Lê Tài Ðiển và, những bức tranh theo buổi chiều trôi vào xa, vắng



Du Tử Lê


 


Tôi không biết điều gì khiến tôi vẫn nhớ, dù đã trên hai mươi năm, buổi gặp gỡ đầu tiên giữa tôi và họa sĩ Lê Tài Ðiển: Thượng tuần tháng 11 năm 1989 tại nhà hàng Bida Saigon, quận 13, Paris.










Họa sĩ Lê Tài Ðiển. (Hình tác giả cung cấp)


Bạn tôi đưa tôi đến Bida Saigon để thăm Ðạt, chủ quán. Trước khi dẫn tới Bida Saigon, bạn tôi cố tình cho tôi được “tham quan” hai cơ sở thương mại, anh nghĩ rằng, tôi sẽ thích. Ðó là nhà sách Nam Á và trung tâm băng nhạc Thúy Nga, cùng một tầng lầu với Bida Saigon.


Paris cách đây trên dưới 23 năm, sinh hoạt thương mại của người Việt chưa được phồn thịnh lắm. Nó vẫn còn vẻ gượng gạo của một người mới trở lại sinh hoạt bình thường, sau một trận đau dài.


Ngay nhà hàng Bida Saigon của Ðạt, cũng vậy. Quán nhỏ. Bàn ít. Thưa thớt dăm bàn khách. Nhưng cảm giác ấm cúng đến với tôi lập tức, khi tôi nhận ra nơi chiếc bàn kê gần cửa ra vào, là một nhóm văn nghệ sĩ. Ðôi người tôi quen từ Saigon trước 1975. Số khác, tôi chỉ biết mặt. Trong những người tôi chỉ biết mặt, có Lê Tài Ðiển, họa sĩ. Và, một người hoàn toàn xa lạ với tôi, ngồi cạnh họ Lê là họa sĩ Nguyễn Cầm. Sau khi được giới thiệu, Lê Tài Ðiển mau mắn đứng lên, tìm ghế cho chúng tôi.


Tôi nhớ, câu đầu tiên tôi nói với người họa sĩ nổi tiếng, xa quê hương; đồng thời, cũng nổi tiếng lười vẽ rằng, tôi được coi tranh và hình ông, tự những ngày còn ở Saigon. Không ngờ hôm nay được gặp ông ở đây.


Thay vì trả lời câu nói, như một lời chào của tôi thì, người họa sĩ, tác giả của mấy bức tranh đen trắng từng được in trên vài tạp chí Saigon, sớm gây ấn tượng trong tôi, lại hỏi, uống rượu nhé? Bia không? Ở Paris bao lâu? Khách sạn hay nhà bạn?


Ông nói với tất cả chân tình, không chỉ qua giọng nói mà còn luôn cả khuôn mặt. Nhất là đôi mắt. Tôi nghĩ, tôi không đủ khả năng diễn tả đôi mắt nồng ấm mà, xa vắng. Lẩn khuất những u uẩn, khôn tan của họ Lê.


Ðôi mắt, tựa những con đường Paris. Ban đêm. Nhỏ. Hẹp. Kín đáo. Ðiệu đàng duỗi mình dưới những tàng cây. Như những chiếc dù len, ủ, úm hương thơm từ những xe chở bánh mì, thở ngạt ngào khu place d’Italie.


Tôi cũng không biết nói gì về những bức tranh ẩn tàng, lẩn khuất đâu đó, trong đôi mắt người họa sĩ tài hoa này, những buổi chiều muộn. Những buổi chiều tôi có dịp ngồi với ông, (thường vây quanh, ít, nhiều bạn hữu).


Chưa bao giờ chúng tôi nói chuyện với nhau về văn chương. Càng không hề có chuyện nói với hội họa. Nhưng, cảm nhận tôi, cho biết, những lúc ông im lặng, nhìn xuống ly rượu hiếm khi cạn kiệt của mình, hay ngó mông những đoạn tường dài hoặc, nhà phố ken cứng gạch, ngói và, cửa sổ – Là lúc những bức tranh đen, trắng hoặc mầu tối của ông, thành hình (?).Những đường nét, mầu sắc (dù tối,) hiện ra trên những tấm canvas vô hình, thinh lặng. Như sự thinh lặng của những xa vắng lẩn khuất u uẩn. Khôn tan! Ðôi mắt ông.


Tôi ngỡ đó là lúc chiếc-cọ-hoàng-hôn đang phân bố khuôn mặt ông từng mảng đậm, nhạt. (Mà, mầu chủ đạo, bao giờ cũng là mầu nhang. Tối!)


Lặng lẽ quan sát bạn, trong những thời khắc im sững ấy, nhiều lần tôi tự hỏi:


“Phải chăng hư vô cũng có lúc cao hứng đầu thai thành đường nét và, mầu sắc?”


(Ðường nét, mầu sắc một con người, cúi xuống ly rượu hiếm khi cạn kiệt, hay ngó mông bên kia đường – Là bức tường dài, những nhà phố ken cứng gạch, ngói và, cửa sổ.)


Cảm nhận này ở tôi, về người họa sĩ nổi tiếng, có quá nửa đời gắn bó với Paris, đã lớn thêm, dọc theo lộ trình lao lung nắng-gió-tháng-năm, trong những lần trở lại với T., sau đấy.


Tôi nhớ mùa hè 2004, khi Cổ Ngư/Mạch Nha, Ðặng Mai Lan và các bạn thuộc tổ chức Thư Viện Diên Hồng ở Pháp, tổ chức cho tôi một buổi nói chuyện tại Paris. Dù thời gian eo hẹp và quá bận bịu, chúng tôi vẫn tìm mọi cách gặp lại người họa sĩ lười vẽ và, không bao giờ nói về tranh của mình. Những buổi chiều ngồi quán, đôi khi không thấy cần thiết phải nói với nhau điều gì, tôi lại bắt gặp tôi chờ đợi những chiếc-cọ-hoàng-hôn phân bố khuôn mặt ông từng mảng đậm, nhạt. (Mà, mầu chủ đạo, bao giờ cũng là mầu nhang. Tối!)


Ở lần gặp gỡ ấy, dù tôi vẫn không thể biết những bức tranh đen trắng hay, mầu tối nào đang được ông vẽ trên những canvas vô hình? Nhưng tôi rất muốn nói với ông, đại ý, tôi sẽ vui lắm, hạnh phúc lắm, ngày nào, trong một cuốn sách in ra của tôi, có được một bức tranh ký tên Lê Tài Ðiển, làm phụ bản.


Tôi không biết điều gì níu tôi lại. Tôi không nghĩ tương giao giữa tôi và ông chưa đủ gần, để tôi có thể nói ra mong ước của mình. Tôi trộm nghĩ, ngay cả khi còn sơ giao, thì ngỏ ý của tôi, cũng sẽ không làm phật lòng người họa sĩ tài hoa thường cúi xuống ly rượu hiếm khi cạn kiệt kia.


Bởi vì, với ông, tôi nghĩ, dường rốt ráo đời sống, hội họa, và hư vô, vốn chỉ là một (?).


Có thể, tôi sợ bày tỏ của tôi, sẽ làm cho những xa vắng cùng những u uẩn lẩn khuất trong đôi mắt đầm ấm mà xa vắng nọ, thêm vắng xa? U uẩn!


Có thể, từ vô thức, tôi nghĩ, tôi phải tôn trọng mối thương tâm của ông. Mối thương tâm nghệ thuật chỉ riêng một mình Lê Tài Ðiển, cùng buổi chiều, bức tường dài, những căn nhà ken cứng gạch, ngói và, cửa sổ… đồng cảm. Chia sớt.


Ngày chót, trước khi tôi và T. (nhất là T.) phải trở lại Cali. vì công việc, chúng tôi có một buổi chiều ấm áp bằng hữu. Rưng rưng tình thân. Tôi muốn nhắc tới chuyện chủ nhân nhà xuất bản An Tiêm, Thanh Tuệ cho tôi biết, ông đã mất bao nhiêu giờ, thu xếp bao công việc, đổi bao nhiêu chuyến tầu & metro, để đến kịp buổi hẹn. Ðó cũng là lần Nguyễn Thị Trọng Tuyến được Trọng, người bạn đời tuyệt vời, chở bằng xe riêng, từ thành phố Rouen về Paris, với chúng tôi mà, Lê Tài Ðiển và Kiệt Tấn đóng vai “điều hợp chương trình.”


Dù nhận lời với các bạn, sẽ sớm trở lại, lần gặp đó, trong tôi, lại nhen nhúm ý nghĩ nên xin họ Lê, một bức tranh đen trắng, làm phụ bản cho cuốn sách sẽ in của mình.


Cuối cùng, tôi im lặng. (Như đã từng.)


Khác chăng, lần này, quan sát bạn, những lúc im sững, cúi xuống ly rượu hiếm khi cạn kiệt, lúc hoàng hôn vung chiếc cọ bạo, ngược của nó lên khuôn mặt ông từng mảng đậm, nhạt… (Mà, mầu chủ đạo, bao giờ cũng là mầu khói, tối!) tôi bỗng thấy thôi! Không cần thiết nữa!


Ðúng vậy. Trước giờ chia tay, tôi thấy, không cần thiết gì nữa. Vì cuối cùng, tôi chợt nhận ra:


“Ðịnh mệnh Lê Tài Ðiển là định mệnh của những bức tranh không được vẽ ra.” Chúng đã, đang và, sẽ còn theo những buổi chiều trôi vào vắng xa. U uẩn. Lẩn khuất đâu đấy, cuối đường đôi mắt ông.


Ðó cũng là lúc tôi cảm nhận khá rõ rằng, hoàng hôn không hề vung chiếc cọ bạo ngược của nó lên khuôn mặt ông từng mảng đậm, nhạt… Mà, chính ông, chính Lê Tài Ðiển, tự thân, đã là đường nét, là mầu sắc.


Tuy nhiên, trong tôi lại dấy lên, một câu hỏi khác. Câu hỏi:


“Với một người có khuôn mặt và, đôi mắt tự thân đã là hội họa, liệu y có cần phải vẽ nhiều nữa chăng?”


Câu trả lời của tôi là, “không!”


Tôi cũng không thấy cần thiết, hỏi xin một bức tranh (đen trắng) cho cuốn sách (chưa có) của mình.


Nếu nói ra, tôi tin, T. sẽ không phản đối tôi, quyết định ấy!


Du Tử Lê


(Calif. tháng 1, 2012)

Cựu nữ sinh Gia Long rộn ràng với ‘Xuân Hoài Niệm’


Nguyên Huy/Người Việt


 


GARDEN GROVE (NV) – Vào chiều tối Chủ Nhật, 5 Tháng Hai, cuối tuần này, chị em cựu nữ sinh trung học Gia Long lại cùng nhau họp mặt mừng Xuân mới trong chủ đề “Xuân Hoài Niệm” vào lúc 5 giờ 30 chiều tại nhà hàng Mon Cheri, 12821 Harbor Blvd., Garden Grove, CA 92840.










Cựu nữ sinh trường Áo Tím Gia Long trong một buổi ra mắt tân ban chấp hành. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Gia Long Quế Hương, trong một cuộc đàm thoại với phóng viên Người Việt, cho biết: “Sau những kỳ đại hội toàn thế giới, chị em Gia Long chúng tôi càng thấy mối dây thân ái với nhau trong tình bạn cũ trường xưa càng ngày càng thắm thiết. Xa thì qua điện thoại, email, gần thì mỗi năm chúng tôi có đến ít ra là hai lần họp mặt, không kể buổi ‘Count Down’ cùng liên trường vào đêm giao thừa dương lịch mà năm nào Gia Long chúng tôi cũng tích cực tham gia. Năm nay Gia Long chúng tôi tổ chức họp mặt mừng năm mới vào đầu Xuân thay vì tất niên như mọi năm.”


Ðược hỏi về chương trình hạnh ngộ trong “Xuân Hoài Niệm” năm nay hẳn là có gì khác với mọi năm, Gia Long Quế Hương sốt sắng cho biết: “Có nhiều lắm. Trước hết là chúng tôi đã được 12 thầy cô nhận đến chung vui cùng các học trò cũ. Ðây là tinh thần ‘Tôn Sư Trọng Ðạo’ mà Gia Long chúng tôi mong con em mình sẽ gìn giữ được như thế hệ cha anh. Chúng tôi sẽ dành những phút trang trọng nhất để chúc Tết thầy cô và kính dâng thầy cô chút quà kỷ niệm. Nội dung món quà của tình thầy trò rất đặc biệt, ban tổ chức chúng tôi xin được giữ bí mật, không tiết lộ trước.”


“Thứ đến là một chương trình vui Xuân liên tục với những tiết mục đặc sắc, chẳng hạn như màn ảo thuật do một tài tử ảo thuật của Hollywood vốn là con em Gia Long sẽ đến cống hiến giúp vui. Chương trình văn nghệ có tới 14 tiết mục trong đó có những ‘cây nhà lá vườn’ của Gia Long đã nổi tiếng trong cộng đồng mình như chàng rể Gia Long Trung Chỉnh, ban tam ca Ba Con Mèo ‘The Cat’s Trio’ với Uyên Ly, Minh Xuân và Kim vốn là những Gia Long một thời áo trắng. Rồi Hương Thơ, Thanh Thảo, Song Ngân cũng từng là những cô nữ sinh Gia Long làm điêu đứng biết bao các chàng Petrus Ký, Chu Văn An ngày nào,” chị Quế Hương kể tiếp.


Rồi chị “bật mí” thêm: “Tiết lộ thêm nhé, Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh, nhà văn, khoa học gia và nhà thơ, văn, nhạc Nguyễn Ðình Toàn vốn là rể của Gia Long cũng sẽ có mặt lên bày tỏ những hoài niệm. Hoài niệm gì về Gia Long thì chưa biết, nhưng khối tình với Gia Long thì đã rõ. Ròng rã từ ba tháng nay, cuối tuần nào Gia Long chúng tôi cũng tấp nập tập dượt với nhau để lần hội ngộ ‘hoài niệm’ này sẽ là mối hoài niệm da diết khôn nguôi.”


Hội Cựu Nữ Sinh Gia Long, kể từ sau một thời gian ngắn có chút lủng củng nội bộ, nay đã vượt thoát được và trở thành một khối vững chắc với những đại hội toàn thế giới cứ vài năm lại được tổ chức luân phiên một lần tại những nơi có cộng đồng người Việt quần cư đông đúc như California, Houston (Texas), Virginia. Kể từ ngày thành lập nay đã qua 25 năm gắn bó với nhau. Theo Gia Long Quế Hương thì hội viên chính thức có khoảng từ 150 đến 200 chị em. Còn hội viên tham gia trong bất cứ một buổi tổ chức nào của Gia Long cũng có đến 600 chị em kèm theo những rể Gia Long và con cháu. Nếu tính toàn thế giới thì chị em liên lạc được với nhau không dưới con số 2,000. Con số này được xác định qua các đại hội Gia Long toàn thế giới.


Trung học Gia Long là một trường nữ trung học đệ II cấp lớn vào bậc nhất tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ai cũng nghĩ rằng tên trường là tên của vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn mà vị vua cuối cùng là Hoàng Ðế Bảo Ðại mới mất cách nay ít năm. Nhưng theo nữ Giáo Sư Bạch Thu Hà, có lần trả lời phỏng vấn của chúng tôi, thì “Gia Long là ghép hai thành phố lớn của Việt Nam là GIA-Ðịnh và Thăng-LONG. Nhưng dù là tên vị vua đầu nhà Nguyễn hay của hai thành phố ghép lại thì sau năm 1975, tên Gia Long không còn nữa, gieo biết bao u hoài cho những ai đã từng là nữ sinh trường Áo Tím Gia Long.”


Trường Gia Long khởi thủy là trường Nữ Học Ðường (College des Jeunes Filles Indigènes), thường gọi là Trường Áo Tím vì đồng phục của nữ sinh là áo tím. Trường khai giảng niên khóa đầu tiên vào năm 1914, dạy chương trình Pháp, mà Việt ngữ chỉ có ít giờ. Tất cả có năm cấp lớp tiểu học. Ðến năm 1920 mới mở thêm Cao Ðẳng Tiểu Học, sau này gọi là Trung Học Ðệ I Cấp (từ lớp 6 đến lớp 10). Năm 1942 bỏ cấp tiểu học để phát triển các lớp cao hơn. Mãi đến năm 1950 trường mới có hiệu trưởng người Việt đầu tiên là cô giáo sử địa Nguyễn Thị Châu, và chương trình Việt ngữ được bắt đầu áp dụng.


Có lẽ tên trường được đặt là Gia Long vào thời gian này. Ðến cuối năm 1952, do nhu cầu phát triển giáo dục, trường mở thêm các lớp thuộc đệ II cấp. Niên khóa 1954-1955, trường Gia Long đã nhượng lại buổi chiều cho Nữ Trung Học Trưng Vương di cư từ Hà Nội vào trong hai niên khóa kế tiếp cho đến khi Trưng Vương có địa điểm mới. Gia Long bình thường có tới gần 100 lớp với tổng số học sinh là trên 5,500. Nữ trung học Gia Long được tổ chức khá chu đáo. Ngoài chương trình văn, sử, địa, sinh ngữ và khoa học, toán học, Gia Long còn có chương trình y tế học đường là một chương trình bảo hiểm sức khỏe đầu tiên tại Việt Nam, chương trình nữ công gia chánh với những phòng ốc thực tập chu đáo. Nữ công gia chánh gồm các môn học chính là nấu ăn, thêu thùa, may vá, tổ chức đời sống gia đình. Ngoài ra, Gia Long cũng là thành viên chính của Giải Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam vào những năm trước 1975.


Với một lịch sử huy hoàng trong giáo dục và sự tổ chức quy mô như thế, được vào học nữ trung học Gia Long, học sinh phải qua những kỳ thi tuyển (Concours). Một ít thuộc loại “con nhà” là những công tư chức cao cấp trong chính quyền. Do đó, nữ sinh Gia Long thường có sự kiêu hãnh ngấm ngầm thêm vào cái duyên Nam Kỳ mặn mà trung thực làm tăng thêm nét quyến rũ của các cô gái miền Nam.


Năm nay, Gia Long họp bạn với chủ đề “Xuân Hoài Niệm,” chắc chắn không phải chỉ có Gia Long, rể Gia Long mà còn có rất nhiều Petrus Ký, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Võ Trường Toản, Cao Thắng và anh chị em liên trường đến tham dự vì đã bị thu hút bởi chủ đề “Xuân Hoài Niệm” này.


Ðiều này không phải là tiên đoán vì theo Gia Long Quế Hương thì “Bốn mươi bốn bàn gồm 440 chỗ của nhà hàng đã được bán hết.”


Thôi nếu không mua được vé, đành lại “hoài niệm” đến góc đường Hai Mươi-Hồ Xuân Hương ngày nào chờ trống báo tan trường mà nhẩm hát “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ…”


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

‘Ham một tấc, mất một thước’

 

Về ‘Công ty du lịch Việt làm giàu cho ngoại quốc’ (31 tháng 1, 2012)




‘Ham một tấc, mất một thước’ đấy thôi!


CO2




***

Tui là người Việt Nam chính hiệu đây mà còn ngán du lịch Việt Nam huống hồ du khách nước ngoài .
Chặt chém, chèo kéo, dơ bẩn, thiếu tiện nghi, giựt dọc, phương tiện giao thông công cộng tệ hại ,…cứ vắt kiệt thiên nhiên và các công trình kiến trúc cổ bị khôi phục cẩu thả, thiếu khoa học hoặc bỏ mặc cho thời gian tàn phá.
Ngán lắm dù tui luôn tự cho là mình là người yêu nước
Hầu như nhà ông lớn bà lớn nào cũng đẹp đẽ , đồ sộ , còn bên ngoài ra sao các ông các bà chả cần biết tới .
Thà là ngày nghỉ nằm nhà hoặc đi Thái Lan hay Singapore chơi sướng hơn , chơi ở VN chỉ tổ hành xác mà thôi .


Thuy Dung



Sự thật về cái chết của Nhất Linh (Kỳ 1)


Kỳ 1


 


Nguyễn Tường Thiết


 


LTS – Bài viết dưới đây của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con trai nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, gởi đến trang Diễn Ðàn Người Việt, nhằm phản biện một số ý kiến được đưa ra gần đây, mà tác giả cho là “bóp méo sự thật, sửa đổi lịch sử, xuyên tạc cái chết” của thân phụ ông. Trong số các ý kiến này, có một chương sách trong tác phẩm “Một Thời Ðể Nhớ,” của tác giả Nguyễn Văn Lục, xuất bản mới đây. Người Việt xin đăng nguyên văn bài viết của nhà văn Nguyễn Tường Thiết. Bài đăng nhiều kỳ, trên cùng trang Diễn Ðàn.


 


***


 


Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy rõ khuôn mặt cha tôi, nhà văn Nhất Linh, là vào khoảng cuối năm 1950 khi cha tôi từ Hương Cảng trở về Hà Nội. Năm ấy tôi mới mười tuổi.


Trong thập niên 1940 cha tôi rất bận rộn với những hoạt động chính trị, ông sống nhiều năm bên Trung Hoa. Thời gian này ông chỉ về ghé thăm mẹ con tôi vào những dịp đặc biệt ngắn ngủi, không đủ cho tôi kịp nhận diện khuôn mặt người cha, người mà lâu lâu tôi nghe nhắc đến một cách kính cẩn như thể ông là một nhân vật trong thần thoại hơn là một người có thực ở ngoài đời.


Tôi nhớ ngày hôm đó tôi đã ngây người nhìn ông như nhìn một người khách lạ. Trước mắt tôi nhân vật thần thoại ấy hiện hình bằng xương bằng thịt: Nhất Linh dáng dong dỏng quắc thước, khuôn mặt phong sương, có cặp mắt sâu, đôi mày rậm, vầng trán cao, nụ cười cởi mở dưới hàng râu mép và cái nhìn đặc biệt, nhìn thẳng và sâu vào đôi mắt người đối diện nhưng lúc nào cũng nhiễm một vẻ mơ màng xa vời.


Kỷ niệm về đêm hôm đầu tiên đoàn tụ ấy còn ghi đậm trong trí nhớ tôi một lời nói của cha tôi. Ðó là lời ông tuyên bố quyết định từ bỏ cuộc đời chính trị.


Trong tập hồi ký Nhất Linh Cha Tôi (Văn Mới xuất bản 2006, trang 13) tôi có viết: “Ðêm hôm đầu tiên đoàn tụ, chúng tôi không ngủ, tất cả thức gần suốt sáng để trò chuyện với ông. Trong căn nhà số 15 Hàng Bè Hà Nội nơi mẹ tôi mở tiệm bán cau khô, vào một đêm mùa Ðông, bố mẹ con chúng tôi chen chúc nằm trên một chiếc giường tây lớn. Tôi còn nhớ rõ bố tôi nói với chúng tôi là ngày hôm sau báo chí sẽ đến gặp ông và ông sẽ tuyên bố quyết định từ bỏ cuộc đời làm chính trị để trở về cuộc đời viết văn.”


Sau này đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết Xóm Cầu Mới (Bèo Giạt) tôi thấy cha tôi viết những dòng sau này: “Tặng Nguyên, người rất thân yêu đã khuyên tôi trở lại đời văn sĩ và nhờ thế cuốn Xóm Cầu Mới này mới ra đời” (Hương Cảng, trên núi 16 tháng 10 năm 1949, 1g30 trưa). Như vậy là trí nhớ của tôi, cậu bé 10 tuổi, đã không sai.


Kể từ ngày đầu tiên đoàn tụ năm 1950 ấy cho đến ngày ông qua đời 7 tháng 7, 1963, tôi là người con đã sống gần gũi với cha tôi nhất trong số tất cả những người con của ông. Lý do là khi cha tôi vào Nam năm 1951, ông kéo tôi đi theo ông, trong khi mẹ và các anh chị tôi ở lại Hà Nội cho đến năm di cư 1954. Và sau đó năm 1955 khi ông quyết định bỏ Sài Gòn lên sống trên Ðà Lạt, tôi lại là người ông mang theo để sống gần ông. Là người con vừa thân cận vừa được tín cẩn, tôi là người vừa biết rõ nhất về ông cụ tôi, lại là người chứng kiến cái chết của ông trong những giờ phút cuối cùng.


Là người con hiểu rõ ông cụ tôi, tôi tin rằng khi cha tôi tuyên bố từ bỏ cuộc đời làm chính trị ông đã thành thật với mình. Tuy nhiên thời cuộc đưa đẩy buộc ông phải sống trái với ý muốn của mình. Về cuối đời cha tôi bị liên lụy vì liên quan đến một vụ chính biến, đưa đến cái chết của ông ngày mồng 7 tháng 7 năm 1963.


Cái chết ấy mang mục tiêu chính trị rõ rệt. Ông tự vẫn để “cảnh cáo những người chà đạp lên mọi thứ tự do,” như ông đã viết ra trên giấy trắng mực đen.


Nguyên nhân và động lực đưa đến cái chết của Nhất Linh đã được ông viết ra bằng 71 chữ rất minh bạch và đầy đủ:


 


Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.


7 tháng 7, 1963


Nhất Linh Nguyễn Tường Tam


 


Thế nhưng gần đây lại có những người manh tâm viết sách bóp méo sự thật, sửa đổi lịch sử, xuyên tạc cái chết của cha tôi gán ghép cho cha tôi “tự tử vì căn bệnh tâm thần” (Nguyễn Văn Lục), “tự tử để tránh khỏi phải ra tòa đối chất với thuộc hạ” (Lê Nguyên Phu).


Là người con, lại là người con sống gần gũi với ông cụ tôi nhất, tôi biết chắc là gán ghép này hoàn toàn sai với sự thật và vì vậy tôi thấy có bổn phận lên tiếng.


Bài viết này sẽ chia làm hai phần.


Phần thứ nhất tôi sẽ nói sơ lược về cha tôi, về bối cảnh lịch sử, và nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông, Nhất Linh. Tất cả những gì tôi viết sau đây đều dựa trên những gì mắt thấy tai nghe mà tôi tin rằng đó là sự thật.


Tôi sẽ dành phần thứ hai của bài này để phản bác lập luận của hai ông Nguyễn Văn Lục và Lê Nguyên Phu.


***


Như đã nói ở trên vào năm 1955 cha tôi quyết định lên Ðà Lạt sống và tôi là người ông chọn để đi cùng với ông. Ông cụ thu xếp cho tôi thi tuyển vào lớp Ðệ Lục trường trung học công lập Quang Trung niên khóa 1955-56. Chúng tôi ở trên lầu 2 nhà hàng Poinsard &Verey số 12 đường Yersin Ðà Lạt. Sau này các anh chị tôi cũng thường lên Ðà Lạt vào những dịp Hè hoặc Tết nhưng không ai ở luôn trên ấy, chỉ trừ chị Thoa là người chị kế của tôi. Những năm đầu tiên trên Ðà Lạt là những năm thanh bình. Cha tôi chơi lan, hòa nhạc tại gia vào cuối tuần. Thỉnh thoảng ba chúng tôi (cha tôi, chị Thoa và tôi) đi pic-nic trên núi Langbian hoặc ở Suối Vàng.


Lâu lâu bạn bè của cha tôi từ Sài Gòn lên Ðà Lạt ghé thăm cha tôi. Bạn của cha tôi nhiều lắm và đủ loại: bạn thân, bạn văn, bạn đồng chí và cả các chính khách nữa. Tôi còn nhỏ không chú ý đến chuyện người lớn nên không biết cha tôi bàn luận với khách chuyện gì, nhưng tôi đoán thế nào họ chẳng bàn chuyện thời sự và chính trị. Phải đến rất nhiều năm sau này, sau khi thân phụ tôi mất, tôi có dịp gặp lại một trong những vị khách đó là anh Lê Hưng, một đảng viên VNQDÐ. Anh Lê Hưng nói với tôi là cha tôi tán thành chính sách của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trong việc dẹp loạn Bình Xuyên. Cha tôi nói: “Việc dẹp loạn Bình Xuyên là đúng, nhưng coi chừng, nó có thể mở đầu dẫn đến độc tài.”


Vào năm đó (1955) chính phủ của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa phát động rầm rộ phong trào tố cộng. Thị xã Ðà Lạt tràn đầy băng rôn biểu ngữ chống cộng sản. Trong các dịp lễ tết thế nào cũng có màn kịch tố cộng với những anh hề “cán ngố” áo đen nón cối nhẩy vũ điệu tập thể “son mì son mì son đố mì.” Nhưng song song với phong trào tố cộng một phong trào khác cũng rầm rộ không kém. Ðó là phong trào “suy tôn Ngô Tổng Thống.”


Những bản nhạc suy tôn được phát đi liên tục trên đài phát thanh. Loa phóng thanh đặt ở đầu chợ Ðà Lạt suốt ngày rót vào tai khách đi đường những bản nhạc suy tôn ấy, đến nỗi nó nhập vào tôi, cậu bé 15 tuổi. Một bữa đi học về tôi nhẩy cầu thang miệng hát oang oang: “Bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người…” … “Toàn dân Việt Nam biết ơn Ngô Tổng Thống. Ngô Tổng Tống, Ngô Tổng Thống muôn năm!” Ðến đầu cầu thang ngửng lên tôi bắt gặp ngay gương mặt chưng hửng của ông cụ! Tuy ông cụ không nói gì nhưng tôi đoán chắc bụng ông không vui. Tôi biết ông cụ tôi chúa ghét cái trò suy tôn cá nhân, dù người đó là ông trời đi nữa.


Một vài năm sau tôi chứng kiến một câu chuyện khác khiến tôi tin rằng cái trò suy tôn này đã làm cha tôi không ưa chế độ. Ai cũng biết là hồi đó dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đi xem xi-nê đều phải đứng dậy chào cờ. Dưới chế độ Ðệ Nhị Cộng Hòa luật chào cờ này bị bãi bỏ. Ði giải trí mà phải chào cờ đã là một chuyện vô lý. Nhưng còn thậm vô lý hơn nữa là khi lá quốc kỳ chiếu trên màn ảnh thì chính giữa lại có một khoảng bầu dục in hình vị thủ lãnh quốc gia: chân dung Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.


Ông cụ tôi một bữa đi xi nê tại rạp hát Vĩnh Lợi khi ông buộc phải đứng lên chào cờ ông đã tức giận đứng dậy bỏ về không xem xi nê. Chuyện này tôi biết vì chính tai tôi nghe ông cụ bất mãn than thở với chú Lê Văn Kiểm, một người bạn thân của ông cụ tôi.


Hãy tưởng tượng ông cụ tôi, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, bị buộc phải đứng dậy (không phải để chào cờ) để suy tôn ông Ngô Ðình Diệm!


Tôi chắc là có những người có thể bảo đây là chuyện nhỏ và đổ lỗi cho Bộ Thông Tin làm việc này chứ ông Diệm không hay biết. Nói gì thì nói ở cương vị lãnh đạo quốc gia ông Diệm là người phải chịu trách nhiệm về cái trò suy tôn quá lố này của thuộc cấp. Ðây là một trong những điều khiến cha tôi bất mãn với chế độ nhà Ngô.


Mấy năm sau ngày chấp chánh của chế độ nhà Ngô sự bất mãn của dân chúng gia tăng với sự độc tài gia đình trị của gia đình này. Cả cha tôi và tôi lúc này đều đã về ở hẳn Sài Gòn. Riêng cha tôi vì mua một miếng đất ở Fim-nôm gần Ðà Lạt nên ông thỉnh thoảng vẫn đáp xe đò Minh Trung lên trên ấy vào rừng để “tu tiên” bên dòng suối Ða Mê. Nhưng “tu tiên” không được vì những biến chuyển chính trị ở Sài Gòn khiến cha tôi không thể ngồi yên.


Năm 1958 cha tôi ra tờ báo Văn Hóa Ngày Nay. Tự tay cha tôi vẽ và trình bày bìa cho tờ đặc san này. Ở trên góc bìa đề hàng chữ lớn: Số ra mắt 17 tháng 6, 1958. Chúng tôi không một ai để ý đến cái ngày 17 tháng 6 có ý nghĩa gì cho mãi đến khi tôi gặp anh Lê Hưng. Anh Hưng nói với tôi trước bàn thờ ông cụ: “Anh Tam làm cái gì cũng tính toán rất kỹ lưỡng. Anh chọn ngày ra báo 17 tháng 6 là ngày giỗ của đảng trưởng Nguyễn Thái Học, cũng như anh chọn ngày chết 7 tháng 7 là ngày chấp chánh của họ Ngô để phản đối chế độ này.”


Ở Sài Gòn báo Văn Hóa Ngày Nay bán rất chạy ngay từ số đầu tiên. Năm ấy tôi học lớp Ðệ Nhị trường trung học tư thục Hoàng Việt tại đường Phan Ðình Phùng (khúc giữa Cao Thắng và Lê Văn Duyệt). Trên khúc đường đó có rất nhiều tiệm bán sách hoặc tiệm cho thuê sách. Trên đường đi học qua các tiệm sách này tôi thấy có một hiện tượng mà tôi không hề thấy xẩy ra trước đó: tất cả các tiệm sách này đều có một tấm bảng đen phía trước cửa với hàng chữ viết bằng phấn trắng: HÔM NAY CÓ VĂN HÓA NGÀY NAY.


Nhưng báo chỉ ra được 11 số thì tự ý đình bản. Chúng tôi chưng hửng hỏi ông cụ tại sao báo bán chạy thế mà lại tự ý ngưng? Cha tôi không trả lời. (Ông không có thói quen tiết lộ mọi chuyện cho con cái). Nhưng thái độ của ông lúc ấy rất buồn bã.


Sau này dọ hỏi hai người trong ban biên tập của báo VHNN là ông Nguyễn Thành Vinh và ông Trương Bảo Sơn thì tôi càng kinh ngạc hơn nữa: báo không ra nổi vì lỗ vốn.


Trong cuốn sách “Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ-Người Chiến Sĩ” do Thế Kỷ xuất bản năm 2004, trang 78, ông Trương Bảo Sơn viết:


“Tờ Văn Hóa Ngày Nay ra được 11 số thì đình bản, mặc dù được độc giả khắp nơi hoan nghênh. Ôi, chỉ vì nó được hoan nghênh quá xá mà chết non. Nguyên nhân thế này:


“Trước hết tập Văn Hóa Ngày Nay không được chế độ Ngô Ðình Diệm cho phép xuất bản như một tạp chí mà chỉ là một giai phẩm phát hành không có định kỳ. Vì không có định kỳ nên Bộ Thông Tin kiểm duyệt cố tình để lâu mới trả lại bản thảo để in. Ông Hoàng Nguyên, chủ sự phòng kiểm duyệt đã nói với tôi rằng tuy có nhiều cảm tình với chúng tôi, nhưng không thể làm trái lệnh cấp trên là cản trở tờ Văn Hóa Ngày Nay ra đúng kỳ hạn (tỷ dụ như đúng ngày mồng 1 mỗi tháng) để đọc giả nhớ ngày mua báo. Hơn nữa bài vở phải kiểm duyệt kỹ, nhất là bài của Nhất Linh và Bảo Sơn.”


“Sau nữa, ngoài chế độ kiểm duyệt, phản quyền tự do ngôn luận này ra, chế độ Ngô Ðình Diệm còn có một thủ đoạn hiểm độc nữa là nhà nước giữ độc quyền phát hành báo chí, kể cả giai phẩm. Ngô Ðình Diệm đã có sáng kiến đặt ra Nhà Phát Hành Thống Nhất, bắt tất cả các báo chí phải đưa cho công ty này phân phối. Tập Văn Hóa Ngày Nay bán chạy như tôm tươi mấy số đầu, đã bị ế đi. Nhà phát hành độc quyền của chính phủ đã thi hành độc kế không gửi đủ số báo cho các tiệm sách đã đặt mua. Chúng tôi khi buộc báo thành từng bó đã cố ý đánh dấu riêng, khi nhận báo từ nhà phát hành trả về, thấy những dấu ấy vẫn còn y nguyên, tức là nhà phát hành đã không làm đúng nhiệm vụ, đã giữ báo của chúng tôi trong kho, không phân phối đi. Có những tiệm sách đến điều đình mua thẳng báo với chúng tôi để có đủ báo bán, nhưng chúng tôi phải từ chối vì sợ chính quyền gài bẫy. Ðã nghèo lại bị thua lỗ, chúng tôi đành đình bản tờ Văn Hóa Ngày Nay.”


Sau khi được giải thích tôi mới vỡ lẽ vì sao có hiện tượng cái bảng đen với hàng chữ phấn vì chính quyền đã cố ý trì hoãn không cho báo ra đúng hạn kỳ nên độc giả buộc phải chờ khi nào có bảng đề chữ “hôm nay có Văn Hóa Ngày Nay” mới vào mua được.


Những điều nêu trên là sự thực xung quanh vụ đình bản của tờ Văn Hóa Ngày Nay. Nó nói lên sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ nhà Ngô mà cha tôi là nạn nhân trực tiếp. Cũng như tất cả những nhà văn, nhà báo khác khi họ bị tước đoạt quyền tự do ngôn luận, cố nhiên là Nhất Linh rất bất mãn về chuyện này.


Vào năm 1960 trên bìa báo Tự Do Xuân Canh Tý xuất hiện bức tranh năm con chuột đang đục khoét một quả dưa đỏ và nếu lật ngược cái bìa thì quả dưa đỏ là hình bản đồ nước Việt Nam, hàm ý các anh em của gia đình họ Ngô đang phá hoại đất nước. Tờ báo bị chính quyền tịch thu sau khi báo đã phát hành được một số khá lớn. Không một ai biết tác giả bức tranh là ai. Người ta đoán mò họa sĩ Phạm Tăng là tác giả. Nhưng cha tôi cho chúng tôi biết tác giả là một người rất thân cận với ông: họa sĩ Nguyễn Gia Trí.


 



Bìa báo xuân Canh Tý 1960. (Hình: Thư Viện Ðại Học Cornell, Hoa Kỳ)


 


 Rồi đến cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11, 1960 của một nhóm quân nhân Thi Ðông. Cha tôi bị liên lụy thế nào trong cuộc đảo chánh này để đến nỗi mấy năm sau ông cụ tôi phải ra tòa với tội trạng “phản quốc” và “xâm phạm nền an ninh quốc gia” đưa đến cái tự vẫn của ông ngày 7 tháng 7, 1963?


Nửa thế kỷ trôi qua đã có không biết bao nhiêu giấy mực viết về cuộc đảo chính 11 tháng 11, 1960 này cũng như mức độ liên lụy của cha tôi trong cuộc đảo chính, được viết ra bởi những người thuộc nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau.


Ở đây tôi không nhắc lại cũng không dẫn chứng những bài viết này. Tôi không phải là một nhà nghiên cứu, cũng không có tham vọng viết lịch sử, tôi chỉ nêu lên ở đây tiếng nói của một người con. Nếu tiếng nói đó có góp phần soi sáng thêm cho sự thật của lịch sử thì tôi nghĩ rằng đó là việc tôi phải làm vì bổn phận đối với cha tôi.


Trước hết là cha tôi biết trước vụ đảo chính sẽ xẩy ra. Trong cuốn hồi ký “Nhất Linh Cha Tôi” trang 120 tôi viết: “Bốn mươi mốt năm về trước, một ngày trước cuộc binh biến 11 tháng 11, 1960 ở Sài Gòn, bố tôi bất thần trở về căn gác chợ An Ðông nhìn tôi nói nghiệm nghị: ‘Ngày mai con có đi chơi đâu thì không được lảng vảng gần khu Dinh Ðộc Lập’. Cuộc đảo chính thất bại. Tôi nghe nói là bố tôi sau đó đã lẩn trốn ở nhiều nơi trong thành phố.”


Sau này tôi nghe nói ông phải đi trốn vì ông có tên trong một tờ truyền đơn chống chính phủ được rải ra trong thành phố vào buổi sáng ngày đảo chánh.


Mấy tháng sau chúng tôi ngạc nhiên thấy cha tôi trở về nhà. Anh tôi hỏi thì ông cụ trả lời giản dị “Cậu được vô can” và không tiết lộ điều gì hơn. Tôi thắc mắc tại sao ông cụ lại vô can được khi ông biết trước vụ đảo chánh xẩy ra lại có tên ông trong tờ truyền đơn, trong khi hầu hết những người có tên trong tờ truyền đơn bị bắt hết?


Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi: “Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài, anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.”


Từ những sự kiện trên và là người con gần gũi và thấu hiểu ông cụ tôi nhất, tôi suy luận thế này:


Một mặt cha tôi bất mãn với chế độ nhà Ngô về sự độc tài của chế độ này. Mặt khác vì lời tuyên bố không làm chính trị của ông năm 1950, lại là người rất trọng danh dự, ông cụ tôi hết sức tránh mọi hành vi đi ngược lại lời tuyên bố của ông.


Giữa hai động lực tương phản ấy cha tôi khôn ngoan chọn thái độ đứng giữa nó có thể giúp ông một lúc đạt cả hai mục tiêu: đó là ngầm tán trợ các hoạt động của anh em đồng chí của ông, nhưng riêng ông đứng ngoài.


Sự kiện ông cụ tôi không bị bắt có thể vì người ta không tìm ra bằng cớ. Thứ nhất là ông cụ tôi không bao giờ đi họp. Gần đây tôi có dịp tiếp xúc với ông Nguyễn Liệu, ông cho tôi biết là ông Nhất Linh không đi họp đảng phái, người đại diện là ông Nguyễn Thành Vinh. Ông Nguyễn Liệu hiện cư ngụ tại San Jose, Hoa Kỳ, là người đã tham dự vào những cuộc họp của đảng phái và cũng bị giam tù vì liên hệ đến cuộc đảo chính 11 tháng 11, 1960. Thứ hai là có tên trong trong tờ truyền đơn cũng không hẳn là bằng cớ rõ ràng để bắt vì có gì chứng minh ngược lại là người khác để tên ông cụ tôi vào? Vả lại không phải tất cả những người có tên trong tờ truyền đơn đều bị bắt hết. Cũng theo lời ông Nguyễn Liệu thì ngoài ông cụ tôi ra, người có tên trong tờ truyền đơn là cụ Nguyễn Xuân Chữ cũng không bị bắt giữ.


Sự việc không bắt cha tôi, ngoài lý do không có bằng cớ, tôi cho còn là một sự tính toán cân nhắc lợi hại của chính quyền họ Ngô chứ chưa hẳn do cảm tình riêng của ông Diệm đối với ông cụ tôi như nhiều người nghĩ. Thứ nhất không bắt ông cụ để ông cụ vô can tức là chứng tỏ cho dân chúng biết Nhất Linh không hề bất mãn và phản đối chế độ ông Diệm. Thứ hai họ nghĩ rằng chặt hết tay chân của ông cụ tôi thì ông cụ tôi còn làm gì được nữa?


Nhưng không bắt bớ không có nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do. Trong cuốn “Nhất Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: “Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa) ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.”


Ngoại trừ những người trong gia đình tôi rất ít người biết rằng trong hai năm sau cùng của đời ông cha tôi bị giam lỏng tại gia như thế nào. Công an mật vụ canh chừng đến nỗi chúng tôi nhận diện được từng người mỗi khi từ trên lầu căn gác chung cư chợ An Ðông (nơi chúng tôi trú ngụ) nhìn xuống. Trang 40 cuốn hồi ký tôi tả một đoạn khi cha tôi và tôi rời khỏi nhà: “Trên chiếc tắc-xi rời chợ An-Ðông hướng về phía Sài Gòn, tôi thấy cha tôi cứ chốc chốc lại ngoái về phía sau. Ông bảo tôi: ‘Con xem có xe nào theo không? Lúc nẫy cậu thấy có mấy người lạ đứng bên kia đường nhìn vào nhà mình’. Tôi ra hiệu cho tài xế quặt sang đường Trần Bình Trọng, chiếc xe hơi duy nhất chạy phía sau vẫn tiến thẳng đại lộ Thành Thái. Tôi đáp: ‘Không! Không có xe nào theo mình cả!’.”


Hãy hình dung cảnh tượng ấy diễn ra thường xuyên trong một thời gian dài thì mới thấu hiểu câu nói của cha tôi “ở tù hay ở nhà cũng mất tự do như nhau.”


Vào tháng 5 năm 1963 vụ Phật Giáo bùng nổ ở Huế. Sau đó phong trào Phật Giáo đấu tranh lan rộng khắp nước. Tôi không đề cập chi tiết vụ Phật Giáo này. Hãy để các sử gia nói tới. Tôi chỉ bàn khía cạnh vụ này tác động ra sao đối với ông cụ tôi và nhất là đối với cái chết của ông.


Vụ Phật Giáo xẩy ra hai tháng trước khi ông cụ tôi mất. Thời gian này tại căn nhà An Ðông họ canh chừng rất kỹ ông cụ tôi. Trong khi hầu hết các chính trị gia đối lập bị bắt hết sau vụ binh biến 11 tháng 11, 1960, ông cụ tôi là một trong số ít người được tại ngoại, do đó việc tăng cường canh giữ ông cụ là một điều tất nhiên. Ông cụ rất ít ra khỏi nhà. Những tin tức ông biết được bên ngoài là do báo chí (cha tôi sai tôi đi mua báo Tự Do hàng ngày và ông chỉ đọc tờ báo này thôi), ngoài ra có hai người bạn thân của ông thường xuyên lui tới. Ðó là Bác Sĩ Nguyễn Hữu Phiếm và ông Lê Văn Kiểm. Ông Kiểm (mà chúng tôi gọi là chú Kiểm vì chú nhỏ tuổi hơn ông cụ tôi) thường đến hầu như hàng ngày tường trình diễn tiến của vụ Phật Giáo. Ngày 11 tháng 6, 1963 khi chú Kiểm đến báo tin Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu ở ngã tư Lê Văn Duyệt & Phan Ðình Phùng thì cha tôi sững sờ.


Ảnh hưởng của cái tin này thật khủng khiếp.


Tin này là một phần (tôi cho là quan trọng nhất) làm nên cái chết của Nhất Linh.


Nếu ảnh hưởng đó không mạnh thì tại sao ông lại dành đến 9 chữ trong lá thư tuyệt mệnh vỏn vẹn 71 chữ của ông để viết lên câu “cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu”?


Rồi cuối cùng, mãi ba năm sau xẩy ra cuộc binh biến 11 tháng 11, 1960, vào tháng 6 năm 1963 cha tôi bị mời lên Tiểu Ðội Hiến Binh số 635 đường Nguyễn Trãi để lấy khẩu cung và ở đó người ta cho ông biết trước là ngày 8 tháng 7 năm 1963 cha tôi phải trình diện tại Phòng xử án Ðặc biệt Tòa án Quân sự, tòa Thượng Thẩm, số 131 đường Công Lý, Sài Gòn. Trát đòi chính thức sẽ được gửi sau. (Cha tôi nhận được trát đòi vào ngày 6 tháng 7, 1963 lúc 18:00 giờ).


Tin cha tôi sẽ phải ra tòa để xử án này là động cơ tối hậu làm nên cái chết của Nhất Linh.


(Còn tiếp)

Châu Long (Kỳ 59)


LGT:
Lưu Bình-Dương Lễ là một truyện cổ tích quen thuộc của người Việt Nam, đã được dựng thành những vở chèo, tuồng, và kể lại qua 788 câu thơ lục bát. Nhà văn Mai Khanh đã tiểu thuyết hóa thành truyện Châu Long, mà Người Việt hân hạnh giới thiệu cùng quý vị độc giả trên trang báo và mạng Người Việt Online.


 


Kỳ 59


 


Mà yêu tinh không ăn, không uống, chỉ hút máu người… và ăn bụi bậm lúc ban đêm thôi.


Tự nhiên, như cái máy, tay anh sờ lên trên bàn… Không thấy một hạt bụi… Anh rởn tóc gáy lên. Trước mặt anh bát cháo đã gần nguội, anh đánh liều, lấy thìa quấy lên húp một tí, thấy vị cháo thật ngon lành, anh đánh một hơi hết cả…


Tay với chiếc ấm nước, rót một chén đầy… Uống ngay.


Xong xuôi, anh mang bát đũa xuống bếp… Trên ba ông đồ rau bằng đất, có một siêu nước nóng, trên chiếc bàn gỗ mộc, đặt một cái thau nhỏ bằng đồng, một chiếc khăn mặt trắng tinh.


Trời ơi, nàng là ai? Mà lại chăm chút ta như người vợ hiền chăm cho ông chồng vậy!


Trời còn sớm như thế này, nàng đã đi đâu? Nghĩ mãi, nát óc, không tìm thấy câu trả lời… Anh chặc lưỡi: Thôi, đến đâu hay đó, thân thế ta đã ra thế này… Tiền không có, bạn khinh rẻ, đời mỉa mai, nay có người chăm, đỡ, cơm no áo ấm, ta phải cố học. Nếu nàng có là yêu tinh đi chăng nữa… Cũng chẳng làm sao!


Thiếu gì yêu tinh hiếu nghĩa, nếu yêu tinh yêu ta thật, thì có gì làm lạ, nàng rất đẹp… Ta nguyện sẽ thành tài, hai tâm hồn yêu nhau là đủ… Còn tấm thân… Ai đâu giữ được muôn năm! Thà ta ở với yêu tinh có nghĩa… Còn hơn là gặp người bạn bạc bẽo kia.


Khi rửa mặt, chải đầu xong… Anh lại thấy mắc trên ghế tựa, một bộ quần áo thư sinh.


Nhìn trước nhìn sau, không thấy bóng người, anh cả gan đánh bạo mặc thử vào mình, vừa như in, anh giật mình, hay nàng đã có chồng, mà quần áo này là của chồng nàng chăng?


Nếu ta mặc vào người… Mà chồng nàng trở về, nổi cơn ghen lên, thì lời đâu mà ta chối nổi! Bụng nghĩ vậy tay cởi quần áo ra, vuốt cho thẳng, gấp lại để vào chỗ cũ.


Trở về phòng, anh đi đi, lại lại trong nhà, trong óc anh rối như mớ bòng bong.


Thẫn thờ đến trước tủ sách… Mở ra xem, trong tủ có đủ văn phòng tứ bảo, bao nhiêu là sách thánh hiền… Lạ quá! Nàng là một người buôn bán ở ngoài chợ, mà dáng điệu mềm mại, tứ chi nhỏ nhắn như của các bà mệnh phụ.


Nàng mời ta về nhà… Không hỏi họ tên, không biết ta là ai, cho ta ngủ cùng dưới mái nhà, xét kỹ ra thì là người không đứng đắn!


Mà sao trong nhà đủ sách quý… Tứ thư, Ngũ kinh. Văn chương thi phú.


Lưu Bình không thể nào đoán ra nàng thuộc về hạng người nào!


Tiếng mở cửa lạch cạch, Bình sợ run cả tứ chi ra, đang toan kiếm vật gì để chống cự… Nếu nàng thật là yêu tinh về hiếp anh!!! Hút máu anh, anh không dám quay lại nhìn.


Thì tiếng nàng đã trong như nước suối, êm dịu như khúc nhạc Thiên thai…


– Kìa… Chàng đã dậy, sáng nay em phải đi vắng nhà sớm… Em đã dọn cho chàng đồ điểm tâm, mà sao lại không thay quần áo kia?


Rồi nhanh nhẹn như con mèo, Châu Long xuống bếp cầm bộ quần áo lên treo trên lưng tựa ghế…


Nửa mừng, nửa sợ, anh không biết nói sao, chỉ nhìn nàng chòng chọc.


Châu Long lại mỉm cười. Trời ơi. Nụ cười tươi như đóa hoa sớm nở, hai hàm răng đen bóng như hạt huyền, đều như chuỗi ngọc. Không chút phấn son, mà nhan sắc của nàng, không men rượu cũng say.


Châu Long đặt xuống bàn một mảnh giấy… Nàng đã ghi tên cho Bình vào trường đại học, lại đóng đủ học phí cho một năm…


Tại làm sao mà nàng lại biết tên tuổi ta? Biết cả kích thước để may quần áo, lại nấu nướng cho ta những thức ăn gì mà ta đã thích, nàng biết về ta nhiều quá!


Còn ta? Ta chưa biết nàng là ai? Cố lấy hết can đảm anh chỉ hỏi được:


– Tên nàng là chi?


– Châu Long!


Rồi nàng xuống bếp vo gạo nấu cơm…


Lưu Bình cầm mảnh giấy trong tay, này địa chỉ của trường học, như đã tính toán, tránh cho anh những trường mà ngày xưa đã cùng học chung với Dương Lễ.


Châu Long! Châu Long… Bình đang ngẫm nghĩ xem từ thượng cổ chí kim, có cô gái nào tên là Châu Long chết oan… Hay bị nhà vua bỏ quên, mà hóa thành yêu tinh không?


Một trăm câu hỏi trong đầu… Thì mùi thức ăn đã đưa lên mũi anh thơm ngắt.


Vẫn nhẹ nhàng như chiếc bóng, nàng đặt mâm cơm lên trên bàn, mời anh xơi cơm… Rồi lủi đi mất.


Cơm ăn xong, Bình đứng lên đang xếp dọn bát dĩa bưng xuống, thì nàng đã lặng lẽ đón chiếc mâm cơm trên tay Bình đem ra rửa sạch sẽ.


Lưu Bình thay bộ quần áo mới đi ra trường.


Ðời của hai người sống đều đều như thoi đưa. Ngày nào cũng như ngày ấy. Bình học rất giỏi, có khi không hiểu câu gì, thì nàng đã không quản ngại, dưới bóng ngọn đèn bạch lạp, đã giảng bài cho anh, Bình càng kính nể nàng, chưa bao giờ dám lộ ra một lời bất kính.


Nhiều khi anh muốn đánh liều hỏi xem tại sao mà nàng lại cố tình giúp đỡ anh.


Châu Long chỉ mỉm cười nói:


– Cứ cố tâm học tập, khi nào trúng cử, sẽ biết.


Nàng nói:


– Nhất ẩm nhất trác… Giai do tiền định cả.


Lưu Bình mong thầm rằng Tiền định sẽ cho anh được kết duyên cùng nàng…


***


Hoàng lặng lẽ nhìn đứa trẻ sơ sinh, đứa con của anh, nó mới được hai ngày, đứa con gái.


Giá trong đời anh, không bao giờ gặp Châu Long, có phải bây giờ anh sẽ là một người sung sướng nhất trần đời không?


Nhà anh giầu có… Ruộng sâu… Ao cá… Cối đá, nhà lim, vợ anh hiền lành ngoan ngoãn.


Bây giờ trời lại cho một đứa con, tuy là gái… Xong vợ chồng còn trẻ, vợ anh thế nào mà chẳng cho anh một mụn con trai.


Anh khỏe mạnh, đẹp trai, trời đã phú cho anh một trái tim giầu tình cảm, cha mẹ anh đã cho anh đi học, đọc sách thánh hiền, anh đã yêu Châu Long tha thiết.


Chỉ vì nhà Châu Long nghèo, mà cha mẹ nỡ phá duyên anh…


Tiếng khóc của đứa hài nhi như xé tim anh, nhìn kỹ nét mặt nó… Nó lại giống Châu Long!


Anh muốn cho đời nó được sung sướng, không muốn là nó sẽ đau khổ như anh.


Nó được sinh vào nơi giầu có, nếu nó cũng giống cha, nhiều tình cảm, biết đâu, sau này nó sẽ yêu thương một người nghèo… Mà xung quanh nó ép gả cho nơi môn đăng hộ đối… Mà nó không yêu như anh.


Anh thương nó quá, ôm, bế nó vào lòng, tình phụ tử tràn ngập lòng anh.


Giá nó là con của Châu Long với anh… Xong nó sinh ra đời, khi tim anh tan vỡ.


Giữa lúc Châu Long đã bỏ làng mà ra đi, dấn thân bồ liễu, trong gió bụi phong trần, giữa lúc cha anh đang bị ông quan huyện hiếu sắc… trả thù, mẹ anh ốm mê man vì hối hận…


Ðời cay độc thật! Cha anh đã mất chức lý trưởng, phải bán ruộng nương lấy tiền chạy chọt mới khỏi vô tù…


Những giọt nước mắt nóng của anh rơi xuống đầu đứa bé, đứa bé nín ngay… Như hiểu tâm sự của cha nó.


Nếu anh dùng dằng… Sẽ không đủ can đảm rứt nổi tình phụ tử mà ra đi.

Cụ Ông Đinh Bá Tiếu

 

Bà Trương Kim Thạch

 

Vincentê Bùi Xuân Phúc Felix

 

Cụ Bà Maria Nguyễn Quang Rư

 

Chi Ngô Kim Huệ

 

Bạn Trần Văn Kính

 

Cụ Ông Lê Văn Nhơn

 

Bà Quả Phụ Vũ Văn Đạm

 

Hướng Ðạo Việt Nam mời tham dự chào cờ đầu năm


HUNTINGTON BEACH (NV) –
Ban tổ chức Ngày Chào Cờ đầu năm vừa gởi thông báo mời tất cả các liên đoàn Hướng Ðạo Việt Nam, cựu Hướng Ðạo Sinh, cùng phụ huynh tham dự lễ chào cờ đầu năm, từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều Chủ Nhật, 26 Tháng Hai, tại Huntington Central Park, 18000 Golden West Street, Huntington Beach, CA 92648.









Liên Ðoàn Hướng Ðạo Hoa Lư chào cờ đầu năm 2010 tại Huntington Central Park. (Hình: liendoanhoalu.org)


Chủ đề của năm nay là “Xuân Vững Tiến,” theo ban tổ chức cho biết. Lễ chào cờ do các liên đoàn Hướng Ðạo Việt Nam thuộc nhóm Liên Kết tổ chức.


Chương trình lễ chào cờ như sau:


-10 AM – 11 AM: Nghi lễ


-11 AM – 12 PM: Trò chơi kết thân


-12 PM – 1:30 PM: Ăn trưa


-1:30 PM – 3:30 PM: Sinh hoạt chung theo ngành


-3:30 PM – 4 PM: Chia tay


Ban tổ chức cho biết sự hiện diện của mọi người sẽ là niềm khích lệ lớn lao cho phong trào Hướng Ðạo Việt Nam tại hải ngoại. (Ð.D.)

TNS Lou Correa và BT John Chiang giúp khai thuế miễn phí


SANTA ANA (NV) –
Thượng Nghị Sĩ Lou Correa và Bộ Trưởng Tài Chánh Tiểu Bang John Chiang sẽ phối hợp tổ chức một buổi giúp khai thuế miễn phí từ 2 giờ trưa đến 4 giờ chiều Thứ Tư, 8 Tháng Hai, tại văn phòng cơ quan Consumer Credit Counseling Services Orange County (CCCSOC), 1920 Old Tustin Avenue, Santa Ana, CA 92705, thông cáo của văn phòng ông Correa cho biết.










Một văn phòng khai thuế. (Hình minh họa: AP Photo/Jacquelyn Martin)


“Khai thuế là một công việc rắc rối và tốn nhiều thời gian, dễ làm nhiều người nhầm lẫn,” theo Thượng Nghị Sĩ Lou Correa. “Có rất nhiều gia đình cần sự trợ giúp điền đơn khai thuế để có được tiền hoàn thuế, số tiền này sẽ trực tiếp quay lại với cộng đồng chúng ta và hỗ trợ cho nền kinh tế địa phương. Trong điều kiện kinh tế hiện nay, việc bảo đảm cho những người trả thuế làm việc cực khổ được nhận các dịch vụ khai thuế miễn phí và sẽ nhận được những quyền lợi mà họ xứng đáng được hưởng.”


Người khai thuế cần mang theo những giấy tờ sau đây cho buổi khai thuế:


-Thẻ căn cước (ID).


-Thẻ An Sinh Xã Hội của bản thân, chồng hoặc vợ, con cái còn phụ thuộc, và/hoặc thư xác nhận số An Sinh Xã Hội (SS#) do Sở An Sinh Xã Hội cấp.


-Số căn cước khai thuế cá nhân (ITIN) cho bản thân, chồng hay vợ và con cái còn phụ thuộc.


-Mẫu W-2, W-2G, 1099R, của tất cả nơi làm việc.


-Tờ khai tiền lời hay cổ phần từ ngân hàng (mẫu 1099).


-Một bản sao khai thuế năm trước của liên bang và tiểu bang, nếu có.


-Bằng chứng của số “routing number” và số trương mục “account number” cho việc hoàn trả tiền thuế vào trương mục ngân hàng (có in trên chi phiếu trống).


-Tổng số tiền trả cho nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em ban ngày (daycare provider) và số căn cước thuế của họ (số an sinh xã hội của người chủ nơi cung cấp dịch vụ hoặc số căn cước thuế của công ty cung cấp dịch vụ).


Các thiện nguyện viên được IRS chứng nhận và mọi thông tin cá nhân đều được bảo mật. Một số cá nhân có thể đủ điều kiện nhận “Earned Income Tax Credit” là số tiền thuế mà liên bang bồi hoàn lại cho cá nhân và gia đình có thu nhập từ thấp đến trung bình. Ðể khai thuế điện tử cho một cặp vợ chồng khai thuế chung, cả hai người phải có mặt để ký tên vào những mẫu đơn đòi hỏi.


Ðể biết thêm chi tiết hoặc lấy hẹn cho buổi trợ giúp khai thuế miễn phí, xin gọi điện thoại (714) 558-4400 hay gửi email [email protected]. (Ð.D.)

Mitt Romney ‘hạ’ Newt Gingrich dễ dàng tại Florida

 


TAMPA, Florida (AP) – Ông Mitt Romney “hạ” dễ dàng ông Newt Gingrich trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa tại Florida hôm Thứ Ba, đồng thời “lật ngược tình thế” sau khi bị thua trong cuộc bầu cử sơ bộ ở South Carolina hơn một tuần trước.









Cựu Thống Ðốc Mitt Romney hôn vợ sau khi thắng cuộc bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa tại Florida tối Thứ Ba. (Hình: AP Photo/Gerald Herbert)


 Sự kiện này giúp ông Romney tiến một bước nữa để giành sự đề cử của đảng cho cuộc tổng tuyển cử cuối năm nay. Cho dù bị thua, cựu chủ tịch Hạ Viện Hoa Kỳ thề sẽ tiếp tục tranh cử với vị cựu thống đốc tiểu bang Massachusetts.


Cựu Thống Ðốc Romney, nói về sự đoàn kết như thể ông đã là người được đảng Cộng Hòa đề cử, cho biết ông “sẵn sàng lãnh đạo đảng và đất nước chúng ta” và “đẩy” Tổng Thống Obama của đảng Dân Chủ ra khỏi Tòa Bạch Ốc. Phát biểu trước ủng hộ viên đầy hân hoan, vị cựu thống đốc không ngần ngại tấn công trực tiếp vào Tổng Thống Obama và nói cuộc tranh cử của đảng Cộng Hòa “không chia rẽ chúng ta, mà là chuẩn bị cho chúng ta” vào mùa Thu này.


“Thưa tổng thống, ông được bầu lên để lãnh đạo, ông đã chọn con đường của ông, bây giờ là lúc ông nên tránh ra,” ông Mitt Romney tuyên bố.


Với khoảng 79% số phiếu đếm được vào chiều Thứ Ba, kết quả cho thấy ông Romney được 47% số phiếu, ông Newt Gingrich được 32%, cựu Thượng Nghị Sĩ Rick Santorum được 13% và Dân Biểu Ron Paul được 7%.


Trong khi đó, ông Gingrich bác bỏ mọi dự đoán là ông sẽ bỏ cuộc.


“Chúng ta sẽ tranh cử mọi nơi,” ông nói, trong khi đứng trước một tấm bảng có hàng chữ “còn 46 tiểu bang nữa.”


“Rõ ràng cuộc đua này chỉ còn hai người, một nhà lãnh đạo bảo thủ Newt Gingrich và một người ôn hòa thuộc tiểu bang Massachusetts,” ông Gingrich nói.


Với quy định “được ăn cả ngã về không” của Florida, ông Romney sẽ có được 50 đại diện cho mình tại Ðại Hội Ðảng Cộng Hòa được tổ chức ở Tampa, Florida, vào Tháng Tám, một con số đại biểu nhiều nhất của một cuộc bầu cử sơ bộ cho đến lúc này.


Nhưng phần thưởng lớn nhất của ông Romney là sự kích thích chính trị trong “cuộc chiến” bên trong đảng Cộng Hòa để chọn người đối đầu với đối thủ Obama trong khi Hoa Kỳ đang vật lộn để hồi sinh trong một cuộc suy thoái kinh tế kéo dài nhất trong nhiều thập kỷ.


Sự kích thích này thuộc về ông Romney khi ông thắng cuộc bầu cử sơ bộ tại New Hampshire cách đây ba tuần, rồi bị ông Gingrich bất ngờ “giật mất” tại South Carolina 11 ngày sau.


Bây giờ, chiến thắng lại thuộc về vị cựu thống đốc Massachusetts, 10 ngày sau khi ông thay đổi chiến thuật, chuyển hướng qua một cuộc vận động mạnh mẽ hơn, cùng với việc sử dụng hiệu quả lợi thế tài chánh đối với ông Gingrich qua các quảng cáo mạnh trên truyền hình.


Lần đầu tiên trong cuộc tranh cử sơ bộ, thăm dò ở phòng phiếu cho thấy phụ nữ bắt đầu ủng hộ ông Romney nhiều hơn. Ông Romney thắng hơn 50% cử tri nữ, trong khi ông Gingrich chỉ được chưa tới 30% nhóm này ủng hộ.


Về phương diện gia đình, chỉ có một nửa cử tri nữ chấp thuận chuyện ông Gingrich ba lần lấy vợ. Trong khi đó, 8/10 cử tri nữ coi ông Romney là một người đàn ông mẫu mực.


Giống như ở Iowa, New Hampshire và South Carolina, khoảng một nửa cử tri Florida nói điều quan trọng nhất đối với họ là chọn một ứng cử viên có khả năng thắng ông Obama trong Tháng Mười Một, theo thăm dò của hãng thông tấn AP và các hệ thống truyền hình.


Hơn 600,000 cử tri Florida bỏ phiếu trước ngày bầu cử, bằng phiếu khiếm diện hoặc bỏ phiếu sớm, tăng nhiều so với cuộc bầu cử sơ bộ bốn năm trước, và có thể là một con số kỷ lục. Con số cử tri tham dự bầu cử sơ bộ tại ba tiểu bang Iowa, New Hampshire và South Carolina năm nay đều là kỷ lục. (Ð.D.)

Người Miến Ðiện còn tin nhau



Ngô Nhân Dụng


 


Tại sao người Miến Ðiện họ tin nhau như vậy? Ðây là một thắc mắc chung khi chúng ta thấy bà Aung San Suu Kyi chấp nhận ghi tên tranh cử, và nhiều ứng cử viên thuộc đảng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ của bà cũng ra tranh cử; trong những cuộc bầu cử bổ túc vào một Quốc Hội đã được bầu lên năm ngoái.


Năm ngoái, liên minh này (viết tắt là NLD theo tên trong tiếng Anh) đã hoàn toàn tẩy chay cuộc bỏ phiếu vì nhiều người trong đảng vẫn còn ở trong tù, mà cũng vì họ không tin tưởng vào chính quyền của Tổng Thống Thein Sein vẫn do nhóm quân phiệt đứng sau điều động. Năm nay, những tù nhân mới được tự do cũng sẵn sàng “đánh cá” vào thiện chí của ông Thein Sein. Nhiều người còn trong lớp tuổi dưới 40, đã bị cầm tù hàng chục năm từ 1988, đã nói với nhà báo: “Bà Suu Kyi tin ông Thein Sein nói thật. Chúng tôi tin ở óc phán đoán của bà.” Người ta tin Bà Suu Kyi đủ khôn ngoan, mà bà thì tin ông Thein Sein nói thật. Người Miến Ðiện còn tin nhau như vậy, thật là một điều đáng quý, một hiện tượng hiếm thấy trong đời sống chính trị ở các nước còn chưa phát triển!


Vấn đề này không đặt ra ở các nước đã có kinh nghiệm sống dân chủ tự do. Những người ra ứng cử tổng thống hay vào Quốc Hội ở Mỹ hay ở Pháp năm nay không ai đặt vấn đề tin hay không tin chính quyền. Bởi vì người ta quen sống trong những xã hội có luật pháp, họ đã sẵn có lòng tin ở hệ thống dân chủ trọng pháp. Trong những xã hội đó guồng máy hành chính tổ chức việc bầu cử không theo đảng nào cả; công an cảnh sát không phục vụ một nhóm nào cả. Các đảng phái chính trị tha hồ tranh giành nhau, guồng máy nhà nước đóng vai trọng tài, hoàn toàn trung lập, độc lập đối với các đảng phái. Quyền trung lập và độc lập đó được Hiến Pháp bảo đảm; nhưng quan trọng hơn nữa là được dư luận dân chúng, báo chí, truyền thông tự do bảo đảm. Sống trong không khí trong sạch như vậy, các nhà chính trị bắt buộc phải tôn trọng kết quả những cuộc bỏ phiếu; tôn trọng luật chơi dân chủ.


Ở những nước chậm tiến, không có các điều kiện trên. Những người cầm quyền thường dùng dùng công an cảnh sát như đám tay sai để áp lực dân bỏ phải phiếu cho họ. Họ dùng guồng máy cai trị để ban ân phát huệ mua chuộc nhân viên trong bộ máy tổ chức bầu cử, mua chuộc các nhóm cử tri. Báo chí không được tự do thông tin và phê phán, các ông nắm quyền tự tung tự tác. Và có khi họ bác bỏ ngay kết quả cuộc bỏ phiếu nếu thấy không được dân tín nhiệm. Năm 1988, chính quyền quân phiệt Miến Ðiện đã làm việc đó. Khi cho dân bỏ phiếu tự do mà thấy đảng NLD thắng đa số trong Quốc Hội, các ông tướng xóa bỏ luôn kết quả rồi bắt bớ giam cầm những người đối lập hàng chục năm trời.


Vậy tại sao bây giờ phe đối lập ở Miến Ðiện lại tin vào lời hứa hẹn cải tổ của Tổng Thống Thein Sein? Vì họ đã thấy những hành động cụ thể chứng tỏ nhóm quân phiệt đã nhượng bộ, trả lại nhiều quyền tự do cho người dân. Nhưng nguyên nhân quan trọng hơn, là trong 40 năm nắm quyền, các tướng lãnh quân phiệt chưa giết chết niềm tin trong xã hội Miến Ðiện.


Mặc dù nhóm tướng lãnh Miến Ðiện trước đây cũng độc tài và tàn bạo không thua gì những nhà độc tài khắp thế giới, nhưng họ chưa làm tan rã hết nền tảng đạo đức của dân tộc Miến, trong đó có niềm tin của mỗi con người đặt vào người khác. Quân phiệt Miến Ðiện là những nhà “độc tài non;” tuy cũng tham quyền và tàn bạo nhưng không biết dối trá một cách có hệ thống tinh vi như các đảng cộng sản.


Các chế độ cộng sản hủy hoại đạo đức của xã hội vì họ nối dối một cách có hệ thống với những phương pháp tinh vi được sử dụng tận tình. Các đảng cộng sản đều có một bộ máy tuyên truyền khổng lồ để làm công việc nói dối. Họ dùng các thủ đoạn gian trá đánh lừa dân, đánh lừa các đối thủ, và thường hãnh diện khi các thủ đoạn đó đạt kết quả.


Tại sao các chế độ cộng sản phải dựa trên dối trá? Bởi vì các đảng cộng sản dựa trên chủ nghĩa Marx-Lenin. Họ đã học tập các thủ đoạn lường gạt và tuyên truyền theo kinh nghiệm quốc tế, chỉ việc đem về mỗi nước thi hành. Chế độ phải nói dối trước hết vì lý do thực tế. Khi sự thật trái ngược hẳn với các lý tưởng được đề ra, thì phải nói dối để ngụy biện, bào chữa. Sau đó, phải nói dối lần thứ hai để chữa cho lần nói dối trước. Rồi cứ thế tiếp tục không bao giờ ngưng! Nhưng lý do quan trọng không phải là do thực tế mà nằm trong bản chất của các đảng cộng sản, khiến họ tự cho phép sống gian dối mà không cần hổ thẹn.


Cộng sản quốc tế đã biến chủ nghĩa Marx-Lenin thành một thứ tín ngưỡng vô thần. Bản chất của tín ngưỡng này dựa trên lòng tin tuyệt đối, Ðảng tự cho mình đã nắm được Chân Lý, Lẽ Phải. Cho nên, những đảng viên cuồng tín không từ nan một hành động tàn ác nào, không ngần ngại giết người, chôn sống người, và không ngần ngại dùng các thủ đoạn gian trá, khi làm nhiệm vụ đối với đảng. Tất cả tất cả được biện minh bằng niềm tin rằng họ đang đi đúng chiều hướng của lịch sử nhân loại. Ðảng cộng sản muốn thay đổi cả thế giới, trong đó phải triệt để thay đổi những nền nếp đạo lý cũ, thay thế bằng một nếp sống tinh thần mới. Hồ Chí Minh đã viết mấy bài huấn luyện cán bộ và đảng viên về “Ðạo Ðức Cũ và Mới,” hay “Ðạo Ðức Cách Mạng.” Sau khi phê phán nền đạo đức cũ, bị coi là hủ lậu, Hồ Chí Minh chỉ kết luận một điều: Nền Ðạo Ðức Mới, hay Ðạo Ðức Cách Mạng, là tuyệt đối tuân hành mệnh lệnh của đảng. Ðọc hết các tài liệu trên (vẫn còn in trong Hồ Chí Minh Toàn Tập) thì chúng ta hiểu tại sao nền tảng đạo đức ở nước ta đã bị sụp đổ.


Các đảng viên cộng sản vì thế chỉ cần tuyệt đối trung thành với đảng là đủ; nếu vì quyền lợi đảng thì không một thủ đoạn gian ác, dối trá nào không dám làm. Giống như những tín đồ quá khích ôm bom tự sát gần đây, sẵn sàng hy sinh vì tín ngưỡng. Nhiều đảng viên bị đầy đọa đến chết vẫn còn nghĩ: Ðảng không thể nhầm được! Ðảng sẽ minh oan cho mình! Chính thứ tín ngưỡng vô thần này đã giết chết niềm tin trong xã hội. Vì khi còn có địa vị và nắm quyền hành thì chính các đảng viên bị oan ức này vẫn nhân danh đảng thản nhiên dùng mọi thủ đoạn gian dối và độc ác, nghĩ rằng mình vẫn theo đuổi một lý tưởng tốt đẹp! Người nắm quyền dùng các thủ đoạn gian trá thì người dân cũng bắt buộc phải sống dối trá, dối mình, dối người, ngay cả trong gia đình cũng phải gian dối với nhau. Thứ chất độc này đã thấm nhiễm vào tất cả mọi tế bào trong cơ thể xã hội.


Nước Miến Ðiện không gặp tai họa đó. Những nhà tranh đấu dân chủ ở Miến Ðiện nhìn chế độ độc tài quân phiệt thấy bản chất của nó là do dốt nát, vô minh, chứ không do một chủ nghĩa vô thần đem từ bên ngoài tới áp đặt trên nhân dân. Chế độ quân phiệt Miến sai lầm từ khi ông Newin theo chủ trương kinh tế tự cung tự cấp, bài xích các nước dân chủ Tây phương, thân thiện với các nước cộng sản, khiến mức sống dân Miến Ðiện bị tụt hậu không khác gì Việt Nam trước khi thay đổi. Nhưng các nhà quân phiệt không tạo ra một bộ máy tuyên truyền dối trá một cách có hệ thống. Họ không làm nước Miến Ðiện nhiễm độc bằng một lý tưởng hão huyền nào để biện minh cho chế độ độc tài. Cho nên họ vẫn còn tôn trọng những đạo lý Phật giáo đã thấm nhiễm trong dân tộc Miến Ðiện từ hàng ngàn năm giờ vẫn chưa thay đổi.


Vì vậy người Miến Ðiện còn có niềm tin; những nhà tranh đấu dân chủ thấy có thể tin vào lời hứa của ông Thein Sein khi có thể kiểm chứng bằng việc làm. Niềm tin đó không phải là vô điều kiện mà dựa trên những hành động cụ thể, được thi hành từng bước một. Trước khi gặp bà Aung Sang Suu Kyi để trình bày ý định dân chủ hóa chế độ, ông Thein Sein đã nới lỏng cho báo chí và các mạng lưới Internet được tự do hơn. Các quan sát viên nước ngoài đã ngạc nhiên, đánh giá tình trạng thông tin ở Miến Ðiện trở thành tự do nhất trong vùng Ðông Nam Á, không kém Thái Lan hoặc Singapore. Sau khi đã thỏa hiệp với Bà Suu Kyi, chính quyền Thein Sein tiếp tục chứng tỏ thiện chí qua những hành động cụ thể khác: Trả tự do cho các tù nhân chính trị, và tổ chức bầu cử để những người đối lập này có cơ hội xuất hiện chính thức trên diễn đàn chính trị.


Việc làm mạnh dạn nhất của ông Thein Sein là đã ngưng ngay việc xây dựng đập nước ở Myitsone đã được giao khoán cho Trung Quốc sau khi dư luận dân chúng bày tỏ nỗi lo ngại kinh tế ngày càng lệ thuộc vào nước láng giềng phía Bắc. Hành động này cho thấy các tướng lãnh cầm quyền biết lắng nghe ý dân. Họ quyết định trở về với quyền lợi chung của dân tộc chứ không mù quáng tự ái chỉ biết quyền lợi riêng để bị ngoại bang mua chuộc. Thái độ cương quyết với Trung Quốc cũng là một thứ đảm bảo, vì người ta biết hậu quả kinh tế của chính sách chấm dứt lệ thuộc Trung Quốc là phải mở cửa giao thiệp với các nước dân chủ tự do.


Hành động Miến Ðiện mời mọc rồi tiếp đón ngoại trưởng Mỹ cũng giúp người dân Miến Ðiện tin tưởng hơn. Vì từ bao năm nay, một điều kiện mà các chính quyền Mỹ vẫn đòi hỏi trước khi bãi bỏ cấm vận là nhóm quân phiệt phải trả các quyền tự do cho dân Miến Ðiện. Xin bang giao lại với nước Mỹ tức là cũng chấp nhận sẽ thi hành những điều kiện đó. Phản ứng của cộng đồng quốc tế trở lại giao thiệp với Miến Ðiện là một thứ bảo đảm cho người dân thấy có thể tin rằng chủ trương dân chủ hóa của Thein Sein là một sự thật. Chính vì thế, họ có thể mạnh dạn nói: Hãy bỏ qua quá khứ.


Nhìn vào tấm gương nước Miến Ðiện chúng ta học được một điều: Muốn tái tạo niềm tin trong xã hội Việt Nam, chúng ta cần những hành động cụ thể, chứng tỏ lời nói đi đôi với việc làm. Muốn tạo dựng niềm tin phải bắt đầu bằng những hành động công khai, minh bạch. Phải tôn trọng sự thật. Người dân chỉ tin có sự thật khi họ có các quyền tự do phát biểu. Bao giờ các báo, đài, các mạng lưới ở nước ta mới được tự do? Nếu chưa đạt được điều kiện tối thiểu đó thì còn chưa muốn bắt đầu tái tạo niềm tin.

Ðình công, bảo vệ y tế và hưu bổng


LOS ANGELES, California –
Các y tá và nhân viên y tế chưa tham gia công đoàn tại Kaiser Permanente Los Angeles Medical Center biểu tình trong chương trình đình công kéo dài 24 tiếng ngày 31 Tháng Giêng, 2012, tại Los Angeles, California.



Các nhân viên tại 160 chi nhánh Kaiser trên toàn tiểu bang đồng loạt biểu tình để phản đối ý định của công ty cắt bớt phúc lợi y tế và hưu bổng của nhân viên. (Hình: Kevork Djansezian/Getty Images)

Không ‘theo,’ không ‘dựa’

(Nhân đọc tin “Việt Nam không dám theo Mỹ vì phải dựa Bắc Kinh”)


“Việt Nam không dám theo Mỹ vì phải dựa vào Bắc Kinh,” đây chỉ là nhận định chủ quan của cá nhân. Theo tôi nghĩ, vấn đề là Việt Nam là một nước luôn coi trọng độc lập, tự do, có bản lĩnh chính trị, kinh tế, quân sự. Việt Nam cũng luôn muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới với tinh thần bình đẳng, tôn trọng và bảo vệ quyền lợi của nhau… Do đó Việt Nam không phải “theo” ai và cũng không phải “dựa” vào ai… còn với những hàng hóa của Trung Quốc thì từ lâu nhân dân Việt Nam coi đó là “hàng bẩn” có thể thay nhãn mác đánh lừa người tiêu dùng.


nguyenngoc (31 Tháng Giêng)


 


Tòa Soạn: Thư của độc giả “nguyengoc” có hai ý. Ý thứ nhất: “Việt Nam làm bạn…,” và ý thứ hai: không dùng hàng Trung Quốc. Ý thứ nhất nghe rất quen, chữ to, kêu lớn, nhưng trống không, như đọc thuộc lòng. Còn ý thứ hai, ai cũng biết, cả thế giới đang điên đầu với hàng Trung Quốc; không có cũng nhức đầu, mà xài chúng thì cũng nhức đầu không kém.

Nhìn lại 36 mùa Xuân qua

 


Nguyên Huy/Người Việt


 


Tính đến Xuân Nhâm Thìn 2012 thì người Việt hải ngoại đã “ăn” được 36 cái Tết ở hải ngoại. Nhớ lại cái Tết đầu tiên 1976, nhạc sĩ Nam Lộc có lần kể: “Khi ấy chúng tôi đang ở Los Angeles sau khi được chuyển về từ đảo Guam.









Một đêm thắp nến đấu tranh cho tự do tôn giáo của cộng đồng người Việt tại miền Nam California. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


 Trong một tâm trạng quá chán chường cộng thêm với những lo lắng cho một tương lai bất định và trong một hoàn cảnh cô đơn lại nhìn về trong nước mà lòng rối bời, ai còn ai mất, ai vào tù thật là hoang mang vô định. Cố gắng, chúng tôi đã hội tụ được một số anh em cùng qua một giao thừa trong một nhà hàng của người Ðại Hàn. Chúng tôi đã khóc mà nhìn nhau không nói được lời gì trong cái đêm giao thừa đầu tiên ấy…”


Từ sau cái Tết tha hương vô định ấy, người Việt tị nạn đã dần tạm được ổn định, như lời thi sĩ Ngọc Hoài Phương kể: “Anh em nghệ sĩ chúng tôi mới bàn nhau tổ chức một nhạc hội nhân dịp Xuân về trên xứ người. Lần tổ chức ấy khá là thành công với sự tham dự của đồng bào mình từ nhiều nơi kéo về.”


Rồi từ đó, anh chị em sinh viên người Việt tại những đại học ở Nam California cũng tổ chức đón Xuân. Mới đầu thì chỉ trong nội bộ sinh viên của trường, sau kết hợp với nhau làm chung tại một chỗ. Ðại Học GoldenWest là nơi được chọn để tổ chức Hội Xuân Sinh Viên trong nhiều năm. Nội dung của những Hội Xuân ấy cứ phong phú dần lên theo mỗi năm với những sinh hoạt truyền thống Tết của dân tộc Việt Nam. Bao nhiêu tâm trí của những người Việt tha hương từ trẻ tới già đã đóng góp vào những Hội Xuân này để đến nay hằng năm Hội Tết Sinh Viên Việt Nam Nam California đã trở thành Hội Xuân chung của cộng đồng với số lượt người tham gia lên tới hàng trăm ngàn người vào mỗi dịp sinh viên mở hội.


Khi những đợt “thuyền nhân” được nhận vào Hoa Kỳ và khi những đợt đoàn tụ gia đình trong những chương trình bảo lãnh, cựu sĩ quan VNCH, cựu tù, con lai đến Mỹ dồn dập vào đầu thập niên 1990 thì người Việt tị nạn ở Hoa Kỳ đã trở thành một cộng đồng khá vững mạnh trong cộng đồng đa văn hóa của Hoa Kỳ. Khác với các cộng đồng gốc Châu Á khác, cộng đồng người Việt đã nổi bật lên tính chất chính trị. Ngay từ những năm đầu tị nạn, người Việt đã sôi nổi dấy lên những phong trào phục quốc. Những mùa Xuân trong thời gian ấy là những mùa Xuân của những Kinh Kha. Những mùa Xuân ấy cũng là những mùa Xuân tràn đầy hy vọng một ngày về vinh quang. Người ta không tổ chức Hội Xuân để khuây đi niềm cố quốc mà tổ chức Hội Xuân để làm sục sôi ý chí trở về.


Nhưng vận nước vẫn chưa đến nên những phong trào phục quốc cứ tan dần trong sự mòn mỏi đợi chờ, trong sự thất vọng khi cơ quan FBI của Hoa Kỳ nhúng tay vào việc thuế má của hệ thống kinh tài một tổ chức phục quốc.


Lòng tưởng nhớ cố quốc không vì thế mà suy giảm, trái lại nó càng tha thiết hơn. Không một nơi nào có người Việt quần cư, dù chỉ có vài ba ngàn người, là không có những lễ hội xuân cho mình. Lớn thì có ở California, Texas, Louisiana, vừa vừa thì có ở Virginia, Chicago, Florida và nhỏ thì có ở New York, Idaho… quây quần nhau trong khuôn viên một vài gia đình.


Xuân đến, người Việt vui Xuân đón Tết ở hải ngoại nay thì không thiếu một thứ gì từ bánh chưng, bánh tét, giò thủ, dưa hành, câu đối đỏ và cả pháo nữa. Người trong nước du lịch qua California cũng phải thốt lên “hàng Tết ở Cali còn nhiều hơn cả trong nước.”


Nhưng đó chỉ là một cái nhìn phiến diện. Người Việt 36 năm qua đã không chỉ hình thành có như thế mà trên nhiều phương diện, người Việt tị nạn như đã kéo dài được một Việt Nam Cộng Hòa tốt đẹp hơn. Tuy không có chính quyền cụ thể, người Việt vẫn có một thứ chính quyền mà dù muốn hay không mọi người đều tôn trọng. Ðó là ý thức tự do, dân chủ được cụ thể hóa qua ngọn Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ và bài quốc ca. Ngọn Cờ Vàng thì đã có đến trên ba chục thành phố, quận hạt và tiểu bang Hoa Kỳ và nhiều nước tự do công nhận là biểu tượng của người Việt tự do. Tuy không có các cơ cấu chính quyền nhưng phải nói rằng báo chí, truyền thông của người Việt hải ngoại đã hoạt động hữu hiệu hơn cả bất cứ bộ thông tin tuyên truyền nào của các chính phủ VNCH thời Ðệ I cũng như Ðệ II Cộng Hòa. Hàng chục đài truyền hình, hàng trăm tờ báo lớn nhỏ của người Việt hải ngoại đã làm cái công việc thông tin và tuyên truyền cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Cái lý thú là cái mạng lưới truyền thông ấy lại không phải nằm trong một hệ thống chính trị nào mà cái mạng lưới ấy tự ý thức được công việc mình đang làm đối với đất nước và dân tộc. Cũng lý thú nữa là cái mạng lưới ấy cũng tự nguyện đặt dưới quyền vô hình của người đọc, người xem là những người dân Việt tị nạn cộng sản.


Cộng đồng người Việt hải ngoại tuy không có bộ ngoại giao, nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ, Quốc Hội Âu Châu vẫn được nghe tiếng nói tranh đấu cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Ðôi khi tiếng nói ấy còn ảnh hưởng được đến chính sách của các nước tự do như mới đây Trung Quốc đã phải cho rằng Hoa Kỳ đã bị ảnh hưởng của cộng đồng người Việt trong chính sách của Hoa Kỳ về tranh chấp Biển Ðông (bài nghiên cứu đăng trong tạp chí “Quan Hệ Quốc Tế Hiện Ðại” của Trung Quốc, nhật báo Người Việt đã đăng lại bài này được dịch sang tiếng Việt trong các số ra ngày 22, 23 và 24 Tháng Giêng, 2012).









Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh (trái) được phóng viên Diệu Quyên của đài SBTN-TV phỏng vấn trong buổi gây quĩ cứu trợ thương phế binh VNCH. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)


Cộng đồng người Việt tuy không có bộ xã hội, nhưng biết bao công cuộc cứu trợ trong nước kể cả việc xây cất đình chùa, nhà thờ, trường học, đường sá… đã được thực hiện trong nhiều năm qua.


Cộng đồng người Việt hải ngoại tuy không có bộ văn hóa, nhưng nỗ lực của những người làm văn làm báo hải ngoại đã duy trì được cái dòng văn hóa đích thực của dân tộc, bảo tồn được nếp sống văn hóa của người Việt trước những “đồ thư” đốt sách vở, sản phẩm văn học ở miền Nam để các thế hệ sau này còn có cơ sở để nhận định về dân tộc và đất nước cội nguồn của mình.


Tóm lại, cộng đồng người Việt tị nạn ở hải ngoại đã làm được một công việc như duy trì được một nước Việt trong thể chế tự do, dân chủ. Ðó là một đối lực với nhà cầm quyền cộng sản mà nếu như người cộng sản thực sự còn là người Việt Nam thì phải tôn trọng cái đối lực ấy chứ không phải cứ cố gắng hoài công để “thu phục” cộng đồng người Việt hải ngoại về dưới trướng của mình.


 


––


Liên lạc tác giả: [email protected]

Tin mới cập nhật