lei không phải là nhân viên của tôi. Ông ấy là anh em tôi.” Ông Wong mất ăn mất ngủ nhiều đêm vì cái chết của người bạn thân.


Bà vợ ông Lei làm việc cho cửa hàng Target. Căn nhà gia đình đang ở, sơn mầu cam sáng tươi, thuộc quyền sở hữu của cô con gái, tên là Ying Xue “Jess” Lei. Cô Lei là một kỹ sư điện toán làm việc cho công ty Qualitative Medical Systems ở Emeryville. Chủ hãng hết sức đau lòng khi thấy cô bị sát hại. Bà Roxanne Albertoli nói: “Cô Lei là một phụ nữ thông minh, ít nói. Việc cô bị giết là một xúc động lớn cho tất cả chúng tôi.”


 


Nghi can Lục Thái Bình từng bị trục xuất về Việt Nam


 


Sáng Chủ Nhật, tiểu đội xung kích – SWAT team – của Sở Cảnh Sát San Francisco đến bắt nghi can tại nhà y trên đường Hayes trong khu Hayes Valley. Y không chống cự. Hàng xóm nói đến nghi can như một gã đàn ông hiền lành, lễ phép. Hắn sống với vợ và hai con nhỏ. Hàng ngày hắn lái chiếc xe truck. Họ nghĩ hắn làm nghề xây cất, hay thợ sửa ống nước. Hàng xóm ngạc nhiên khi thấy cả một đơn vị cảnh sát hùng hậu kéo đến vây bắt y.


Nhưng thực ra Lục Thái Bình là một tên tội phạm lẫy lừng. Theo hồ sơ của cảnh sát, hắn từng ăn cướp một nhà hàng Trung Hoa ở San Jose ngày 7 Tháng Chín năm 1996, và bị kết án 11 năm 4 tháng tù, tại nhà tù San Quentin. Ngày 2 Tháng Tám năm 2006, hắn được ra khỏi tù, sau khi thọ án 8 năm. Một tháng sau, quan tòa ký lệnh trục xuất hắn trở về Việt Nam. Nhưng chính quyền Việt Nam từ chối cung cấp chứng từ du lịch thích đáng, nên Lục Thái Bình thoát được tình trạng phải hồi hương, nhờ một kẽ hở của luật pháp.


Cảnh sát trưởng San Francisco, ông Greg Suhr, cho biết khoảng 40 thám tử và điều tra viên tiếp tục điều tra về vụ thảm sát này.


(Nguyễn Minh Tâm tổng hợp tin trên báo S.F Chronicle và Examiner)


 

‘Khi đồng minh tháo chạy’ (3)


SÁCH “ÐỒNG MINH THÁO CHẠY” CỦA GS NGUYỄN TIẾN HƯNG



 


Chúng tôi xin chân thành cảm tạ tất cả những bạn bè xa gần đã khích lệ và hỗ trợ tác giả trong việc sưu tầm và soạn thảo cuốn sách này.


Ðặc biệt là: Hứa Chấn Minh, chủ tịch công ty Phụng Hoàng, người đã theo đuổi công việc của chúng tôi trong nhiều năm, và đã xuất bản cuốn sách này. Anh Chu Xuân Viên, người đã giúp nhuận sắc cuốn HSMDDL, lại giúp sửa chữa thêm cuốn KÐMTC. Bạn Tạ Văn Tài đã tận tâm đóng góp cho tôi nhiều ý kiến xây dựng, nhờ đó cuốn sách được súc tích hơn. Các anh Trần Khánh Liễm, Thuấn Trương, và Vũ Thụy Hoàng đã chịu khó đọc bản thảo, thêm ý kiến và giúp nhuận sắc. Các bạn Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Văn Liêm, Ðỗ Ngọc Hiển, Vũ Chính Trực, Lê Ái sẵn sàng tiếp tay, cho tôi những nhận xét, và gợi ý rất hữu ích. Bạn Nguyễn Xuân Nghĩa đã dành thì giờ đọc bản thảo cuối cùng, giúp sửa chữa, trình bày thêm phần khởi sắc. Bạn Nguyễn Thiện Cơ giúp sắp xếp về kỹ thuật, và phần danh mục (index). Bác Sĩ Phó Ngọc Văn, người luôn thúc đẩy tôi kiên tâm, và dù lúc còn nằm trên giường bệnh, cũng vẫn gọi điện thoại để khích lệ, đóng góp nhiều ý kiến. Các bạn Lê Văn và Virginia Lê, Ðăng Khánh và Phương Hoa cũng như Vũ Văn Hoa, đã không ngơi cổ võ, làm tôi thêm hăng say trong việc sưu tầm và biên soạn.


Tôi xin thành thật cám ơn Jerrold L. Schecter, nguyên chủ bút ngoại giao của tạp chí Time, cựu phụ tá giám đốc báo chí Tòa Bạch Ốc, và phát ngôn viên Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, đã cùng tôi viết cuốn The Palace File (1986), và đã giúp đỡ, khích lệ tôi viết cuốn sách này.


Sau cùng tôi không thể không nhắc đến sự giúp biên soạn, sửa chữa, hy sinh của nhà tôi, Therese N. Hưng; và các anh, chị, em, con, và cháu, thuộc đại gia đình cụ ông cụ bà Cố Chánh Nguyễn Xuân Phi, luôn luôn nâng đỡ tinh thần tôi trong những giai đoạn thăng trầm của cuộc đời.


 


Phần I


Làm sao thoát khỏi vũng lầy


 


Việt Nam bầu Nixon


 


“Tôi tin chắc rằng sự việc đó (hành động của ông Thiệu) đã khiến ông Humphrey thất cử.” Lyndon B. Johnson,


 


Hồi Ký The Vantage Point (1971)


 


Chiếc xe limousine đậu sẵn ngoài sân cỏ. Khách bắt tay tạm biệt chủ, thong thả bước xuống bậc thềm. Ðùng một cái, một trái pháo rơi nổ ngay phía trước mặt. Khách vội vã bước vào xe, tài xế đóng sập cửa. Chiếc xe mầu đen có còi hụ phóng đi vun vút. Ðoàn tùy tùng theo sau. Chắc là một điềm gở? Ông Nguyễn Văn Thiệu vừa thắng cử, Tổng Thống Lyndon Johnson phái Phó Tổng Thống Hubert Humphrey sang Sàigòn dự lễ tấn phong. Sau phần nghi lễ, ông Humphrey vào gặp ông Thiệu ở Dinh Ðộc Lập, có Ðại Sứ Bunker và Ted Van Dyk tháp tùng. Trong giây phút huy hoàng của ngày đăng quang, ông Thiệu vui vẻ tiếp vị quốc khách.


Chắc rằng phó tổng thống Hoa Kỳ sẽ có những lời chúc tụng, an ủi, làm yên lòng vị tổng thống đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa. Thế nhưng, vừa uống xong ly trà, Humphrey đã chậm rãi:


“Ngài cần biết về tình hình chính trị ở Hoa Kỳ, hiện nay đã đến lúc cần phải có một giai đoạn chuyển tiếp để miền Nam có thể tự lực, tự cường.”


“Vâng tôi hiểu,” ông Thiệu đáp, “Nhưng chúng tôi còn cần phải có sự hiện diện của Hoa Kỳ với mức độ hiện tại.”


“Thêm vài năm nữa với cùng một mức độ viện trợ quân sự và kinh tế như hiện nay thì chắc không thể có!”


Humphrey nói tiếp. Ông Thiệu lắng nghe, tàn than điếu thuốc lá Gauloise ông đang hút dở rớt ngay xuống tấm thảm dầy. Nói xong, phái đoàn ông Humphrey tạm biệt. Ông Thiệu tiễn đưa khách quý ra thềm Dinh Ðộc Lập. Vừa bước xuống thềm, chính ông Humphrey đã mục kích cảnh pháo kích.


“Từ mùa Hè 1967, lúc dư luận bắt đầu nói về cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, nhiều người bạn Mỹ đã nói với tôi là phải hết sức thận trọng. Bây giờ nghe ông Humphrey nói như thế này, tôi biết ngay là sắp tới lúc chính sách Hoa Kỳ thay đổi,” ông Thiệu kể lại. Và từ sau cuộc gặp gỡ, ông Thiệu đã có một ấn tượng rất rõ rệt về ông Humphrey: ông này mà làm tổng thống thì Mỹ sẽ rút hết, để miền Nam “tự lực, tự cường.”


Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 30 năm qua mà dư âm cuộc chiến VN vẫn còn như phảng phất đâu đây. Người ta luôn nhắc đến nó trong các cuộc tranh luận, gần nhất là chiến tranh Iraq.


Chỉ nói về cá nhân hai ứng cử viên Dân Chủ, Cộng Hòa trong cuộc tranh cử năm 2004 (John Kerry và George Bush) là đã có vấn đề tranh cãi kéo dài cả mấy tháng. Rồi đến chuyện bài học về chiến tranh Việt Nam: nếu Hoa Kỳ có tham chiến ở đâu thì phải đánh nhanh, đánh mạnh rồi rút ngay (như ông “Bush Cha” đã làm). Chớ có đóng quân lại mà bị sa lầy. Vì thế, Nghị Sĩ Edward Kennedy, một nhân vật có ảnh hưởng của đảng Dân Chủ, đã gọi Iraq là “Việt Nam của ông Bush (con).”


Bài học cho Hoa Kỳ thì nhiều người đã rút tỉa. Nhưng về những bài học cho đồng minh của Mỹ trong thời chiến thì ít ai nói tới. Một trong những bài học đó là mỗi khi có bầu cử tổng thống, Hoa Kỳ sẽ có biện pháp mạnh để chứng tỏ thiện chí xây dựng hòa bình. Sớm là vào trước năm tuyển cử. Muộn là vào cuối Hè năm tuyển cử, lúc hai đảng họp chọn ứng cử viên tổng thống.


Hiện tượng này cũng đã tái diễn trong cuộc bầu cử 2004. Mùa Thu năm 2003, chính phủ Bush đã tuyên bố là sẽ trao trả quyền hành cho Iraq vào cuối tháng 6, 2004, làm cho những người lãnh đạo mới của Iraq (được Mỹ ủng hộ) rất lo ngại, nhưng cũng phải đồng ý. Ảnh hưởng của bước đi này là làm giảm sự lo sợ của nhân dân Hoa Kỳ về chuyện sa lầy. Rồi việc chuyển giao quyền hành lại cũng đã được thực hiện vào lúc bất ngờ: hai ngày trước ngày đã ấn định. Báo chí đăng tin rầm rộ. Gần đến ngày bầu cử, Tòa Bạch Ốc lại tuyên bố sẽ rút một số quân từ các địa điểm ngoại quốc về Mỹ. Washington còn công bố lịch trình bầu cử tại Iraq, ấn định vào cuối tháng 1, 2005, dù có những phe phái của Iraq còn cho rằng điều kiện an ninh và xã hội của họ chưa cho phép bầu cử. Người được bầu làm tổng thống chắc cũng biết được rằng bầu cử xong là Mỹ sẽ nói tới việc rút quân. Và rồi tân tổng thống của Iraq cũng sẽ nói “chúng tôi còn cần sự có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong một thời gian nữa.”


Cứ bốn năm, mỗi khi có bầu cử tổng thống Hoa Kỳ là có áp lực vào đồng minh. Ðó là một trong những kinh nghiệm của miền Nam Việt Nam trong suốt cuộc chiến. Thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, trước khi Tổng Thống Kennedy ra tranh cử nhiệm kỳ hai vào năm 1964, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị nhiều áp lực từ mùa Hè 1963, sau đó bị sát hại vào ngày một tháng 11. Thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, trước cuộc bầu cử tháng 11, 1972, Tổng Thống Nixon áp lực Việt Nam Cộng Hòa ký Hiệp Ðịnh Paris. Và vào năm trước kỳ tuyển cử 1976, Tổng Thống Ford đã làm ngơ, để miền Nam lui vào dĩ vãng cho yên ổn.


Trở lại thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, sau Tổng Thống Kennedy tới phiên Tổng Thống Johnson. Bắt đầu muốn tháo gỡ Tết Mậu Thân (31 tháng 1, 1968) là cái mốc lịch sử quan trọng. Sau khi mọi chuyện đã ngã ngũ, về mặt quân sự, Mỹ coi đó như một thành công, nhưng về mặt tâm lý, nó đã là một thất bại lớn. Lần đầu tiên các cuộc thăm dò dân ý cho biết số người chống đối chiến tranh (50%) đã vượt lên cao hơn số ủng hộ (42%) (1). Báo chí đặt nhiều vấn đề về độ đáng tin cậy của lập trường chính phủ Mỹ.


Ngày mồng 10 tháng 3, khi tờ New York Times tiết lộ rằng Tướng William Westmoreland vừa xin thêm 206,000 quân, một bầu không khí nặng nề hiện ra rất rõ từ Tòa Bạch Ốc (2). Lúc đó có mặt tại Washington, chúng tôi còn nhớ những buổi chiều khi ba hệ thống truyền hình Mỹ phát sóng báo cáo tin tức từ Việt Nam, kèm theo là những câu hỏi hóc búa, những bình luận bi quan, ôi sao nó ê chề đến thế! Bộ Ngoại Giao cũng như Tòa Bạch Ốc, khi trả lời báo chí rõ ràng là đã đứng vào thế thủ, chỉ chống đỡ. Vừa mới ba tháng trước, ông Westmoreland lên truyền hình trấn an nhân dân Mỹ là mọi việc đều tốt đẹp và sắp tới lúc nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm. Bây giờ, đùng một cái, Việt Cộng vào tới tận Tòa Ðại Sứ.


Câu hỏi hóc búa là nếu đang thắng, tại sao lại phải xin tăng thêm tới 40% quân số? (3). Nhiều nhà bình luận cho rằng biến cố Mậu Thân là Ðiện Biên Phủ đối với Tổng Thống Johnson (4). Ông bị bại trận về tâm lý. Khi Tổng Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara xuống tinh thần, ông Johnson hết chỗ tựa. Năm 1984 ông McNamara mới thú nhận là ngay từ khi Mỹ mang quân vào (1965-1966), ông cũng đã có những hoài nghi về cuộc chiến. Như vậy tại sao ông lại hăng hái chủ trương mang quân vào Miền Nam? Người ta cho rằng ông chỉ muốn chiều ý Johnson lúc đó vì nhắm chức chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới (5). Tết Mậu Thân là thời điểm tốt cho ông tính đến việc tháo lui.


Bị chống đối dữ dội, lại thấy “diều hâu” McNamara bắt đầu tránh né, Tổng Thống Johnson mệt mỏi, chán chường. Ngày 31 tháng 3, đúng hai tháng sau Mậu Thân, ông tuyên bố sẽ không ra tranh cử nhiệm kỳ hai nữa. Ðồng thời ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt từ trên vĩ tuyến 20 để kêu gọi đình chiến. Ðình chiến xong là rút quân về.


 


Bầu cử, bầu cử: Hãy đi Paris!


 


Tổng Thống Johnson lại đề cử ngay Phó Tổng Thống Hubert Humphrey thay ông ra tranh cử vào tháng 11, 1968. Tuyên bố ý định không ra ứng cử từ cuối tháng 3, Johnson đã cho Humprey đủ thời giờ để tổ chức, vận động. Humphrey tranh cử với lập trường chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình. Nhưng nếu chấm dứt bằng cách đơn phương bỏ cuộc thì Hoa Kỳ sẽ bị thế giới coi thường. Như vậy là thua rồi! Phải có một Hiệp Ðịnh Ðình Chiến do chính Việt Nam Cộng Hòa ký kết thì mới danh chính ngôn thuận.


Sau này, ông Thiệu kể lại là ngay sau cuộc thăm viếng của ông Humphrey, nhân một chuyến đi quan sát chiến trường miền Nam, Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara cũng đã nhấn mạnh: “Chúng tôi cần có một cuộc bầu cử (ở miền Nam) để điều đình với Bắc Việt.” Ðại Sứ Bunker thì luôn nói tới, “Cần có hòa đàm để chứng tỏ với Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ là chúng ta – Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa – đều muốn hòa bình” (6).


Kế hoạch của ứng cử viên Humphrey được thành hình vào tháng 5, 1968, khi ông Cyrus Vance đại diện cho Hoa Kỳ và ông Hà Văn Lâu đại diện cho Bắc Việt đến họp tại Paris để thảo luận về chi tiết những cuộc hòa đàm chấm dứt chiến tranh. Lúc đó, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chưa chịu tham gia vì Sàigòn muốn trực tiếp đàm phán với Hà Nội, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) chỉ tham gia như một phần của phái bộ Bắc Việt mà thôi. Nhưng nếu chính phủ Miền Nam không tham gia thì làm thế nào để có được một


 


Hiệp định cho sớm?


 


Ông Humphrey không thể thắng cử nếu viễn tượng hòa bình chưa sáng tỏ vào ngày bầu cử mồng năm tháng 11, 1968. Càng gần ngày bầu cử, áp lực từ Washington đến càng mạnh. Ðại Sứ Ellsworth Bunker tìm mọi cách thuyết phục ông Thiệu gửi phái đoàn sang Paris dự hòa đàm, càng sớm càng hay.


 


Bầu cử, bầu cử: Ðừng Ði Paris!


 


Cùng lúc ấy, ông Thiệu lại nhận được những lời ve vãn từ phía đối thủ của ông Hubert Humphrey, đó là ông Richard Nixon. Thông điệp phía Nixon lại trái ngược hẳn: “Chớ tham gia hòa đàm Paris, cố trì hoãn càng lâu càng tốt để đợi ông Nixon lên Tổng Thống, mọi chuyện sẽ tốt đẹp.” (7)


Những người làm trung gian lúc đó là bà Anna Chennault và Ðại Sứ Bùi Diễm. Bà Chennault rất được ông Thiệu tin cậy. Bà là người gốc Trung Hoa, quả phụ của Tướng Claire Chennault, chỉ huy đoàn Phi Hổ (Flying Tigers), một nhóm tình nguyện của Mỹ chiến đấu chống Nhật hồi Ðệ Nhị Thế Chiến. Sau khi chồng chết năm 1958, bà thay thế ông làm quản trị viên của hãng hàng không Phi Hổ. Trong những chuyến bay qua Ðông Nam Á, bà thường ghé Sàigòn và đến thăm ông Thiệu. Có lần bà còn được mời ra nghỉ ở villa Bảo Ðại Vũng Tàu. Bà đóng một vai trò chủ yếu trong nhóm “Vận động cho Trung Hoa” (China Lobby) và gây quỹ tranh cử cho đảng Cộng Hòa.


Bà Chennault ra vào tự do trong chính giới ở Washington và rất hãnh diện về những quen biết của mình ở đó. Bà gặp Nixon lần đầu tiên vào năm 1954, khi ông sang thăm Ðài Loan với tư cách Phó Tổng Thống. Năm 1960, bà hoạt động cho nhóm vận động của Nixon chống Kennedy. Anna Chennault thăm viếng Sàigòn thường xuyên vào năm 1968, để thông tin cho ông Thiệu về sự tranh cử của Nixon và về những quan điểm của ông đối với Việt Nam. Bà nói với ông Thiệu rằng Nixon sẽ là một người ủng hộ Việt Nam mạnh mẽ hơn Humphrey nhiều. Sau này, bà kể lại cho chúng tôi:


“Ông Thiệu bị phe Dân Chủ làm áp lực nặng. Công việc của tôi hồi ấy là cố giữ cho ông ta đừng thay đổi ý kiến.” Ðại sứ Bùi Diễm, qua sự giới thiệu của bà, còn được ông Nixon tiếp kiến và dặn là nếu có tin tức gì thì cứ đưa cho bà Chennault (8). Bà sẽ phúc trình thẳng cho John Mitchell, người phụ trách ban vận động tranh cử cho Nixon.


Trong buổi gặp gỡ, Nixon hứa hẹn là nếu thắng cử, sẽ coi vấn đề Việt Nam là ưu tiên số 1, và “bảo đảm sẽ dành cho Việt Nam một sự đối xử thuận lợi hơn phe Dân Chủ” (9).

Dân San Francisco dẫn đầu cuộc chạy đua lớn tại Oakland

 


Cuộc Chạy Ðua Quanh Oakland Lần Thứ Ba thành công tốt đẹp


 


Trung Can/Người Việt San Jose


 


Oakland, một thành phố đa dạng, có nhiều sắc dân cư ngụ với hơn 130 ngôn ngữ được sử dụng, đã tưng bừng khai mạc cuộc thi chạy vòng quanh Oakland lần thứ 3.


 







Quang cảnh Cuộc Thi Chạy Vòng Quanh Oakland lần thứ 3. (Hình: Tri Le/Người Việt San Jose)


  Mặc dù trời mưa tầm tã suốt tuần qua, nhưng đến sáng Chúa Nhật, 25 Tháng Ba, 2012, trời tạnh hẳn như để chào đón 8211 tay đua khắp miền đất nước về tham dự. Họ thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội già, trẻ, trai, gái, kẻ vô gia cư, cựu quân nhân v.v…


Không giống như những năm trước được tổ chức tại Frank H. Ogawa Plaza, năm nay cuộc đua được tổ chức tại Snow Park. Bắt đầu tại ngã tư đại lộ Harrison và đường 19, lộ trình đua hướng về khu downtown, chạy thẳng đến khu West Oakland, bọc quanh vùng đồi núi Hồ Temescal, vòng lên đường Telegraph, Clairemont, rồi băng xuống đại lộ McArthur, Coolidge trong khu East Oakland, qua đại lộ Fruitvale rồi trở lại điểm khởi hành.


Người về nhất nguyên vòng đua là anh Chris Mocko, 26 tuổi, cư dân San Francisco. Ngay từ phút đầu tiên anh đã cố tiến lên phía trước để dẫn đầu đoàn đua. Bám sát theo sau là Phillip Shaw, 26 tuổi, cư dân Oakland, người đã về nhì trong cuộc đua này. Chạy được 3 dặm thì hai người đã vai nhịp vai kềm sức để chuẩn bị cho đoạn đường dài tổng cộng 26.2 dặm trước mặt. Tại đích đến, Mocko đã biểu diễn một pha múa ngoạn mục: ngửa người lòn qua dải băng “Finish” trong tiếng vỗ tay tán thưởng của mọi người. Anh đã phá kỷ lục vòng đua Oakland với tổng số giờ chạy là 2g28’9”.


Về phía nữ, người về nhất nguyên vòng đua là cô Anna Bretan, 27 tuổi, cư dân Berkeley. Mặc dù về nhất, nhưng cô đã không phá được kỷ lục năm ngoái cũng do chính cô thiết lập. Một điểm đáng nói là Bretan vừa sinh hạ một bé gái, cháu Tatum Rose, cách nay chỉ 6 tuần lễ. Cô cho biết ngay sau ngày sinh cháu Rose trong tháng Hai, cô đã bắt đầu chạy 7 dặm, và cứ thế cô chạy 40 dặm mỗi tuần. Tại đích đến, cô đã được gia đình vẫy tay reo hò cổ vũ. Trong lúc bồng bé gái trên tay, cô vui vẻ cho biết: “Tôi phải trở lại tập luyện ngay mới được, và đã chạy bỏ cả ngủ. Và nếu tôi hoàn tất được vòng đua hôm nay thì điều đó thật là tuyệt vời đối với tôi!” Cô đã chạy trong 2g57’33” để dẫn đầu các tay đua nữ.


Một tay đua khác nữa, đó là Nathan Hoang, 28 tuổi, đã hai lần tham chiến tại Iraq. Ông cho biết từ khi trở về nhà từ chiến trường Irag cách nay sáu năm, ông đã bị chứng rối loạn tâm lý và nghiện ma túy và cuối cùng đã rơi vào tình trạng vô gia cư khi cuộc hôn nhân của ông tan vỡ. Hiện nay ông đã trở lại cuộc sống bình thường nhờ vào sự giúp đỡ của chương trình cựu chiến binh ở Menlo Park. Tham dự cuộc thi nửa vòng chạy hôm nay, ông muốn nói lên quan tâm đến những phấn đấu mà các cựu chiến binh và những người vô gia cư đang phải đối mặt với sự nâng đỡ của tổ chức bất vụ lợi Building Opportunities for Self-Sufficiency ở Berkeley.


Ngoài những gương mặt tiêu biểu trên, còn có một bé gái, cháu Avalon Bruno, 11 tuổi, học sinh lớp Năm trường East Bay Waldorf. Sau khi hoàn tất nửa vòng đua, Avalon cho biết em rất vui được tham dự cuộc đua và hết lòng cảm kích những người tham dự đứng hai bên đường để hò reo, khuyến khích và cổ võ em và những người dự thi khác trong một ngày cuối tuần lạnh lẽo và ướt át như hôm nay.


Ðược biết, ngoài những nhà tài trợ cũ, năm nay cuộc đua vòng quanh Oakland lần thứ ba còn được sự góp sức của siêu thị Lucky, hãng máy bay Hawaiin và nhật báo Oakland Tribune.

Biểu tình tự do tôn giáo đã thu hút nhiều người ở San Francisco




Lãnh đạo tôn giáo và những người ủng hộ đã giơ cao dấu hiệu “Ðứng Lên Vì Tự Do Tôn Giáo” khi diễn giả lên tiếng phía trước tòa nhà liên bang ở San Francisco, California, vào ngày Thứ Sáu, 23 Tháng Ba, 2012. Hàng trăm người trên khắp đất nước tụ tập để phản đối yêu cầu chính quyền Obama rằng các doanh nghiệp cần cung cấp bảo hiểm ngừa thai miễn phí cho nhân viên, bao gồm cả nhân viên của các tổ chức trực thuộc các tôn giáo. (Hình: Laura A. Oda/Nhân viên)


 


 


Sandy Kleffman – Bay Area News Group


Thẩm Vân dịch


 


Một cuộc biểu tình tự do tôn giáo ở San Francisco hôm Thứ Sáu đã thu hút gần 500 người trong khắp vùng Vịnh để kịch liệt phản đối một yêu sách mới của liên bang là các hãng bảo hiểm phải cung cấp ngừa thai miễn phí cho công nhân.


Một số người đã vẫy cờ, một số khác đã vẫy tràng hạt. Nhiều người hét lên “không thể tin được” khi những thuyết trình viên vạch ra chính sách gây tranh cãi trong luật cải tổ y tế toàn quốc.


Giám mục Oakland, Ðức Cha Salvatore Cordileone, cho biết: “Ðiều này ảnh hưởng đến tất cả chúng ta là những người Mỹ, bởi vì tự do đầu tiên của chúng ta là tự do tôn giáo. Làm sao chính quyền lại dám xác định sứ mệnh tôn giáo cho chúng ta? Vâng, hãy đặt chính phủ ra khỏi giáo hội chúng ta.”


Trước tiên, kể từ đầu Tháng Tám, quy định yêu cầu chủ doanh nghiệp phải trang trải phí tổn ngừa thai và các dịch vụ phòng ngừa khác cho nữ nhân viên mà không đòi hỏi họ phải trả phụ phí nào. Các giáo hội thì được miễn, nhưng các tổ chức liên kết với giáo hội như các cơ quan từ thiện, trường đại học và bệnh viện thì buộc phải áp dụng. Một trong những lý do khiến các tổ chức đó không đủ điều kiện được miễn áp dụng vì lý do tôn giáo là bởi các tổ chức này cung cấp dịch vụ cho tất cả mọi người, kể cả những người ngoài giáo hội.


Sau những phản đối dữ dội từ phía đảng Cộng Hòa, Giáo Hội Công Giáo và những người khác, Tổng Thống Barack Obama đã tìm cách chấm dứt các cuộc tranh cãi vào ngày 10 Tháng Hai với một chính sách sửa đổi mà qua đó, dựa trên căn bản tôn giáo, các chủ doanh nghiệp có thể chọn đứng ngoài các yêu cầu về kiểm soát ngừa thai. Và nếu họ chọn làm điều đó thì nhân viên của họ vẫn có quyền truy cập để hưởng ngừa thai miễn phí bởi vì quy định này được chuyển sang một qui trình khác thay vì thuộc hãng bảo hiểm của doanh nghiệp đó.


Sự thay đổi đã xoa dịu một số người, nhưng các nhà lãnh đạo tôn giáo tại các cuộc biểu tình hôm Thứ Sáu đã nêu rõ rằng các quyền tự do tôn giáo của họ vẫn bị vi phạm.


Cuộc biểu tình ở San Francisco là một trong 140 cuộc biểu tình như vậy đã diễn ra trên toàn quốc nhân ngày kỷ niệm lần thứ hai luật cải cách y tế quốc gia.


Ông George Wesolek, giám đốc Chính Sách Công của Tổng Giáo Phận San Francisco, cho biết điều ông quan ngại là chính phủ liên bang đã đưa ra một định nghĩa rất hẹp về giáo hội, không bao gồm các cô nhi viện, trạm y tế và các trường học mà giáo hội đang điều hành. Ông nói:


“Này ông Obama, hãy để cho các Kitô hữu được giữ đạo như ý họ muốn. Hãy để người Công Giáo là người Công Giáo. Chúng tôi sẽ không tự giới hạn giáo hội của chúng tôi. Ðó không phải là nhiệm vụ của chúng tôi.”


Những người biểu tình đã nêu lên các khẩu hiệu: “Cần đặt vấn đề lương tâm” và: “Tôi luôn cho rằng tự do tôn giáo là quyền bẩm sinh.”


Còn nhiều khẩu hiệu khác, như: “Cái gì tiếp theo? Ðồng chí Obama?”


Denise Clark, giáo dân thuộc giáo xứ Thánh Isidore ở Danville, tham dự cuộc biểu tình với các thành viên thuộc Nhóm Nghiên Cứu Thánh Kinh, cho biết: “Chúng ta cần lên tiếng ngay bây giờ về việc chính phủ đã đi quá xa trong việc kiểm soát quyền tự do tôn giáo. Nếu chúng ta không nói bây giờ, sẽ đến một lúc chúng ta không còn cơ hội để nói ‘không’.”


Bên ngoài cuộc biểu tình, khoảng một chục người hô vang khẩu hiệu:


“Không phải nhà thờ. Cũng không phải nhà nước. Hãy để phụ nữ quyết định số phận của họ.”


Và nhiều bảng hiệu được giơ lên: “Cho phá thai theo yêu cầu và không hề hối tiếc.”


Việc yêu cầu kiểm soát sinh đẻ đã được các nhóm phụ nữ ca ngợi. Bà Adrienne Verrilli, phát ngôn viên của tổ chức Planned Parenthood Shasta Thái Bình Dương, người đã không tham dự cuộc biểu tình, cho biết: “Kiểm soát sinh đẻ là chăm sóc sức khỏe thiết yếu cho phụ nữ, chấm hết (period).” Bà lưu ý rằng, trong cuộc sống hằng ngày, 99% phụ nữ khi sinh hoạt tình dục đã sử dụng biện pháp tránh thai một số lần.


Mặc dù bị phản đối trên toàn quốc, chính sách dự kiến sẽ ít ảnh hưởng ở California vì luật pháp tiểu bang đã yêu cầu hầu hết chủ doanh nghiệp phải cung cấp bảo hiểm ngừa thai cho công nhân.


Tại cuộc biểu tình, Cha Joseph Fessio của Ignatius Press nói “khéo” với đám đông rằng khi ông Obama được bầu, “một số người nghĩ rằng họ đã bỏ phiếu cho Ðấng Cứu Thế. Tháng trước, ông đã thực hiện một phép lạ thực sự, đó là ông đã ‘kết hợp’ được tất cả các giám mục Công Giáo ở Mỹ.”

‘Khi đồng minh tháo chạy’ (1)


LTS: Tuần báo Người Việt San Jose ra mắt độc giả Vùng Vịnh số đầu tiên vào trung tuần Tháng Ba 2012. Cũng thời điểm này 37 năm trước, miền Nam Việt Nam đang hấp hối với sự tháo chạy của đồng minh Hoa Kỳ.


Nhìn lại những ngày tháng đau thương của Tháng Tư 1975, người Việt trong và ngoài nước không thể không nhắc tới cuốn “Khi Ðồng Minh Tháo Chạy”, một công trình nghiên cứu và tổng hợp của Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng, nguyên tổng trưởng kế hoạch của Việt Nam Cộng Hòa. Trong số ra mắt của Người Việt San Jose, Giáo Sư Hưng đã cho phép chúng tôi đăng lại cuốn sách này của ông với lời căn dặn viết lời tựa sao cho “nêu bật được tình hình vào giai đoạn lịch sử đen tối đó”, khi một nhân vật trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của nước Mỹ bấy giờ là Kissinger nguyền rủa quân-dân miền Nam “Sao chúng không chết phứt cho rồi!” (Why don’t these people die fast!)


Viết về “Khi Ðồng Minh Tháo Chạy”, không ai có thể xứng hợp hơn kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, vì ông là người đầu tiên được xem bản thảo cuốn sách và góp ý với giả Nguyễn Tiến Hưng trước khi sách ra mắt độc giả.


Người Việt San Jose trân trọng cám ơn Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng và hân hạnh giới thiệu bài viết sau đây của kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa.


 


“Khi đồng minh tháo chạy”


Cận cảnh của thời sự đã qua… và đang tới


 


Nguyễn-Xuân Nghĩa


 


Bây giờ, từ Thế kỷ 21 mà nhìn lại với những hiểu biết mới về nước Mỹ, chúng ta đều có thể thấy ra sự hợp lý đến lợm giọng và rợn người của việc Hoa Kỳ triệt thoái khỏi Việt Nam. Mà điều ấy có chắc không?


Có chắc là chúng ta đã hiểu ra nước Mỹ chưa?


Chúng ta có cơ hội theo dõi “Chiến dịch Chính nghĩa” khi Hoa Kỳ tung quân vào Panama năm 1989 dưới thời Tổng Thống George H.W. Bush – một vụ can thiệp quân sự lớn lao nhất kể từ cuộc chiến Việt Nam. Kế đó là “Chiến dịch Bão sa mạc” khi Hoa Kỳ tấn công Iraq năm 1991 để giải cứu xứ Kuweit bị Saddam Hussein xâm chiếm. Năm 1999 thì ta chứng kiến vụ Hoa Kỳ không tập Cộng hòa Serbia năm 1999, dưới thời Tổng Thống Bill Clinton, để cứu lấy cư dân Kosovo. Cũng vào thật nhanh, rút ra thật gọn…


Gần đây hơn thì có việc Hoa Kỳ… thừa lệnh một nghị quyết của Liên Hiệp Quốc và dưới sự chỉ huy của Minh Ước Bắc Ðại Tây Dương NATO mà tấn công Libya để lật đổ chế độ độc tài Muamar Gaddafi năm 2011. Ðó là chiến dịch “Bình Minh của Hành trình” – Odyssey Dawn.


Ở giữa những vụ can thiệp quân sự chớp nhoáng đó, của các chính quyền Cộng Hòa hay Dân Chủ, là hai cuộc chiến lớn lao, hao tốn và lâu dài của Thế kỷ 21: Tại Afghanistan năm 2001 rồi Iraq năm 2003.


Với những kinh nghiệm ấy, và lần này thì nhìn từ Hoa Kỳ ra, chúng ta đều có thể thấy ra một sự thể là Hoa Kỳ rất chú trọng đến “chính nghĩa” khi phải dùng giải pháp quân sự. Chính nghĩa là cái lẽ chính đáng được Quốc Hội đồng ý hay quốc tế ủng hộ.


Thế rồi, nếu cuộc chiến lại kéo dài quá lâu – quá một chu kỳ tranh cử tổng thống là bốn năm – thì mọi chính nghĩa đều có vấn đề… Nhiều dân biểu nghị sĩ đã từng bỏ phiếu ủng hộ sự can thiệp đã có thể lật lọng, đổi trắng thay đen, như chuyện Iraq từ năm 2006 chẳng hạn. Ðấy là lúc Hoa Kỳ chuẩn bị tháo chạy, tìm cớ tháo chạy, tạo ra lý do chính đáng để tháo chạy. Thậm chí thổi lên phong trào chống Mỹ để tháo chạy… Ðấy cũng là lúc mà nước Mỹ ngầm đàm phán với đối thủ cũ – dù là lãnh tụ của hệ phái Sunni tại Iraq hay lực lượng Taliban tại Afghanistan.


Còn các đồng minh của Hoa Kỳ bị truyền thông Mỹ phỉ nhổ, bị Quốc Hội Mỹ khinh thường và bị chính quyền Mỹ hy sinh…


Từ Thế kỷ 21, nếu chịu khó nhìn, chúng ta có thể hiểu được vì sao đồng minh tháo chạy, vì sao Hoa Kỳ triệt thoái. Nhưng tháo chạy như thế nào thì có khi mình chưa hiểu hết…


Cuốn “Khi Ðồng Minh Tháo Chạy” của Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng có thể trả lời cho câu hỏi đó, về cuộc chiến nghiêm trọng và nhục nhã nhất của lịch sử Hoa Kỳ. Và cũng là biến cố đau thương cho rất nhiều người Việt.


Qua 20 chương và nhiều tài liệu được giải mật sau này, tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã trình bày lại khúc phim đen tối của quá khứ, với ống kính chụp vào cận cảnh của những sự việc, nhân vật hay văn kiện có ảnh hưởng nhất đến cục diện.


Là một giáo sư kinh tế, tác giả Nguyễn Tiến Hưng lại có biệt tài là kể chuyện hấp dẫn cho nên chúng ta rất khó buông cuốn sách 700 trang nóng hổi như nước mắt.


Là một tổng trưởng kế hoạch trong những ngày tháng hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ủy thác cho một sứ mệnh tuyệt vọng, tác giả đã nhìn vào, rồi bước tới chính trường Hoa Kỳ trong lúc rối ren nhất, khi nhiều người trong chúng ta chưa đặt chân đến đây. Kết giao cùng viên đại sứ sau cùng của Hoa Kỳ với nền Cộng Hòa đã bị chính Hoa Kỳ bức tử và trao trọn gói cho kẻ thù, tác giả cũng hiểu ra tâm tư của ông Graham Martin, một nạn nhân Mỹ của cuộc chiến Việt Nam, và cũng là một ân nhân của nhiều người Việt tỵ nạn. Là một người làm việc trong lãnh vực khoa học, tác giả tỉ mỉ thu thập, phân tách và gói ghém những sự kiện khách quan để trình bày lại cho người đọc một số sự thật về chính trường Hoa Kỳ.


Chỉ có những người bại trận mới thật sự quan tâm tìm hiểu lý do thất bại. Và càng nên tìm hiểu khi đã chiến đấu thật lòng, đã hy sinh đến tận cùng mà cuối cùng vẫn không thỏa mãn được ước vọng hòa bình. Vì thế, viết lại cuốn sách này, hay đọc lại cuốn sách này, là một điều cần thiết, nhất là nếu chúng ta muốn thật sự hiểu ra nước Mỹ, một quốc gia có dân tộc đáng yêu và đối sách ngoại giao đáng sợ.


Sau cuốn “Khi Ðồng Minh Tháo Chạy” xuất bản năm 2005, Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng đã viết thêm cuốn “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” xuất bản năm 2010. Trong khi chờ đợi một cuốn sách khác, “Khi Ðồng Minh Nhảy Vào” – mà ông cũng cần viết cho các thế hệ về sau – xin hãy cùng đọc lại những trang đau lòng này của lịch sử.


Hình như một học giả người Nga đã nói: “Lịch sử không để lại bài học nào, nhưng nghiêm khắc trừng phạt những người không hiểu được các bài học của lịch sử.” Ngoài nhu cầu rất chính đáng là thấy ra một phần quá khứ của mình, những trang sách này cũng giúp chúng ta hiểu thêm về tương lai, ít nhất là về thời sự đang xảy ra trên chính trường Hoa Kỳ. Ðể khỏi bị trừng phạt…


________________________________________


Tác giả Nguyễn-Xuân Nghĩa là một chuyên gia kinh tế, viết bình luận cho nhật báo Người Việt mỗi Thứ Ba trong tuần theo hai đề mục xen kẽ là “Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài” và “Kinh tế cũng là Chính trị”. Ông mở ra Dainamax Tribune (http://dainamaxtribune.blogspot.com) để yết lại các bài viết của mình.

‘Khi đồng minh tháo chạy’ (2)


Sách ‘Ðồng Minh Tháo Chạy’ của GS Nguyễn Tiến Hưng


 


Lời nói đầu của Giáo Sư Nguyễn Tiến Hưng


 


Sao lẹ thế? Ngày 10 Tháng Ba, 1975 Quân đội Bắc Việt đánh chiếm Ban Mê Thuột. Ðến ngày 30 Tháng Tư đã tiến vào Saigon. Tốc độ như vũ bão, vỏn vẹn chỉ có 52 ngày! Không lẽ một cuộc chiến kéo dài tới hai mươi năm, đến khi kết thúc lại nhanh như vậy?



Chiến tranh Viet Nam ( Hình: Wikipedia)


Rồi cuộc di tản tiếp theo. Trước hết là thời gian di tản, sao nó quá ngắn ngủi? Tuy hai cuộc chiến năm 1954 và 1975 kết thúc trong những hoàn cảnh khác hẳn nhau, ta vẫn có thể hỏi tại sao khi Pháp rút khỏi Miền Bắc, thời gian được quy định là 300 ngày. Bây giờ đến lúc Mỹ rút hết khỏi Miền Nam thì không có quy định gì hết, cuộc di tản chỉ kéo dài được vỏn vẹn năm ngày!


Nói tới cung cách ra đi, sao lại quá thê thảm? Năm 1954, dù chỉ là di tản từ Bắc vào Nam và năm 1975 thì di tản sang Mỹ nên hai biến cố khác nhau, nhưng phần nào ta cũng so sánh được việc đoàn người ra đi có trật tự, rất ít nguy hiểm ở lần đầu, với cuộc di tản nháo nhào, đầy rủi ro, hãi hùng vào lần thứ hai. Rốt cuộc, tại sao số người được cứu vớt lại quá ít ỏi? Hồi 1954, Mỹ chưa trực tiếp dính líu vào Việt Nam mà đã giúp chuyên chở, rồi định cư cho một triệu người, tức là 7% dân số Miền Bắc. Sau hai mươi năm can thiệp với hơn một nửa triệu quân, sống chết với 20 triệu dân quân Miền Nam, giờ đây lại chỉ định cứu có 50,000 người. Tới phút cuối cùng mới vớt thêm. Tất cả không tới 130,000 người, nghĩa là có 0.6% dân số.


-Phóng viên: “Thưa ông, cứ cho là Hoa Kỳ đã bội ước, nhưng còn lý do gì khác khiến chúng tôi phải đưa người Việt vào Mỹ không?”


-Tác giả: “Tượng Nữ Thần Tự Do đang nhắc nhở cho chúng ta rằng nước Mỹ là đất của những kẻ bị truy nã, của di dân.”


-Phóng viên: “Tôi xin nhắc nhở cho ông là Nữ Thần Tự Do quay mặt về phía Ðại Tây Dương.”


Ý nói là bà quay lưng về phía Á Châu, phía Việt Nam chúng ta. Ðây là một giai thoại trong phiên họp báo của chúng tôi ngày 30 Tháng Tư, 1975 (ngày 1 tháng 5 giờ Saigon) tại khách sạn May Flower trên đường Connecticut, Washington, D.C. Mục đích của cuộc họp nhằm kêu gọi Hoa Kỳ cứu vớt những con thuyền đang lênh đênh như lá tre ngoài bờ biển Vũng Tàu.


Vô cùng xúc động, chúng tôi không cầm được nước mắt. Câu mỉa mai này đã ám ảnh chúng tôi từ giây phút đó, và chắc sẽ không bao giờ phai nhòa đi được trong ký ức.


Sau 30 năm rồi mà ta chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng cho những thắc mắc trên. Biến cố lịch sử năm 1975 đã để lại những ấn tượng sâu đậm trong tâm trí của tất cả chúng ta, những con người Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước. Mỗi người một hoàn cảnh, một cảm xúc, một số phận. Một số quý vị đang cầm cuốn sách này trong tay là những người thuộc thành phần may mắn, không nhiều thì ít, đã thoát được bao nhiêu rủi ro. Thành phần khác đã chịu số phận nghiệt ngã, giờ đây chỉ còn là những oan hồn vất vưởng trong lòng Thái Bình Dương.


Và sau này, những thế hệ mai sau, con cháu chúng ta sẽ tiếp tục thắc mắc: tại sao cha mẹ, ông bà mình lại bỏ quê cha đất tổ chạy sang Mỹ? Sang bao giờ? Trong hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế ra sao? Sang bằng cách nào? May mắn? Lúc đầu như thế nào? Làm sao mà sinh sống? Không bà con, không tiền, không nghề nghiệp thích hợp, không cùng ngôn ngữ, làm thế nào mà nuôi được con cháu ăn học thành tài như ngày nay?


Gần 20 năm trước, năm 1986, tôi đã cùng Jerold Schecter, nguyên chủ bút tuần báo TIME xuất bản cuốn “The Palace File” (Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập-HSMDÐL). Cuốn sách đề cập nhiều tới Hiệp Ðịnh Paris và ảnh hưởng bất lợi của nó.



Ðối tượng chủ yếu là độc giả Mỹ, đặc biệt là các nhà làm chính sách Hoa Kỳ. Tổng trưởng Ngoại Giao thời đó là ông George Schultz (trong chính quyền Reagan) có viết cho chúng tôi là ông đã đưa cuốn này vào thư viện nhỏ của Văn Phòng Tổng Trưởng Ngoại Giao ở Foggy Bottom. Các vị kế nghiệp ông sẽ được đọc. Năm 1988, tờ New York Times đã chọn cuốn “The Palace File” để vào số những sách mà các ứng cử viên


Tổng thống cần phải đọc, với tựa đề: “Vừa đọc vừa vận động: Một lớp cấp tốc cho chức vị tổng thống” (Read and Run: A Cram Course for the Presidency).


Cuốn sách quý vị đang cầm trong tay, Khi Ðồng Minh Tháo Chạy (KÐMTC), được viết căn bản là cho độc giả Việt Nam.


Sách gồm năm phần chính:


Phần I : bàn về thời điểm và cách thức Mỹ tháo gỡ khỏi chiến trường Việt Nam;


Phần II: nói đến thân phận một tiểu quốc muốn cố gắng vượt ra khỏi sự lệ thuộc;


Phần III: kể lại những gì đã xảy ra tại Washington và Saigon sau khi quân đội Mỹ rút hết cho tới khi Miền Nam sụp đổ;


Phần IV: trình bày diễn tiến vào giờ hấp hối, việc một số chính trị gia Mỹ đã không muốn cứu vớt người Việt Nam, đặc biệt là về cơ nguy Mỹ-Việt suýt bắn nhau; phần này cũng thuật lại một cố gắng cuối cùng của tác giả đặt trách nhiệm tinh thần cho Hoa Kỳ đòi hỏi phải giúp cho ít nhất một triệu người tỵ nạn;


Phần V: nhìn lại lịch sử để ghi nhận cho con cháu những khó khăn, chống đối lớn lao cha ông chúng đã gặp lúc ban đầu; phần này thâu tóm một nguyên nhân chính làm sụp đổ Miền Nam, cũng như những bài học rút ra từ cuộc chiến cho những thế hệ tương lai của Việt Nam và các đồng minh của Hoa Kỳ hiện đại.


“Thay Lời Kết,” chúng tôi đề cập tới thiện tâm của nhân dân Hoa Kỳ, vì sau cùng, cánh tay của đại đa số đã rộng mở, tiếp nhận đoàn người tỵ nạn trong một thời gian trên hai thập niên.


Sách này dựa vào một phần cuốn HSMDÐL và vào những nghiên cứu thêm của tác giả trong mười năm qua. Trong cả hai cuốn, ngoài phần tài liệu, chúng tôi đã bổ sung bằng những phỏng vấn với các viên chức hữu trách cả hai phía Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ; đặc biệt là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (tại Luân Ðôn và Boston), Tổng Thống Gerald Ford, Ngoại Trưởng Henry Kissinger, Tướng Alexander Haig, Tướng John Murray, các tổng trưởng Quốc Phòng liên hệ như James Schlesinger, Melvin Laird, Elliot Richardson và các viên chức cao cấp cơ quan Tình Báo CIA. Tổng Thống Richard Nixon khi còn sống đã từ chối cuộc phỏng vấn vì lý do sức khỏe.


Ðiều mà cuốn KÐMTC muốn nhấn mạnh, nhất là cho người Việt Nam chúng ta rõ, là cung cách mà một số chính khách Hoa Kỳ, đặc biệt là ông Kissinger, và phần nào, hai ông Nixon, Ford cũng như một số nghị sĩ, dân biểu với con mắt thiển cận, đã hành xử đối với nhân dân Miền Nam. Nó phản bội nguyên tắc “minh bạch” (transparency) của thể chế dân chủ, và đi ngược lại tinh thần công bình của đại đa số nhân dân Hoa Kỳ.


Trong bóng tối, trước hết hai ông Kissinger-Nixon đã dùng thủ đoạn ép buộc Miền Nam đi theo đường lối của mình, mục đích chính chỉ là để cho quân đội Mỹ rút đi, và tù binh được thả về. Khi chính phủ Miền Nam phản kháng thì đe dọa với “cái gậy” (đảo chánh và cắt viện trợ), và hứa hẹn với “củ cà rốt” (bảo đảm hòa bình và viện trợ đầy đủ).


Hứa hẹn xong thì lờ đi, giấu cho thật kỹ. Quốc Hội không biết gì hết nên đã cắt giảm viện trợ một cách quá nhanh và quá thẳng tay. Hóa ra, củ cà rốt chỉ là một công cụ che giấu một kế hoạch gọi là “khoảng thời gian coi cho được.” Kế hoạch này chỉ nhằm ban phát cho Miền Nam Việt Nam một thời gian ngắn ngủi, một khoảng cách từ khi Mỹ rút hết cho tới khi sụp đổ. Trước khi cuốn sách này lên khuôn, một nhân chứng về những hành động hắc ám của ông Kissinger, ông John Negroponte vừa được Tổng Thống George Bush trao phó chức vụ “Ðiều Khiển Toàn Bộ Tình Báo Hoa Kỳ.” Ông là liên lạc viên giữa Kissinger và phái đoàn Bắc Việt tại mật đàm Paris. Ngày 19 Tháng Hai, 2005, tờ Boston Globe có bài viết về ông này và bình luận: “Tuy hồi đó Negroponte chỉ là nhân viên cấp dưới, ông đã có tinh thần rất độc lập và đã phản đối Kissinger về việc chấp nhận để quân đội Bắc Việt đóng lại Miền Nam, cho rằng như vậy là đưa Miền Nam tới chỗ sụp đổ và hành động này có nghĩa là đã bỏ rơi đồng Minh của Hoa Kỳ. Ông Richard Holbrooke (đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc thời TT Clinton, và là bạn đồng liêu với Negroponte lúc còn ở Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia) có nói rằng chính vì Negroponte đã cưỡng lại Kissinger mà bị hạ tầng công tác trong gần suốt thập niên 1970.”


Ðối với Miền Nam, ngay trước lúc sụp đổ hoàn toàn, ông Kissinger còn thốt lên: “Sao chúng không chết phứt cho rồi?” Sau đó, kế hoạch tháo chạy được thiết kế lúc đầu căn bản chỉ là để di tản 6,000 người Mỹ và một số rất ít người Việt.


Cho dù nhiều người có thể biện luận rằng việc giải kết khỏi Miền Nam là điều có lợi cho nước Mỹ đi nữa, nó cũng chỉ là ích lợi đoản kỳ, ở vào thời điểm đó thôi. Trong trường kỳ, việc bỏ rơi, nhất là cung cách tháo chạy đã làm tổn hại rất nhiều tới ‘mức độ tin cậy’ (credibility) của chính sách ngoại giao cũng như uy tín Hoa Kỳ. Bạn thì bớt tin tưởng, thù thì hết kính nể. Sau Việt Nam, vào Tháng Mười, 1979, Iran đã táo tợn đến độ bắt ngay cả nhân viên Tòa Ðại Sứ Mỹ ở Teheran làm con tin hơn một năm. Rồi từ đó, bao nhiêu vụ tấn công vào người và tài sản của Mỹ. Liệu những hành động của Saddam Hussein, Al-Qaeda, biến cố gây nổ tàu Cole ở Qatar, hay sự cố 9/11 có phải là những hậu quả của việc coi thường Hoa Kỳ hay không? Bởi vậy, về lâu về dài, cái giá phải trả chắc chắn đã không phải là thấp.


Tất cả những sự việc ở hậu trường bang giao Việt-Mỹ trong giai đoạn từ khi Mỹ tháo gỡ cho tới lúc bỏ chạy được rất ít người biết tới. Lý do là vì: về phía Mỹ, hồ sơ mật về Việt Nam trong giai đoạn này đã được giấu kín trong văn phòng Cố Vấn Kissinger tại Tòa Bạch Ốc; và về phía Việt Nam Cộng Hòa, nó được hoàn toàn bảo mật trong văn phòng riêng của Tổng Thống Thiệu tại Dinh Ðộc Lập.


Nhiều tác giả nổi tiếng của Mỹ về vấn đề Việt Nam cũng đã phải bình luận về việc này. Trong cuốn Uncertain Greatness, chính ông Roger Morris, nhân vật quan trọng trong Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia (National Security Council (NSC) do ông Kissinger điều khiển, đã phàn nàn: “Dù rằng nó là một vấn đề được viết và bàn luận nhiều nhất trong chính sách ngoại giao, nhưng hồ sơ của Nixon – Kissinger về Ðông Dương trong nhiều phương diện đã ít được hiểu biết nhất… Sự việc mà dưới thời Johnson là một mạng rối rắm giữa các động lực hành chính ở Saigon và Washington.. bây giờ hầu như đã trở nên một sự khống chế của chỉ hai bộ óc trong Tòa Bạch Ốc (Kissinger và Nixon).”


Một tác giả nổi tiếng khác, ông Leslie Gelb trong cuốn The Irony of Vietnam: The System Worked, đã viết: “Câu chuyện về chính sách Việt Nam dưới thời Richard Nixon và Gerald Ford là một chủ đề quan trọng,… nói về việc Hoa Kỳ đã rút ra chứ không phải đã nhảy vào Việt Nam như thế nào… (thế nhưng) những nguồn tài liệu cần thiết để phân tích giai đoạn từ sau 1968 chắc sẽ không có được trong một thời gian nữa.”


Hy vọng rằng cuốn Khi Ðồng Minh Tháo Chạy sẽ lấp được phần nào cái lỗ hổng này của lịch sử. Âu cũng do định mệnh mà người viết được chứng kiến một số sự việc xảy ra tại dinh Ðộc Lập cũng như tại bộ Quốc Phòng và Quốc Hội Hoa Kỳ trong những ngày tháng đầy tuyệt vọng. Trước hết với tư cách là một phụ tá tổng thống, rồi tổng trưởng Kế Hoạch trong nội các. Là người điều hợp viện trợ trên bình diện kinh tế toàn quốc, người viết làm việc trực tiếp với Tổng Thống Thiệu trong những ngày tháng cuối cùng. Trong cương vị này, hồi 1974-1975 nhiều lúc chúng tôi đã phải dẹp bỏ tự ái, lui tới Quốc Hội Hoa Kỳ như một người đi cầu xin.


Vì đã quen với lề lối làm việc ở Mỹ trong nhiều năm trước khi trở về nước giúp tái thiết nền kinh tế, chúng tôi đã luôn luôn mang theo cuốn sổ tay nho nhỏ màu vàng mỗi khi đi họp để ghi chú diễn tiến buổi họp. Kèm theo là những nhận xét hay cảm nghĩ của riêng mình vào ngay lúc đó, viết trong ngoặc. Ở Saigon, những cuộc họp gồm có các buổi giữa cấp lãnh đạo tối cao, các buổi họp giữa Tổng Thống Thiệu và giới chức Hoa Kỳ. Tại Washington là các buổi họp với một số viên chức cao cấp tại bộ Ngoại Giao, bộ Quốc Phòng, và một số nghị sĩ, dân biểu tại Quốc Hội Hoa Kỳ.


Ngoài ra, tôi có ghi lại những cuộc đàm thoại, những chỉ thị cũng như tâm tư, cảm xúc của Tổng Thống Thiệu trong nhiều bữa ăn một mình với ông, hay trong những lúc thư giãn nhấm nháp ly rượu vào buổi chiều tối.


Một phần của những ghi chép đó được dùng trong cuốn sách này. Nhằm bổ sung phần ghi chép, chúng tôi đã cố nghiên cứu thêm trong thời gian qua để tìm hiểu sâu rộng hơn về những diễn tiến đưa tới sự sụp đổ mau lẹ của Miền Nam và cuộc di tản tiếp theo.


Trong phần nghiên cứu và trích dẫn thêm, ngoài những tài liệu nội bộ, chúng tôi còn dựa vào hồi ký đã được xuất bản của các nhân vật chính yếu tham gia vào lịch sử của thời gian này (như các Tổng Thống Nixon, Ford, Ngoại Trưởng Kissinger, Phụ Tá Ehrlichman, Haldeman, Phụ Tá Báo chí Nessen), và sách của một số tác giả uy tín (như các ông Butler, Hersh và hai anh em ông Kalb). Chúng tôi ghi nhận và cám ơn các tác giả và các nhà xuất bản (xem phần “Sách Tham Khảo”).


Về những tài liệu nội bộ, quý nhất là tập hồ sơ tối mật về bang giao Việt-Mỹ dưới thời hai Tổng Thống Richard Nixon và Gerald Ford. Ðầu Tháng Ba, 1975, Tổng Thống Thiệu có cho chúng tôi xem một vài lá thư, rồi một tháng sau, ông đã trao phó toàn bộ văn kiện. Thật là một may mắn mà hồ sơ đó đã được cứu vãn cho lịch sử. Mang nó theo khi bước chân lên chiếc máy bay Pan Am đi Washington ngày 15 Tháng Tư trong công tác cuối cùng cho Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi hết sức lo âu. Lo là vì về phía Mỹ, Bộ Ngoại Giao đang chối đi là không có cam kết gì bí mật hết. Tài liệu này đã được giấu kín, kín đến độ Chính Tổng Thống Ford cũng như ở trong bóng tối.


Mãi tới sau khi Huế bị bỏ ngỏ và Ðà Nẵng đã di tản, ông mới được đọc vài bức thư trong số những văn kiện tối mật của Tổng Thống Nixon gửi Tổng Thống Thiệu. Và việc ông Ford đọc được là do chính chúng tôi khởi xướng.


Cái trớ trêu là vào những ngày giờ cuối cùng, giữa Dinh Ðộc lập và Tòa Bạch Ốc đã chẳng còn có đường dây nào để liên lạc, trao đổi!


Nguyên thủy, tôi chỉ là một giáo sư kinh tế học, rồi làm tổng trưởng Kế Hoạch, có ngờ đâu lịch sử lại đưa đẩy vào cái thế phải chạy loanh quanh để đi tìm “người đưa thư” (là Tướng Fred Weyand) cho tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Cái khó vào lúc đó là làm sao chuyển được thư của một tổng thống Mỹ này tới tay một tổng thống Mỹ khác mà không qua Bộ Ngoại Giao? Sau này, Nghị Sĩ Henry “Scoop” Jackson (Dân Chủ, tiểu bang Washington) đã phải phàn nàn rằng: “Thật là lố bịch và nguy hiểm khi Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ phải nhờ vào quan chức ngoại quốc (ông Hưng) mới biết được những văn kiện tối quan trọng này” (xem Chương 17).


Rồi tới những bức thư cầu cứu cuối cùng của Quốc Hội Việt Nam gửi Quốc Hội Hoa Kỳ: chắc đã bị “thất lạc” rồi? Cho tới nay, không có một dấu vết gì là chúng đã đến tay Quốc Hội. Làm sao có thể hiểu được là guồng máy ngoại giao của một đại cường quốc như Hoa Kỳ lại trở nên lạ lùng như vậy?


Khi đọc được ba trong số những bức thư của Tổng Thống Nixon gửi Tổng Thống Thiệu, Tổng Thống Ford đã xúc động!


Sau đó ông ra phi trường đón tiếp lớp trẻ mồ côi Việt Nam vừa được chở tới San Francisco. Tay bồng một em bé, ông bước xuống máy bay, có chiều âu yếm. Và từ giây phút này có lẽ ông đã thay đổi thái độ về vấn đề tỵ nạn. Ông còn xin thêm quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa, dù biết rằng đã quá muộn. Trước đấy, sau cuộc rút lui cam go của Quân Ðoàn II và cuộc di tản kinh hoàng từ Ðà Nẵng, ông Ford vẫn bình chân như vại, đi Palm Springs đánh gôn. Năm 1985 khi chúng tôi phỏng vấn và đưa ông Ford đọc lại mấy bức thư của Tổng Thống Nixon, ông vẫn còn tỏ vẻ ngậm ngùi: “Không còn một nghi ngờ nào hết, đây là những lời cam kết hết sức quyết liệt.” (Well, there is no doubt these were very categorical commitments.)


Tổng Thống Ford nhận xét như vậy là chính xác. Tuy nhiên, nghe như đãi bôi vì kể cả sau khi ông được biết như trên, ông vẫn để cho ngoại trưởng kiêm cố vấn của ông che giấu Quốc Hội và nhân dân Hoa Kỳ. Vào ngày cuối cùng, trong một cuộc họp báo, chúng tôi quyết tâm phơi bầy cho công luận những “cam kết vô cùng quyết liệt” ấy với mục đích yêu cầu cho một triệu người Việt được tỵ nạn. Cấp lãnh đạo Hành Pháp cũng như Lập Pháp Hoa Kỳ đã rất ngạc nhiên về những tiết lộ này.


Sau đó, rõ ràng có sự thay đổi thái độ về vấn đề chấp nhận đoàn người tỵ nạn. Và chúng tôi đã có dịp được đóng góp thêm cho việc sắp xếp các trại cũng như việc xuất trại, tìm công ăn việc làm cho đoàn người tỵ nạn đợt đầu. Ngoài những tài liệu mật về bang giao Việt-Mỹ, tác giả đã đàm đạo với Ðại Sứ Martin, sau khi ông về hưu. Ông là đại sứ Mỹ cuối cùng ở Miền Nam và là người đã bị bắt buộc phải thi hành mệnh lệnh tháo chạy. Bản thân chúng tôi đã gặp ông nhiều lần để tìm hiểu những gì đã xảy ra bên trong Tòa Ðại Sứ trước khi chiếc trực thăng Lady Ace 09 mang lệnh tổng thống đến bốc ông đi. Ông cho biết một số những diễn tiến quan trọng lúc con thuyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp chìm đắm. Ông còn cung cấp một số tài liệu quý giá cho lịch sử.


Trong những tài liệu này, phải kể tới bức thư Tổng Thống Dương Văn Minh yêu cầu Mỹ rút khỏi Việt Nam. Ngoài ra, còn một số mật điện trao đổi hết sức quan trọng giữa ông và Kissinger vào lúc những ngày giờ cuối.


Ðại Sứ Martin cho hay là ông muốn chờ một thời điểm thuận tiện để sẽ “nói lên lời cuối cùng” về những mánh lới, những thủ đoạn đâm sau lưng của một vài chính trị gia tại Washington. Ông rất muốn bình luận thêm về một nguy cơ thực sự có mà chính ông đã giúp tránh né được. Ðó là suýt nữa có đụng độ lớn giữa mấy sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ với quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào giờ chót. Nó có thể đưa tới chỗ đổ vỡ hoàn toàn. Và trong tình huống ấy, sau hai mươi năm kề vai sát cánh, Việt Nam Cộng Hòa lại trở thành kẻ thù của Hoa Kỳ? Nếu như vậy thì số phận của mỗi người trong chúng ta đã ra sao?


Về phương diện cá nhân, ông Martin còn muốn viết về chuyến ra đi nhục nhã của chính bản thân ông. Ông cho rằng việc này đã làm tiêu hao biết bao nhiêu uy tín của nước Mỹ. Bộ Ngoại Giao dường như không để ý nhiều tới những khổ tâm của ông, lại còn trừng phạt, cho ông ngồi chơi xơi nước tại bộ trước khi về hưu. Và ông đã về hưu sớm hơn là đến kỳ hạn.


Theo chúng tôi được biết, Tổng Thống Thiệu cũng đã có ý định viết hồi ký. Thế nhưng cả hai người đều đã không đủ thời giờ để viết. Cả hai đều đã đi về nơi chín suối, mang theo bao nhiêu ngậm ngùi, chua xót. Một người thì ngậm ngùi, hổ thẹn cho tư cách của một đại quốc, một người thì ân hận, chua xót cho thân phận của một tiểu quốc.


Nhân ngày đánh dấu mười năm sụp đổ Miền Nam (30 Tháng Tư, 1985), tờ New York Times đăng câu phê phán cuối cùng của Ðại Sứ Martin: “Rút cuộc, chúng ta chỉ lo tháo chạy. Ý chí dân tộc của Hoa Kỳ đã sụp đổ.” (In the end, we simply cut and ran. The American national will had collapsed.) Tôi xin mượn một phần câu ông nói làm đầu đề cho cuốn sách này.


Tác giả hoàn toàn không ở địa vị đủ cao cấp để nói lên lời cuối, nhưng nhờ một cơ duyên của lịch sử đã may mắn được gặp lại cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần ở London và Boston để nghe và ghi lại những lời cuối cùng của ông về cuộc chiến. Ngoài ra, còn được nghe những lời thố lộ từ tâm huyết của vị Ðại sứ Mỹ cuối cùng tại Miền Nam, Graham Martin, trước khi ông qua đời. Ông còn căn dặn là chúng tôi nên viết lại những gì được nghe và được chứng kiến để đóng góp cho lịch sử.


Cuốn sách này không đề cập tới toàn bộ những lý do đã dẫn tới sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Dĩ nhiên là trước thất bại, ta phải tự trách mình trước: “tiên trách kỷ hậu trách nhân,” hay “mea culpa”(lỗi tại tôi). Về khía cạnh chính trị nội bộ của Miền Nam chẳng hạn, tác giả không đề cập tới những nguyên nhân mà các tác giả khác đã phân tích rất nhiều: như sự chia rẽ nội bộ, tư cách và khả năng cấp lãnh đạo, tham nhũng, độc tài; hay những thái độ chống đối, thờ ơ, tránh né từ phía một vài thành phần nhân dân. Cũng không bình luận là lãnh vực quân sự, cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Về những địa hạt này, tuy chúng tôi có được nghe nhiều điều đáng buồn về các cấp lãnh đạo chính yếu, nhưng không đủ khả năng, hiểu biết, và kinh nghiệm để nhận xét cho thấu đáo. Về phía Hoa Kỳ, tác giả cũng không đề cập nhiều tới những yếu tố khác như phong trào phản chiến, vai trò báo chí Mỹ, hay chiến thuật quân sự, những đề tài đã được phân tích khá rộng rãi.


Hy vọng rằng cuốn Khi Ðồng Minh Tháo Chạy sẽ giúp độc giả có thêm được những dữ kiện mới và chính xác để tìm ra câu trả lời cho nhiều thắc mắc, nhiều uẩn khúc còn đeo đẳng, và qua dòng thời gian, vẫn chưa được sáng tỏ. Ðây chỉ là một cố gắng thuật lại cho trung thực những gì mình đã mắt thấy tai nghe, và những gì đã tìm hiểu được để chia sẻ với người đồng hương về một chương lịch sử quan trọng của đất nước, đồng thời đúc kết lại những bài học cho các thế hệ mai sau. Ngoài ra, nó cũng có thể cung cấp một số dữ kiện cho các nhà làm chính sách về bang giao với Mỹ của các đồng minh khác. Nhờ đó, họ có thể hiểu rõ hơn về thể chế dân chủ cũng như về cơ cấu và khung cảnh chính trị tại Hoa Kỳ, chứ đừng nhìn vào Hoa Kỳ với cặp kính cận riêng của mình.


Chúng tôi đã chờ một thời gian khá dài mới bắt đầu viết cuốn sách này vì ba lý do: thứ nhất, để hầu hết người Việt Nam chúng ta có thể nhìn lại giai đoạn lịch sử cuối cùng của VNCH một cách khách quan hơn, không bị quá nhiều tâm tình, hoàn cảnh cá nhân chi phối; thứ hai, để chúng tôi có đầy đủ thời giờ nghiên cứu, phỏng vấn, suy gẫm cho thật sâu, thật kỹ; và thứ ba, để cho chính tác giả bớt được cường độ xúc động trước khi viết, giúp cho tác phẩm được trung thực. Về điểm này, chúng tôi đã dẫn chứng tất cả những sự việc, hành động, lời nói bằng văn bản hoặc bằng những ghi chú về nguồn gốc sự kiện (footnotes).


Tuy nhiên, dù đã cố gắng hết sức, chúng tôi vẫn không thể tránh khỏi một số suy nghĩ hay ngôn từ có tính cách chủ quan. Về nhược điểm này, cũng như những sơ sót, lầm lẫn trong cuốn sách, tác giả tin vào sự thông cảm của độc giả.


Chúng tôi xin chân thành cảm tạ tất cả những bạn bè xa gần đã khích lệ và hỗ trợ tác giả trong việc sưu tầm và soạn thảo cuốn sách này.

Việc đóng cửa trường học ở Oakland có thể sẽ chấm dứt sớm hơn dự kiến

 


Theo Katy Murphy – Oakland Tribune


 


OAKLAND – Những ai đang quan ngại về đợt đóng cửa các trường học lần thứ hai và phân vân không biết liệu các trường trong khu vực của mình có tiếp tục mở cửa trong năm 2013 không, nên chú ý đến bản tin này: Vòng đóng cửa trường học lần thứ 2 đã bị hủy bỏ.










Giám Ðốc Học Khu Oakland Tony Smith nói chuyện trong một cuộc họp Hội Ðồng Học Khu Oakland tại trường Trung Học Oakland vào ngày Thứ Ba, 27 tháng 9, 2011. Smith đã đưa đề nghị hội đồng nhà trường đóng cửa 5 trường tiểu học trong năm 2012: Lakeview, Lazear, Marshall, Maxwell Công viên và Santa Fe. (Hình: Jane Tyska/Nhân Viên Hồ Sơ)


Kế hoạch giảm nhân viên công bố vào năm 2011 dự kiến sẽ kéo dài từ 2 đến 3 năm, đã kết thúc chỉ sau một năm.


Hồi tháng 10 năm ngoái, Hội Ðồng Quản Trị Học Khu Oakland đã bỏ phiếu đóng cửa các trường tiểu học và sáp nhập một số trường khác lại với nhau, làm giảm hàng chục trường trong học khu. Thoạt đầu, Giám Ðốc Tony Smith đã nói với học khu, đơn vị đang điều hành gần 100 trường học cho gần 38,000 học sinh, cần phải đóng cửa từ 20 đến 30 trường học để có thể nhận đủ ngân khoản tài trợ. Thế nhưng mục tiêu đó nay đã thay đổi.


Ông Smith nói với một nhóm giáo viên tụ tập tại Youth UpRising vào tuần trước khi ông đề cập đến tiến trình sáp nhập tại khuôn viên trường trung học Castlemont, “Hiện tôi không có ý định đóng thêm nhiều trường hơn nữa trong năm tới.”


Ðiều gì đã khiến có sự thay đổi này?


Năm học tới, lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ, Hội Ðồng Học Khu Oakland hy vọng sẽ có đủ ngân sách mà không cần phải biên giảm. Nói cách khác, với ngân khoản nhận được, học khu có kế hoạch chi tiêu mà không cần phải mượn ngân khoản của chương trình này để tài trợ cho chương trình kia.


Khi ông Smith đến làm việc tại Học Khu Oakland vào năm 2009, giám đốc tài chính của ông, một người cũng mới nhận việc, ước tính rằng sự mất cân bằng tài chánh của học khu là $40 triệu. Phát ngôn viên Troy Flint cho biết: “Tình trạng tài chính của chúng tôi đang có sự thay đổi về quy trình, và đó là lý do tại sao chúng tôi không cần một đợt đóng cửa các trường học trong năm nay.”

Tin mới cập nhật