Xuân đôi ta



Hồ Dzếnh


 


Em trở về đây, đáp lại lời


Anh từng buông gọi giữa xa xôi.


Nghìn trùng non nước đìu hiu nhớ,


Ðã vọng hồn anh đến cuối trời.


 


Anh đã chờ và cây đã xanh,


Lừng mùa bay dậy tiếng mây thanh,


Em về, mắt đẹp ngời như thuở


Em chửa theo chồng, vẫn mến anh.


 


Anh đợi chờ em suốt bấy lâu,


Nhủ thầm: xuân thắm chả phai đâu,


Một khi xuân thắm là mong nhớ,


Và cả thiên thu: vĩnh viễn sầu!


 


Áo em sáng dệt trời xuân gấm,


Sông cũ, nguồn xưa rộn rã về…


Ngõ hạnh, mấy mùa quên nét thắm


Nở bừng, khi thoáng bóng hoa lê.


 


Em đã về đây, em vẫn nguyền


Như ngày trăng nước chớm tơ duyên


Bao năm xa cách, đi chưa nhạt


Màu tóc sông thu, ánh mắt huyền.


 


Anh hát mừng em khắp thế gian,


Trập trùng mây núi tiếng ngân vang,


Thơ yêu khôn ngớt trong thiên hạ,


Và cả non sông dợn sóng đàn.


 


Mời em ngồi lại bến sông xanh,


Mây cũ muôn năm chiếu dáng lành.


Ta viết lòng ta cho hậu thế,


Ðọc hoài không chán: Em và Anh!

Tháng Giêng hát



Mường Mán


 


Tháng Giêng hiền như cỏ


Và tóc mềm như mây


Tóc bay qua bến lạ


Sông thương ai, sông đầy


 


Tháng Giêng biếc như lá


Và tình ấm như tay


Tình rẽ sang lối nọ


Vai nhớ ai vai gầy


 


Tháng Giêng trắng như Cúc


Và áo vàng như Mai


Áo nhàu trăm nếp bụi


Giữ hoài mơ chưa phai


 


Tháng Giêng ướt như mắt


Tháng Giêng hồng như môi


Trái tim ai hoá bướm


Bay theo nhau, bồi hồi


 


Tháng Giêng sao về muộn


Không em, chim lạc bầy


Một mình lên đồi hát


Xuân nhớ ai, xuân gầy…

Hạnh ngộ



Huỳnh Minh Lệ


 


Tháng chạp không là xuân,


Mà sao hoa đã nở?


Cồn cào niềm thanh tân,


Từ khi ta hạnh ngộ.


 


Từ khi ta hạnh ngộ.


Mà sao vàng vạn thọ?


Áo mới ngày đầu năm,


Giao thừa về trước ngõ.


 


Bây giờ là tháng giêng,


Lòng anh đơm lộc mới,


Rộn ràng niềm tân niên,


Hoa vì em đã nở.


 


Anh và em mừng tuổi,


Hai ta hơn bách niên,


Hai mái đầu đều bạc,


Sợi nào cũng muộn phiền.

Mơ một cành mai


Trần Văn Lương


 


Ðèn mờ như ảo giác,


Nhếch nhác vách tường câm,


Khu dưỡng lão tối sầm,


Già âm thầm ngóng Tết.


Bao năm dài đợi chết,


Sống cách biệt người thân,


Ao ước được một lần,


Ðầu Xuân nhìn mai nở.


Con từ lâu đã hứa,


Dù cách trở đường xa,


Sẽ mang đến tặng cha,


Cành hoa hằng mong mỏi.


Ngày ngày không dám hỏi,


Vẫn gắng gỏi trông chờ,


Ðêm đến lại thẫn thờ,


Mắt khờ căng giọt tủi.


Thân khuya giờ thui thủi,


Biết tàn lụi giấc mơ.


Nhưng giây phút không ngờ,


Nhưng giây phút không ngờ,


Mở choàng đôi mắt trắng,


Hồn tím lặng ngỡ ngàng:


Chiếc bình cũ trên bàn,


Mai vàng ai đã cắm!


Nhìn màu hoa rực thắm,


Môi ướt đẫm quên lời.


Nỗi đau đớn một đời,


Dần vơi theo tiếng nấc.


Thầm trách mình say giấc,


Lỡ mất dịp gặp con,


Chốn ngàn dặm nước non,


Ðến giữ tròn câu hứa.


Run run lần chỗ dựa,


Lẩy bẩy ngửa vòng tay,


Ôm cứng lấy bình mai,


Cửa tuyền đài vụt hé.


***


Nhá nhem căn phòng bé,


Tia nắng lẻ đầu Xuân,


Lúng túng chậm thay dần,


Ánh đèn sân mới tắt.


Ánh đèn sân mới tắt.


Nằm co quắp giữa phòng,


Tay siết chặt vào lòng,


Chiếc bình bông trống rỗng.


 


(Cali, tháng 1, 2012)

Năm mới 2012, chúc vui



Trần Vấn Lệ


 


Năm mới. Ðầu tuần. Sáng Thứ Hai


Gió Xuân nhè nhẹ. Mưa bay bay


Mưa Xuân tưới mát đường hoa cỏ


mà cũng mát lòng ai với ai…


Những nụ cười duyên hoa nở duyên


Những bàn tay ấm cũng không yên


Với nhau còn chút nào ve vuốt


Có chút nào không thương mến thêm?


Có những bài thơ bỗng rất thơ


Không ai hờn mát nữa bây giờ


Cũng như gió đã qua bờ giậu


thổi cánh buồm ra biển Tự Do!


Hãy nói gì đi Xuân rất Xuân


để câu thêm chữ, ý thêm vần


để như được đứng kề bên Ngoại


thấy tóc Bà như áng Bạch Vân….


Anh viết câu này, em ngó nhé:


“Muôn đời anh chỉ Một-Em-Xuân!”


Thơm ơi trời gió ngày Năm Mới


Thơm ngát là em em biết không?

Em ơi, buồn mà chi!


Phù Sa


 


Em ơi, buồn mà chi!


Xuân về khắp nẻo


Nắng bừng lên, trải đều muôn lối…


Rót vào lòng khúc tình kỳ diệu!


Ấm áp khoảng trời xanh biếc… mùa xuân!


Giữa đồng hoang ngọn cỏ cũng bồi hồi.


Buồn mà chi em ơi!


Mùa xuân… có cơn mưa bất chợt!


Hoa cỏ rực màu, quả ngọt oằn cây


Thiên nhiên dang rộng đôi tay


Mơn man làn gió mới


Hớp một giọt mưa xuân,


Một mối tình… chờ đợi


Khát khao nụ hôn, bờ môi ngọt lịm!


Nhan sắc mùa Xuân… em ơi!


Màu yêu thương,… và hình như mùa xuân mộng mị


Bàng bạc mây ngàn trôi theo sương khói


Phất phơ cảm xúc bay lên


Như cánh diều giữa đồng gió lộng


Em ơi!… Mùa Xuân!


– Buồn mà chi!


(Nguồn: Tony Son Nguyen; [email protected])

Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh


Trăng Mật


 


Im nhé, mùa xuân đang bói hương


Bén xoan hoa con nắng vàng rơm


Ngày mẩy non nụ cười măng nhú


Anh đón em về. Trăng mật đơm


 


Xanh nức vườn xanh những tiếng chim


Tấm bé ơi bước trốn bước tìm


Cỏ thơm xòe bàn tay thơ trẻ


Chi chi cành hoa nắng ú tim


 


Cánh chim vù theo cọng rơm bay


Cây còn giấu lời thơm của quả


Ngày còn giấu nắng trong vòm lá


Ðố anh, em giấu gì trong tay?


 


****


 


Vườn nhà


 


Vườn nhà tôi ấm


Thơm nong nắng đầy


Mầu hoa lấm tấm


 


Vườn vui như hội


Bếp nhà thơm cối


(lâu lắm), vừng rang


 


Bụi trúc quê vàng


Chút quê thơm thảo


Xanh xanh phố-làng


 


Tại mùa xuân về


Vườn nhà thơm quá


Hay tại nhớ quê


Mà nghe khắp cả


Hương đồng nội kia?


 


***


 


Vòng quay tròn


 


Già thêm một tuổi đất tròn


Nghe con gió vẫn ngọn nguồn ban sơ


Tháng năm, câu chuyện tình cờ,


Mỗi bình minh lại tinh mơ mặt trời


Vòng quay tròn, mùa xuân ơi…


 


Vòng quay tròn, này tôi ơi


Bỗng nhiên thăm thẳm một trời mắt xanh


Cuốn vào cơn bão long lanh


Dạ thưa trời đất, cùng anh cõi này…


Vòng quay tròn, một vòng tay


Ðưa tôi về lại những ngày sơ sinh


Ca dao bồng bế ru mình…

Xuân trên phương Bắc



Hoàng Xuân Thảo


 


Trời mịt mù sương tuyết


Quên bẵng mùa đổi thay!


Nhìn mắt em mới biết


A! Xuân về đêm nay.


 


Cuối năm đi chợ Tết


Phố Tầu Ðông, Tầu Tây


Lòng vui nghe ơi ới


Tiếng Việt vang đó đây.


 


Ðón Giao Thừa đất khách


Chia nhau chiếc bánh chưng


Tình thơm hương nếp trắng


Lòng bùi vị đậu xanh.


 


Sáng mồng một khai bút


Lòng hoài cảm triền miên


Quê hương chợt hiển hiện


Trong khói tách trà sen.


 


Xuất hành tìm hướng tốt


Ngã tư còn phân vân


Hồn mải che gió Bắc


Tay đã lái phương Nam!


 


Ðầu xuân đi hái lộc


Cây trút lá khỏa thân


Tượng co ro tê cóng


Giữa công viên lạnh căm.


 


Vạn vật đều trắng xóa


Râu tóc cùng nước non


Chỉ lòng này, thông ấy


Vẫn biếc một mầu xanh.


(Nguồn: Tony Son Nguyen; [email protected])áá

Thơ Giao Yên


Thơ Giao Yên


 


Ðầu xuân đi chợ


 


Khi mới vào định sắm thứ chưa mua


mà ngó lại shopping cart đầy ắp


Lòng ưa lắm! Biết bao hàng rất thích


Mắt muốn mua thêm-Tiền nghĩ thôi vừa!


 


Ơi xuân mới! Xuân ngời ao ước mới


Nhìn ra trời hạt nắng đã gieo trưa


Em đoan đã ngày xuân câu chúc phúc


Anh hẹn hò trở lại Vĩnh Hưng mua.


 


***


 


Về thăm cố hương


 


Tâm mình dựng giải hương quan


Về thăm mùi đất lang thang trong hồn


Ðường quê cũng vẫn đường mòn


Ðau lòng giếng cạn đâu còn nước đâu!


Nguyên tiêu chạnh cảm


Ðào của vườn em mum múp trái


 


làm cho thơ thẩn ánh nguyên tiêu


Tẩy trần tóc liễu hơi sương rưới


Chai cứng trong ta bỗng dậy triều


Ta biết tình thơ em chẳng nhớ


Mà ta vẫn nhớ mới u mê


U mê đành chịu u mê vậy!


Có kẻ tức ngang bỏ núi về


 


Dõi cánh mây về thăm thẳm chốn


Nhớ người như ngọc- chạnh quê xưa


Ðêm nay nhìn gót trăng mà tủi


Ðào của vườn em đã nhạt mùa.

Tâm lý ngày Tết


Phạm Quỳnh


 


Lời dẫn của Phạm Tôn: Bài này Phạm Quỳnh viết bằng tiếng Pháp nhan đề Psychologie du Tet, đăng trên phần Pháp văn của Tạp chí Nam Phong số 149-1924, sau này có in trong Tiểu luận 1922-1932 (Essais 1922-1932)… Nhưng ở đây, xin giới thiệu với thân hữu bản dịch của Tiến Sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh, và là tác giả của luận văn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong, để tạo thêm một nét hứng thú trong ngày Tết này. (Nguồn: sontruc67@gmail. com)


 


Những dịp để cho cả một dân tộc cùng nhau hướng về một tình cảm, một tư tưởng, để cùng nhau rung động… thật là hiếm có. Thường phải có những sự xẩy ra khá quan trọng, có ảnh hưởng đến tính mạng cả một đoàn thể, để ai nấy đều phải để hết tâm trí vào.


Dân Việt Nam ta có cái may mắn, cái đặc ân là có một dịp vui chung cho tất cả, dịp ấy cứ đều đặn mỗi năm một lần vào ngày đầu Xuân năm mới. Về dịp này tất cả đàn con đất Việt, từ người giàu cho đến kẻ nghèo, từ người tiên tiến cho đến kẻ thủ cựu đều một lòng một dạ, cùng nhau hớn hở đón chúa Xuân, trong mấy ngày lễ long trọng, trang nghiêm mà cũng rộn ràng náo nhiệt biết bao! Ngày ấy là ngày Tết.


“Tết,” chữ màu nhiệm thay! Như đã chứa chất biết bao niềm vui mừng của cả một dân tộc vô tư vui vẻ, cứ mỗi năm, đến kỳ Xuân tới là quên cả hết thẩy những nỗi lo lắng khó khăn của năm cũ để sẵn sàng hoan hỷ bước vào năm mới với chứa chan hy vọng.


Vậy thời ý nghĩa của ngày Tết, của cái thực thể huyền bí ấy mà người ta sùng bái như một vị thần thánh có sức mạnh đến nỗi có thể khiến cho cả một dân tộc, trong khoảng mấy ngày tròn, đã cùng một tâm hồn, cùng một tình cảm, mà nhất là cùng một hy vọng tin tưởng ở ngày mai, hy vọng và tin tưởng mà nhiều khi họ rất cần phải có, để đương đầu với một cuộc đời vất vả bấp bênh…


Tết không phải chỉ là ngày đầu năm mà thôi, vì nếu kể cả những ngày sửa soạn linh đình trước và những cuộc vui đùa giải trí sau, thì Tết ít ra cũng phải kể tất cả là ba tuần. Nhưng dù sao tâm trạng của người ta mà ngày Tết đã gây nên chưa dễ đã xóa nhòa trong chốc lát, và ta cũng nên thử nghiên cứu xem, để tìm hiểu giá trị đặc biệt của ngày lễ long trọng ấy.


Tết không phải hoàn toàn không có nghĩa lý, mà lại còn bao trùm cả một “triết lý.”


Trong một năm bốn mùa liên tiếp nối nhau và đó là một hiện tượng tự nhiên rất quan trọng cho một dân tộc nông nghiệp. Theo như thuyết “Vũ trụ khai tịch” xưa, khoảng thời gian Ðông qua Xuân tới là đánh dấu một thời kỳ hoàn toàn đổi mới, người và vạn vật thiên nhiên như sống lại và cùng nhau thông cảm trước sự đổi mới vui tươi để hăng hái đón mừng Xuân mới. Trong mấy ngày cổ truyền ấy, con người ta phải hoàn toàn đổi mới, lột hết những gì cổ hủ của con người cũ đi mà tự tạo nên một tâm hồn mới mẻ; phải đuổi hết những tư tưởng yếm thế, phải tạo ra những ý vui, chỉ nói những lời ngọt ngào dễ thương, quên hết những hận thù, để đối với ai – dù là kẻ thù chăng nữa – cũng một lòng khoan hồng bác ái. Như thế là ta đã góp phần vào sự gây dựng vũ trụ điều hòa, và do đó gây dựng hạnh phúc của xã hội và đồng thời hạnh phúc của chính mình. Những lời nặng nhẹ, những cử chỉ không hợp phép, những sự buồn bực, bất bình thổ lộ ra trong những ngày Tết không những trái với lễ độ cổ truyền và rất kỵ trong những ngày tốt lành nhất của một năm ấy mà lại là một sự phản bội đối với vạn vật thiên nhiên, và như thế kẻ đã phạm tội ấy sẽ bị tai họa.


Dị đoan lại khiến cho người ta tin rằng tất cả những gì xẩy ra trong mấy ngày đầu năm đều có ảnh hưởng huyền bí, hay, dở đến cả một năm. Vì vậy sáng sớm ngày đầu năm, người khách đầu tiên đến nhà có thể coi như đã đem đến cho gia đình ấy hạnh phúc hay tai họa, tùy theo nếu người ấy là một người sướng hay khổ, có chức phận trong xã hội hay không, giàu hay nghèo, con cháu đông đủ hay hiếm hoi, tính nết tốt hay xấu, nhiều may mắn hay không… Một người có tang vừa đau khổ, một người rủi ro vừa bị thất bại trong công việc làm ăn… chớ nên đến thăm ai trong buổi sáng đầu năm vì sợ có thể sẽ đem lại rủi ro đến cho người ta. Ðể khỏi phải có những sự bất ngờ chẳng hay, người khách đầu tiên đến “xông đất” mỗi nhà, nghĩa là người khách có thể coi như sẽ đem lại may mắn hay rủi ro đến cho gia đình, đều được chủ nhà sắp đặt trước. Người ấy sẽ được lựa trong những bà con bè bạn thân thiết và là người được coi như có hạnh phúc đầy đủ, vừa giàu sang phú quí lại con cháu đầy đàn, để sáng sớm đầu năm làm “sứ giả” đem Hạnh phúc đến cho cả gia đình.


Hạnh phúc! Hạnh phúc là cái mộng đẹp mà hết thảy chúng ta ai cũng mong ước. Ở nước Nam này, mỗi năm Xuân tới, người ta kêu gọi, cầu khẩn, tìm kiếm Hạnh phúc bằng đủ mọi cách. Họ ca ngợi Hạnh phúc trên những câu đối đỏ chói treo trên tường bên những cánh cửa nhà. Màu đỏ là màu tượng trưng điểm lành, điểm tốt, vì vậy từ sân nhà cho đến trên bàn thờ, mỗi gia đình, chỗ nào cũng rải rác đầy xác pháo đỏ cùng những cánh hoa đào. Người ta cũng thế, ai cũng có vẻ tạo ra một vẻ mặt sung sướng, vui tươi, niềm nở như để dễ quyến rũ cái Hạnh phúc nó như cái bóng phảng phất khó lòng mà nắm được, tựa hồ như con chim hoàng oanh của nhà thi sĩ nọ, ríu rít hót ca trên cành liễu này rồi phút chốc đã lại bay qua cành liễu khác. Thật không cái gì cảm động bằng cái lòng nguyện vọng thiết tha của cả một dân tộc, nguyện vọng đến được một đời sống thanh nhàn hạnh phúc, mà tất cả đều mơ ước, nhưng dễ mấy ai đã tới được!


Vậy thì Tết là gì? Là lời kêu thiết tha của cả đàn dân Việt trong dịp vạn vật đổi mới, nói lên lòng tin tưởng ở năm mới sẽ đến, và sự khát khao một đời sống thảnh thơi sung sướng.


Ngày Tết lại còn có một ý nghĩa khác nữa. Ngày Tết còn là sự thánh hóa, sự ca tụng, tán dương chủ nghĩa gia tộc và sự thờ phượng tổ tiên. Với tư cách này Tết có thể coi như một thiết lập có liên hệ mật thiết với sự thành lập gia tộc ở nước Việt Nam ta. Mấy ngày Tết chính là những ngày mà cả đại gia đình đông đủ sống quây quần tụ họp làm một. Gia đình Việt Nam thường có cha mẹ, anh chị em, hay là cả ông bà cô chú, có khi lại có cả cụ nội ngoại ở cùng cả một nhà. Những gia đình có con cháu đi làm xa trong cả năm, đến kỳ Tết đều trở về đông đủ dưới mái nhà của tổ tiên. Những hôm đó trên bàn thờ trang hoàng rực rỡ, những bài vị ghi tên tuổi các vị tổ tiên đã mất, đều được mở ra chưng bày, những đèn hương sắp lên nghi ngút, những đồ mã tượng trưng nén vàng nén bạc để cung hiến tổ tiên được chất thành từng đống.


Vì Tết không phải chỉ là ngày vui cho người sống mà còn cả cho người chết nữa. Chính trong những ngày Tết các vị tổ tiên ông bà đều về sống chung với gia đình con cháu. Hôm ba mươi Tết, mỗi gia đình đều có một lễ thỉnh mời tổ tiên về. Rồi cứ mỗi ngày hai lần, dâng lễ cúng cơm cùng nước trà bánh trái. Ðến ngày thứ ba là ngày cúng tiễn biệt, để rồi hồn của tổ tiên lại trở về nơi chín suối, mang theo lời chúc tụng cùng tâm sự của con cháu mà các ngài vừa được chung sống trong mấy ngày Tết vừa qua, và tuy từ biệt ra về, tổ tiên vẫn không quên phù hộ và che chở cho con cháu bằng một cách huyền bí.


Trong mấy ngày Tết, người sống và người chết lẫn lộn chung sống dưới mái gia đình. Bà con bạn bè đến thăm viếng nhau ngày Tết, trước hết không quên đến kính cẩn lễ trước bàn thờ tổ tiên rồi mới cùng nhau chúc tụng năm mới.


Tết với những tượng trưng và nghi lễ của ngày ấy đã ghi vào đời sống của chúng ta một giai đoạn vui sướng, mà giai đoạn ấy chúng ta có cái may mắn là cứ mỗi năm ta lại được sống lại một lần. Sống mấy ngày hoan hỷ vui chung cả quốc dân, tự thấy mình đã cũng chia sẻ sự vui sướng ấy và cùng thông cảm với tất những người đồng chung về một ý thức, một tư tưởng, đó là niềm vui không phải nhỏ; niềm vui ấy, chính ngày Tết đã đem lại cho ta, và ta sẽ không bao giờ quên ơn.


Riêng về phần tôi, mỗi lần ngó về dĩ vãng, nhớ lại những ngày thơ ấu, những năm của tuổi trẻ đã qua, ngày Tết đã để lại cho tôi toàn những kỷ niệm êm đềm.


Một ngày kia nếu phải bỏ phiếu để bãi bỏ cái ngày lễ ấy đi, thì dù ai biện lẽ phải gì hay ho tốt đẹp đến đâu, tôi cũng bỏ phiếu chống sự bãi bỏ ấy, mặc dầu họ có thể cho tôi là một anh thủ cựu bướng bỉnh hay liều lĩnh.


 


Chú thích:


1. Phạm Quỳnh (17 tháng 12 năm 1892 – 6 tháng 9 [1] năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt – thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp – để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút danh: Hoa Ðường, Hồng Nhân.


Ông được xem là người chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến. Ngày 23 tháng 8, 1945 ông bị Việt Minh bắt rồi bị thủ tiêu, mãi đến 1956 người ta mới tìm thấy di hài ông trong một khu rừng. Ai là người ra lệnh giết ông, chỉ có Trời mới biết. Thương thay cho một nhà trí thức, một nhà văn hóa Việt chân chính !


2. Chữ “Tết” tương đối đồng âm với chữ “Tiết” trong 24 “Tiết Khí” của lịch nông nghiệp Á đông (Âm lịch, Lịch mặt trăng). Tết Cổ Truyền Việt Nam lại hầu như trùng với ngày đầu tiên của Tiết Lập Xuân, là ngày khởi đầu cho một mùa có tiết khí thuận lợi cho việc trồng trọt, gọi là ngày Nguyên Ðán. Cho nên người Việt chúng ta bắt đầu là nhầm lẫn, sau đó là thành thói quen và cuối cùng đã biến Tết, một ngày lễ hội mừng năm mới theo Lịch nông nghiệp thành Tết Nguyên Ðán.


Tết cổ truyền Việt Nam là một lễ hội truyền thống có liên quan đến việc trồng cấy cây nông nghiệp trong tập tục của người Việt cổ đại, chứ hoàn toàn không liên quan đến Tiết Nguyên Ðán của Trung Hoa. Một số học giả cho rằng từ nguyên của Tết là xuất xứ từ Tiết Nguyên Ðán bên Tàu là sai. Cũng chính vì vậy mà đã hình thành một khái niệm sai lầm trong nhận thức gọi Tết cổ truyền Việt Nam là Tết Nguyên Ðán.


Ngày nay hầu như những bài viết của các học giả lịch sử, các nhà biên soạn từ điển, và ngay cả tầng lớp trí thức Việt Nam cũng như các chính khách, lãnh tụ Việt Nam khi viết về Tết cổ truyền hay chúc tụng Tết cổ truyền Dân tộc đều dùng từ “Tết Nguyên Ðán.”


Sự nhầm lẫn vô tình này đã tạo ra suy nghỉ Tết cổ truyền Việt Nam có xuất xứ từ Trung Hoa. Và cho rằng chúng ta lệ thuộc vào Văn hóa Tàu.


Cũng chính vì suy nghĩ này mà một số trí thức Việt Nam ở hải ngoại đã hô hào chống Trung Quốc bằng cách gạt bỏ Tết Cổ Truyền và Tết Trung Thu ra khỏi sinh hoạt cộng đồng. Họ cuồng tín cho rằng làm như vậy mới thoát ra khỏi ách đô hộ văn hóa của phương Bắc.


Tết cổ truyền Việt Nam là lễ hội có trước ngày lễ “Tân Niên,” lễ mừng ngày Nguyên Ðán của người Tàu rất lâu. Và nếu như hai ngày lễ này có giống nhau về truyền thống, thì chính Người Trung Hoa bắt chước người Việt mới có lễ hội này chứ không thể nói rằng Tết cổ truyền Việt Nam xuất xứ từ Tàu được.


Không thể có chuyện cái có trước lại bắt chước cái có sau được, đó là nghịch lý.


Các bạn hãy xem Khổng Tử là bậc tổ sư cho lễ nhạc của Trung Hoa viết trong sách Kinh Lễ như sau: “Ta không biết Tết là gì, nghe đâu đó là tên của một ngày lễ hội lớn của bọn nguời Man, họ nhảy múa như điên, uống ruợu và ăn chơi vào những ngày đó, họ gọi tên cho ngày đó là “Tế Sạ” (Tế Sạ là Khổng Tử phát âm chữ Thêts, là lễ hội năm mới của người Thái đất Phong Châu – TN)


Sách Giao Chỉ Chí cũng có đoạn viết “Bọn người Giao Quận thường tập trung lại từng phường hội nhảy múa hát ca, ăn uống chơi bời trong nhiều ngày để vui mừng một mùa cấy trồng mới, chúng gọi ngày đó là Nèn-Thêts, không những chỉ có dân làm nông mà tất cả người nhà của Quan lang, Chúa động cũng đều tham gia lễ hội này. Chỉ có bọn man di mới có ngày hội mà người trên kẻ dưới cùng nhau nhảy múa như cuồng vậy, bên ta không có sự quân thần điên đảo như thế…”


Hai đoạn trích từ hai cuốn kinh sử nổi tiếng của văn hóa Trung Hoa đều khẳng định Tết của Việt có trước ngày “Tân Niên” Chinese New Year, “Thrếts Chìn” của người Tần Trung Hoa rất xa.


Tết cổ truyền của Việt Nam có từ thời Hồng Bàng, có trước cả thời Hùng Vương vì vậy mới có sự tích Lang Liêu gói bánh chưng bánh dày mừng Tết vua Cha chứ. Có nghĩa là Tết cổ truyền Việt Nam đã có hơn 4000 năm rồi.


3. Trong khi lễ “Tân Niên“của người Tàu thì sao?


Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên, có từ đời Tam Hoàng Ngũ Ðế và thay đổi theo từng thời kỳ. Ðời Tam đại, nhà Hạ (1767 TCN) Tân Niên chọn ngày đầu Tháng Giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương (1122 TCN) lấy ngày đầu tháng Sửu, tức Tháng Chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu (250 TCN) chọn tháng Tý, tức Tháng Mười Một, làm tháng lễ mừng Tân Niên. Ðời Ðông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tân Niên vào một tháng nhất định là tháng Dần. Ðời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức Tháng Mười. Ðến thời nhà Hán, Hán Vũ Ðế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức Tháng Giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về khởi đầu năm mới nữa cho đến tận bây giờ.


Như vậy là ngày Tân Niên của Trung Hoa có sau ngày Tết cổ truyền Việt rất xa. Và thay đổi tứ tung. Còn ngày Tết cổ truyền của Tộc Việt vốn không thay đổi từ thượng cổ cho đến nay. Thế thì tại sao lại nói ngày Tết cổ truyền Việt Nam là có từ Tết Tàu được. Thậm đại vô lý.


Nếu tra theo từ Nguyên của chữ Tết, vốn chẳng liên quan gì đến chữ Tiết trong Tiết Nguyên Ðán của Lịch Tàu cả. Vì bởi Nguyên Ðán vốn không phải là Tiết trong 24 bốn Tiết khí của Thời tiết phân chia theo lịch Mặt trăng. Nguyên Ðán chỉ là buổi sáng đầu tiên trong ngày khởi đầu của Tiết Lập Xuân thôi (Nguyên= Nguyên vẹn, khởi đầu, Ðán= buổi sáng). Nguyên Ðán vốn không phải là Tiết khí, vả lại ngày Nguyên Ðán là ngày đầu của Tiết Lập Xuân, mà ngày đầu của Tiết Lập Xuân không nhất thiết trùng với ngày Sóc (ngày có trăng) là ngày đầu tiên của tháng đầu tiên trong năm được. Vì vậy Tết không thể là “Tiết” Nguyên Ðán và càng không phải là “Tết” Nguyên Ðán được.

Êm ái… những mùa Xuân

 


Nguyễn Thị Kim Loan


 


Ðó là những mùa Xuân ở trại tỵ nạn Thailand! Chắc những ai đã từng trải qua đời tỵ nạn trên đất nước tạm dung, sẽ thấm thía và hiểu rõ nhất những cảm xúc ngày Xuân xa quê, tuy thiếu thốn mọi bề, nhưng chưa bao giờ tình đồng hương, tình con người lại gắn bó đậm đà đến như vậy!


Mọi lỗi lầm được bỏ qua, những hiềm khích được tha thứ, để cùng nhau hướng lòng về quê hương đón mùa Xuân, khơi dậy tình tự dân tộc, đón chờ tương lai phía trước…


Tôi may mắn có được bốn mùa Xuân như thế trên đất tỵ nạn Thailand.


Mùa Xuân đầu tiên cũng nhiều kỷ niệm và nhiều bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa chân ướt chân ráo vào trại Panatnikhorm sau 3 tuần lễ ở tạm dưới trại cảnh sát thị trấn Tha Luông miền nam nước Thái. Ngày đầu nhập trại còn quá nhiều ngỡ ngàng, tôi cùng ba cô bạn gái chưa biết phải làm những gì trong khi đúng hai tuần nữa là Tết đến. Tiền bạc thì chắc chắn là không có một xu vì chưa liên lạc được với thân nhân ở nước ngoài để… ca bài ca “xin tiền” (khi ở trại cảnh sát thì không được liên lạc thư từ). Tuy lúc vượt biên có mang theo chút đỉnh phòng thân, nhưng chuyến tàu chúng tôi hai lần bị bắt ngay trên đất cảng Kongpongcham, Kampuchia, bị vơ vét hết tiền của bởi những người lính, trước khi họ thả cho tàu chúng tôi trực chỉ về Thailand. May mắn trong nhóm chung chuyến tàu, có mấy người tìm được người quen trong trại nên giúp chúng tôi mượn một ít tiền để mua những thứ cần thiết, như tấm trải nhựa, tre nứa để làm nhà, rồi mua thêm đồ lặt vặt nấu nướng vì ở trại nhỏ chỉ được phát nồi niêu, chén bát, mùng mền… nên chuyện mua sắm ăn Tết coi như là trong… mơ, chúng tôi không dám nghĩ tới, mà cũng chẳng còn tâm trí nào để ăn Tết khi còn biết bao điều âu lo đang đón chờ…


Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy anh thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên đến nhận “đồng hương đồng khói.” Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả:


-Mấy em ở vùng nào?


-Dạ, gần chợ Xóm Mới ạ! Còn các anh?


-Mấy anh thì ở khu chợ Gò Vấp, kéo dài trên đường Lê Quang Ðịnh…


Ôi, nếu còn ở Việt Nam, thì Xóm Mới và khu Lê Quang Ðịnh cách xa nhau, như kẻ đầu sông người cuối sông, có khi cả đời cũng chẳng gặp nhau, nhưng vì nơi đây trên đất khách quê người, lại mang thân phận tỵ nạn khổ đau, nên bỗng dưng trở nên… gần gũi lạ thường! Mấy anh đồng hương “Gò Té” chợt nhìn chúng tôi… thương hại:


-Bộ mấy em ở Việt Nam không nghe tin gì hay sao?


Chúng tôi cùng nhau… ngơ ngác:


-Dạ, không ạ!


-Hèn chi các em hớn hở như vừa vào… đất Hứa vậy!


Thế là chúng tôi được giảng giải về những khó khăn thử thách sắp tới vì trại tỵ nạn đã chính thức đóng cửa “từ khuya,” ai vào trại sau ngày đóng cửa sẽ bị thanh lọc bởi Bộ Nội Vụ Thái, nếu qua được thì mới gặp phái đoàn các nước phương Tây… Chúng tôi rầu rĩ như trái bóng vừa xì hơi, Tết lại sắp đến… ôi sao mà buồn! Như đoán được nỗi buồn lo của chúng tôi, các anh đồng hương bỗng dưng nổi máu “Lục Vân Tiên”:


-Thôi, hãy cứ vui hưởng đời tỵ nạn trước đã, người ta sao mình vây, lo gì! Ngày mồng Một mời các em đến nhà ăn Tết nhé…


Chúng tôi vui vẻ nhận lời, ít ra cũng có mục “xuất hành đầu năm” giống như người ta vậy.


Vài ngày sau, tôi gặp lại thầy giáo xóm cũ ở Việt Nam. Thầy chẳng dạy tôi ngày nào nhưng là thầy của các anh tôi, Thầy nói trại có hơn mười mấy ngàn người (ở thời điểm đó, chứ sau này lên hơn vài chục ngàn người) nên mãi bây giờ mới nghe tin có dân Gò Vấp nhập trại và tìm đến cầu may, ai dè gặp người quen! May đâu chưa thấy, chỉ thấy thầy phải “mời” lũ chúng tôi đến nhà thầy 7 giờ tối giao thừa ăn chè và đậu phộng da cá chiên bơ đón năm mới.


Vậy mà chưa hết đâu nhé, chỉ ba ngày trước Tết, một cô bạn trong nhóm tôi lại tình cờ gặp lại bạn “tù vượt biên” ngày xưa khi chúng tôi đang xếp hàng lãnh nước trong trại. Qua lại vài câu trao đổi, thấy chúng tôi còn “bơ vơ” chưa có tiền tiếp tế, nên người bạn này cũng mời chúng tôi ăn tiệc trà bánh đêm giao thừa… Kể từ ngày đó, chúng tôi không dám đi lang thang trong trại nữa, vì sợ gặp… người quen mời ăn Tết thì làm sao dám… từ chối! Ðó là những kỷ niệm vui của Tết đầu tiên, dù không có tiền, nhưng Tình Người thật bao dung, thân ái.


Những cái Tết sau đó thì tôi đã trở thành một người tỵ nạn thực sự với đầy đủ vui, buồn, lo âu của những ngày sống trong đợi chờ. Tôi đến trại với tuổi đôi mươi phơi phới nên lao vào làm việc thiện nguyện là niềm vui. Năm đầu tiên làm cho Bưu Ðiện với một bà người Úc, sau đó tôi đậu thanh lọc thì buổi sáng dạy học trường Việt Ngữ, rồi chạy qua làm Văn Phòng Cao Ủy Ðịnh Cư với người Thái, chưa kể sinh hoạt trong nhà thờ… nên quen biết rộng rãi với nhiều người Việt trong trại, thân có, sơ có… Và mỗi khi Tết đến, bên cạnh nỗi nhớ nhà, là niềm vui rộn ràng cùng mọi người đón Xuân Tỵ Nạn…


Người Việt mình nổi tiếng cần cù và thông minh, nhất là trong cái khó ló cái khôn, nên Tết đến cũng tìm ra được vài hương vị quê mình dù đang lạc loài nơi trại tỵ nạn. Từ đầu Tháng Chạp, trời Thailand cũng se lạnh, nắng hanh vàng và gió Xuân mát rượi vào những buổi sáng. Chẳng biết ai mách bảo với người Thái, mà lúc này ra chợ đã thấy hàng hóa phong phú hơn ngày thường: dưa hấu, trái cây, hoa tươi, đậu xanh, nếp, măng, củ hành tím, kiệu, dừa khô làm mứt, v.v… các sạp thịt, bò, gà, cá cũng nhiều thêm nên hầu như nhà nào cũng có nồi thịt kho trứng.


Từ chiều ngày hăm ba đưa Ông Táo, đã nghe người ta bảo nhau đi mua bánh chưng, bánh tét, tôi cũng đi dạo ngay một vòng làm cuộc “phỏng vấn bỏ túi.” Ở một điểm nấu bánh tét trong một khu nhà, kẻ gói bánh, người buộc dây, rồi đặt vào nồi chuẩn bị nổi lửa rộn ràng tiếng chuyện trò cười nói. Tôi hỏi chị chủ nhà:


-Gạo, thịt, đậu xanh thì mua ở chợ… Còn lá chuối, củi lửa, nồi bự chị mua ở đâu?


-Dễ lắm em ơi, có tiền nhờ người Thái ra ngoài mua gì chẳng có…


Rồi chị dẫn tôi ra mảnh đất kế bên lô nhà chị, ở đó mấy anh thanh niên đang hì hục đào một lỗ sâu khoảng ba gang tay, đặt mấy cục gạch ống xung quanh, làm nơi đặt nồi nấu bánh tét đêm nay, khung cảnh thật tưng bừng, ấm áp, làm vơi đi nỗi lòng những người con xa quê.


Thời điểm này tôi đã đậu thanh lọc, (ba cô bạn đi chung bị rớt, chuyển qua trại Sikiew) tôi được chuyển qua trại chờ định cư, nên cuộc sống tinh thần rất thoải mái, được đi học tiếng Anh với người nước ngoài, thân nhân gửi tiền đầy đủ, mọi người đều vui vẻ chờ ngày lên đường định cư. Cứ vài ba tuần lại có người mời ăn party… chia tay, thỉnh thoảng có tiệc birthday, giỗ quảy, v.v. nên Tết đến thì tại sao không làm hết mình để đón Xuân? Ngoài món mứt dừa đi đâu cũng thấy các bà các cô ngồi bên chảo trổ tài khéo, có chị còn làm món “hiếm” như mứt gừng dẻo thái sợi, mứt tắc, mứt cà chua… tôi đi một vòng hỏi thăm đều được mời ăn thử cũng đã thấy no bụng!


Cũng xin mở ngoặc một chút ở đây, những người tỵ nạn Việt Nam chờ định cư được ở khu bên cạnh người Lào-Hmông và Campuchia, không có hàng rào ngăn cách, nên những năm ở đây, tôi được tham gia những cái Tết giao lưu văn hóa rất thú vị. Tết Lào tôi không nhớ nhiều vì không có bạn Lào nhưng những món ăn của họ khá lạ miệng, (tôi được ăn trong lớp học English), chủ yếu là nếp nấu trong ống nứa hoặc gùi tre, ăn với món thịt bằm rất cay và nhiều gia vị khác, nhưng phong tục đeo dây nhiều màu vào cổ tay nhau như một lời chúc phúc trước lời tụng kinh của những nhà sư, thật dễ thương và đơn sơ như tâm hồn người Lào-Hmông.


Tết Campuchia vui nhộn hơn vì tôi có mấy người bạn Miên làm chung phòng Cao Ủy. Phong tục rải phấn thơm vào người khác của ngày đầu năm làm cả trại náo động, có khi mới ra đường chưa được một tiếng mà người và mặt mũi chân tay bị một màu trắng xóa do nhiều người “ưu ái” chà phấn thơm cho mình! Sau đó, người Campuchia theo phong tục cổ truyền là mang các hũ thức ăn ngon dâng lên chùa cho các sư sãi, tôi đi theo họ, ngồi nghe các sư đọc kinh (dĩ nhiên chẳng hiểu một chữ Campuchia nào), nhưng đến mục ăn uống thì hơi… rùng rợn vì tôi chẳng ăn được mắm bò hóc của họ trong khi mọi người sì sụp và khen ngon. Tôi đành phải enjoy mấy món xôi hấp với thịt gà.


Vui hơn là Tết Thái, vào giữa Tháng Tư, chúng tôi cũng được… hưởng ké lệnh xả giới nghiêm và nghỉ làm của Ðức Vua Thái. Ông trưởng trại còn hào phóng cho tổ chức một đêm văn nghệ người Việt tỵ nạn hát hò cho nhau nghe trên sân khấu dựng ngay giữa trại. Những món ăn Thái có nhiều nước dừa hay đậu phộng, có món cũng hơi giống Việt Nam, tôi thích nhất món giống như bún tàu xào bắp cải, thịt gà, thêm gia vị của Thái được gói trong lớp trứng chiên mỏng bao bọc bên ngoài, để trên dĩa ăn nóng với nước tương khá hấp dẫn… Mấy ngày Tết Thái, ai ra đường cũng bị tạt nước vào người, đó là điều may lành mà người Thái tin tưởng vào những ngày đầu năm. Người Việt mình được dịp… quậy xả lảng, phá nước tung tóe khắp nơi, tôi rút kinh nghiệm, nằm trong nhà ăn mì gói cho chắc ăn, khỏi phải ra đường bị ướt quần ướt áo!


Trở lại Tết Việt Nam trên đất Thái, sau màn bánh tét và mứt, người ta rủ nhau tìm các cành cây khô đem về nhà, cắt hoa mai bằng giấy vàng, nhụy đỏ, lưa thưa lá xanh, dán lên cây, điểm thêm vài tấm thiệp Xuân màu mè, là có ngay một cành mai, dù là bằng giấy, nhưng vẫn… rực rỡ như thường!


Hai câu: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ – Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh, ” vậy mà cũng… gần đủ trong trại tỵ nạn rồi. Này nhé, nồi thịt kho trứng thì hầu như ai chả có, bánh chưng bánh tét đã nấu xong, chỉ việc… mua về! Dưa hành củ kiệu cũng đã nằm sẵn sàng trong các keo lọ ở các nhà. Câu đối thì sao? Xin vào chùa hay nhà thờ, sẽ thấy ngay hai hàng câu đối đỏ viết theo lối thư pháp mới, bay bướm, đẹp như rồng bay phượng múa được đặt uy nghi trang trọng hai bên bàn thờ.


Và các bạn có tin không, đêm giao thừa cũng có pháo! Tuy không nhiều, nhưng đã có người mua được bên ngoài đem vào trại. Giao thừa năm ấy, tôi vừa đi lễ nhà thờ về khoảng 11 giờ khuya, đã có mấy người bạn làm chung vừa ghé qua, mang theo một dây pháo nhỏ (pháo chuột) đến nhà tôi làm quà mừng tuổi. Khi đồng hồ chỉ 12 giờ đêm, chúng tôi bắt đầu châm ngòi đốt pháo, rồi lác đác nghe vài tiếng pháo vọng lại ở đâu đó trong trại, xen lẫn tiếng khua động nồi niêu xoong chảo thay cho tiếng pháo, rồi tiếng cười nói, chúc tụng nhau giữa những bữa liên hoan đón phút giao mùa làm cho đêm Xuân trên xứ người bớt quạnh hiu.


Tôi cũng chẳng ngờ người Việt mình vẫn mang theo những phong tục tập quán quê hương. Ðêm giao thừa, nhiều người vẫn chưng hoa quả, nhang khói ngay trước cửa nhà như bàn thiên tại Việt Nam. Tết đầu tiên, tôi và mấy cô bạn còn đang miệt mài ngủ nướng sau một đêm ăn uống liên tục, đã nghe tiếng người ta xôn xao đi chúc Tết đầu năm, chúng tôi cũng vội vã trở dậy, sắp xếp lại chỗ ở cho gọn gàng để chuẩn bị đón bạn bè người quen ghé qua. Từ đó, mỗi sáng Mồng Một, tôi luôn có sẵn chương trình “xuất hành đầu năm,” ghé thăm và chúc Tết những người thân quen, bạn bè làm chung, lũ học trò nhỏ, đến đâu cũng được mời ăn uống, có khi chỉ là miếng mứt, ly trà thơm, nhưng những câu chuyện luôn rôm rả, đầy lạc quan cho một ngày không xa trên quê hương thứ hai.


Trời bắt đầu đứng bóng, chúng tôi kéo nhau đến ngôi chùa Việt Nam do một sư Việt tỵ nạn trụ trì. Người ta đến chùa đông như kiến, xếp hàng vào chánh điện lạy Phật, mùi hương trầm ngào ngạt cả một vùng không gian. Chúng tôi được mời ở lại dùng cơm chay vừa ngon vừa lạ miệng, Thầy trụ trì còn vui vẻ xem chỉ tay cho chúng tôi trước khi ra về. Tiết mục tiếp theo là kéo nhau qua khuôn viên nhà thờ ngay bên cạnh do Cha Nguyễn Ðức Hậu coi sóc, xem các gian hàng vui chơi ngày Tết do đội Thiếu Nhi Thánh Thể phụ trách…


Ðến khi trời sẩm tối mới trở về. Khi đi ngang qua các khu nhà trong trại, dưới ánh đèn dầu hay đèn điện xài bình accquy, đây đó vẫn còn những nhóm người tụ tập ăn uống mừng Xuân, chơi đánh bài, và bỗng vang lên tiếng đàn guitare thùng bập bùng điệu bolero da diết, với giọng ca nam trầm ấm, đầy tâm sự: “Ôi nhớ Xuân nào thuở trời yên vui – Nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi…,” buồn muốn khóc!


Nói đến khóc, tôi cũng phải nhắc đến những giọt nước mắt của những đứa con xa quê mẹ trong những ngày Tết. Ngay trong nhóm chúng tôi, một cô bạn mới sáng mồng một của Tết đầu tiên đã ngồi khóc sụt sùi, sau đó thì thêm phần… nức nở và… tức tưởi tưởng không dừng lại được, đã vậy còn đòi về… Việt Nam nữa chứ! (Cái này thì ai mà chiều nổi?). Các bà các cô ở gần sợ… xui vội chạy qua dỗ dành, chúng tôi cũng xúm lại vừa năn nỉ vừa… răn đe mới xong! Khi đi chúc Tết người này người kia, đôi khi thấy ai đó cặp mắt đỏ hoe, sưng vù, hỏi ra mới biết đêm qua khóc vì nhớ… pháo giao thừa quê hương. Riêng tôi, Tết đầu tiên đậu thanh lọc một mình, không có ba cô bạn, tôi cũng nằm vùi và khóc ròng suốt một buổi chiều sau khi đi lễ nhà thờ về thấy buồn và trống trải mênh mang, vừa nhớ bạn, vừa nhớ nhà mà nước mắt tuôn rơi…


Rồi thì ba ngày Tết cũng trôi qua, dù không đầy đủ hương sắc như ở quê nhà, nhưng rõ ràng đó là những cái Tết đầy kỷ niệm trong lòng mỗi người Việt đã từng sống qua đời trại tỵ nạn.


Cuộc sống tha phương, có đôi lần giữa những mệt mỏi của đời sống cơm áo gạo tiền, tôi nằm mơ thấy mình được trở lại trại tỵ nạn Panatnikhom một buổi sáng mùa Xuân, đang theo dòng người rộn ràng đi chợ, có một người đứng chờ tôi bên cây me già trước sân trường học ESL. Người ấy đã ngại ngùng, bối rối trao tặng tôi mấy đóa hồng đàm tiếu còn đẫm những hạt sương long lanh, tôi đã thấy cả một trời Xuân lâng lâng, êm ái, quá đỗi ngọt ngào… Ôi, Xuân trong lòng ta có ở bất cứ nơi đâu, dù ở quê nhà hay chốn tha hương, cũng vẫn đầy say đắm, ngất ngây… Rồi khi bừng tỉnh dậy giữa trời Canada tuyết rơi lạnh lẽo, tôi lại nuối tiếc ngẩn ngơ như nhà thơ Onono Komachi:


“Ôi, nếu biết đó là giấc mơ


Thì tôi đâu muốn tỉnh bao giờ!”


Những mùa xuân đời vẫn đến rồi đi, tuy nhiên những mùa Xuân êm ái như Xuân tỵ nạn Thailand của tôi (và của các bạn, ở một trại tỵ nạn nào đó), mãi mãi không quay trở lại được nữa, nhưng sẽ sống mãi trong ký ức của từng người. Vì dù muốn hay không, đó cũng là một phần đời của chúng ta.


(Nguồn: thanhduongtx@yahoo. com)


Xuân Nhâm Thìn, 2012.

Tiếng dế kêu


Br. Huynhquảng


 


Thưa quí bạn, lại một lần nữa trong kỳ báo này chúng ta hãy cùng nhau trao đổi về đề tài sống với hiện tại. Hôm nay, mục Sống Ðẹp mời bạn thử áp dụng một trong những phương pháp giúp ta sống giây phút hiện tại hoàn thiện hơn và trọn vẹn hơn. (Mach Song News:[email protected])


 


Có hai người bạn đang cùng nhau đi giữa đường phố nhộn nhịp với bao tiếng xe cộ ồn ào. Giữa hàng trăm loại âm thanh hỗn hợp của xe cộ, của người, của nhạc cụ… một cô bạn bỗng nói: “Tôi nghe tiếng dế kêu.”


Người bạn kia sửng sốt đáp lại: “Làm gì có, làm sao có thể nghe được tiếng dế giữa hàng trăm thứ tạp âm trong thành phố? Bạn khéo tưởng tượng thật!”


Người bạn đáp: “Không, mình thực sự nghe tiếng dế mà. Nào hãy theo mình.”


Cả hai cùng đi về một góc đường, và tiến đến một bụi cây. Càng đến gần, tiếng dế càng rõ hơn. Bên dưới những chiếc lá khô, họ thấy một chú dế đang cất tiếng gáy say sưa.


“Chao ơi, thật là lạ. Tai bạn thật là tuyệt vời. Bạn có bí quyết gì vậy?” Người bạn kia hỏi.


“Ồ không, tai mình cũng như bạn thôi, đâu có bí quyết gì đâu.” Nhưng hãy xem đây. Cô bạn liền lấy trong túi áo ra vài đồng tiền cắc và tung ra bên vệ đường. Ngay tức khắc, mấy chục người bộ hành ngừng lại và quay nhìn về phía phát ra âm thanh của những đồng tiền cắc. Cô bạn nói tiếp: “Bí quyết là ở chỗ đó. Vấn đề là bạn muốn nghe điều gì trong cuộc sống của bạn.”


***


Bạn thân mến, vấn đề là bạn muốn nghe điều gì trong cuộc sống chứ không phải tiếng gọi đó nhỏ hay lớn. Ðúng như vậy. Hai người yêu nhau tuy ở xa ngàn dặm nhưng vẫn có thể nghe nhau, hiểu nhau; có đúng không bạn? Ngược lại, dù có ở bên nhau nhưng nếu họ không có tình yêu thì cũng không nghe nhau, không hiểu nhau. Vấn đề là bạn tìm điều gì trong cuộc sống mỗi ngày của bạn; vấn đề là bạn có ý thức và quan tâm đủ đến từng ngày sống của bạn, từng công việc bạn làm, từng con người bạn gặp gỡ? Vấn đề là bạn có thực sự muốn kiếm tìm hạnh phúc và ý nghĩa đời làm người của mình trong từng giây phút hiện tại hay không.


Sống giây phút hiện tại là một điều dễ dàng cho những ai đặt mình trong hiện tại, nhưng thật khó khăn cho những ai không đặt mình trong giây phút hiện tại. Sống trong giây phút hiện tại tức là đặt mình vào từng hoàn cảnh mình đang sống, từng công việc mình đang làm, từng lời mình đang nói, và từng tư tưởng mình đang suy nghĩ. Thật buồn thay, nhiều người trong chúng ta sống trong hiện tại nhưng vẫn lẩn trốn giây phút hiện tại, hoặc chạy trốn không dám đối diện với giây phút hiện tại, hoàn cảnh hiện tại,và suy nghĩ hiện tại. Rất nhiều người trong chúng ta có thói quen là khi ngồi vào xe là mở radio hay mở nhạc. Thói quen này có thể là cách để né tránh sự im lặng “đáng sợ” trong lòng mình; cũng có thể là để mình tìm một điều gì đó nhằm lấp đầy nỗi khao khát khó hiểu trong con tim.


Nhiều người cầm ly nước uống ừng ực mà không hề để ý trên tay mình cầm cái gì, mình uống cái gì, hương vị ra sao. Nhiều người vừa ăn cơm mà mắt vừa liếc nhật báo, tai nghe iPod, và có khi còn xem tivi nữa. Ôi thật tội nghiệp cho con người trong thời hiện đại. Những hành động này có phải vì chúng ta quá cực khổ; không đủ thời gian để giải trí; hay vì chúng ta sợ sự thinh lặng, sợ mất thời gian, hay sợ rảnh rỗi?


Sao bạn không thử đối diện với sự im lặng trong xe, trong con người mình một lần xem sao? Sao bạn không thử để ý những gì mình đang cầm trên tay (ly nước, cây viết, tờ báo, điện thoại…) để chỉ học cảm giác là mình đang cầm một vật gì đó cụ thể với tất cả sự tự chủ? Sao bạn không thử dẹp tất cả báo chí, radio, tivi, điện thoại trong bữa ăn hôm nay để tự mình cảm nghiệm và thưởng thức hương vị ngọt, cay, chua, đắng, thơm nồng… của thức ăn mà mình đang dùng?


Thưa bạn, sống giây phút hiện tại chỉ đơn giản là như thế đó. Cứ trung thành để ý đến những gì bạn đang làm, đang cầm, đang nói, đang ăn, và đang thở… thì dần dần bạn sẽ yêu đời hơn; bạn sẽ dễ dàng cảm nghiệm vẻ đẹp của cuộc đời hơn. Giá trị hiện tại sẽ dần dần lộ ra cho bạn và chúng sẽ đẩy lùi những tư tưởng của hối tiếc về quá khứ, đồng thời chúng cũng sẽ lấn át những âu lo toan tính cho tương lai. Thưa bạn, sống giây phút hiện tại chỉ đơn giản là như thế đó. Cứ trung thành để ý đến những gì bạn đang làm, đang cầm, đang nói, đang ăn,và đang thở… thì dần dần bạn sẽ yêu đời hơn; bạn sẽ dễ dàng cảm nghiệm vẻ đẹp của cuộc đời hơn. Giá trị hiện tại sẽ dần dần lộ ra cho bạn và chúng sẽ đẩy lùi những tư tưởng của hối tiếc về quá khứ, đồng thời chúng cũng sẽ lấn át những âu lo toan tính cho tương lai.


Mong bạn áp dụng bài thực hành này thành công.

Tại sao món nợ vay của bạn cần được bảo đảm?


Những người mua ngày nay đang đứng trước một thị trường nhà đất hầu như đa dạng. Có những căn nhà bán thật hấp dẫn đối với người mua cũng như những nhà đầu tư. Giá nhà đang ở mức thấp kỷ lục và lãi suất đang tạo nên vài điều kiện mời mọc.



Một điều mà những người mua và nhà đầu tư cần làm quen là “chủ quyền” (title). Khi bạn mua bất cứ thứ gì – một chiếc xe hơi, một căn nhà – bạn cần biết chắc rằng bạn sẽ nhận được chủ quyền rõ ràng. Giản dị trao tiền không có nghĩa bạn đã làm chủ một cách hợp pháp tài sản đó.


Có thể bạn đã được nói cho biết về từ ngữ “giấy từ bỏ chủ quyền” (quitclaim deed). Một giấy từ bỏ chủ quyền có nghĩa không có giao kèo về chủ quyền, hoặc không bảo đảm về chủ quyền. Hãy nghe lời khuyên của các chuyên viên – đừng tham gia một trong những thỏa thuận này.


Các giấy từ bỏ chủ quyền chỉ nhằm dành cho các phe biết rõ và tin tưởng lẫn nhau, chẳng hạn như bên trong một gia đình. Nó không nên được sử dụng trong những vụ mua bán truyền thống và đây là lý do tại sao.


Một giấy từ bỏ chủ quyền có nghĩa người bán không bảo đảm rằng người đó thực sự làm chủ bất động sản! Họ chỉ giản dị chuyển giao bất cứ quyền lợi nào mà họ có vào lúc vụ mua bán xảy ra.


Trong cuộc khủng hoảng xiết nhà vẫn còn nhiều hậu quả, nhiều chủ nhà đang thấy họ trở thành những nạn nhân bất hạnh của vụ tai tiếng “ký như máy” (robot-signing).


Theo RealtyTrac.com, thị trường online hàng đầu về những bất động sản bị ngân hàng thu hồi, “Thị trường nhà ở đã không hoàn toàn thoát khỏi nanh vuốt của cuộc khủng hoảng xiết nhà. Thay vào đó, những chậm trễ trong việc xúc tiến những vụ xiết nhà trong năm 2011 đã phóng đại một cách giả tạo những gì vốn đã là một sự sụt giảm chậm, tự nhiên trong hoạt động xiết nhà, so với cao điểm xiết nhà trong năm 2010. Hoạt động xiết nhà sụt giảm giả tạo này trong năm 2011 sẽ đưa đến một cao điểm khác tương ứng trong năm 2012.”


Những “trì hoãn trong tiến trình xiết nhà” nói trên là những ảnh hưởng trực tiếp của cuộc tranh cãi về vụ ký như máy, khi các tài liệu không được công chứng đúng cách và có những chữ ký đáng ngờ và hiện bị các tòa án cho là vô giá trị, bị các thẩm phán ngăn chặn, và không được các công ty bảo hiểm công nhận.


Ðây không phải chỉ là các công ty nhỏ giảm bớt các thủ tục này. Các tên tuổi lớn như Bank of America, JPMorgan Chase và Wells Fargo được thấy cũng sử dụng các lề thói này.


Vụ bê bối này là không có gì mới. Hệ thống tin truyền hình MSNBC báo cáo rằng “Các quận hạt trên khắp Hoa Kỳ đang phát hiện ra rằng giấy tờ thế chấp bất hợp pháp hoặc đáng ngờ phổ biến hơn nhiều so lúc đầu người ta nghĩ, làm tì vết những văn tự của hàng chục ngàn căn nhà tính từ cuối thập niên 1990. Những tài liệu đáng ngờ có thể tạo rắc rối pháp lý cho các chủ nhà trong nhiều năm.”


“Bởi vì các chủ quyền khiếm khuyết này, chủ nhân các bất động sản không thể chứng minh họ làm chủ các tài sản mà họ nghĩ họ đã mua, và các ngân hàng không thể chứng minh họ có quyền bán chúng,” theo lời ông Jeff Thigpen, viên chức đăng ký các văn tự tại Guilford County, North Carolina.


Các bất động sản bị túng quẫn được vơ vét trên toàn quốc bởi các công ty đầu tư hám lợi, và đôi khi cẩu thả hoặc thiếu lương thiện, rồi sau đó bán lại cho những người mua không nghi ngờ mà không có giấy chủ quyền rõ ràng, được thị thực hợp pháp hoặc có các chữ ký thích hợp.


Nhiều người trong số những người mua này bị hấp dẫn bởi sự dễ dàng trong vụ mua bán bây giờ mới phát hiện ra rằng các tài liệu đáng lẽ phải được chính thức ký kết và thị thực đã giản dị được ký như máy, đôi khi còn không có cả chữ ký điện tử của người có quyền ký.


Bây giờ, để bán với một chủ quyền rõ ràng, họ phải làm công việc lần theo dấu vết những chữ ký và nộp giấy tờ đáng lẽ đã được lo liệu bởi công ty đầu tư thế chấp. Ðiều này đã dẫn đến những vụ hủy bỏ hợp đồng và bỏ lỡ cơ hội bán.


Nếu bạn đang dự tính mua bất động sản trong thị trường nhà đất ngày nay, hãy bảo đảm lưu ý từng li từng tí tới bản hợp đồng. Hãy bảo đảm rằng bạn sẽ nhận được một bằng khoán rõ rệt được thực hiện theo thể thức cũ với một món vay được bảo đảm. (n.n.)

Bí quyết làm sạch hồ sơ tín dụng của bạn


Có một điểm tín dụng lành mạnh là điều quan trọng hơn bao giờ hết. Nó có thể có nghĩa bạn vay được tiền mua nhà hay không. Ðừng để cho các thói quen cũ hoặc nợ nần cản đường của bạn trong việc lợi dụng lãi suất thấp kỷ lục và cơ hội mua nhà với giá rẻ.



Công việc đầu tiên là tự trang bị cho bạn những căn bản vững chắc. Tình hình báo cáo tín dụng và điểm tín dụng của bạn như thế nào? Bạn có thể viếng thăm website của chính phủ annualcreditreport.com ba lần một năm miễn phí để xem báo cáo tín dụng của bạn. Bạn sẽ phải trả một lệ phí tượng trưng để xem điểm tín dụng của bạn.


Một khi bạn đã truy cập báo cáo của bạn, hãy bảo đảm kiểm tra cẩn thận để tìm các sai sót. Ðây không phải là lúc để những kẻ đánh cắp lý lịch làm mất thanh danh của bạn. Ngoài nạn đánh cắp lý lịch có thể cũng có những sai lầm và thiếu sót cần được sửa chữa. Hãy liên lạc với mỗi trong ba phòng báo cáo tín dụng lớn để yêu cầu cập nhật báo cáo của bạn.


Cũng có nhiều chương trình hiện được cung cấp để chống nạn đánh cắp lý lịch. Nhiều ngân hàng hiện cung cấp các đường lối thuận tiện để theo dõi hoạt động của thẻ và trương mục. Nếu chi tiêu bất thường xuất hiện trên trương mục của bạn, họ sẽ ngăn chặn bất cứ vụ mua sắm nào và liên lạc với bạn ngay lập tức để xác nhận bạn có thực sự là người thực hiện vụ mua sắm hay không.


Bây giờ với báo cáo hiện hữu của bạn ở trong tình trạng hoạt động tốt và được bảo vệ chống đánh cắp, đến lúc bắt đầu thực hiện các sửa chữa. Trước hết hãy giảm số lượng những vụ kiểm tra tín dụng của bạn vì bạn đã làm những công việc như nộp đơn xin thẻ tín dụng, vay tiền hay một vài dịch vụ khác. Tiến trình mua nhà không phải là lúc để khởi sự mở các trương mục mới và các khoản tín dụng.


Hãy chống lại sự thôi thúc muốn mua xe mới, gắn DirecTV, và mua đồ đạc mới bằng thẻ tín dụng. Hãy khoan thực hiện những vụ mua sắm này cho tới khi bạn đã đóng hồ sơ mua nhà của bạn. Lãi suất tương lai của bạn sẽ phản ánh sự kiên nhẫn của bạn.


Hãy khởi sự trả bớt kết toán nợ trên các thẻ tín dụng. Trong khi vài trương mục xoay vòng như tiền nợ mua xe hơi và tiền thế chấp nhà cho thấy bạn là một người vay có tinh thần trách nhiệm, có các kết toán cao trên các thẻ của bạn giảm đáng kể điểm tín dụng của bạn.


Tuy nhiên, đừng trả hết nợ trên các thẻ cốt để đóng chúng, nếu bạn đang tìm cách nâng điểm tín dụng của bạn lên. Ðiều này có thể được giải thích một cách đơn giản. Nếu bạn được cấp một khoản tín dụng tổng cộng $10,000 và bạn hiện mắc nợ $5,000, bạn đang sử dụng 50% tín dụng có thể được cung cấp cho bạn. Tỉ lệ đó quá cao.


Nếu bạn đóng một thẻ và đang nợ $5,000 trong khi tín dụng có thể được cung cấp cho bạn là $7,000, bạn đang sử dụng 71% tín dụng có thể được cung cấp cho bạn và tình trạng tệ hơn so với trước đó!


Ðiều quan trọng là bắt đầu trả bớt các kết toán nợ và duy trì tỉ lệ đó ở mức thấp. Một khi bạn biết chắc đã nắm vững món vay mua nhà, bạn có thể xem xét việc đóng trương mục thẻ tín dụng đó.


Kế tiếp, đừng bao giờ trả trễ. Nếu bạn cần thiết lập những nhắc nhở thanh toán hoặc rút tiền tự động cho một vài hóa đơn nào đó để trả đúng hạn, khi đó bằng mọi cách hãy làm điều đó.


Nếu bạn sợ rằng bạn sẽ bỏ lỡ một kỳ thanh toán hoặc sẽ trả trễ, hãy bảo đảm liên lạc với ngân hàng cho vay hoặc chủ nợ trước khi điều này xảy ra. Nhiều ngân hàng cho vay sẽ hợp tác với bạn mà không báo cáo tháng bỏ lỡ với các phòng tín dụng. Mỗi kỳ thanh toán bị báo cáo trễ hạn sẽ giảm điểm tín dụng của bạn và nằm trên báo cáo của bạn trong nhiều năm.


Cuối cùng, hãy trả dứt nợ thay vì chuyển từ một thẻ này sang một thẻ khác. Có thể bạn có lợi khi chuyển món nợ lên thẻ đó, nhưng điều đó không loại tiểu sử ra khỏi báo cáo tín dụng của bạn. Thực vậy, nếu bạn mở một thẻ mới, bạn có thể đã làm sứt mẻ điểm tín dụng của bạn.


Chi tiêu và thanh toán có trách nhiệm là phương cách để bạn gây dựng một báo cáo tín dụng. Không có cách sửa chữa một sớm một chiều nào cho điểm tín dụng (đừng tin những trò lừa đảo!) Hãy làm công việc của bạn để trả bớt nợ trong những năm và tháng sắp tới và điểm tín dụng của bạn sẽ lên tới chín tầng mây! (n.n.)

Nhịp cầu yêu thương (0702/2012)


Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH


(Disabled Veterans and Widows Relief Association)


A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492


P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799


Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967


Email: [email protected]; [email protected]


Website: http://www.camonanhtb.com


Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


 


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ


Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


 


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:


(Tính đến ngày 29 tháng 1, 2012)


 


Ân nhân ủng hộ TPB (bỏ vào thùng tại gian hàng của hội) trong Hội chợ Tết Nhâm Thìn do THSV tổ chức từ ngày 27 đến 29 tháng 1, 2012 tại Garden Grove, Nam Cali: $3,693.36


Nhật Chấn, Garden Grove, CA $100


Thuận Dương, Houston, TX $5


IBM Employee Charitable Contribution Campaign, Endicolt, NY $10


John Tạ, Laguna Niguel, CA $500


Danny Nguyễn, Piscataway, NJ $100


Tinh Ðỗ (River Oaks Nails & Spa), Houston, TX $100


Bà Trung Nguyễn, Houston, TX $100


Hoàng Thu Nguyễn, Oklahoma City, OK $50


Tuan Vũ, Sylmar, CA $50


Tho Văn Phạm, Oklahoma City, OK $50


Van Thanh Hoàng, Santa Ana, CA $20


Cô Sương N. Võ, Dallas, TX $50


Giao Q. Nguyễn, Montclair, CA $50


Chêu Hoàng, Westminster, CA $20


Stephen Ðặng, Houston, TX $30


Helen Trương Blizin, Laguna Niguel, CA $50


 


Danh sách ân nhân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ V


 


Binh Trương, Lutz, FL $50


Tracey T. Ngô, Anaheim, CA $100


Cô Liên Phạm, Melbourne, FL, $100


Phương Hồng Nguyễn, $70


Tiền Kim Nguyễn, Macedona, OH $400


Ðức Hà, Cerritos, CA $100


Ðỗ Hữu Hoàng, Marana, AZ $50


Soang Thuận Lê, Victorville, CA $200


Nail of the World, Tucson, AZ $300


Mai Victor, Lawrenceville, GA $100


Thịnh Lê, Oakland, CA $200


Thanh Vương, Clovis, CA $50


Trần Văn Chính, Cape Coral, FL $50


Dũng Hà Tâm, Silver Spring, MD $300


White Bear, Brownsville, MN $100


Nguyễn Phương Hoàng, Minneapolis, MN $350


GÐ Bà Tâm TX, Arlington, TX $150


Ðoàn Lữ Chất, Elmhurst, NY $100


Mỹ Lệ Phan, Columbia, SC $100


Kim Lê, Chicago, IL $50


Võ Thiện Chơn, Irvine, CA $100


Thủy Nguyễn, Westminster, CA $100


Linda Phạm, Bộ, Baton Rouge, LA $300


Phương Trần, zip code 2169?, $100


Ngọc Trương, Houston, TX $50


Pho Nguyễn, Liberal, KS $50


Hiệp Ngọc Dương, Bronx, NY $100


Hạnh M. Lê, Reseda, CA $100


Lý Quang Trần, Abbeville, LA $100


Toan Kim Hoàng, Wichita, KS $100


Trần Út, Arlington, TX $20


Ðặng Phước, San Leandro, CA $100


Ông Minh, Charleston, SC $500


Nguyễn Thị Ðài, Phoenix, AZ $50


Phạm Thị Linh Thùy, St. Louis, MO $50


Thúy Bùi, Norcross, GA $100


Diêu Lê Thanh, Bronx, NY $100


Lê Phi, $100


Mai Nguyễn, $50


Bill M. Arnold, $250


Tom Trương, $100


Nguyễn Văn Nhã, Lebanon, PA $100


Thành Nguyễn, Houston, TX $50


Paul Q. Dương, Oklahoma City, OK $100


Nhung Nguyễn, Sartell, MN $100


Nguyễn Thị Bích Liên, Fresno, CA $100


Vị ẩn danh, Santa Ana, CA $100


Nguyễn Văn Tri, zip code 92151, $100


Nguyễn Thị Lệ Dung, Palatine, IL $100


Nguyễn Ðình Ngọc, Arlington, TX $100


Hoa Ngô, Rocky Mount, NC $100


ÔB. Bùi Văn Mỹ, Brandywine, WV $100


Bình Nguyễn, Seattle, WA $700


Nguyễn Văn An, $100


Thiên Nguyễn, Chantilly, VA $100


Ðào Elynn, zip code 8234?, $50


Thái Sơn, Lanham, MD $100


Phạm Văn Tư, Charlotte, NC $200


Tony Ðỗ, Houston, TX $100


 


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trần Văn Luận, Bình Phước, TS CLQ Sq:203.813. Cụt chân phải. Bị thương ở khắp người.


Trần Văn Cu, Bình Dương, NQ Sq:E02.102. Cụt chân trái. Gãy chân phải.


Hồ Ðình Cẩn, Bính Phước, HS ÐPQ Sq:192.024. Cụt tay trái. Mờ 2 mắt.


Nguyễn Văn Cư, Bính Phước, B1 BÐQ Sq:200.674. Cụt chân phải.


Phan Khánh Hòa, Bình Dương, TrU CLQ Sq:150.073. Bị thương ở bụng.


Bùi Văn Long, Bình Dương, HS TQLC Sq:129.469. Cụt chân trái.


Trần Hồng Kim, Bình Dương, ChU CLQ Sq:147.830. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Vinh, Bình Dương, B2 CLQ Sq:129.253. Cụt chân phải. Gãy chân trái.


Dư Tài, Bình Dương, HQ Sq:700.988. Cụt chân trái.


Phạm Văn Tâm, Bình Dương, HS1 Nhảy Dù Sq:137.412. Cụt tay phải.


Ðỗ Thanh Tân, Bính Phước, B2 CLQ Sq:160.683. Cụt chân trái.


Phạm Văn Ðực, Bính Phước, ÐPQ Sq:774.278. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Phú, Bình Dương, HS CLQ Sq:101.589. Cụt chân phải.


Lê Văn Trung, Bính Phước, HS1 Nhảy Dù Sq:414.028. Gãy chân trái. Liệt tay trái.


Huỳnh Văn Hường, Bình Dương, BÐQ Sq:172.765. Cụt tay phải.


Phạm Xuân Hòa, Bình Dương, HS HQ Sq:231.205. Cụt tay phải.


Lê Văn Hồ, Bình Dương, TS ÐPQ Sq:309.248. Cụt chân trái. Gãy chân phải.


Kim Bút, Bình Dương, NQ Sq:310.543. Cụt chân phải. Gãy chân trái.


Nguyễn Huỳnh, Bính Phước, B2 CLQ Sq:181.549. Cụt chân phải.


Mai Văn Chóe, Bình Dương, B1 CLQ Sq:175.095. Cụt chân phải.


Lê Văn Rớt, Bình Dương, B1 CLQ Sq:100.034. Bị thương ở đầu.


Nguyễn Văn Hoa, Bình Dương, B2 ÐPQ Sq:411.669. Mù mắt phải, mờ mắt trái.


Nguyễn Văn Nhiệp, Bình Dương, NQ Sq:356.041. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Ðức, Bình Dương, HS ÐPQ Sq:364.553. ???


Ngô Văn Sáu, Bình Dương, HS ÐPQ Sq:105.154. Bị thương ở đầu. Liệt bán thân phải.


Nguyễn Văn Ngon, Bình Dương, B1 ÐPQ Sq:608.453. Cụt chân phải. Liệt chân trái.


Lê Hoàng Ngọc Sinh, Bình Dương, TS Nhảy Dù Sq:134.715. Cụt chân phải.


Nguyễn Văn Lý, Bính Phước, B1 CLQ Sq:140.069. Cụt chân trái.


Nguyễn Văn Sinh, Bình Dương, HS1 CLQ Sq:100.723. Bể đầu gối trái.


Trần Văn Huê, Bính Phước, B1 CLQ Sq:471.859. Bị thương ở bụng.


Nguyễn Thành, Bình Dương, B1 CLQ Sq:139.882. Bị thương ở bụng.


Lê Minh, Bính Phước, B1 ÐPQ Sq:072.323. Gãy tay phải. Bị thương ở đầu.


Nguyễn Văn Ba, Bính Phước, TS1 Nhảy Dù Sq: 105.505. Cụt tay trái.


Nguyễn Văn Hiệp, Bính Phước, TS BÐQ Sq: 105.975. Mù 1 mắt. Cụt 2 ngón tay phải.


Nguyễn Vừng, Bính Phước, HS1 CLQ Sq:200.075. Liệt tay trái. Mắt mờ.


Bùi Văn Vương, Bình Dương, TU TQLC Sq:113.010. Cụt chân trái.


Phạm Văn Hoàng, Bình Dương, HS1 CLQ Sq:133.972. Bị thương ở khắp người.


Le Thi, Bình Dương, HS1 CLQ Sq:202.996. Gãy chân trái.


Nguyễn Văn Duyên, Bình Dương, B2 CLQ Sq:677.088. Cụt chân trái.


 


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


 


Trần Thị Q., Long An, Quả Phụ Cố HS1 Hồ Ngọc Hưu. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Bé, An Giang, Quả Phụ Cố B2 Võ Văn Dư. Tử trận năm 1964.


Nguyễn Thị Nghi, Ninh Thuận, Quả Phụ Cố B2 Nguyễn Ngọc Rạng. Mất tích năm 1973.


Dương Thị Thanh Hương, Ninh Thuận, Quả Phụ Cố NQ Lê Thanh Tâm. Tử trận năm 1972.


Bùi Thị Phương, Saigon, Quả Phụ Cố TrU ÐPQ Nguyễn Bá Ðương. Tử trận năm 1972.


Huỳnh Ngọc Hồng, Bến Tre, Quả Phụ Cố ÐTá ÐPQ Hồ Văn Sáng. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Minh Tâm, Saigon, Quả Phụ Cố ChU Phạm Công Minh. Mất tích năm 1972.


Nguyễn Thu Hà, Cần Thơ, Quả Phụ Cố HS1 Nguyễn Văn Thắng. Tử trận năm 1971.


Nguyễn Thị Kim Nghĩa, Saigon, Quả Phụ Cố TS BK Lê Trường Thắng. Mất tích năm 19??


Bùi Thị Lam Tiên, Bình Thuận, Quả Phụ Cố CBXDNT.


Trương Thị Ngãi, Khánh Hòa, Quả Phụ Cố HS Lê Túy. Mất tích năm 1972.


Nguyễn Thị Trang, Tây Ninh, Quả Phụ Cố TS Trần Văn Sử. Tử trận năm 1975.


Lý Thị Anh, Tây Ninh, Quả Phụ Cố TS Tuỳnh Văn Nhân. Tử trận năm 1965.


Trương Thị Huệ, Ðồng Nai, Quả Phụ Cố TrU LLÐB Phạm Duy Quan. Mất tích năm 1972.


Chu Thị Khánh, Ðồng Nai, Quả Phụ Cố TS1 La Vi Dương. Tử trận năm 1967.


Vy Thị Dương, Ðồng Nai, Quả Phụ Cố TrU CLQ Trần Văn Lý. Tử trận năm 1974.


Vy Thị Quế, Ðồng Nai, Quả Phụ Cố B1 Hà Vinh Thương. Tử trận năm 1965.


Nông Thị Phát, Ðồng Nai, Quả Phụ Cố B1 Tăng Vênh Khin. Tử trận năm 1962.


Nguyễn Thị Tư, Vĩnh Long, Quả Phụ Cố B2 CLQ Võ Văn Thái. Tử trận năm 1962.


Nguyễn Thị Ðiêu, Vĩnh Long, Quả Phụ Cố B2 Nguyễn Văn Ðời. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Trứ, Cần Thơ, Quả Phụ Cố HS1 Trần Văn Lài. Tử thương năm 1964.


Trần Thị Lạc, Ninh Thuận, Quả Phụ Cố TS1 CTCT Hồ Hiếu. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Nhàn, Saigon, Quả Phụ Cố B2 ÐPQ Nguyễn Văn Tư. Tử trận năm 1970.


Hồ Thị Yên, Khánh Hòa, Quả Phụ Cố HS1 ÐPQ Võ Mộc. Mất tích năm 1973.


Nguyễn Thị Trọn, Bình Dương, Quả Phụ Cố TS CLQ Lê Văn Mít. Tử trận năm 1972.


Võ Thị Cưng, Ðồng Tháp, Quả Phụ Cố NQ Nguyễn Văn Tám. Tử trận năm 1967.


Nguyễn Thị Còn, Long An, Quả phụ Cố ThS Ðặng Chiêm. Tử trận năm 1969.


Hồ Thị Quyền, An Giang, Quả phụ Cố B2 Trương Văn Cường, Tử trận năm 1972.


Nguyễn Thị Trung, Ninh Thuận, Quả phụ Cố HS Mai Long Tuân. Tử trận năm 1973.


Quách Thị Lạc, Tiền Giang, Quả phụ Cố B2 Huỳnh Văn Chẩn. Tử trận năm 1969.


Ðỗ Thị Tám, Saigon, Quả phụ Cố TS Phạm Văn Long. Tử trận năm 1975.


Lưu Thị Hường, Khánh Hòa, Quả phụ Cố ChU Lâm Văn Ứng. Mất năm 1975.


Nguyễn Thị Thông, Quảng Nam, Quả phụ Cố B1 Nguyễn Thăng. Tử trận năm 1965.


Mai Thị Huỳnh, Tây Ninh, Quả phụ Cố NQ Võ Thành Hội. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Hà, Tiền Giang, Quả phụ Cố ÐPQ Nguyễn Hùng Mạnh. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Don, Vĩnh Long, Quả phụ Cố TS1 Nguyễn Văn Hằng. Tử trận năm 1972.


Phạm Thị Nà, Sông Bé, Quả phụ Cố TS Trịnh Viết Tuyên. Tử trận năm 1972.


Lê Thị Mỹ, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS1 CSQG Phạm Văn Bạc. Tử trận năm 1974.


Nguyễn Thị Chức, Ðồng Nai, Quả phụ Cố TS CLQ Trần Văn Ðức. Tử trận năm 1969.


Chiêm Thị Út, Vĩnh Long, Quả phụ Cố B1 BÐQ Lê Văn Be. Tử trận năm 1968.


Nguyễn Thị Liên, Tiền Giang, Quả phụ Cố NQ Nguyễn Văn Dương. Mất năm 1973.


Nguyễn Thị Duyên, Bình Thuận, Quả phụ Cố BÐQ Cao Linh. Tử trận năm 1963.


Lê Thị Xang, Saigon, Quả phụ Cố B2 BÐQ Nguyễn Văn Tàu. Tử trận năm 1963.


Ngô Thị Sáu, Vĩnh Long, Tổ phụ Cố HS1 TG Huỳnh Văn Khanh. Tử trận năm 1973.


Lê Thị Ngâu, Long An, Quả phụ Cố TS Nguyễn Văn Tấn. Tử trận năm 1968.

Nhớ về những đồng đội cũ


Góc Chiến Trường Xưa


 


 


 


Bảo Tuấn


 


Tôi là một quân nhân hiện dịch. Tôi yêu quân đội và chọn quân đội làm binh nghiệp. Tôi gia nhập quân đội lúc tuổi đời còn rất trẻ. Tôi rời xa bạn bè, mái trường, thầy cô rất sớm nên học vấn chẳng bằng ai.


  Tôi là người hiếu động, thích không khí sôi động nơi chiến trường. Công việc an nhàn ở văn phòng, bộ tham mưu không thích hợp với tôi. Thuở còn bé, tôi thích xem phim chiến tranh. Ước ao khi lớn lên sẽ là một tướng lãnh anh hùng, điều khiển ba quân ngồi mặt trận. Thần tượng của tôi lúc ấy là vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Hoàng đế Nã Phá Luân. Nã Phá Luân vốn là sĩ quan Pháo Binh lúc trẻ sau này trở thành một danh tướng làm rúng động cả trời Âu.


Giữa năm 1960, sau khi tốt nghiệp khóa Pháo Binh Trung Cấp ở trường Pháo Binh và Hỏa Tiễn Hoa Kỳ (Fort Sill- Oklahoma), một lần nữa tôi được thuyên chuyển ra miền Trung! Hầu hết người miền Nam như tôi rất ngại ra Trung, vì ở đó không tìm đâu ra ánh đèn màu ở các vũ trường hay các phòng trà ca nhạc về đêm. Tôi bất hạnh sinh ra trong một gia đình nghèo, thuộc loại “bần cố nông,” vả lại cũng không phải là một thanh niên ham vui, bay bướm, nên tôi bất cần các chuyện lặt vặt đó. Vả lại tôi nghĩ đã là một quân nhân, nhất là một quân nhân hiện dịch như tôi, thì bổn phận chính là phục vụ cho quân đội, còn địa phương là vấn đề thứ yếu.


Tôi được điều động về đơn vị Pháo Dã Chiến, đoàn trú nơi địa danh lịch sử, Cổ Thành Quảng Trị. Tôi nhấn mạnh đến từ “lịch sử,” vì nơi đó chúng ta và CS đã đổ biết bao máu xương trong hai lần lấn chiếm và tái chiếm khiến Cổ Thành Quảng Trị hoang tàn, không còn hình dạng như xưa, đầy dẫy hố bom, đạn! Và từ đó, địa danh Cổ Thành Quảng Trị đã đi vào lịch sử. Nơi đó cũng là lịch sử của đời tôi, vì ngày thành hôn năm 1961, vợ chồng tôi thết đãi tiệc cưới cho các sĩ quan trong đơn vị, nơi câu lạc bộ sĩ quan cũng tại địa danh này.


Tôi sinh ra thuộc “cung” khổ cho nên những cuộc hành quân nào nguy hiểm và vất vả, Tôi đều được chỉ định đảm trách. Thuở ấy tôi mới lập gia đình, bỏ vợ mới cưới đi hành quân hồi, để nàng ngủ một mình, sợ ma! Tội nghiệp đêm đêm nàng phải nhờ cháu bé con của sĩ quan trong cư xá qua nhà ngủ chung cho đỡ cô đơn! Ðôi lúc cũng bực, nhưng kỷ luật nghiêm minh của quân đội đã ấn định rõ “thi hành trước, khiếu nại sau.” Nhiều khi tôi cũng tự an ủi, mình được cấp chỉ huy tín nhiệm là một vinh dự được giao cho những công tác khó khăn, nhưng tội nghiệp cho các thuộc cấp của tôi, họ cũng khổ lây theo tôi.


Suốt cuộc đời binh nghiệp, trải dài hơn 20 năm chiến đấu không ngừng, tôi đã nhiều lần đối diện với cái chết. Cái chết đến đột ngột với các chiến binh ngồi mặt trận. Sự sống và sự chết chỉ cách nhau một tích tắc đoàng hồ, may thì thốt, không may thì vĩnh viễn nằm xuống trở về với cát bụi!


Tôi xin lược kể ra đây vài trường hợp thốt chết mà tôi đã đối diện.


***


Thoạt đầu, tôi được đề cử làm pháo đội trưởng một pháo đội tác xạ đại bác 105 ly. Thời gian đó, Pháo Binh QLVNCH chưa phát triển. Mỗi sư đoàn Bộ Binh có một tiểu đoàn Pháo Binh đại bác 105 ly và một tiểu đoàn súng cối 106 ly cơ hữu. Mỗi pháo đội tác xạ 105 ly có 4 khẩu đại bác. Nhiệm vụ chiến thuật của pháo đội tôi lúc ấy là yểm trợ trực tiếp cho trung đoàn 3 Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Thời gian ấy Trung Ðoàn 3 BB đang hành quân tại thung lũng Ashau-Alưới. Thung lũng này nằm dưới chân dãy Trường Sơn sát biên giới Lào. Thung lũng này là con đường xâm nhập thuận tiện nhất của quân CS từ Bắc vào Nam.


Pháo đội tôi được chia đôi: 2 khẩu đóng ở Ashau và 2 khẩu đóng ở Alưới. Khoảng cách giữa Ashau và A lưới quá xa, không yểm trợ hỗ tương được cho nhau, cho nên Bộ Tư Lệnh SÐ 1 thiết lập một căn cứ phụ, nhỏ hơn nằm ở giữa. Ðó là căn cứ Tà Bạt. Căn cứ này được yểm trợ bởi một khẩu pháo 25 pounder – loại pháo cổ của Pháp để lại trước khi rút về nước. Như thế cả ba căn cứ đều co Ôpháo binh hiện diện, có thể yểm trợ hỗ tương lẫn nhau.


Hè năm 1962, thời tiết thuận tiện, ít mưa và ít sương mù nên BTL sư đoàn mở cuộc hành quân ở vùng Cokawa. Ðịa danh này nằm ở Bắc A lưới. Vì Trung Ðoàn 3 BB án ngữ tại thung lũng Ashau-A lưới nên địch không hoạt động được, đành phải rút lên Cokawa để thiết lập mật khu.


Trung Ðoàn 3 BB đảm nhiệm hành quân càn quét mật khu này và di chuyển toàn bộ BCH lên sát vùng hành quân để dễ chỉ huy. Tại căn cứ Ashau lúc bấy giờ tôi là người có cấp bậc cao nhất, dù là pháo thủ, tôi cũng bị Ðại Tá Ðỗ Cao Trí lúc bấy giờ là tư lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, chỉ định làm chỉ huy trưởng căn cứ! Dưới quyền tôi lúc bấy giờ ngoài quân số của bán pháo đội tác xạ còn có quân số của 1 đại đội trọng pháo Trung Ðoàn 3 BB, 1 Trung Ðội Bộ Binh phụ trách canh gác và giữ an ninh phi trường, 1 tiểu đội Bộ Binh hàng ngày hoạt động bên ngồi để phát hiện sự hiện diện của địch. Tình hình tổng quát tại Ashau lúc ấy cũng không căng thẳng lắm, chỉ có hoạt động du kích lẻ tẻ. Thỉnh thoảng, BTL/SÐ biệt phái cho tôi một phi cơ L.19 để sử dụng bay quan sát khu vực chung quanh căn cứ để phát hiện hoạt động địch.


Vào những dịp thuận tiện, tôi cũng đi thăm các anh em pháo thủ bên A lưới và Tà Bạt, kiểm soát huấn luyện và trau dồi kỹ thuật. Một hôm tôi theo chuyến bay tiếp tế Caribou – loại phi cơ có khả năng đáp và cất cánh trên phi đạo ngắn – để thanh tra anh em bên căn cứ Tà Bạt.


Tà Bạt cách Ashau trong tầm pháo 105 ly, chừng 5 phút bay. Khi đến vùng trời Tà Bạt, phi cơ lượn vài vòng để xem hướng gió. Trong khi phi công cho hạ thấp cao độ chuẩn bị đáp thì một chú du kích hay Thượng cộng nào đó tác xạ một phát vu vơ nhắm vào phi cơ. Hậu quả của phát đạn đó lại gây một tai họa. Thay vì phi công giảm bớt tốc độ và cao độ, điều khiển phi cơ đáp từ đầu phi đạo, phi công lại liều lĩnh đáp ở giữa phi đạo! Vì lẽ căn cứ nhỏ, phi đạo ngắn, Caribou không làm sao dừng lại ở cuối phi đạo được. Kết quả phi cơ đâm thẳng vào mép rừng cuối phi đạo, bốc cháy! Phi công trưởng và phụ tử nạn.


Tôi với tính cẩn thận khi lên phi cơ đã gài nịt an toàn, chỉ bị shock trặc xương sống và sây sát hai tay, kịp thoát ra ngoài, vô sự!


Lần thứ hai gặp nạn cũng trên một chuyến bay hành quân. Ðầu Xuân 1971, trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào Hạ Lào, Trung Ðoàn 1 và Trung Ðoàn 3/SÐ1BB được lệnh tấn công song hành.


Trung Ðoàn 1 BB thiết lập căn cứ Hỏa Lực Alpha cách biên giới Lào khoảng 20 cây số và Trung Ðoàn 3 BB thiết lập căn cứ hỏa lực Delta xa hơn, nằm giữa Tchepone và Khe Sanh. Mục tiêu của sư đoàn là sử dụng các đơn vị cơ hữu luân phiên (alternate) tiến công chiếm cho được Tchepone là mục tiêu tối hậu.


Những ngày đầu của cuộc hành quân, địch chưa tập trung kịp nên lực lượng ta đã phá vỡ nhiều căn cứ hậu cần và ống dẫn dầu của địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.


Sau đó thì Tiểu Ðoàn 2/3 Sư Ðoàn 1 BB do Thiếu Tá Hồng Mão chỉ huy chạm địch nặng, gần như bị bao vây, đạn dược gần hết! Xin cần nói thêm là trong cuộc hành quân này, lực lượng bộ chiến Hoa Kỳ không tham dự, cũng không có cố vấn Mỹ đi theo do lệnh cấm của Ngũ Giác Ðài. Mỹ chỉ yểm trợ trên không như tiếp tế, tản thương, trực thăng vận, yểm trợ tiếp cận với những phi vụ từ Ðệ Thất Hạm Ðội và phi vụ chiến lược B.52 theo yêu cầu.


Hôm đó tôi bay trên trực thăng chỉ huy C+C (Command and Control) với đại tá trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 3 BB, tìm cách cứu TÐ 2/3 ra khỏi vùng hành quân. Phi công trực thăng là không đoàn trưởng Không Ðoàn Trực Thăng Hoa Kỳ.


Ðến khu vực TÐ 2/3 BB, chúng tôi yêu cầu ở dưới đánh dấu vị trí. Khói màu vàng được nhận thấy từ trực thăng của chúng tôi. Phi công trưởng dọ dẫm thăm dò cho hạ thấp cao độ, lướt nhẹ trên vị trí khói vàng. Trên trực thăng nhìn xuống, tôi thấy nhiều quả đạn súng cối nổ gần vị trí đánh dấu đoàng thời một loạt AK cũng bắn theo trực thăng. Tôi nghe rõ tiếng đạn lướt qua ngang đầu và phi công điều khiển trực thăng vọt nhanh lên cao, lấy lại cao độ. Rồi thì đèn báo động đỏ trên trực thăng chớp liên hồi, báo hiệu hệ thống cánh quạt bị trúng đạn, trực thăng sắp rớt.


Phi công khẩn cấp rời vùng hành quân, đoàng thời báo cáo về Khe Sanh. Nơi đây liền gửi toán tiếp cứu (rescue) thuộc Ðại Ðội Hắc Báo với thang dây, kẹp theo sát chúng tôi. Còn ở bên này biên giới Lào, trực thăng phải đáp khẩn cấp bất chấp hiểm nguy! Rồi một trực thăng khác đến kịp thời, thay thế chiếc hỏng. Chúng tôi lại tiếp tục bay, tìm cách để trực thăng vận cứu nguy cho TÐ 2/3 BB. Cuối cùng thì TÐ 2/3 BB dưới tài chỉ huy xuất sắc của Thiếu Tá Hồng Mão cũng thoát được vòng vây, di chuyển bộ về căn cứ hỏa lực Delta. Ông ta là niên đệ cùng trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt (khóa 20?) với tôi.


Trên đây là hai lần tôi may mắn thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Và trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, tôi cũng chứng kiến những cái chết đau lòng của anh em thuộc cấp, những người không may mắn như tôi, đã vĩnh viễn nằm xuống vì chính nghĩa Quốc Gia. Tôi xin kể lại dưới đây những trường hợp mà tôi còn nhớ rõ.


***


Ba Lòng là một quận lỵ nằm trong thung lũng dưới chân dãy Trường Sơn. Ðất phì nhiêu dân cư thưa thớt, nhưng Ba Lòng là một vị trí chiến lược. Nếu không chiếm giữ Ba Lòng, thì từ đây địch sẽ thiết lập căn cứ địa, gây bất ổn cho Quảng Trị và Ðông Hà. Vì là một vùng xa xơi, hiểm trở, nên có thời các chiến sĩ Ðại Việt đã thiết lập chiến khu nơi này để chống lại chính quyền Ngô Ðình Diệm.


Trước đó, quận lỵ Ba Lòng đã hai lần bị địch tràn ngập và cả hai lần pháo đội tôi được trực thăng vận vào yểm trợ cho lực lượng giải tỏa. Vì không có đường giao thông và thuở ấy chưa có trực thăng Chinook – loại trực thăng khổng lồ có khả năng câu được cả đại bác 155 ly – nên trực thăng vận Pháo Binh lúc ấy rất nhiêu khê phiền phức! Một khẩu pháo được tháo rời thành 5 bộ phận: nòng, liên hệ đàn hồi, giàn súng (gun assembly), 2 bánh, 2 càng. Từng bộ phận được câu bằng trực thăng “quả chuối” H.21, đến vị trí hành quân mới ráp lại.


Ba Lòng nằm ở vị trí không tiếp viện bằng đường bộ được, ngoài tầm yểm trợ pháo binh nên BTL/SÐ quyết định thiết lập một căn cứ quân sự tại đây. Lúc ấy thì dân chúng không còn một ai, một số thì về Quảng Trị, một số thì về Cam Lộ, Ðông Hà sinh sống.


Căn cứ được thiết lập theo hình tam giác để dễ yểm trợ lẫn nhau. Pháo đội của tôi được tách ra hai khẩu yểm trợ cho một tiểu đoàn BB trong thời gian thiết lập căn cứ.


Thiếu Úy Nguyễn Văn Tố, Khóa 8 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, chỉ huy hai khẩu trên. Thời gian đó không có chức vụ trung đội trưởng. Trường hợp pháo đội chia đôi như vậy, thì pháo đội trưởng chỉ huy hai khẩu và sĩ quan tác xạ phụ trách hai khẩu. Vì là một vị trí “yết hầu” gây trở ngại, ngăn cản địch, không cho địch mở rộng hoạt động xuống đoàng bằng Quảng Trị và Ðông Hà nên địch quyết định nhổ cái gai ấy với bất cứ giá nào.


Căn cứ được thiết lập gần xong thì địch mở cuộc tấn công, một cuộc tấn công được thiết kế và phối hợp rất tỉ mỉ. Ðịch dùng một bộ phận tấn công cầm chân đại đội tiền đoàn cách căn cứ khoảng một cây số, không cho tiếp viện, một bộ phận khác tấn công quấy rối vị trí pháo đội 155 ly đóng ở vị trí hành quân Bao Căng để bịt pháo. Lực lượng tấn công chính vào Ba Lòng là lực lượng đặc công tinh nhuệ.


Mặc dù chung quanh căn cứ có rào mìn phòng thủ nhưng địch điều nghiên, biết rõ cách thức đặt mìn của Công Binh. Thông thường giữa các dãy mìn đều có khe hở (gap) ở mỗi góc cạnh. Ðịch cho đặc công điều nghiên kỹ cách bố trí phòng thủ vào những đêm trước cuộc tấn công. Vào thời điểm tấn công, lợi dụng sương mù và đêm tối vùng rừng núi ban đêm, chúng cho toán đặc công kinh nghiệm bò sát, len lỏi vào khe hở (gap) bãi mìn, tên đi trước kéo theo một băng vải trắng đánh dấu lối xâm nhập, các tên đi sau cứ lần mò hàng một theo tên đi trước. Ðến khi toán đầu xâm nhập vào được căn cứ thì chúng dùng lựu đạn và bộc phá, hiệu quả hơn là vũ khí cá nhân.


Khi lính gác phát hiện được một số địch đã lọt vào căn cứ, Thiếu Úy Tố liền rời Ðài Tác Xạ, chạy từ khẩu đội này đến khẩu đội kia thúc đẩy các khẩu đội tác xạ cận phóng với yếu tố nạp 1, thỏi nổ 1.5 giây. Vì trách nhiệm và quá hăng say với nhiệm vụ, không ngại hiểm nguy, Thiếu Úy Tố bị một tên đặc công sát hại trên bờ giao thông hào!


Gần sáng, không thắng được, địch rút lui, để lại một số chết trong căn cứ, một số trong bãi mìn, chết hàng một vì đạn đại liên bắn xâu táo, và nhiều vết máu với băng cứu thương vì đạn pháo binh cận phóng.


Sáng hôm đó tôi theo trực thăng tản thương, đem một số nhân viên lên để chấn chỉnh lại trung đội. Nhân viên tác xạ khiêng xác Thiếu Úy Tố trên cáng tản thương ra trực thăng để chuyển về hậu cứ ở La Vang. Tôi ra dấu anh em dừng lại, ngậm ngùi nhìn thân xác lạnh của anh, trìu mến vuốt má anh lần cuối.


Phải chi anh ở trong đài tác xạ lúc bị tấn công thì anh đã không chết!


Ba hôm sau tôi trở về Huế dự lễ truy thăng cho anh. Ðám tang nào mà không có nước mắt? Ngoài nước mắt sụt sùi của người vợ trẻ, tôi cảm thương cho đứa con gái của anh. Mặt cháu bé kháu khỉnh, đôi mắt tròn, đầu đội khăn tang, ngơ ngác vì số người đông đúc trong lễ truy thăng. Cháu sinh ra hơn tuần thì Tố theo trung đội lên Ba Lòng. Chắc Tố cũng không có dịp hôn con nhiều trước khi xa con.


Ôi chiến tranh! Chiến tranh đã cướp đi biết bao thanh niên ưu tú, đã biến biết bao người đàn bà thành quả phụ và bao trẻ thơ bỗng dưng mồ côi cha! Tôi không nén được xúc động quay mặt đi chỗ khác, nước mắt lưng tròng trong lúc thượng cấp làm lễ truy thăng Trung Úy cho anh.


***


Căn cứ Gio Linh nằm trên đồi cao so với địa thế chung quanh. Trên đài quan sát Gio Linh, bằng ống nhòm ta cũng nhìn thấy rõ Cầu Hiền Lương bắc ngang sông Bến Hải. Về phía Tây là đồi Cồn Thiên nằm ở phía Bắc quân lỵ Cam Lộ. Trên đỉnh đồi này cũng có đài quan sát pháo binh để theo dõi địch bên kia sông Bến Hải. Nơi đây cũng xảy ra những trận chiến đẫm máu giữa Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và quân CS sau này.


Thiếu Úy Nguyễn Văn Hòe thuộc Khóa 7 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức thuyên chuyển về Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh và làm sĩ quan tác xạ cho pháo đội tôi. Ðược một thời gian thì tôi được thăng cấp đại úy sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11, 1963, sau hơn 7 năm ở cấp bậc trung úy thực thụ. Và cũng từ ngày ấy, tôi rời chức vụ pháo đội trưởng để giữ chức vụ cao hơn.


Không ai biết rõ lai lịch của anh Hòe. Nghe phong thanh cha anh chết lúc anh còn bé, mẹ anh tái giá và không còn liên lạc với anh. Anh nhờ bà con bên nội nuôi ăn học cho đến khi khôn lớn, do đó anh không được hưởng tình mẫu tử! Như tôi trình bày ở phần trên, khi pháo đội tách ra làm đôi thì sĩ quan tác xạ cũng là trung đội trưởng và Hòe lúc đó chỉ huy trung đội Pháo Binh đóng ở Gio Linh.


Trong thời gian đơn vị đoàn trú ở La Vang, anh có quen một cô nữ sinh trường Trung Học Nguyễn Hoàng ở thành phố Quảng Trị. Quen nhau một thời gian thì anh xin phép cưới.


Trong ngày hợp hôn của anh, mẹ và bên cha anh không ai có mặt. Anh nhờ vợ chồng tôi thay mặt họ nhà trai làm chủ hôn. Thật là một lễ cưới đơn giản trong thời chiến. Chú rể không có được một bộ đồ suit, chỉ có một áo sơ mi trắng với một cà vạt không lòe loẹt, phai màu! Một đám cưới không có dâu phụ, rể phụ! Và như trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan, có câu “cưới nhau xong là đi,” rất trùng hợp với đám cưới của anh.


Tiểu đoàn cấp cho anh 7 ngày phép để cưới vợ! Nào có tuần trăng mật gì đâu, chỉ lẩn quẩn trong thành phố Quảng Trị nhỏ bé trong thời gian đó. Hết 7 ngày phép, chưa hưởng hết hương vị ái ân với người vợ mới cưới thì anh trở lại Gio Linh. Tạo hóa quá ác nghiệt! Một tuần sau, căn cứ Gio Linh bị địch tràn ngập! Cũng như Tố, anh chết ở giao thông hào trong lúc thúc đẩy anh em kháng cự cuộc tấn công.


Tội nghiệp người vợ trẻ của anh, mới tháng trước đây còn là cô nữ sinh ngây thơ, bỗng nay trở thành góa phụ!


Thân xác anh được chôn trên đồi La Vang trước ngôi chùa Phật Giáo địa phương. Ngày đưa tiễn thân xác anh ra phần mộ, chỉ có tiếng khóc nức nở của người vợ trẻ mới cưới với sự bùi ngùi của các sĩ quan trong đơn vị. Ngày hợp hôn của anh đơn giản bao nhiêu thì ngày mà thân xác anh ra nghĩa địa cũng đơn giản bấy nhiêu. Không có người thân hay họ hàng bên anh đưa tiễn!


Chiến trận ngày thêm khốc liệt, mộ anh thiếu khói hương, không người thăm viếng. Không biết ngày nay xương cốt anh có còn nguyên dưới huyệt mộ lúc chôn hay cũng bị bom đạn cày nát như Cổ Thành Quảng Trị. Luôn luôn tôi vẫn nhớ đến anh, thương cho phần số nghiệt ngã của anh và ngậm ngùi gửi đến anh hai chữ “Tiếc Thương.”


Tbone là một căn cứ hỏa lực kiểu mẫu nằm về phía Tây thành phố Huế, bên trái Quốc Lộ 1, hướng về phương Bắc, khoảng giữa cây số 17 và Huế. Tbone là tên của quân đội Hoa Kỳ đặt cho căn cứ này, vì hình thể của nó trên không nhìn xuống không khác gì lát thịt bị T bone. Căn cứ có hai Pháo Ðội, một Pháo Ðội 155 ly và một Pháo Ðội 105 ly chiếm vị trí ở hai nhánh triền đồi. Sau này căn cứ được đổi tên Việt với địa danh là An Ðơ. Vì là căn cứ kiểu mẫu nên hàng ngày những phái đoàn quan trọng từ Mỹ cũng như từ Saigon ra Huế đều được hướng dẫn đến viếng thăm.


Thời tiết mùa Hè ở miền Trung rất nóng và oi bức, lại thêm cơn gió Lào – bắt nguồn từ Lào thổi qua – gió mạnh từng cơn, cuốn bụi và cát bay mù trời! Vào khoảng thời gian này, ăn cơm toàn trộn chung với cát!


Một buổi chiều sau khi dùng cơm xong, tôi ra đứng trước Ðài Phối Hợp Hỏa Lực đặt cạnh BCH Trung Ðoàn 3 BB vu vơ nhìn về hướng Ashau-Alưới, nơi tôi đã từng ở đó một thời gian với núi non trùng điệp.


Bỗng tôi thấy bốn luồng khỉ xanh nhạt nối đuôi nhau, tiếp theo 4 tiếng nổ khởi hành (depart) của hỏa tiễn ở một đường thông thủy, cách căn cứ khoảng 3 cây số. Ðịch sử dụng hỏa tiễn 122 ly không phải pháo kích chúng tôi mà lại pháo kích về hậu cứ của Trung Ðoàn 3 BB và hậu cứ tiểu đoàn chúng tôi. Phản ứng tự nhiên, tôi chạy vụt qua Pháo Ðội 105 ly, thúc đẩy anh em tác xạ, dập pháo địch. Vì vị trí hỏa tiễn để lộ quá rõ, nên các khẩu trưởng Pháo Binh 105 ly và 155 ly tự động chỉ huy trực xạ.


Kinh nghiệm chiến trận có thừa, anh em thi hành trực xạ rất chính xác. Khói súng đại bác bay mù trời, cộng với tiếng nổ khởi hành trực xạ của hai pháo đội gây nên một náo động kinh khủng! Bỗng nhiên tôi thấy một quả súng cối nổ cách Pháo Ðội 105ly chừng 200 thước, sau đó quả thứ hai gần hơn, 100 thước và quả thứ ba sát gần hơn nữa. Nhận định mình đang bị súng cối điều chỉnh, tôi quát to “Vào hầm núp.” Lệnh của tôi không ai nghe được vì quá náo động lúc bấy giờ và quả cối sau cùng rơi ngay vào vị trí khẩu 6-105 ly. Kết quả khẩu trưởng và xạ thủ chết ngay tại chỗ, số còn lại bị thương. Ðại Úy Ðải (Khóa 8 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức) người nhỏ, thấp, bị một mảnh đạn súng cối xước qua đầu, tôi cao hơn đứng trước ông ấy lại may mắn an toàn!


Lúc đó tôi mới nhận biết địch dùng hỏa tiễn đặt một nơi, lừa chúng tôi ra phản pháo đoạn dùng súng cối đặt ở một nơi khác pháo kích chúng tôi dễ đạt được kết quả hơn. Phải nhìn nhận địch thành công với mưu chước này.


Sau quả cối rơi ngay vào vị trí khẩu 6 thì địch cũng ngừng pháo kích vì vị trí của chúng cũng bị phát hiện. Anh em khiêng những pháo thủ bị thương vào Ðài Tác Xạ để y tá săn sóc.


Tôi bước qua mình một pháo thủ bị thương đang nằm dài trên nền Ðài Tác Xạ pháo đội, cầm điện thoại định báo cáo về pháo binh sư đoàn. Tôi nghe một giọng nói nhỏ nhẹ: “Trung tá cứu em với!” Tôi quay người lại, quỳ thấp xuống, vỗ nhẹ vào má anh như dỗ dành và an ủi: “Không nặng lắm đâu, đừng sợ, em.” Ðó là Ðính, cấp bậc hạ sĩ nhất, nhân viên khẩu 6. Dáng người anh vạm vỡ, da sạm đen, bắp thịt rắn chắc, chắc đã trải qua nhiều mưa nắng với đoàng ruộng trước khi nhập ngũ. Nhìn bề ngoài cũng đủ biết anh là người có thừa can đảm. Anh bị thương ở bụng, một mảnh súng cối cắt đứt ruột!


Tôi biết anh đau đớn lắm nhưng can đảm chịu đựng, không rên rỉ! Chắc anh cũng linh cảm điều không may sẽ đến với anh, khó thoát khỏi cái chết nên tha thiết khẩn nài: “Trung tá cứu em với! ”


Trực thăng tản thương đến kịp thời. Ðính và vài người bạn trong khẩu đội được tản thương về quân y viện Nguyễn Tri Phương trong thành nội Huế. Ðêm đó tôi cầu nguyện cho Ðính thoát khỏi tay tử thần. Sáng hôm sau, tôi chỉ thị cho sĩ quan trợ y tiểu đoàn vào bệnh viện theo dõi tình trạng của Ðính thì được báo cáo là Ðính đã chết khi chưa đến bệnh viện!


Anh Ðính ơi! Tôi đã giã từ vũ khí trên 33 năm, nay tuổi cũng đã xế chiều, may mắn thoát chết mấy lần, còn sống ở thế giới bên này, còn anh ở thế giới bên kia! Tuy chúng ta ở hai thế giới cách biệt, nhưng hình ảnh của anh trước giờ anh chết và ba tiếng ngắn ngủi “Cứu em với!” vẫn sống mãi trong tim tôi cho đến tận ngày hôm nay. Tôi khẳng định không sợ sai lầm, đó là những lời nói cuối cùng với cấp chỉ huy trực tiếp của anh là tôi trước khi anh vĩnh viễn rời xa thế giới bên này để qua thế giới bên kia. Tôi cảm thương anh, một thuộc cấp của tôi, chỉ nói được vài lời ngắn ngủi trước khi chết với cấp chỉ huy của mình. Anh đâu có dịp nói những lời trăng trối cuối cùng với vợ con anh, với cha mẹ anh, phải không?


Ðời chiến binh sống đó rồi chết đó! Chiến tranh thật ác nghiệt!


Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, lực lượng Sư Ðoàn 1 BB rút về để chỉnh trang.


Thừa dịp đó địch ồ ạt chuyển quân và tiếp liệu phẩm theo đường mòn Hồ Chí Minh xuống thung lũng Ashau-Alưới. Gọi là đường mòn chứ ở vào thời điểm này không còn là đường mòn nữa mà là đường đất rộng rãi chạy được hai chiều. Ban đêm từng đoàn convoy với đèn sáng rực thong dong chạy tự do. Pháo đài bay chiến lược B.52 từ căn cứ Utapao (Thái Lan) và Guam hoạt động thưa thớt (?).


Giai đoạn đầu năm 1972, Hoa Kỳ thử nghiệm Việt Nam hóa chiến tranh. Các căn cứ Mỹ ở cận dãy Trường Sơn được rút bỏ. Thung lũng Ashau-Alưới bỏ ngỏ. Ðịch gia tăng áp lực phía Tây Huế để chuẩn bị cho chiến dịch Hè 1972. Nhận định tình hình cộng thêm tin tức tình báo chiến thuật, BTL/SÐ 1 BB tổ chức hành quân Lam Sơn 729 để giải tỏa áp lực địch.


Bãi đổ quân trực thăng vận được chọn là Ðộng A Tây. Ðịa điểm này là một núi trọc, cao độ 500 thước, cách lăng vua Minh Mạng về hướng Tây khoảng 20 cây số.


Sáng sớm hôm đó, sau khi họp phối hợp hành quân với lực lượng Hoa Kỳ ở căn cứ hỏa lực Birmingham, tôi, Trung Tá Nguyễn Bùi Quang, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 3 BB và trung tá cố vấn trưởng trung đoàn tiến về trực thăng chỉ huy (C&C) đang chờ để khởi đầu cuộc đổ quân. Chúng tôi lướt nhanh qua toán quân đang đứng chờ trực thăng vận. Thiếu Úy Bằng, tiền sát viên tiểu đoàn, biệt phái cho đơn vị BB và ba pháo thủ trong toán đứng nghiêm chào tôi. Tôi chào trả lại theo quân kỷ và vắn tắt nói: “Cố gắng nhe.” Bằng cũng lễ phép đáp, “Dạ.”


Bằng với tên họ là Lê Văn Bằng, xuất thân khóa 7/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Anh là người miền Nam, ăn nói nhỏ nhẹ, rất đẹp trai; mà đẹp trai thì thường hay đa tình! Nhiều cô gái đẹp thành phố Huế chết mê chết mệt vì anh. Cũng vì anh mà nhiều cô mất tình bạn vì ghen tị!


Tôi là một người rất nhiều tình cảm nhưng bề ngoài tôi rất khô khan, lạnh lùng. Tôi không bao giờ bắt tay nhân viên dưới quyền kể cả sĩ quan phụ tá. Tôi quan niệm như vậy để giữ cái “uy” của cấp chỉ huy, để cấp dưới khỏi “giỡn mặt, khó làm việc.” Tôi đối với Bằng cũng không ngoài thông lệ đó, chỉ vắn tắt nhắn nhủ và khuyến khích: “Cố gắng nhé.”


Trực thăng chỉ huy cất cánh trước, rời căn cứ hỏa lực Birmingham. Trực thăng lượn vài vòng trên bãi đổ quân, thỉnh thoảng hạ thấp cao độ để thăm dò. Cũng may, khoảng thời gian đó, địch chưa có hỏa tiễn cầm tay Ðịa đối Không SA 7, nên phi công hơi liều.


Ðúng thời điểm ấn định, L.19 phóng một hỏa tiễn khói trắng đánh dấu bãi đổ quân. Rồi từng chiếc, từng chiếc trực thăng võ trang (gunship) nối tiếp oanh kích bãi đáp bằng hỏa tiễn. Dứt đợt oanh kích của trực thăng võ trang, tôi liền điều khiển tác xạ tập trung nổ đoàng thời (time on target) với Pháo Ðội B cơ hữu đóng ở căn cứ Bastogne và Pháo Ðội 155 ly của Hoa Kỳ đóng ở căn cứ Birmingham. Dứt loạt đạn pháo binh cuối cùng, tiếp theo là từng chiếc trực thăng chuyển quân tuần tự đáp xuống bãi đáp.


Trung đội Bộ Binh đầu đáp an toàn. Bỗng phi công trưởng báo cho chúng tôi biết là “bãi đáp nóng” (hot landing zone) và cuộc chuyển quân tạm dừng. Trên trực thăng chỉ huy nhìn xuống, tôi thấy một chiếc trực thăng thay vì lấy cao độ vòng lại điểm khởi hành như các trực thăng khác, lại lảo đảo như người say, lết sát theo một đường thông thủy, đâm vào sườn núi bốc cháy!


Tôi mục kích sự kiện xảy ra rất rõ ràng, từ đấu đến cuối. Ðau đớn thay, khi biết được trên chiếc trực thăng định mệnh đó có đại đội trưởng Bộ Binh và Bằng, tiền sát viên của đơn vị. Tôi sững sờ, tim nhói đau, tự nhiên đôi dòng nước mắt lăn tròn trên má! Nào ai ngờ tôi vừa nói mấy lời vắn tắt với anh cách đây chừng nửa tiếng, thì bây giờ anh đã chết thê thảm, chết không toàn thây!


Trên trực thăng chỉ huy, không ai biết tại sao trực thăng lại lâm nạn như vậy. Giả thuyết có thể là phi công thiếu bình tĩnh, hoảng hốt, cho trực thăng cất cánh khi vòng quay của cách quạt chưa đủ tua (turn) nên trực thăng không thể cất cao lên khỏi mặt đất. Cũng có thể phi công bị thương khi có vài tên địch còn sót lại bắn sẻ nên không còn đủ khả năng điều khiển.


Bằng chết quá đột ngột và tôi là người duy nhất trong đơn vị, cấp chỉ huy trực tiếp mà anh còn nhìn được lần cuối cùng trước khi vĩnh viễn rời bỏ anh em!


Tôi rất ân hận là tại sao khi anh chào tôi, tôi lại không đến siết chặt tay anh dù không biết được là anh sẽ chết. Ðiều này làm tôi ray rứt mãi đến tận hôm nay.


Khoảng một tuần sau khi Bằng chết mất xác, người yêu của Bằng có ra hậu cứ, khẩn khoản xin phép được xem những di sản lặt vặt của Bằng còn để lại, và tìm một di vật để lưu giữ làm kỷ niệm của mối tình đầu.


Tôi bận hành quân, không có mặt ở hậu cứ, nhưng nghe anh em kể lại, nàng xin giữ một áo lót của Bằng. Nàng đưa áo lót lên mặt, hôn khẽ, như để tìm lại hơi hướm của người yêu còn sót lại đâu đây và khóc nức nở.


Thời gian sau, tôi nghe tin nàng rời xứ Huế lên Ðà Lạt và tu ở một tu viện kín nào đó. Tôi không rõ bây giờ nàng có còn giữ kỹ áo lót của Bằng, một kỷ vật của người yêu vắn số để đêm đêm đem ra nhìn, nhớ lại kỷ niệm xưa hay không?


Tôi kính trọng sự đau khổ của nàng với mối tình đầu dang dở. Mong nàng chóng quên chuyện tình ngày xưa, chuyện tình buồn của thời con gái. Chúc nàng sớm thực hiện được trọn vẹn ước nguyện, quên hẳn những nghiệt ngã, đắng cay, phong ba bão táp trên cuộc đời ô trọc này, và hiến dâng hết cuộc đời còn lại cho Chúa!


Chiến tranh nào mà không có chết chóc, tang thương! Hậu quả chiến tranh đã để lại biết bao nhiêu người đàn bà bỗng chốc trở thành góa bụa. Chiến tranh đã biến những trẻ thơ bỗng mồ côi cha. Chiến tranh đã để lại những vết thương lòng không sao hàn gắn được của mối tình đầu, để cuối cùng hiến dâng cuộc đời còn lại trong tu viện, dưới bóng thánh giá của giáo đường. Chiến tranh đã cướp mất đi một mạng người biết mình gần kề với cái chết nên khẩn nài trong tuyệt vọng “Cứu em với.”


Những trường hợp trên vẫn ám ảnh tôi cho đến tận ngày hôm nay. Thỉnh thoảng trong cơn ác mộng, tôi vẫn gặp lại hình ảnh của các bạn đồng ngũ ngày xưa đã vĩnh viễn nằm xuống!


Tôi không oán trách những người đã cấm súng giết những người bạn của tôi, vì châm ngôn của một chiến binh khi xung trận là “giết hoặc bị giết”!


Khách quan mà nói thì những người nằm xuống ở bên kia chiến tuyến cũng là những anh hùng, nhưng… rất tiếc, “những anh hùng không cùng lý tưởng.” Các người đã bị lừa gạt quá nhiều, nào cách mạng, nào giải phóng, nào giành độc lập, nào chống đô hộ ngoại bang v.v… những từ ngữ rất kêu.


Sau Thế Chiến Thứ Hai, chế độ thực dân thuộc địa đã lỗi thời. Nhìn vào các nước láng giềng chung quanh như Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân và cả Ấn Ðộ khổng lồ khi Bangladesh và Pakistan chưa tách ra; các quốc gia này có tốn một giọt máu nào đâu mà cũng lần lượt được trao trả độc lập. Thậm chí các hòn đảo tí hon mà sau này tôi mới nghe và biết được, cũng được độc lập nốt.


Thánh Gandhi chỉ tranh đấu ôn hòa, bất bạo động mà nước Anh cũng khiếp sợ, trao trả độc lập cho Ấn.


Thánh người ta thì khôn ngoan, còn “thánh Hồ” (sic) sao lại quá ngu si, bị CS quốc tế xúi dại chơi trò “chiến tranh giải phóng.” Hết chiến tranh “chống Pháp” (sic), rồi lại “chống Mỹ” (sic), chiến tranh triền miên cho đến năm 1975 mới chấm dứt.


Hậu quả là đất nước hoang tàn, trên 3 triệu người chết ở cả hai miền Nam Bắc; với một nền kinh tế kiệt quệ, dân gần như phải cạp đất mà sống!


Khách quan mà nhận xét, không có Hồ Chí Minh thì Việt Nam cũng độc lập và thống nhất từ lâu, không phải đợi đến năm 1975!


Do đó, tôi kết luận Hồ Chí Minh có tội rất lớn với tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Tội của Hồ Chí Minh ngập trời! Khi ông ta đi theo Karl Marx, trong lúc oan hồn của 3 triệu người chết vì chiến tranh chưa kịp kết tội và kéo ông ta xuống địa ngục thì bọn trâu, bò, chó ngựa ở dương gian đã đúc tượng xây lăng ướp xác. Rõ đồ khỉ!

Có cần một cuốn quân sử cho QLVNCH sau khi bị bức tử?

 


Chính Biên


 


Trước năm 1975, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã cho soạn thảo một bộ Quân Sử QLVNCH gồm 4 tập dưới sự chỉ huy của sử gia cựu Ðại Tá Phạm Văn Sơn. Hiện nay bộ sử đó chỉ thấy có tại một vài thư viện trong đó có Thư Viện Việt Nam tại Nam California.


Bộ Quân Sử do sử gia cựu Ðại Tá Phạm Văn Sơn đã lược khảo về quân đội VN từ thời cổ trong 3 tập đầu, chỉ tập 4 mới đề cập đến QLVNCH. Có thể vì còn đang trong thời kỳ soạn thảo bổ khuyết nên nhiều cựu chiến binh VNCH thấy hình như chưa đủ, nhất là về mặt tinh thần trong các tổ chức của QLVNCH.


Từ sau ngày Quân Lực ấy bị bức tử vào 30 tháng 4 năm 1975, nhiều học giả trong QLVNCH và các cựu chiến binh VNCH đã cố gắng trong nỗ lực của mình soạn ra những cuốn sách có tính cách sử liệu về quân đội VNCH. Nhìn trên những kệ sách của các tiệm sách lớn ở hải ngoại, người ta có thể thấy số sách này chiếm phần lớn các sách được xuất bản ở hải ngoại. Từ những cuốn quân sử cho từng binh chủng như của Thủy Quân Lục Chiến, Hải Quân, Không Quân, Quân Y do một số cựu chiến binh thuộc các quân binh chủng này tập họp nhau soạn thảo cho đến những cuốn do cá nhân cựu quân nhân bỏ công biên soạn, người đọc nhất là các cựu chiến binh VNCH chợt nghĩ, “Tại sao các anh em trong các quân binh chủng không kết hợp với nhau lập một ban Tu Thư san định lại tất cả những tài liệu trong các cuốn sách viết về QLVNCH để chúng ta có được một cuốn quân sử tương đối hoàn chỉnh cho các thế hệ sau này?”.


Chiến tranh VN, với người cộng sản đang nắm giữ quyền hành, thì QLVNCH đã được ghi trong sử liệu của họ là thứ “ngụy quân,” một thứ lính đánh thuê do các nước thực dân đế quốc Pháp Mỹ tổ chức huấn luyện và tham chiến trong sự điều động của họ.


Ngay cả bạn đồng minh Hoa Kỳ cũng để cho giới truyền thông phản chiến thời đó bóp méo nhiều sự kiện chiến tranh theo đường hướng của họ, coi QLVNCH như một thứ quân đội phải lệ thuộc vào quân lực Hoa Kỳ.


Thực tế thì ngay cả những người viết sử trong chế độ cộng sản đều nghĩ là không phải thế, nhưng vẫn phải viết, phải ghi lại theo chỉ thị của đảng. Bây giờ, chiến tranh mới qua 35 năm, thế hệ chiến tranh còn tại thế rất nhiều, nên còn gióng lên được những tiếng nói của sự thực. Nhưng rồi sau này, 10 năm, 20 năm, 30 năm nữa, khi thế hệ chiến tranh đã ra đi hết thì những tiếng nói của sự thực sẽ không còn cho dù chế độ cộng sản có bị giải thể như ở các nước Ðông Âu và Liên Xô vì đã không có được những chứng liệu, sách vở tài liệu có tầm vóc lớn.


Nên một cuốn quân sử VNCH được viết sau khi bị bức tử là điều rất cần thiết, không chỉ để cho mai hậu mà để ngay cho tuổi trẻ trong và ngoài nước hiện tại đang có chiều hướng bùi tai với luận điệu của người cộng sản.


Nhưng tập thể tổ chức nào có thể đứng ra kêu gọi thành lập một ban Tu Thư Quân Sử VNCH? Người ta nghĩ đến những Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH đã có thực lực tại nhiều nơi trên thế giới. Người ta cũng nghĩ đến tổ chức Tập Thể Chiến Sĩ VNCH được hình thành từ lâu nay.

Có phải bạn trai đã xúi giục con tôi?


LTS:
Mục “Biết Tỏ Cùng Ai,” nhằm mục đích góp ý, chia sẻ những ưu tư, vướng mắc về những vấn đề liên quan đến cuộc sống đời thường mà quý vị không biết tỏ cùng ai.


Mục “Biết Tỏ Cùng Ai” sẽ do cô Nguyệt Nga và anh Vân Tiên phụ trách.


Thư từ xin gửi về: Người Việt (Biết Tỏ Cùng Ai), 14771 Moran St., Westminster, CA 92683, hay email: [email protected]


 


 


 


Tôi lập gia đình bên VN và có hai con gái, chúng tôi qua định cư ở Mỹ cuối năm 1992 theo diện đoàn tụ khi hai đứa bé còn dưới 10 tuổi. Chồng tôi là một người rất mực thương yêu vợ con, tôi cảm thấy rất tự hào và ấm áp nơi đất khách quê người.


Qua nhiều thăng trầm trong đời, chúng tôi cố gắng nuôi các con, dạy dỗ chúng theo khuôn phép Á Châu, cộng thêm những duy trì ngôn ngữ Việt.


Thời gian trôi nhanh, cha chúng rất cưng chiều thương yêu, chính tay ông nấu nướng giặt giũ cho chúng, dù cho chúng đã vào đại học. Ông muốn lấy tình cảm gia đình níu giữ để hạn chế tư tưởng tự do mà một ngày nào đó chúng sẽ bị tiêm nhiễm.


Nhưng chúng tôi hoàn toàn thất vọng, đứa con út tự dọn ra riêng sau khi tốt nghiệp cử nhân, đây chỉ là một sự việc rất đỗi bình thường nếu như nó cho cha mẹ biết nơi ăn chốn ở, nhưng ngược lại, nó chỉ về khi cần lấy thư (nó vẫn giữ địa chỉ nhà tôi) mặc cho cha mẹ nhớ nhung chờ đợi, nó vẫn giữ thái độ lạnh lùng bí mật, dù cho chúng tôi đã cố gắng hết mình thể hiện tình yêu thương cũng như sự cư xử thân thiện như bạn bè.


Còn lại cô gái lớn, nhiều năm trước tôi đã từng tự hào. Nó học ở Washington DC hơn 6 năm và đã tốt nghiệp thạc sĩ ở đó, mặc dù xa, nó vẫn gọi về liên lạc thăm hỏi và gởi tôi những tấm postcard khi nó đi du lịch hay thực tập, giúp đỡ cha mẹ rất tận tình, rất dễ thương, rất thân thiện…


Sau khi ra trường, nó trở lại MN sống với chúng tôi một thời gian, nơi đây nó đã quen một bạn trai qua sự giới thiệu của bạn bè, nó có dẫn về nhà đôi lần (hắn là một du học sinh chưa có quốc tịch) mặc dù đã đi làm. Chúng tôi không có ác cảm gì với hắn, nhưng thú thật bậc làm cha mẹ, tôi cũng phải khuyên con mình nên tìm hiểu và đề phòng khi chưa biết rõ gia đình, lý lịch, nhất là cha mẹ hắn còn ở Hà Nội. Nhưng con tôi như một con thiêu thân, bất chấp những sự ân cần khuyên nhủ.


Một lần, nó bất mãn về món ăn, ba nó nấu không vừa ý, ông nổi nóng la mắng, thế là nó viện vào lý do này bỏ ra đi. Sau đó không lâu, nó mua nhà chỉ cách nhà tôi vài quãng có thể đi bộ được, nhưng nó không hề cho tôi biết, mặc dù vẫn về nhà tôi ăn uống và liên lạc thường xuyên.


Tôi phải gọi City Hall và tìm ra địa chỉ của nó. Tôi cảm thấy rất tủi thân và xúc phạm mỗi khi lén đi qua mà thấy nó chứa chấp bạn trai trong nhà cũng như tất cả bạn bè, họ hàng đều được nó mời tới, trừ ra cha mẹ.


Có một lần, tôi gọi hỏi nó, ngỏ ý muốn tới thăm, nó trả lời: “Mẹ đừng tới, nếu không con gọi cảnh sát.” Tôi nghe mà đau khổ vô cùng. Ba nó vẫn tiếp tục nấu những món ngon và tự tay đem qua treo trước cửa nhà, ông chỉ dám qua khi nó vắng nhà. Ông muốn lấy sự tận tình thương yêu, hy vọng nó sẽ hồi tâm mà suy nghĩ lại.


Một lần, ông nấu đồ ăn và nhờ tôi mang qua, tôi gọi cửa thì thấy mẹ của bạn trai nó từ VN qua thăm, khi thấy tôi nó xua đuổi không một chút ngại ngùng; vì phép lịch sự tôi phải vội vã quay về mà thấy tổn thương nặng nề (sau đó nó còn đưa cha mẹ bạn trai và bạn trai qua nhà chú thím nó ở gần nhà tôi để giới thiệu).


Tôi tự hỏi không hiểu sao một đứa con có học lại được cha mẹ hết dạ yêu thương lại có những hành vi thất lễ tàn nhẫn như vậy!! Tối đó tôi gọi nhưng nó không nói chuyện, hoàn toàn cắt đứt liên lạc cho đến bây giờ đã 6 tháng. Không hiểu nó sợ, giận hay bất mãn điều gì?


Tục ngữ VN có câu, “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo.” Dù sao cha mẹ cũng là người sanh dưỡng ra mình. Chính bản thân tôi cũng cố thực hiện điều này, báo ân nghĩa thường xuyên tới cha mẹ già tôi còn ở lại bên kia trái đất.


Tôi đã viết 2 lá thư, gửi email khuyên nhủ, tha thứ. Tôi cũng gọi cho bạn trai nó, nói nhỏ nhẹ như một người bạn, tôi nhờ hắn khuyên nhủ nó thay đổi thái độ nhưng hắn cũng chẳng bao giờ gọi lại.


Tôi ngạc nhiên sao những con người học cao như chúng lại có thể đổi xử với cha mẹ không bằng loài vật như vậy!! Tôi giận vì có thể bạn trai của nó đã lợi dụng và xúi giục con tôi làm những việc bất nghĩa khi hắn nghi tôi không ưa gì lắm về tư cách con người này (vì con tôi đã thay đổi từ khi quen hắn).


Chồng tôi năm nay đã cao tuổi, ông muốn làm di chúc cho con cái, nhưng tôi thấy chúng không xứng đáng, tôi muốn dành cho quỹ từ thiện. Ðiều này có quá đáng không? Xin quý báo cho tôi những lời khuyên, tôi có nên nhờ họ hàng, bạn bè khuyên nó không? (Nó không liên lạc với tôi nhưng vẫn qua lại nhà các chú và họ cũng chưa biết gì). Rất mong sự giúp đỡ tư vấn về tâm lý giúp tôi sớm giải tỏa sự đau khổ này. Xin chân thành cám ơn.


Thiệp Nguyễn


 


Nguyệt Nga trả lời:


Theo nội dung thư bà gửi thì hai cháu có quá đáng thật, nhất là việc đòi gọi cảnh sát khi mẹ đến thăm nhà.


Nhưng mà thưa bà, hai cháu vẫn lui tới gia đình cô dì chú bác, thì đâu thể cho rằng hai cháu mất gốc rễ. Còn nếu nói cháu thứ nhất quay mặt với cha mẹ vì nghe lời xúi giục của bạn trai, thì cô út đâu có bạn trai mà cũng bỏ nhà ra đi. Tóm lại chắc có một điều gì đó, hai cháu không tiện nói ra với cha mẹ.


Phần đông cha mẹ VN lo cho con cái ngay khi chúng đã lớn khôn. Có lẽ đó là điều không nên. Nguyệt Nga có một người bạn, bạn ấy hy sinh tất cả vì con, không bao giờ dám mua một cái áo mới cho mình. Một hôm bạn ấy mua về một chiếc áo mới, cô con gái 5 tuổi hỏi: Áo này của ai? – Của Mẹ – Tại sao là của Mẹ? Mẹ đâu được mặc áo mới. Vô tình, vì thương con mà chúng ta đã biến con trở thành người ích kỷ.


Hai cháu lớn rồi mà ông bà còn chăm lo, nấu ăn giặt áo quần như con còn thơ dại, điều này vô tình đẩy hai cháu trở thành con người chỉ biết nhận mà không biết cho.


Hiện nay hai cháu vẫn liên lạc với cô dì chú bác, mà đó là những người cật ruột của ông bà. Vậy cách hay nhất để khỏi suy đoán quanh co thì ông bà nên hỏi những người này, để biết các cháu suy nghĩ và mong muốn gì ở cha mẹ. Nước mắt chảy xuống, nên nếu có những phiền hà từ hai cháu dành cho ông bà, thì ông bà cũng nên thay đổi để có lại hai cháu. Vì chưa chắc những điều mình dành cho người khác, mình nghĩ rằng họ thích, thì họ sẽ thích. Ông bà cho hai cháu những điều hai cháu cần, đừng cho những điều mình nghĩ rằng hai cháu cần. Cũng có thể cháu chỉ muốn tự tay nấu nướng cho người yêu và bố mẹ ăn để người yêu thấy rằng cháu đảm đang việc nhà. Cũng có thể cháu chỉ muốn đem áo quần dry clean mà bố lại bỏ vào trong máy giặt… Ðôi khi nó chỉ là những chuyện rất nhỏ.


Về chuyện di chúc, Nguyệt Nga nghĩ nếu con cái mình đầy đủ, tự lo được thì nên giúp cho người nghèo khó.


Cầu mong ông bà có lại hai con gái và luôn cả con rể


 


Trả lời của Vân Tiên:


Bà Thiệp thân mến:


Trong câu chuyện thương tâm mà bà kể, tôi thấy có cái gì đó lạ lạ. Nói chung là “không khớp.” Tất cả những cái “không khớp” đó nó quay quanh những câu hỏi “tại sao” mà chính bà đặt ra trong bức thư.


Có những yếu tố lạ lạ, không khớp, như vầy: Theo như bà kể, ông bà đối xử với con rất tử tế, chăm chút, không có gì đáng trách. Nhưng rồi, không chỉ cô con gái có bồ rồi dọn ra, mà cô con út cũng vậy. Tại sao thế? Có người có thể đổ cho số mệnh, cho kiếp trước, nhưng Vân Tiên thì không vậy. Vân Tiên cho là phải có lý do.


Mấu chốt, theo Vân Tiên, nằm trong chi tiết này trong câu chuyện bà kể:


Cô con gái, mà theo lời bà đã bỏ nhà đi, tách rời hẳn cha mẹ, đã không tách rời toàn thể họ hàng. Ngược lại, cô con gái bà vẫn còn liên lạc với chú thím. Gia đình của người yêu qua thăm, cô con gái đưa qua giới thiệu với chú thím cơ mà.


Chắc hẳn người ta cũng lấy làm lạ tại sao chỉ gặp chú thím mà không gặp cha mẹ. Nhưng người ta là người ngoài, nếu có thắc mắc chỉ dám giữ trong lòng, hỏi nhỏ con trai mình, chứ người ta cũng không có quyền đòi hỏi cô gái phải đưa về gặp cha mẹ.


Vậy Vân Tiên đề nghị bà cũng làm như vậy. Bà cần hỏi nhỏ, qua trung gian, xem tại sao con gái bà lại làm thế. Một người trung gian có thể làm được, theo Vân Tiên, là chú thím của cô ấy. Nhưng, để thực sự thành công và không khiến cho cô con gái bà cắt liên lạc với chú thím luôn, Vân Tiên đề nghị một số nguyên tắc căn bản:


* Ðã nhờ người trung gian rồi thì đừng qua mặt người ta tới thẳng nhà cô con gái. Nên xem đây như một cuộc thương thuyết, một cuộc “hòa đàm Ba Lê” vậy.


* Nói ngắn gọn thôi. Không nói nhiều. Không kể lể ngày xưa mẹ nuôi con cực khổ thế nào.


* Không trách con bội bạc, bất hiếu v.v. Tất cả những lời trách móc sẽ đều phản tác dụng.


* Ðể cho cô con gái nắm quyền điều khiển cuộc nói chuyện. Nếu cô chỉ muốn nói ít, thì chỉ hỏi ít. Cô muốn nói nhiều, hẵng hỏi nhiều.


Vậy thì hỏi cái gì bây giờ? Ðây là một số câu hỏi gợi ý:


* Có phải lỗi của cha mẹ không, mà con không liên lạc nữa?


Nếu có lỗi của cha mẹ:


* Lỗi đó lớn hay nhỏ? Lỗi đó còn sửa được không, hay trễ rồi?


* Thay vì bế môn tỏa cảng cắt liên lạc, có cách gì khác để vượt qua lỗi này không?


Nếu không phải lỗi cha mẹ:


* Vậy nếu không phải lỗi của cha mẹ, thì là có lý do gì khác. Cái lý do gì khác đó, có còn thay đổi được không?


* Thay vì cắt liên lạc với cha mẹ, có cách gì khác để chỉnh sửa cái lý do đó không?


* Nếu có lý do gì đó mà một mình con không vượt qua được, cả nhà cùng giúp con vượt qua, có được không?


Chúc ông bà may mắn.

Mừng sinh nhật lần thứ 15 Vivian Ngọc Huỳnh


LGT:
Quí vị độc giả có nhu cầu: Chúc mừng thượng thọ, sinh nhật, ra trường, cưới hỏi, khai trương cơ sở…


Xin gửi chi tiết và hình về: Tòa soạn Người Việt (Mục Chúc Mừng), 14771 Moran street, CA 92683. Ðiện thoại (714) 933-7935, hay email: [email protected]


 


 


 


 


 


“Á! Có con nhện treo lơ lửng trong phòng con, qua bắt giùm con đi, lẹ lên.”



Cô bé run lập cập, đứng yên một chỗ cho đến khi ba má bắt con nhện khó thương đi chỗ khác.



Vivian đã cao bằng mẹ rồi, nhưng vẫn nhõng nhẽo như thuở nào, được nước siêng học và vẽ đẹp. Cô bé mơ ước sẽ có ngày được làm cho Disney để vẽ cartoon cho thỏa thích.



Vivian hiện đang theo học trường Oxford Academy và là niềm hãnh diện của ông bà ngoại, ba má, cô dì và cậu mợ. Nhân dịp bé được 15 trăng tròn, xin chúc Vivian sẽ đạt được mơ ước và đừng run khi gặp những con nhện đáng ghét.




Bún thịt nướng



Người hướng dẫn: 4ver1nl0ve


 


Vật liệu:


– 2 lbs thịt nạc vai: thái miếng mỏng vừa, lạng bỏ bớt mỡ.


– 2 gói bún nhỏ: luộc chín, xả lại nước lạnh, để ráo.



– 4 tép tỏi, 2 củ hành hương: lột vỏ, xay hoặc bằm nhuyễn.


– 1 bó hành lá: rửa sạch, xắt nhỏ để làm mỡ hành.


– 1 chén nhỏ đậu phộng: rang chín, bóc vỏ, đập hơi dập.


– Gia vị gồm: Xì dầu, nước mắm, dầu hào, đường, mật ong, sả bào, tiêu, chanh, ớt.


– Rau sống gồm: giá, xà lách, rau thơm, dưa leo xắt nhỏ.


 


Cách làm:


– Lấy chén nhỏ, cho 2 muỗng súp (tablespoon) dầu hào + 1 muỗng súp mật ong + 1 muỗng súp sả bào + 1 muỗng cà phê (teaspoon) xì dầu + 1 muỗng cà phê nước mắm + 1 muỗng cà phê đường + 1/4 muỗng cà phê tiêu + hành, tỏi bằm. Quậy đều (nêm nếm lại cho vừa), đổ vào thịt ướp khoảng 1 đến 2 tiếng cho thấm.


– Ðể thịt vào khay, cho vào lò nướng (vặn lò 375 độ F).



– Khi thấy thịt chín vàng (khoảng 45 phút) thì trở mặt thịt và nướng thêm khoảng 30 phút nữa.


– Lấy ra dĩa, cho mỡ hành lên.


– Pha thêm một tô nước mắm chua ngọt.


 



Trình bày:


– Ðể rau sống bên dưới tô.


– Cho bún lên trên, sắp thịt nướng, mỡ hành và đậu phộng lên trên cùng. Ăn cùng nước mắm chua ngọt.

Tin mới cập nhật