Thơ Nguyễn Ðức Cường

Khi em chết…

(Tưởng niệm chiến sĩ Trinh sát Lê Văn Lợi, tử trận rạng sáng ngày 25 tháng 12 năm 1974 tại căn cứ Nước Vàng, Phú Giáo, Bình Dương, trong trận phản công Cộng Sản vi phạm lệnh hưu chiến Lễ Giáng Sinh.)

Khi em chết giữa hào quang chiến trận,
Nhánh đê dài run rẩy dưới thân em,
Cỏ đồng xanh đành cúi đầu ân hận,
Chiến hào sâu không chứa nổi căn phần.

Khi em chết, đất đau lòng rạn vỡ,
Ðất bụi vàng vương vấn tóc em xanh,
Em đâu biết hờn căm như núi lở,
Xác thù rơi như xác lá xa cành!

Khi em bỏ mùa Ðông về với đất,
Ðất trở buồn nhưng đất mở Xuân sang,
Mùa Xuân ơi, sao bỗng về sớm thật?
Ðể hoa vàng theo lửa đạn bay ngang.

Khi em đã xa vòng tay chiến hữu,
Cõi linh hồn em sớm đến an thân,
Ðành giữ lấy vòng hương thơm chiến sử,
Anh thắp cho em dù chỉ một lần.

Em hỡi em! Giữa đời anh khấn nguyện,
Cõi xa nào em đến sẽ yên vui,
Hãy nhớ rằng anh và bao chiến hữu,
Vận nước ưu phiền vẫn bước chân đi.

Những bước chân dài gian nan từng phút,
Mộng thanh bình xa hút từng giây,
Trời quê hương còn vang tiếng súng,
Ngày sắp tới vẫn máu xương đầy.

Hãy giúp cho anh niềm tin lồng lộng,
Còn mãi trong anh, trong những bạn bè,
Những cuồng điên kia, chỉ là ảo mộng,
Cũng tan tành như giặc dữ nghe em!…
Tháng 12 năm 1974

Mời độc giả xem chương trình “Tượng nữ thần tự do ở New York”(Phần 2)

Nghe Tình Khúc Ngọc Loan: CD Giọt Buồn Trong Ðêm

Cuốn CD thứ sáu của Ngọc Loan Music: “Giọt Buồn Trong Ðêm,” sắp ra mắt quy mô tại Saigon Performing Center, vào 3 giờ chiều Chủ Nhật,17 Tháng Chín 2017 này.

Qua điện thoại, nhạc sĩ Ngọc Loan cho biết:

“CD này gồm những bài hát mà Ngọc Loan đã tích tụ trong những năm qua nhằm cống hiến đến quý vị và các bạn. Ðây là một sự cố gắng vượt bậc để hoàn thành một CD mà Ngọc Loan cảm thấy rất hài lòng về những chọn lọc ca sĩ, nhạc sĩ, hòa âm và những tác phẩm của mình. Qua những tác phẩm trong CD ‘Giọt Buồn Trong Ðêm’, Ngọc Loan muốn nói đến tình yêu, sự chia lìa, niềm cô đơn và sự trở về nguồn cội. Nếu chúng ta chỉ nói về tình yêu trong lứa đôi thôi thì đôi khi tình yêu đó được định nghĩa hơi đơn giản. Theo Ngọc Loan, tình yêu, suy nghĩ rộng ra còn là những gì mà chúng ta yêu thương, chia sẻ và quan tâm đến.”

Khi nói về nội dung thể hiện và mong ước khi thực hiện CD này, nhạc sĩ Ngọc Loan thổ lộ: “Trong từng giai đoạn của cuộc sống, ý tưởng, quan niệm và lối sống thay đổi theo từng kinh nghiệm mà ta trải qua. Ngọc Loan cũng không phải là sự ngoại lệ. Khi có những tư tưởng vương vấn bên mình là Ngọc Loan lại muốn viết nhạc, muốn diễn tả những ý tưởng của mình qua âm thanh.”

Sự liên hệ có sẵn từ những năm qua với các ca sĩ danh tiếng có được từ việc chị đã đầu tư từ nhiều năm trước, gắn bó và luôn có được những tiếng hát góp phần chắp cánh cho các ca khúc thăng hoa hơn, được nhiều người biết hơn, nhất là qua phương tiện Youtube, và qua các trang báo giấy và các bài này được đăng lại trên các trang Google và online…

Qua 12 ca khúc của Ngọc Loan, sự sắp xếp chọn lọc, công trình và tốn kém, đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn của khán giả với những tiếng hát gạo cội như: Tuấn Ngọc, Ý Lan, Lê Uyên; cùng những tiếng hát “mới” đủ dày dặn chín tới như Quang Tuấn, Võ Hạ Trâm, Hồ Trung Dũng v.v… qua :1. Tình Xanh – Ý Lan; 2. Mùa Xuân Ðã Qua – Tuấn Ngọc; 3. Từ Thuở Tôi Mất Em – Lê Uyên; 4. Giọt Buồn Trong Ðêm – Quang Tuấn; 5. Thiên Ðàng Ðã Mất – Ý Lan; 6. Cát Biển Nâu – Tuấn Ngọc; 7. Hoa Nở Trong Ðêm – Lê Uyên; 8. Từ Giã Em – Quang Tuấn; 9. Ðường Em Bước Ði – Võ Hạ Trâm; 10. Tháng Sáu Về – Quang Tuấn; 11. Hoài Niệm Dấu Yêu – Hồ Trung Dũng; 12. Về Lại Quê Hương – Quang Tuấn

Khán thính giả chắc chắn sẽ tìm thấy những tựa đề khá lôi cuốn qua các ca khúc và tên ca sĩ như liệt kê ở trên. Tham dự chiều ra mắt CD này tại Saigon Performing Center, chúng ta sẽ thưởng thức trực tiếp sự sắp xếp tổ chức của nhạc sĩ Ngọc Loan công phu và hài hòa như thế nào, với kinh nghiệm mà Ngọc Loan đã từng tổ chức các show ca nhạc rất lớn trong những năm gần đây…

Chắc chắn chiều nhạc tại Saigon Performing Center này sẽ thật đáng nhớ. Nơi ấy cũng từng là sân diễn của các nữ nhạc sĩ Việt hải ngoại như Diệu Hương, Hạ Ðỏ Bích Phượng v.v… và Ngọc Loan.

Liên lạc: email: [email protected]; Facebook: Ngocloan Music.

Mời độc giả xem bình luận “Nội chiến 152 năm trước vẫn còn tác động nước Mỹ”(Phần 1)

Sài Gòn giải phóng tôi

Mãi tới ngày 30 Tháng Tư năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kỳ chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Ðúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại.” Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi.

Sau ngày 30 Tháng Tư cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết,” giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn.” Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản.” Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kỳ diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ dành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973, quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Ðông Ðức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thất vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bĩu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gòn. Kỳ nghỉ Hè năm sau, Tháng Tám năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế,” nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh ,ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy dành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lý.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan (cho anh phát súng tim anh nát/nhưng anh tin số phận anh còn), tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum suê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác-Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành Trình Trí Thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nôi chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác-Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác-Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi.

Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

29 Tháng Tư 2016

(Nguồn: https://www.facebook)

Mời độc giả xem chương trình “Tượng nữ thần tự do ở New York”(Phần 2)

Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương

Mùa Hè say nắng

Tôi sẽ đi cùng với mùa hè,
Nắng theo tôi trên những chuyến xe,
Nắng ghé vai tôi trên đường phố,
Chiếc mũ rộng vành không đủ che.

Ði nơi đâu cũng nắng chói chang,
Ngã tư đèn đỏ hay đèn xanh,
Nắng vào thành phố, lên xa lộ,
Nắng đi hướng bắc hay về nam.

Nhiệt độ mùa hè nóng bất thường,
Nóng thế nào hè vẫn dễ thương,
Nắng mùa hè làm tôi say nắng,
Choáng váng nhìn đời qua kính râm.

Ðừng trách những cơn nắng mùa hè,
Người xa lạ gặp gỡ tình cờ,
Không có nắng mà lòng “say nắng,”
Choáng váng vì nhau chút mộng hờ.

Thành phố mùa hè cũng là thơ,
Màu trắng, tím, đỏ những đường hoa,
Crepe Myrtle tàn lại nở,
Tôi yêu sao hoa rụng ngày hè.

Hoa hồng nở sân trước vườn sau,
Mùa hè rực rỡ đến từ đâu?
Ðể cho hoa giao tình trong nắng,
Hoa có như người say nắng nhau.

Tôi rộn ràng như đứa học trò,
Thảnh thơi tận hưởng những ngày hè,
Chưa phai áo trắng sân trường cũ,
Cháy đỏ những mùa hoa Phượng xưa.

Tôi muốn vui trong những ngày hè,
Biển xanh, miền núi hay đồng quê,
Tạm quên nắng nóng nơi thành phố,
Cho hồn mình một chuyến lãng du.

Và vui với một điều nhỏ nhoi,
Nước chanh vang trắng ly cocktail,
Tôi nếm vị mùa hè chua ngọt,
Tôi như vừa nếm một tình yêu.

Tháng bảy đến, mai này sẽ đi,
Tháng tám, tháng chín lại trở về,
Ðất trời vẫn chứa chan là nắng,
Hồn tôi say nắng đến bao giờ.

(01 Tháng Bảy 2017)
(Nguồn: thanh dao; [email protected])

Mời độc giả xem chương trình “Boston – Thành phố văn hóa lịch sử của Hoa Kỳ”(Phần 2)

Thơ Lan Ðàm

Khi em cười
(The Shadow of Your Smile – gửi Người Tình Trăm Năm)

Em cười, tôi thấy tình nhân,
Nửa nụ hôn vội tần ngần bờ mi.
Sáu lăm, vẫn thế, xuân thì,
Mai trăm năm, chắc còn si mê đầy.

Em cười, tôi gọi hồn say,
Cơn mê đời, để tháng ngày dài thêm.
Vừa xa, đã nhớ môi mềm,
Chiều kề vai, hạnh phúc đêm, ngọt ngào.

Em cười, tôi chợt xôn xao,
Rồi khuya, ấm gối tay nào, tình ơi!


Tím xưa
(Gửi người tình Luật Khoa)

Ừ phố, Duy Tân, chờ sao gọi gió,
Vạt áo buồn rơi tím cả chiều xanh.
Chút nắng Sài Gòn, bâng khuâng gót nhỏ,
Bước ngập ngừng, lối kỷ niệm mong manh.

Ừ, trường Luật, giảng đường, em, tình đó,
Biết đâu giờ, đời vẫn lạnh quẩn quanh.


Vọng cố nhân

Từ ta lên núi tìm quên lãng
Chiều, vẫn hoàng hôn vọng cố nhân.
Vách đá cổ tùng sương trĩu nặng,
Thơ buồn, lều cỏ luống phân vân.

Rừng thu phong nhuốm mầu quan tái,
Suối vắng mây trôi lạc nửa đời.
Lối mục, cỏ lan bờ hoa dại,
Ngại ngùng bước sợ nát vàng rơi.

Chiếu chăn tưởng ngát hương ngọc nữ,
Ðắng ngọt rượu khuya đêm ngẩn ngơ.
Chênh chếch song thưa vầng trăng cũ,
Gọi đàn, lạnh tiếng vạc bơ vơ.


Dốc núi

Lang thang trên dốc núi cao,
Ngắt bông hoa dại ném vào quãng không.
Mây trôi theo mộng bềnh bồng,
Hướng về thung lũng thấy lòng dửng dưng.

Mời độc giả xem chương trình “Tượng nữ thần tự do ở New York”(Phần 2)

Lên thuyền

Cách đây mấy hôm, tôi có đến thăm một chị bạn, gặp cả chị và con trai chị. Chả là vài năm trước đây tôi có dạy cả hai mẹ con học một ít tiếng Pháp. Tôi hỏi thăm cháu năm nay lên lớp mấy rồi, chị bảo giờ đang nghỉ Hè, vào năm học mới cháu sẽ lên lớp tám. Ngừng một chút, rồi chị nói tiếp: “Em cũng đang chuẩn bị ráo riết để cho cháu ‘lên thuyền’ thầy ạ.”

Tôi ngạc nhiên: “Lên thuyền?” Thấy tôi ngơ ngác, chị cười bảo: “Hai chữ này bây giờ người ta nói phổ biến rồi mà thầy. ‘Lên thuyền’ tức là ra nước ngoài học, đi du học ấy mà. Em chuẩn bị cho cháu lên cấp ba thì sang học ở Mỹ. Bây giờ cũng đang có một phong trào ‘thuyền nhân’ chạy khỏi đất nước như hồi mấy mươi năm trước, ngày càng đông đảo. Hồi những năm 70, 80 là thuyền nhân chính trị, di tản chính trị. Bây giờ là thuyền nhân giáo dục, di tản giáo dục. Chạy trốn nền giáo dục này.”

Hóa ra tôi quá lạc hậu. Một cuộc di tản mới, sâu sắc chẳng kém gì cuộc di tản trước, mà nào tôi có biết. Hay đúng hơn, tôi không biết nó đã đến mức một phong trào “thuyền nhân” mới. Khẩn thiết chạy trốn khỏi cái nền giáo dục mà cha mẹ họ lo sợ cho con cái họ. Chắc dẫu sao cũng là chỉ những gia đình tương đối khá giả, và tôi nghĩ hẳn cũng chỉ ở thành phố, thậm chí phải là thành phố lớn. Nhưng mấy hôm sau tôi lại gặp một chị bạn khác, vốn quê Thái Bình. Tôi đem kể với chị chuyện “lên thuyền” tôi mới được nghe. Chị bảo: “Không chỉ ở thành phố đâu anh ơi, em mới về quê lên đây nè. Ngay ở quê Thái Bình, nhiều gia đình chẳng khá giả gì cũng lo chạy vạy hết nước, có khi bán cả nhà, cả ruộng, để cho con ra học nước ngoài, ngay từ phổ thông. Những bậc cha mẹ có ít nhiều hiểu biết đều rất lo sợ về nền giáo dục này cho con cái của họ. Người cắn răng ở lại chỉ là người đã cùng đường…”

Vậy đó, Bộ Giáo Dục, nhà nước có biết điều này không? Tôi muốn hỏi. Chưa hề thấy Bộ Giáo Dục, là cơ quan chịu trách nhiệm về toàn bộ nền giáo dục và tình hình giáo dục nước nhà, nói gì về chuyện “lên thuyền” này cả. Bộ có biết một cuộc di tản giáo dục mới, rỉ rả, âm thầm, nhưng là đại di tản đang diễn ra, từng ngày, quyết liệt, một cuộc phản kháng âm thầm mà dữ dội bằng chân đối với nền giáo dục mà các vị đang áp buộc lên họ, con cái họ?

Cũng trên trang Văn Việt này cách đây ít lâu, tôi có đọc được bài viết của anh Ðỗ Ngọc Thống trả lời những người muốn hỏi anh vì sao là người làm việc chính trong nền giáo dục này mà anh cũng lại cho con ra học nước ngoài, có phải anh cũng cho con di tản giáo dục không? Anh Thống bảo chẳng lẽ người hỏi điều đó không biết rằng anh cũng phải lo sợ cho con anh về ô nhiễm môi trường ,ô nhiễm thực phẩm và bao nhiêu thứ ô nhiễm văn hóa xã hội nữa ở trong nước bây giờ mà anh hẳn không muốn con anh phải chịu. Tôi đồng ý với anh Thống về các thứ ô nhiễm rành rành anh đã chỉ ra và vì chúng, anh phải quyết cứu con anh ra khỏi. Tuy nhiên tôi có ngạc nhiên thấy anh không hề nói gì về ô nhiễm cũng sờ sờ ra đó của chính nền giáo dục mà anh đang tham gia làm ra, nó nguy hiểm đến mức hầu như bất cứ bậc cha mẹ nào có thể thì cũng đều không muốn cho con họ phải chịu, và quyết làm mọi cách để cho con “lên thuyền” hôm nay.

Một cuộc di tản giáo dục lớn, sao không ai báo động?

(Nguồn: [email protected])

Mời độc giả xem chương trình “Tượng nữ thần tự do ở New York”(Phần 2)

Thơ Huy Uyên

Nụ hoa lay tím ráng chiều

Mới đó mà ngày đã hết
Ðêm đen treo ngang cuối trời
Quay lại môi cười vội tắt
Ðàn quạ bên sông cánh bay.

Chậm buồn quanh bóng hiên nhà
Trên bàn còn đầy ly rượu
Ðợi ai từ buổi đi xa
Sầu vương đuổi từng hơi thở.

Tình em quay về dao cắt
Xẻ chia ngàn vạn cô-đơn
Vườn nhà người hoa thôi nở
Khép lại hai mắt nhung buồn.

Em rồi xót cuộc tình chung
Vết bầm dấu hoài khuôn mặt
Em sao quá đỗi lạ lùng
Sóng xô đầy hai bờ ngực!

Xao lòng lời ru của gió
Vẳng lại tiếng chuông gọi hồn
Chôn con tim sầu bia mộ
Hát lời nghĩa-trang phố đêm.

Nắng chiều hình như ngả màu
Mây về đậu hoài trong mắt
Thấm đẫm hương xưa phai mau
Em còn vỡ òa hạnh-phúc.

Em trăm lối về xuôi ngược
Nụ hoa lay tím ráng chiều
Nhớ hoài mối tình đi lạc
Bên trời mây bay lãng-phiêu!


Trong vườn mùa thu vàng lá

Chợ quê sáng chiều quạnh-hiu
Bên sông chơ vơ vạt cỏ
Lung linh giọt nắng cuối chiều
Con đường dài thêm thương nhớ.

Những mái nhà tranh rêu phủ
Xám lạnh giăng quanh màu mây
Người đi lâu rồi ngày đó
Lặng lẽ gió lùa ngọn cây.

Trên cao mây bỗng quay về
Hiên nhà ai chùm vạn thọ
Thấp thoáng trên môi giọng cười
Trong vườn mùa thu vàng lá.

Ngỡ ngày thoáng qua quá vội
Rượu say tình mãi chưa đầy
Sao em đi mà không nói
Quê nhà hiu-hắt riêng tôi.

Chợ quê nỗi buồn tháng năm
Liêu xiêu dăm ba hàng quán
Bóng nhỏ đơn côi cuối đường
Tóc thả đuôi gà quang gánh.

Ai chờ em ngoài lộ vắng
Muộn rồi buổi chợ chiều trôi
Người đi,người đi quên hẳn
Ngập ngừng thoáng gió tôi ơi!

Thôi em sợi chỉ mong manh
Ngày về bỏ quên áo mới
Lòng anh tơ sợi đầu cành
Cả đời mai chiều ngóng đợi.

Giáo-đường đầu hôm chuông đổ
Khuất bờ ruộng mía nương dâu
Chừng ai quay qua xóm nhỏ
Khói vương sợi cỏ dầu-dầu.
(7-17)

Mời độc giả xem chương trình “Tượng nữ thần tự do ở New York”(Phần 1)

Thơ Tuyết Sơn Nguyễn Văn Thu

Sóng hoàng hôn

Chầm chậm hoàng hôn tự biển dâng
Ráng hồng mờ nhạt núi xa gần
Nghe hồn thiên cổ trong lời sóng
Trở lại thăm đây được mấy lần?

Sóng âm ỉ và sóng thầm thì
Trăm bận ngàn lần sóng dội ta
Trăm bận ngàn lần sóng gợi xa
Sóng ngàn xa hay sóng gần ta.

Sóng hoàng hôn. Ờ sóng hoàng hôn
Sóng gợi xa hay sóng gọi hồn
Không khói, không sương, đầy êm ả
Ta ngồi yên nghe sóng thân thương.

Bắc đảo hoàng hôn tự biển dâng
Ráng hồng mờ nhạt núi xa gần
Nghe hồn thiên cổ trong lời sóng
Trở lại thăm đây được mấy lần?
(Phú Quốc 2.7.2017.)

Mời độc giả xem chương trình “Boston – Thành phố văn hóa lịch sử của Hoa Kỳ”(Phần 2)

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN:26-449949
P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Phone: (714) 553-3714, (714) 553-4270, (714) 553-5790, (714) 553-3478, (714) 553-5391
Email: [email protected];[email protected];
Website: http://www.CAmonanhtb.com
Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH

Danh sách ân nhân ÐNH ‘Cám Ơn Anh’ kỳ 11:
(Ghi đến ngày 21 tháng 8, 2017)

ÔB. Tư V. Lê, Albany, NY $200
Trung Quang Nguyễn, Houston, TX $200
Huy C. Trang, San Diego, CA $200
ÔB. Ðào Trần, Reynoldo, GA $200
ÔB. Ðức Lê & Mỹ Phạm (Bella Diva Hair Nails & Spa Inc.,), Jacksonville, FL $200
Phước Văn Từ, Philadelphia, PA $200
ÔB. Ðệ Văn Lê, Syracuse, NY $200
Tài Tấn Nguyễn, Albuquerque, NM $200
Steven Nguyễn, Los Angeles, CA $200
ÔB. Phan Nguyễn, Seattle, WA $200
Tuyên Lê, San Jose, CA $200
Ðối Viết Bùi, Hyattsville, MD $200
Hà Văn A, Forest Park, GA $200
Ðỗ Lương Chi – Nguyễn Kim Anh, Charlotte, NC $200
Nguyễn Hoàng Dũng (Wilcox Farm), Vienna, GA $200
Phương Thảo Lâm, Decatur, GA $200
Nhan Ðức Lữ, Vancouver, CAN $200CAN
ÔB. Tài Hữu Nguyễn, Seattle, WA $150
Bà Lê Thị Lời, C. Tho Nguyễn, Jacksonville, FL $150
Luyện Phan, Milpitas, CA $150
Bội Hoàn Tôn, San Jose, CA $140
Kim Chi T. Bùi, Hillsboro, OR $100
Thủy Thúc Hà, Reno, NV $100
ÔB. Danh Xuân Nguyễn, Rey Oaks, CA $100
Cô Thi B. Nguyễn, Gainesville, GA $100
Ngọc M. Lê, Biloxi, MS $100
Cô Mai Nguyễn & O. Thiện Nguyễn, Opelousso, LA $100
Lê Quang Bình, Garden Grove, CA $100
ÔB. Hai T. Nguyễn, Lynnwood, WA $100
Quyen & Loan Bùi, Orlando, FL $100
Hinh V. Bùi, Baton Rouge, LA $100
Toan Nguyễn, Union, KY $100
Hang Thị Phạm, Morrow, GA $100
Francis Ngo, Antelope, CA $100
Quan Văn Nguyễn, Medford, MA $100
Văn Tu Nguyễn, South Lake, TX $100
ÔB. David Trần, Bayonne, NJ $100
Phan Quế Nguyễn, Mobile, AL $100
Tri Lê & Lieng Võ, Santa Clara, CA $100
Mai Thị Trần, San Jose, CA $100
Ky M. Võ, Surprise, AZ $100
Hoàng Ngô, Chino Hills, CA $100
Lê Hữu Do, Bothell, WA $100
Anh Lan Trịnh, Cypress, CA $100
Toan L. Nguyễn, Westminster, CA $100
Hung D. Vũ, San Diego, CA $100
Thom Trần, San Diego, CA $100
Sam & Hậu Nguyễn, Boston, MA $100
Hung K. Cao, Seattle, WA $100
Dat Nguyễn, Lincoln, NE $100
Eric F. Nguyễn, New Port News, VA $100
ÔB. Than Nguyễn, Lincoln, RI $100
Hung Mạnh Ðỗ, Columbus, GA $100
Chan Châu, Portland, OR $100
Hung H. Châu, Portland, OR $100
Tong Nguyễn, Yukon, OK $100
Quang Di, San Antonio, c/o Richard Phu Ðỗ, Windcrest, TX $100
Nguyễn Thị Thanh, Denver, CO $100
Albert Riot Nguyễn, Denver, CO $100
Lac T. Nguyễn, San Diego, CA $100
Bang V. Nguyễn, Stanton, CA $100
Phạm Nhưt, Dorchester, MA $100
ÔB. Chung Phạm, Seattle, WA $100
Khoa Lê, Davie, FL $100
Anthony T. Ngô, San Diego, CA $100 (Còn tiếp)

Danh sách TPB VNCH đã được giúp đỡ:

Nguyễn Văn Tài, Saigon, SQ:75/109488/B2/CLQ. Cụt chân trái.
Huỳnh Văn Lắng, Saigon SQ:65/150268/B2/CLQ. Cụt tay phải,
Trương Anh Tuấn, Saigon, SQ:160879/CU/CLQ. Cụt chân phải.
Lưu Văn Hùng, Saigon SQ:63/126913/TS/CTCT Cụt chân phải.
Nguyễn Kim Ðiệp, Saigon, SQ:69/125870/HS/CLQ. Cụt chân phải.
Ðặng Văn Tèo, Saigon, SQ:43/105182/B2/CLQ. Cụt chân phải.
Ngô Quang Chiêu, Saigon SQ:73/009047/CLQ. Cụt chân trái.
Phạm Văn Quít, Bình Ðịnh, SQ:70/402035/TU/CLQ. Cụt chân phải. Bị thương ở chân trái.
Nguyễn Văn Ðãi, Ninh Thuận. SQ:54/722936/B1/CLQ. Cụt tay,chân trái,
Châu Văn Mười, Bình Thuận, SQ:68/142901/CU/CLQ. Hư mắt ph, gãy vai trái 65%
Trịnh Ðiền, Phú Yên, SQ:207611/NQ Cẩt chân trái. Mù mẬt trái.
Võ Ðỗ, Phú Yên, SQ:68/407153/HS/CLQ. Bị thương ở đầu. Mù mắt phải.
Bùi Ðông, Quảng Ngãi, SQ:40/511237/BI. Cụt bàn chân trái. Mù mắt phải.
Ðặng Văn Ngọt, Quảng Nam,SQ:48/299716/ND. Cụt 2 chân.
Ðặng Văn Thọ (Bổn), Quảng Nam, SQ:74/162898/B1/CLQ. Mù 2 mắt. Cụt 2 tay.
Ðỗ Châu, Quảng Nam SQ:48/434798/HS/ÐPQ. Cụt 2 chân.
Ðỗ Hoàng, Quảng Ngãi, SQ:189199/NQ. Cụt 2 chân.
Ðỗ Ngọc Anh, Quảng Ngãi, SQ:49/C13374/NQ. Cụt 2 chân.
Hoàng Ðắc Ánh, Quảng Nam, SQ:182663/NQ. Cụt chân trái, gãy tay phải, mù 2 mắt.
Huỳnh Mốc, Quảng Nam, SQ:185622/NQ. Mù 2 mắt. Cụt 2 tay.
Huỳnh Ngọc Trí, Quảng Nam, Thám Sát Viên/CSQG, SQ:70/103082. Cụt 2 chân.
Huỳnh Phong, Quảng Nam, SQ:117014/NQ. Mù 2 mắt. Bị thương ở cổ họng,
Lê Mẫu, Quảng Ngãi, SQ:46/511905/HS/ ÐPQ. Cụt 2 chân.
Lê Ngọc Trưng (6 Trực), Quảng Ngãi, SQ:74/211372/B1/TG. Mù mắt trái.
Lê Quý, Quảng Nam, SQ:74/206854/TS/CLQ. Cụt 2 chân.
Lê Tấn Tại, Quảng Ngãi, SQ:74/220818/B2/CLQ. Cụt 2 chân.
Lê Văn Hải, Quảng Nam, SQ:48/C17205/NQ. Cụt 2 chân.
Lê Văn Sơn, Quảng Nam,SQ:167301/NQ. Cụt 2 chân. (Còn tiếp)

Danh sách quả phụ VNCH đã được giúp đỡ:

Nguyễn Thị Hoa, Long An, QP Cố TS1 Huỳnh Mã Long SQ:62/113.720. Tử trận 30/04/75.
Hoàng Thị Thẻo, Long An, QP Cố TS Nguyễn Văn Thành SQ:64/302.257. Tử trận 21/03/71.
Trần Thị Nem Vĩnh Long, QP Cố tđt Võ Văn Xê SQ:NQ/479.496. Tử trận 22/03/72.
Trần Thị Năm Vĩnh Long, QP Cố B2 BÐQ Lê Văn Thủ SQ:60/502.421. Tử trận 16/09/68.
Nguyễn Thị Tám Vĩnh Long, QP Cố NQ Ðoàn Văn Cấm SQ:NQ/481.693. Tử trận 02/06/68.
Hồ Thị Gái, Thừa Thiên, QP Cố B2 Trần Ty SQ:65/206.030. Tử trận 22/06/66.
Trần Thị Phước, Thừa Thiên, QP Cố B1 Trần Trung SQ:59/204.038. Tử trận 12/03/67.
Lê Thị Lộc, Ðồng Nai, QP Cố CLQ Thái Công Năm SQ:xx/200.204. Tử trận 05/08/72.
Lê Thị Hồng Hoa Vũng Tàu, QP Cố BKD Nguyễn Văn Hùng SQ:71/139.527. Tử trận 17/08/72.
Nguyễn Thị Hai, Vũng Tàu, QP Cố HS ÐPQ Nguyễn Văn Nhiên SQ:42/308.379. Tử trận 06/70.
Hồ Thị Hạnh, Thừa Thiên, QP Cố TS1 CLQ Ngô Văn Thành SQ:65/101.283. Tử trận 17/02/71.
Lê Thị Lai, Saigon, QP Cố B1 Nguyễn Văn Hưng SQ:62/112.780. Tử trận 15/08/68.
Nguyễn Thị Hai, An Giang, QP Cố B1 Lê Văn Chí SQ:45/684.418. Tử trận 30/04/74. (Còn tiếp)

Mời độc giả xem bình luận “Những kẻ không nhà”(Phần 2)

Tiền Giang: Sập chùa đang xây, 9 người bị thương

TIỀN GIANG, Việt Nam (NV) – Khi nhóm công nhân đang đổ bê tông xây tầng hai chùa Kim Linh I, ở thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo, thì toàn bộ sàn bê tông bất ngờ đổ sập làm nhiều người bị thương.

Xác nhận với báo Tuổi Trẻ, ngày 29 Tháng Tám, công an huyện Chợ Gạo cho biết đang phối hợp với các ngành chức năng điều tra nguyên nhân của vụ sập sàn khi đang đổ bê tông khiến 9 người bị thương phải nhập viện cấp cứu hồi 7 giờ 30 cùng ngày, tại chùa Kim Linh I, thị trấn Chợ Gạo.

Báo Tuổi Trẻ tường thuật, tại hiện trường, nhiều giàn giáo chống sàn cùng với thanh sắt và bê tông đổ sập xuống, chỉ vài mảng sàn nhỏ còn sót lại.

Chùa Kim Linh I nơi xảy ra vụ việc. (Hình: Báo Tuổi Trẻ)

Các công nhân cho biết, vụ tai nạn xảy ra khi đang đổ bê tông từ xe trộn thứ 5. Ngay sau đó, các nạn nhân bị thương đã được đồng nghiệp đưa đến trung tâm y tế huyện Chợ Gạo cấp cứu.

Trưa cùng ngày, ông Nguyễn Văn Bé, giám đốc trung tâm y tế huyện Chợ Gạo cho biết, 9 công nhân trong vụ sập sàn đổ bê tông tại chùa Kim Linh I, đa số nhập viện trong tình trạng bị xây xát và chấn thương phần mềm. Hiện họ vẫn đang nằm điều trị tại bệnh viện, trong đó có một người được gia đình xin chuyển lên Sài Gòn điều trị do bị chấn thương cột sống.

Công trình chùa đang xây dựng trên diện tích 450 mét vuông có chi phí khoảng 10 tỷ đồng, gồm hai tầng, khởi công hồi Tháng Hai năm nay. (Tr.N)

Thơ Mặc Phương Tử

Như cuộc tuần lưu

Bên thềm mây trắng khéo xây thành
Xao xác ngoài kia tiếng lợi-danh
Vinh nhục bao phen đời khập khễnh
Ðỉnh chung mấy cuộc mộng tan tành.

Xoay chiều ngọn bấc đau lòng vạc
Trở giấc phong hồ lạnh điếm canh.
Ngàn thuở ai hay tuồng thế sự,
Bức tranh vân cẩu vội qua mành.

Vội qua mành ấy, ảo tuồng thôi!
Cốt để làm nên chất liệu người
Vẫn biết non cao còn bóng cả
Nào hay rừng thẳm có ma chơi!

Ðã rằng nắng quái nung thêm lửa
Vì bởi lầm mê phó mặc đời.
Ấy thế, cuộc tuần lưu vẫn thế…
Chừng như thế sự nước mây trôi!

South Dakota, tháng 8, 2017.
(Nguồn: sangtao@org)

Mời độc giả xem bình luận “Afghanistan, Mỹ, Nga, Iran”(Phần 2)

Thơ Nguyễn Tam Phù Sa

Thư gởi các cháu có người mẹ đang ở trong tù

Chú có một người cha đã chết trong tù
Nên quá sợ bốn bức tường quyền lực
Ðêm nghe tiếng vạc sành, tiếng thạch sùng tặc lưỡi
Thấy thương người mẹ trong tù
Thương tới những đứa con

Các cháu có tội gì đâu phải gánh hai đầu thương nhớ
Phải bưng chén cơm chan nước mắt mỗi ngày
Phải vịn thành giường tìm kiếm tiếng ầu ơ
Câu hò Bắc sao mà mặn thế!

Ở đâu đó nơi thiên đương thinh lặng
Cháu có nghe đất vỡ dưới chân mình
Từng hạt cát bật mầm đứng dậy
Từng lùm cây rần rật sóng đại ngàn

Có nghĩa gì không hai chữ Tự Do
Mà mẹ cháu dấn thân vì Tổ Quốc
Chú đã khóc đủ lâu – 3 thời đại
Ðến bây giờ còn khóc với trẻ thơ

Nước mắt không giúp được gì đâu, cháu ơi
Hãy đứng dậy nhìn ra phía biển
Phía đàn cá phơi mình trên cát trắng
Ðể hiểu tấm lòng Người Mẹ Việt Nam.

Sài Gòn 03.8.2017
(Nguồn: sangtao@org)

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Hai, ngày 28 tháng 8 năm 2017

em>

Người lính trong lửa đạn, và sau trận chiến

I. Tháng Chín, ba mươi hai năm trước, 1972 đã là lần lịch sử chuyển mình, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang dội chiến công.

Quân Nam quyết liệt xốc tới nơi những chiến trường Quảng Trị, Bồng Sơn, Kon-Tum, An Lộc… hiện thực một lần nghĩa vụ linh thiêng muôn thuở của Người Lính – Bảo Quốc An Dân – Sứ mệnh không hề nói thành lời, và được hiện thực với chính máu xương của những con người vô danh cao thượng mà Ðằng Phương, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy mấy mươi năm xưa đã viết nên những dòng máu lệ ngợi ca hùng tráng,

Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước…

Nội dung vĩ đại trên được thực hiện qua những cảnh tượng hùng tráng: Ngày 25 Tháng Sáu 1972, chiến dịch tái chiếm Quảng Trị khai diễn với các đơn vị: Biệt Ðộng Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, lực lượng diện địa của Tiểu Khu Quảng Trị, phối hợp với các chi đoàn chiến xa, thiết quân vận của Quân Ðoàn I, được yểm trợ bởi các đơn vị pháo cơ hữu, và của vùng chiến thuật dưới quyền chỉ huy của Tướng Quân Ngô Quang Trưởng.

Ðoàn quân quyết tử phục hận đồng vượt tuyến xuất phát Sông Mỹ Chánh tiến theo trục chính Bắc với mục tiêu cuối cùng – Cổ Thành Ðinh Công Tráng hay Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị – mà quân ta phải tạm lìa bỏ từ 29 Tháng Tư do những ước tính sai lầm của những cấp chỉ huy, giới chức lãnh đạo.

Từ Ngã Ba Long Hưng, cửa ngõ phía Nam Quảng Trị, điểm tiến quân cao nhất của Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù trong ngày 7 Tháng Bảy 1972, đến Cổ Thành Ðinh Công Tráng đoạn đường dài khoảng một cây số, và bề ngang từ nhà ga phía cực Tây đến làng Công Giáo Trí Bưu phía đông, khoảng cách cũng có bề rộng tương tự. Trên khoảng đất rộng hơn cây số vuông kia, mười lăm ngàn người lính của những đơn vị kể trên đã thay phiên nhau bò, trườn, ẩn núp, gọi pháo, đánh bom, ném lựu đạn, đánh cận chiến ngày lẫn đêm suốt đoạn thời gian liên tục 67 ngày, để đến Ngày 14 Tháng Chín 1972 những người lính của các tiểu đoàn TQLC đồng lần siết chặt mục tiêu, dựng ngọn Cờ Vàng bay lộng trên gạch đá điêu tàn, giữa tiếng đạn, khói thuốc súng của trận chiến đang hồi kết thúc.

Cờ lên!
Cờ lên! Giữa vũng lửa.. Ở Quảng Trị,
Dân với quân cùng lần nước mắt ứa
Một bận cờ bay Cổ Thành xưa
Bao phần máu xương người lính đổ…

Chiến tích kỳ diệu trên ắt phải được nung nấu từ một nguồn thúc giục vô vàn mãnh liệt mà không thể mua bằng một giá biểu lương bổng nào dầu cao đến bao nhiêu, chắc chắn cũng không do từ một huy hiệu, cấp bậc tưởng thưởng… Người lính đã bậm chặt môi, nghiến răng xốc tới bởi từ dưới những đụn cát loang lổ vùng Hải Lăng, Giáp Hậu, chen giữa những xác chết nặng mùi có những dạng người cử động… Những người sống sót từ lần thảm sát khi rời bỏ Quảng Trị trong ngày 29 Tháng Tư, trên đường chạy về Huế, lọt vào ổ phục kích vùng hỏa tập tiên liệu của đơn vị cộng sản, chín cây số Nam La Vang kéo dài đến cầu Câu Nhi Phường, xã Giáp Hậu, quận Hải Lăng. Những người sống sót hồi sinh với tiếng nói đứt khúc, thì thầm hấp hối… Lính tới… Lính Cộng Hòa tới…

II. Sau 30 Tháng Tư 1975, những người lính kể trên có thể đã chết (theo một tỷ lệ khả thể rất lớn) theo lần sụp vỡ quê hương.

Không phải với cách chết bình an lành lặn, nhưng chết với xác thân bị dầm xé, những tay chân gãy gập, đứt đoạn, xương cốt dập vỡ… Những người chết bị kết án, sỉ nhục từ những ngày sống thoi thóp, và chết đi trong uất hận căm hờn rung động đến cùng tận đất trời. Tiếng gào đau nầy đã dậy lên suốt tuổi trẻ trên từng trang sách của hơn ba-mươi năm qua… Bởi bản thân vẫn mãi mãi và luôn chỉ là – Người Lính của một quân đội hằng sống, chết vẹn toàn để thực hiện sứ nhiệm báo ân cùng dân tộc khổ nạn trên quê hương điêu linh – Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Nhưng có những con người – Những người lính vẫn tồn tại. Phải tồn tại. Họ không chỉ là những người lính bình thường với nỗi truân chuyên, gian khổ, nguy nan đặc thù riêng của đời lính mà là những quân số chịu phần oán nghiệt khốc liệt nhất trong toàn tập thể quân đội – Những thương phế binh bị loại ra khỏi cuộc chiến từ lúc chiến tranh đang nặng độ. Ðây lại là những thương phế binh của một quân đội thất trận, ở lại sau cùng khi những người chỉ huy đã tráo trở đầu hàng, tan hoang tháo chạy, hoặc cùng đày bó tay bẻ súng, vị quốc vong thân. Không vũ khí, không đủ cả giác quan, tay chân, họ ở lại hứng trận đòn báo thù hèn hạ từ một tập đoàn thắng trận bạo ngược tàn nhẫn nhất trong lịch sử Ðông-Tây, mà thông thường khi cuộc chiến chấm dứt, những phe lâm chiến hằng đối xử nhau một cách văn minh với tính bình đẳng huynh đệ… Pháp-Ðức, Mỹ-Nga, Hoa-Nhật… Nhưng, ở Việt Nam, nơi miền Nam, một bên, kẻ thắng trận, tổ chức bạo lực phát động chiến tranh, giành luôn quyền giết người và thực hiện tội ác vì “độc lập, tự do, hạnh phúc cho đời đời con cháu mai sau!!” và một bên, tập thể những con người trần trụi tuyệt vọng, đối tượng của một chính sách bức hại thâm độc vô nhân tính không cơ may được khoan thứ, không phương tiện chống giữ, không hy vọng thoát thân.

Ðau thương hơn nữa, họ không chịu riêng một mình mà kéo theo những người thân thích, nói rộng ra, một lần với miền Nam thất trận cùng đành. Cái chết cũng vô nghĩa và không thể thực hiện được bởi khả năng cuối cùng này đã hoàn toàn bị tước bỏ. Họ thật tận chết từ trong mỗi ngày giờ hiện sống, qua bức hại, thanh trừng, lưu đày, hành hình trên chính quê hương từ những người gọi là đồng chủng tộc…

Chúng ta hãy cùng sống lại từng bước của buổi trường chinh vô hạn khốn cùng của mỗi đơn vị người gọi là Thương Phế Binh, với những người mẹ, vợ, và những đứa con của họ. Những trẻ nhỏ hoàn toàn vô tội và vô hại cho dù xét xử dưới bất cứ chế độ chính trị, xã hội nào.

– “Ðứa nhỏ chết dưới đường cống Sài Gòn.” Nầy đây, chúng ta hãy nghe thương phế binh Nhị Nguyên viết về hai con nhỏ của tử sĩ Nguyễn Văn Thuận, đơn vị sư đoàn Nhảy Dù, quê Long An… “Thằng Nô, 12 tuổi, Phát 14 tuổi cùng mẹ đi vùng kinh tế mới ở Ðồng Tháp Mười, nhưng đời sống quá cực nhọc và không đủ ăn, bà mẹ dẫn hai đứa con về Sài Gòn sống lang thang. Nô và Phát thường khoe với chúng tôi rằng, cha chúng đi lính mặc áo hoa rừng chết vào mùa mưa 1972. Mẹ chúng đã khóc như mưa lúc nhận xác cha, nên mỗi khi vào mùa mưa, chúng cảm thấy buồn buồn. Gần đến ngày giỗ cha, chúng cố “làm ăn” cho có nhiều tiền để về Long An thăm mẹ. Thường khi các bạn đồng lứa bắt đủ cá xong trở lên mặt đường ngủ thì chúng nó tiếp tục lặn dưới các ống cống thành phố để tìm thêm cá. Có những buổi sáng, chúng tôi thấy hai anh em rét run vì ngâm dưới nước quá lâu.

Vào một đêm nọ, tôi thấy hai anh em thằng Nô, Phát lặng lẽ mở nắp cống chui xuống, khoảng vài ba giờ sau thì sấm chớp rầm rầm, chúng tôi choàng thức dậy tìm chỗ trú mưa. Một trận mưa như vũ bão đổ ào xuống thành phố và kéo dài cho đến sớm. Bình thường, hai anh em thằng Phát ở lâu hơn bạn bè dưới cống, nhưng sao giờ nầy chúng nó vẫn chưa lên? Thôi rồi, tôi hốt hoảng hiểu ra mọi sự… Anh em chúng tôi báo động với nhau, hỏi thăm những đứa trẻ đang ngủ gà, ngủ gật cạnh những đống rác “giữ chỗ” cho công việc sáng hôm sau (để moi, nhặt rác). Chẳng đứa nào thấy hai anh em thằng Nô. Cho đến một hôm, ba mươi – ba ngày sau, một đứa khác đang lội bì bõm ở ống cống gần chợ Cầu Ông Lãnh tìm cá, bất ngờ đụng phải một cái gì giống như “trái dừa,” nó nhặt lên, soi dưới ánh đèn, hét tiếng lớn và bỏ chạy. Sợ quá, nó chui đại lên miệng cống ngay gần chợ trước sự kinh ngạc của bạn hàng, nó vừa lượm một cái đầu lâu. Cả chợ hay tin đó liền kêu đội dân quân gác chợ mở cống tìm xác hai đứa nhỏ, nhưng cuối cùng chỉ nhặt được một khúc đùi đã thối rữa, và nửa thân người còn lại. Bọn trẻ nhận ra cái quần đùi màu đỏ của thằng Phát, bên trong còn ít tiền gài kim băng cẩn thận. Tiền đó thằng Phát để dành về quê giúp mẹ làm đám giỗ cha.

– “Về những người vợ lính.” Chúng ta nghe tiếp về những người vợ lính, vợ thương phế binh… Ðấy là những người đàn bà bình thường, đơn giản, trú ngụ ở các trại gia binh của các đơn vị quân đội. Những người đàn bà chỉ ao ước mỗi tháng được mua hàng quân tiếp vụ, thăm chồng nơi chốn hành quân xa với tay xách đựng vài ổ bánh mì, nải chuối, biểu lộ tình nghĩa vợ chồng qua tiếng lời trung hậu, tội nghiệp… Cũng chính họ đã gánh chịu tai họa chiến tranh ngang tầm của người chồng trong cách thế im lặng, thụ động và cam phận… Những buổi sáng tinh mơ trước khi đoàn xe lăn bánh ra khỏi hậu cứ, họ đã có mặt với những đứa con còn ẵm ngửa, đứa dắt tay. Họ biết nói gì với chồng trước mỗi lần đi ngoài lời thầm xin cầu nguyện… Mong lần đi có khi trở lại, và nếu người chồng trở về với những thương tật không thể bù trừ, những mất mát không hề được tái sinh, họ chấp nhận sự thiệt hại đau thương, giá máu đổ xuống một cách khắc kỷ cao thượng qua lời nói nhẹ tênh… “Ừ thôi, ba hắn không chết là tui mừng rồi, còn vợ, còn chồng là được.” Và đời họ, người chồng lính, những đứa con sẽ kéo dài bình an chìm lặng từ nỗ lực đôi vai, chiếc lưng ngồi hằng ngày nơi phố chợ, hoặc với quang gánh nhọc nhằn trên đường xa. Tất cả khổ đau hoạn nạn được quên khuất nhanh chóng với câu nói bình thản… “Ba sắp nhỏ dù đui què, mẻ sứt chi mà còn sống là tui cũng yên lòng.”

Tất cả mối mong ước bình an chịu đựng nhỏ bé nầy đồng bị đổ nhào, lật ngược một cách tàn nhẫn nơi ngày 30 Tháng Tư, 1975… Chồng chị Liên là anh Hơn, phế binh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, cụt một chân và lao phổi nặng. Một hôm đi bán nhang chẳng may băng qua đường bị trợt té, một chiếc xe hàng chạy qua thắng không kịp, đầu anh bị cán nát, lòi cả óc ra ngoài. Dẫu chồng chết, chị Liên cũng đã lây bệnh ho khậm khẹt và không hiểu sao chị sợ màu đỏ quá. Nó giống máu hòa trong nước miếng của chồng chị nhổ ra sau mỗi cơn ho, nó cũng giống màu cờ đỏ treo khắp thành phố. Liên cùng chị Mạc, vợ một phế binh khác, và chị Nguyệt lên Long Khánh buôn củi lậu. Cả ba đi tàu chui và khi gần đến ga Bình Triệu thì tuôn củi xuống, Liên có đứa con trai lớn tên Ðức, nhanh nhẹn giúp đỡ mẹ rất đắc lực, nhưng chị Mạc với bé Hoa mới 5 tuổi thì thật là khó khăn, nguy hiểm khi nhảy tàu, vừa bế con, vừa tuôn củi. Liên khuyến khích bạn, “Chị đừng lo, thằng Ðức con tôi sẽ cõng con Hoa nhảy giùm cho….” Nhưng sự “may mắn” không đến với chị Liên được mãi, tai họa đã xẩy ra như một điều tự nhiên của nghiệp khổ phận người Việt Nam.

Một hôm, trời mưa tầm tã, bảo vệ chia nhau ngăn chặn các toa xe. Ðể cứu lấy món hàng, Ðức và những đứa nhỏ leo lên trần xe và chuyền những bó củi qua cửa sổ. Một đứa tuột tay bị cuốn vào bánh xe lửa, thân thể bị nghiền nát vụn dọc theo đường tàu. Về đến ga Thủ Ðức, chị Liên vẫn không thấy thằng Ðức đâu, hỏi thăm lũ nhỏ, có đứa bảo thấy thằng Ðức leo mui xe lửa trốn bảo vệ. Nhưng đến ngày hôm sau, Liên mới biết được rằng, khi xe qua cầu Biên Hòa, con chị đã bị đà ngang đánh vỡ đầu, rơi xuống đường ray, thây xác bây giờ không biết nằm đâu… Cuối cùng, chị Liên gia nhập lực lượng “tình nguyện hiến máu.” Chị có ý định sau khi gom được số tiền bán máu chị sẽ đi buôn lại như xưa vì bây giờ nghe nói Cộng Sản không còn “ngăn sông cấm chợ.” Chị đã đến các trung tâm tiếp huyết Thủ Dầu Một, Bình Dương, lên tận Lộc Ninh rồi vòng qua Biên Hòa để bán máu. Nhưng vì muốn mau thoát khỏi kiếp sống hè phố chị đã quên chính mình, thân xác càng ngày càng suy kiệt, mặt chị xanh xao, đi không vững, bị xây xẩm luôn. Một đêm chị ngủ trên ghế đá một công viên ở Chợ Lớn, sáng mai người ta tìm thấy xác chị cứng đơ. Khi đem xác đi chôn, số tiền để dành trong túi chị bị công an tịch thu vì không có chứng minh tài chính hợp lệ.

– “Cảnh sống/chết đọa đày của Gia Ðình Thương Phế Binh.” Ðây, lời kể của chứng nhân Bùi Anh Sáu về lần “Ghetto, Làng Phế Binh Thủ Ðức” bị triệt hạ: “Ba giờ sáng ngày 1 Tháng Bảy, 1975, Làng Phế Binh Rạch Chiếc Thủ Ðức bị đánh động, vây chặt bởi một đơn vị bộ đội đông đúc có cả xe tăng yểm trợ. Một đoàn xe chờ sẵn để dồn mọi người lên vùng kinh tế mới Sông Bé (Phước Long cũ)… Kinh tế mới là gì, chẳng ai biết? Sông Bé ở đâu, người người bàn tán xôn xao. Trẻ nít khóc rân, người lớn nháo nhác hốt hoảng dồn đồ đạc, áo quần dưới ánh sáng luồn sục, thúc giục của đèn xe và đèn pin và lời quát tháo chửi mắng… “Chúng mầy là gia đình bọn ngụy quân, lính đánh thuê cho đế quốc Mỹ, có nợ máu với nhân dân, chúng mầy không được quyền ở đây, phải trả lại tài sản cho nhà nước và nhân dân!”

Chen trong chuỗi la ó hỗn loạn kia có những âm thanh nổ bùng, sắc gọn sau tiếng la hét uất hận… Những thương phế binh tự sát cùng với gia đình, từ chối lên vùng kinh tế mới. Ðến sáng, toàn khu làng phế binh ngày thường sầm uất nhộn nhịp nay vắng hoe, heo hút những đám cháy nhỏ gồm những vật gia dụng bộ đội không cho đem theo; chỉ còn những đơn vị bộ đội đứng gác và các toán đi lại, vào từng nhà kiểm kê. Một đoàn xe khác từ Sài Gòn đến, sau khi đã chất đầy những đồ đạc để sẵn ngoài sân, phủ bạt kín, chạy ra xa lộ, hướng về phía Bắc.”

Gần một năm sau, tất cả những gia đình đi kinh tế mới ở Sông Bé đồng trở về vì không chịu đựng nổi cảnh sống quá cực khổ ở vùng núi rừng hiu quạnh. Có gia đình về không đủ như lúc ra đi vì đã để lại thân xác nơi rừng sâu; có gia đình thì đông hơn trẻ nít, nhưng tất cả đều ốm yếu, nước da vàng vọt, người đầy ghẻ chốc. Họ không còn nhà, nên thường cất những chòi bằng giấy cứng quanh nghĩa địa. Người sống và người chết chen nhau. Vào ngày nắng gắt hoặc mưa giông, nghĩa địa bốc mùi tanh nồng nặc, dần dần ai nấy đều có nước da tai tái như người chết. Nhà cửa khu trại gia binh bị trưng thu, vùng kinh tế mới sống không nỗi, lấy nghĩa địa làm nhà, lề đường là vùng sinh sống, đám dân cùng khổ biến thành “tệ đoan xã hội,” đối tượng của chính sách dồn ép và quét sạch để “làm đẹp tổ quốc giàu, mạnh, xứng đáng thành phố mang tên bác kính yêu.”

Chúng ta nghe tiếp lời của phế binh Bất Hạnh, hiện ngụ tại Khánh Hội, Sài Gòn: “Những cuộc truy quét thu gọn rầm rộ được phát động trong những xóm lao động, dài theo đường phố Sài Gòn, những vật dụng ăn cướp của đám bần dân bị công an quăng đầy lên xe cây: cây dù, tủ thuốc lá, xe xay nước trái cây, xe bán nón, đòn gánh, rỗ bánh tráng… Chưa hết, bên cạnh những chuyến xe chở hàng tịch thu là những chiếc xe bít bùng chở đầy người già, trẻ nít, người tàn tật, những bà mẹ cùng những đám con thơ nheo nhó đỏ hỏn bế trên tay… Tất cả đồng đưa về trại tập trung về tội “lấn chiếm lề đường.” Nầy đây, một cuộc bố ráp điển hình ở Khu Hàng Xanh: “Tôi (Bất Hạnh) không may lọt ổ phục kích, chưa biết phải làm gì trước tình huống thì một xe công an từ đâu phía sau chạy tới, một tên nhảy xuống, giật thùng đồ nghề (vá xe) quăng lên xe. Thế là trắng tay! Làm sao để sống đây hở trời? Những nơi khác, quanh Ngã Tư, tiếng la hét, khóc than vang lên tới tấp. Một chị phụ nữ la thất thanh, chị đang giằng co với một tên công an thúng trái cây, bên cạnh bên chị, hai cháu bé, đứa khoảng 5 tuổi, đứa chừng 3 tuổi bò lăn trên những trái mận, ổi, khóc vang khi thấy mẹ bị tên công an đá quay lông lốc…”

– “Ðối mặt với một chính sách diệt chủng.” Sáng ngày 1 Tháng Năm 1975, một địa ngục có thật mở ra trên miền Nam, càng đậm sắc với những người tàn phế ở các quân y viện… Một toán Việt Cộng tiến vào Bệnh Viện 3 Dã Chiến buộc chúng tôi rời viện ngay tức khắc. Bọn người nầy chửi bới chúng tôi là phản quốc, tay sai đế quốc, v.v… Phản quốc nào, quê hương chúng tôi bị chúng xâm chiếm. Tay sai đế quốc nào khi dân tộc chúng tôi, thân thể chúng tôi bị đạn Nga, Tàu gây thương vong. Những chiếc “nón cối” nầy đại diện cho ai mà dám la hét: “Cút, cút ra khỏi đây. Bọn ngụy chúng mầy không được nằm tại đây. Ðồ lính đánh thuê, lũ quân bán nước!” Chúng tôi người nầy đỡ người kia khập khễnh ra khỏi trại, có những chiến hữu vết thương đang rỉ máu bị vất trần truồng tênh hênh trên lề đường… Gia đình mừng rỡ thấy tôi trở về, nhưng trong hoàn cảnh nầy ai cũng lo âu cho tương lai của mình.

Hằng ngày tôi thấy trước mặt từng đoàn người, già có, trẻ có và những đám con nít thay phiên nhau giành giựt những thùng đồ hộp, gạo sấy, máy móc từ trong những nhà kho. Dòng người đổ xô tràn vào những kho tồn trữ dưới chân cầu Tân Thuận bị những người đội nón cối xả súng bắn thẳng… Nhiều người giãy giụa dưới đất, trong vũng máu. Dân chúng chạy tản trốn, nhưng vài phút sau họ lại tràn vào đông hơn, bất kể súng đạn, ai bị thì té xuống, những người khác thì cứ nhào lên cậy cửa… Khi những ngày hỗn loạn đầu Tháng Năm 1975 qua đi, những thùng đồ hộp bọn em đem về dần cạn, người phế binh phải ra đường kiếm sống với những “nghề cứu đói,” vá lốp xe đạp, sửa hộp quẹt gaz, bán nhang…

Và cuối cùng, đi xin ăn. Nhưng tất cả không thể kéo dài khi Ba Nhiệm làm trưởng ban “Truy quét tệ nạn xã hội” với một bộ phận kinh hoàng, “Nhà nuôi Thị Nghè” được dựng nên để làm địa điểm chuyển tiếp giải quyết tất cả những đối tượng đang sinh sống trên, với vỉa hè, số lượng nầy càng tăng vọt khi tiếp nhận thêm hàng vạn người từ miền Bắc túng đói tràn vào…. Tuy gọi là “nhà nuôi” nhưng thật ra nơi đó là nhà giam theo đúng nghĩa, những người bị đưa vào đây đều bị coi là “tội phạm hình sự,” do đó bị tra tấn và hành hạ thường xuyên. “Tội phạm” là những người bị bắt trong các đợt bố ráp lề đường, họ không có quyền khiếu nại là bị bắt trái phép hay không và cũng không có án phạt rõ ràng; thời gian ở đây được coi như để “nuôi dạy” nên không hạn định thời hạn giam giữ, nhiều người đã ở lại đây vĩnh viễn. Mỗi nhà nuôi có có vài căn trại, mỗi căn rộng chừng 200 thước vuông, với khoảng chừng 100 con người bị giam. Tối tối mọi người phải thay nhau chỗ nằm và ngồi quạt cho nhau. Sáng khi nghe kẻng điểm danh, người nầy gọi người kia, ai nằm im không cục cựa thì đem đi hỏa thiêu tại lò thiêu Bà Quẹo. Người sống thì đi lao động, kể cả người tàn tật, mù hai mắt, cụt tay, chân.

Nếu sống sót từ các “nhà nuôi,” trở về lại Sài Gòn, tình cảnh cũng chẳng sáng sủa hơn và cuối cùng tất cả đồng “chọn” một biện pháp “không còn chọn lựa”… Hoàng Thụy và Sơn, hai phế binh do quá kiệt sức vì bệnh lao và cụt hai chân nên được ra khỏi “nhà nuôi số 4” Phú Giăng, Sông Bé. Họ không dám đi ăn xin, chỉ “xin ăn” lại từ những người sống trong nghĩa địa.

Một buổi chiều, hai anh ra bến Bạch Ðằng, ngước mắt nhìn tượng Ðức Trần Hưng Ðạo một hồi lâu rồi nắm tay nhau nhảy xuống dòng nước chảy xiếc. Xác hai anh được vớt lên, cha anh Sơn đang bán bánh ú, bánh tét quanh chợ Bến Thành hay tin, đến nhìn xác con. Nhưng ông chỉ im lặng đứng chung với đám người hiếu kỳ, không dám nhận là thân nhân người xấu số vì không có tiền mai táng con mình. Ông đứng thẫn thờ nhìn chiếc xe chở xác con ông đi khuất rồi mới dám khóc.

Hoàng Thụy và Sơn không chết một mình, những người lính tàn phế lần lượt “chọn” cho mình những phương tiện và thời điểm thích hợp… Anh Thơm khi ngồi dưới chân cầu Sài Gòn, gần Ngân Hàng Quốc Gia có suy nghĩ rằng, do vợ chồng anh thiếu quan tâm nên đứa nhỏ con anh mới chết vì suy dinh dưỡng; mẹ nó đang “đi khách” ngoài chợ Bến Thành để dồn tiền cho anh làm vốn đi bán nhang… Anh quá mệt mỏi để nghĩ tiếp… Cuối cùng, anh mở hai tuýp thuốc ngủ trút hết vào miệng, bị say thuốc, anh ọc mửa đầy hết áo quần, xong dẫy mấy cái và ngủ luôn dưới chân cầu. Lộc “què” mắc bệnh ho lao, thắt cổ chết trong một toa xe lửa bỏ hoang ở Biên Hòa. Quý “Ðốc-tưa Zivago” không nuôi nổi mẹ già 80 tuổi, bất lực nhìn mẹ hằng ngày cầm lon ra chợ xin thức ăn nuôi thân và nuôi con, nên thắt cổ chết lè cả lưỡi ra. Thanh “liệt” thì mài dao tự cắt cổ, cứa mãi không đứt vì sợ đau, đâm bực mình liền chĩa mũi dao đâm cái phọt vào tim… Nhưng trong những thân thể thương tật kia, ý chí chiến đấu của người lính không hề tàn lụi, họ vẫn giữ nguyên bản lĩnh kiêu hãnh của một quân đội, một đơn vị hằng tạo dựng những chiến tích lừng lẫy, cho dù hành động phản ứng tuyệt vọng bi tráng của họ chắc chắn sẽ đưa đến hậu quả khốc hại cuối cùng với cái chết ghê rợn nhẫn tâm…

Câu chuyện sau đây của phế binh Khát Vọng, hiện ngụ tại Long Hải, Phước Tuy có thể dùng để tạm kết về buổi thụ nạn đau thương của thương phế binh QLVNCH với tất cả bi hùng mà chỉ người trong cuộc mới có thể viết nên, kể lại: Khu chính trị trại Xuân Lộc, Long Khánh thường xảy ra nhiều chuyện đau buồn. Anh Trần Văn Ðược, trung sĩ nhất Thủy Quân Lục Chiến, cụt một chân và mù một mắt trong trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, Mùa Hè 1972 bị bắt chung với Trung Úy Phạm Tấn Dũng, binh chủng Nhảy Dù, bị thương năm 1974 trong trận tái chiếm đồi 1062, Thường Ðức, Quảng Nam vì tội “Hội họp bất hợp pháp, âm mưu lật đổ chính quyền.”

Một hôm, viên cán bộ quản giáo quê Nghệ Tĩnh vừa được chuyển tới, ra lệnh anh Ðược quét sân. Vì giọng nói người nầy khó nghe, nên anh Ðược vẫn ngồi yên uống nước trà. Gã cán bộ nhào tới xỉ vã và đánh anh một bạt tai. Nổi nóng, anh Ðược cầm lon guigoz dựng nước nóng tạt vào mặt nó và chỉ tay nói: “Mày là giống gì mà mất dạy quá vậy? Bộ tao là súc vật à, ai cho mầy vô phép dữ vậy?!! Tao tuy tàn tật nhưng không để cho mầy sỉ nhục đâu. Ðồ quân mất dạy, con tao còn lớn hơn mày nữa mà…” Ðược chưa nói hết câu, tên cán bộ nhào tới đánh anh vào đầu ào cổ, và chưởi rủa những tiếng khó nghe. Anh Ðược bị té xuống đất, nó liền đá vào đầu vào bụng anh. Thấy vậy, anh Dũng cà thọt chạy tới can, bị mất thăng bằng, anh níu áo tên cán bộ nầy và cả hai ngã xuống đất. Tức thì, bảy tám cán bộ quản giáo khác từ trong nhà chạy ra vây đánh hội đồng, cả hai anh lăn lộn chịu đòn trên mặt đất. Dũng hốt cát ném vào mặt mấy tên cán bộ, đang lúc chúng còn đang dụi mắt, Dũng nắm chân một tên kéo xuống, xong thúc cùi chõ vào mặt y.

Một tên khác đi tìm một khúc tre làm cột phơi áo quần quất tới tấp vào mình, đầu anh Dũng. Tiếng bình bịch, bồm bộp vang lên khô khan, máu từ đầu và vết thương cụt của anh Dũng bê bết trên đất. Trại viên chạy ra năn nỉ xin tha, đám cán bộ chĩa súng đòi bắn, lùa tất cả mọi người vào phòng; Dũng và Ðược bị kéo lên văn phòng trại.

Trời bắt đầu tối, không ai còn lòng dạ nào để ăn cơm, từ phòng tra tấn đến phòng giam tập thể không xa nhau lắm, nên chúng tôi nghe được câu còn câu mất…

Nội dung những tiếng la hét, tra khảo và trả lời đại khái như sau:

– Mầy đeo cái gì tòn ten dưới cổ hả thằng kia?

– Thánh Giá.

– Cởi nó ra khỏi cổ ngay lập tức.

– Còn lâu. Không ai có quyền buộc tôi phải bỏ nó ra. Bộ muốn cấm đạo hả. Cây thánh giá nầy là tượng trưng cho tín ngưỡng của tôi, không ai có quyền buộc tôi bỏ ra.

Tức thì tiếng huỳnh huỵch vang lên, có lẽ chúng đá vào người anh Dũng. Tên cán bộ người Nam nghiến răng hằn học (chúng tôi chỉ nghe rõ tiếng Nam của tên nầy)… Ðạo hả… Ðụ má đạo… đạo nè…

Bớ người ta chúng đánh người… Họ giết chúng tôi! Anh Ðược gào lên nửa chừng rồi tắt nghẹn. Những tiếng “huỳnh huỵch… bồm bộp” lấn át tiếng la của Ðược. Chúng tôi chỉ nghe những tiếng rên rỉ dứt khoảng rồi im bặt.

Sáng hôm sau, cán bộ quản trại cho hay, hai anh Dũng và Ðược đã “hành hung cán bộ và cắn lưỡi tự tử chết.” Chiều tối, chúng tôi hỏi bốn người hồi sáng đi chôn Dũng và Ðược thì biết rằng xác hai anh đầy vết tím bầm, mắt của Ðược bị sưng tím đen, mặt Dũng thì máu đóng cứng. Hai anh có lẽ chết vì những vết thương ở đầu, máu dưới tóc cứng khô, cạy mãi không được. Khi bó xác, bốn người phải ký giấy chứng nhận các anh tự tử mới cho phép chôn.

III. Người phải lên Tiếng Nói…

Trong thời gian dài chiến tranh nơi miền Nam, dẫu trên chiến địa hung hãn, bản thân chúng tôi chưa hề thấy lính miền Nam hành hạ tù binh, đừng nói tù binh bị thương. Một trong những bức hình nổi tiếng của Nguyễn Ngọc Hạnh, có một tấm ảnh ít người kể ra: Cảnh một lính Dù vác thương binh Việt Cộng ở mặt trận Chợ Lớn hồi Mậu Thân, 1968. Thế nhưng, bức hình Tướng Loan bắn tên đặc công lại được phổ biến khắp cùng báo Mỹ và thế giới. Hình như tác giả tấm hình đã có giọt nước mắt muộn màng hối lỗi. Quả thật, thế giới đã từ lâu im lặng đồng lõa cùng tội ác ở Việt Nam một cách quá đỗi hèn hạ và bất công. Phải, người phải lên tiếng nói, nếu không, sự im lặng sẽ là một biểu lộ cứng lòng nhẫn tâm đáng kết án. Thế nên, trong những năm qua, từ Tây sang Ðông thế giới đã hằng có những tấm lòng xa xót cùng nỗi đau của người lính thương trận nơi quê nhà… Nhưng quả thật, tất cả đóng góp nầy chỉ mới là phần cứu nạn khẩn cấp, chứ so cùng thống khổ vô vàn kia vẫn còn rất nhiều thiếu sót.

Và kỳ diệu thay, nguồn mạch tình thương việt tộc-nghĩa đồng bào luôn tồn tại sắt son liên lụy mối đau thương kia đã chạm tái tim người – Những người không tham dự cuộc chiến, chưa hề mặc áo lính, nhưng lương năng khởi động từ trái tim xót đau – Trường hợp người tuổi trẻ, Bác Sĩ Phan Minh Hiển – Một của những gương mặt hãnh diện đích thực của cộng đồng Người Việt Hải Ngoại với những đóng góp nhiệt thành tích cực, hiệu quả trong hàng loạt công tác suốt hơn hai mươi năm qua là một điển hình… Cứu cấp người vượt biển, mất tích, trên biển Ðông; cứu trợ người tỵ nạn ở các đảo, ở Pháp; giúp trẻ mồ côi, gia đình nghèo khó, người tàn tật (chủ yếu ở miền Nam), và cuối cùng, khi những thành phần vừa kể tạm có đời sống ổn định, Phan Minh Hiển dồn nỗ lực yểm trợ với đối tượng Thương Phế Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thành phần hứng chịu khổ nạn nặng nhất, sớm nhất từ cuộc chiến, mà dẫu quê hương đã im tiếng súng hơn hai mươi năm, nỗi cùng khổ kia vẫn chưa có dấu hiệu được bù trừ, như phần cơ thể mất đi không thể tái sinh, như người chết không hề sống lại. Chúng tôi đã là một thế hệ thất bại, nhưng chúng tôi không hề thất vọng bởi luôn giữ vững mối tự tin. Chính chúng tôi chứ không ai khác, là người lính thuần thành hằng thực hiện sứ nhiệm Bảo Quốc An Dân. Sự xác chứng nầy hiện thực trong lòng mỗi người dân và chiến hữu chúng tôi xứng đáng nhận lãnh lòng tri ân, phục hồi danh dự và nhân phẩm, bởi chính họ là những Chủ Thể góp máu, xương trong ý nghĩa thực tế, cụ thể nhất để miền Nam đã một lần sống động Dân Chủ, Tự Do – Tự Do được trả giá bằng đời sống đã mất đi theo tuổi trẻ, hy vọng và sự sống của chính mỗi người lính.

Mời độc giả xem phóng sự “Từ Sài Gòn học nail để đi Mỹ”

Cảm xúc 30 Tháng Tư

Hơn 40 năm sau chiến tranh
Tôi, người lính bại trận
Xem như đã chết ngày 30.4 năm ấy.
Tôi đã làm những gì có thể, để đất nước đổi thay
Nhưng vẫn không thay đổi được gì!

Tôi vẫn nghe lời người dân luyến tiếc
Miền nam tự do ngày nào.
Bên tai tôi văng vẳng lời một người cán bộ
“Các anh là những người chiến thắng,
những người chiến thắng trong ngậm ngùi.”

Không !

Tôi không muốn làm người chiến thắng trong ngậm ngùi
Tôi muốn leo lên đồi cao
Hét lên thật lớn cho vang đi thật xa
Rằng
Tôi không là người chiến thắng trong ngậm ngùi.

Mời độc giả xem bình luận “Những kẻ không nhà”(Phần 1)

Dân Mỹ còn kỳ thị hay không?

Người Mỹ thường hay hãnh diện nghĩ rằng quốc gia họ được lập lên trên những căn bản đạo lý, có thể làm gương cho cả loài người. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đề cao quyền bình đẳng giữa con người, ai cũng phải được sống tự do và mưu cầu hạnh phúc.

Sau biến cố chết người tại Charlottesville, Virginia, các đại biểu Quốc Hội Cộng Hòa cũng như Dân Chủ đã nói rõ không thể chấp nhận phong trào kỳ thị chủng tộc của một nhóm nhỏ người da trắng. Ngoại Trưởng Rex Tillerson cũng mới nói trên ti vi rằng những lời so sánh lúc đầu của Tổng Thống Donald Trump chỉ là “ý khiến riêng của ông.” Ông Tillerson nhấn mạnh: Kỳ thị chủng tộc không phải là điều dân tộc Mỹ coi là giá trị đáng nêu cao. Trong hai lần phát biểu, ông Trump có ý coi đám Tân Quốc Xã, Da Trắng Ưu Việt, và KKK ngang hàng với những người biểu tình phản đối họ. Giữa hai lần đó, Tổng Thống Trump có đọc một bản tuyên cáo lên án các nhóm kỳ thị này.

Nhưng một vị tổng thống Mỹ, ngoài trách nhiệm quản trị quốc gia, xã hội, có bổn phận phải nêu cao một lý tưởng nào cho dân chúng noi theo hay không?

Trong lịch sử Mỹ, các vị tổng thống đều tự nhận trách nhiệm đề cao các quy tắc đạo lý làm gương cho cả nước. Trước mặt thế giới, họ đóng vai đại biểu cho các giá trị dân Mỹ tôn thờ.

Tổng Thống Ronald Reagan nhiều lần dùng hình ảnh một “thị trấn sáng rực trên ngọn đồi” (shining city on a hill) để mô tả nước Mỹ trên trái đất. Trong một bài diễn văn năm 1989, ông Reagan xác định nước Mỹ “vẫn là ngọn hải đăng, là khối nam châm thu hút tất cả những người khao khát tự do…” Giống như năm 1965, Phạm Duy dám mơ ước: “Việt Nam trên đường tương lai, lửa thiêng soi toàn thế giới!”

Khi nước Mỹ tham dự các cuộc đại chiến thế giới trong thế kỷ 20, các tổng thống Wilson và Franklin D. Roosevelt đều nêu lý do nước Mỹ muốn bảo vệ các quyền tự do, bình đẳng và phẩm giá con người. Vì những lý tưởng đó mà quân Mỹ tham chiến, giải phóng các dân tộc mất tự do.

Abraham Lincoln được coi là một vị tổng thống bao dung. Sau cuộc nội chiến 1861-1865 với rất nhiều đau thương và thù hận, ông kêu gọi dân Mỹ hãy băng bó vết thương và “không thù ghét một ai; nhân từ với tất cả; và kiên quyết bảo vệ lẽ phải.”

Cuộc cách mạng tin học ngày nay khiến ai cũng có dịp tiếp cận với tất cả mọi người, biết mọi biến cố, mọi thông tin, mọi quan điểm từ khắp thế giới. Có lẽ dân chúng nước nào cũng thấy cần một vị tổng thống đứng ra làm “ngọn hải đăng” soi sáng các giá trị đạo đức thâm thiết của họ.

Gần đây nhất, Tổng Thống George W. Bush, nói chuyện ở Quốc Hội sau vụ tàn sát 11 Tháng Chín năm 2001, đã cẩn thận nhấn mạnh rằng chiến dịch của ông chống những nhóm khủng bố cực đoan theo đạo Hồi (Islam) không có nghĩa rằng chính phủ ông, và nước Mỹ, chống tôn giáo của họ. Ông Bush gửi một thông điệp chính thức, tới thế giới Hồi Giáo và dân chúng Mỹ: “Chúng tôi kính trọng niềm tin của quý vị. Đó là một tín ngưỡng được bao nhiêu triệu người Mỹ thực hành, cũng như trong bao nhiêu quốc gia là bạn của nước Mỹ. Niềm tin của quý vị dạy điều thiện và hòa bình; những kẻ nhân danh Thượng Đế Allah đi phạm điều ác, chính họ đang báng bổ Đấng Allah.”

Những vị tổng thống Mỹ, trước thời Tổng Thống Donald Trump, đều tìm cơ hội xiển dương đức bao dung trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, không kỳ thị chủng tộc, phải tôn trọng quyền bình đẳng giữa các mầu da, các giai cấp, giữa người nam và người nữ, vân vân.

Ông Donald Trump là vị tổng thống đầu tiên tỏ ra không quan tâm đến vai trò đó. Ông có vẻ chú tâm đến vận động tranh cử năm 2020 hơn là đóng vai trò lãnh đạo tinh thần cho dân chúng.

Khi biết những người biểu tình ở Charlottesville trưng cờ Quốc Xã, đả kích người Do Thái, mang súng và những biểu ngữ đề cao chủng tộc da trắng, ông Trump vẫn coi như họ ngang hàng với những người phản đối họ, không có lỗi nào nặng hơn. Ngay lập tức, thủ lãnh của các nhóm Da Trắng Độc Tôn và KKK đã thông báo cho đàn em biết: Ông Trump không chống chúng ta! Họ đã được khuyến khích, tiếp tục con đường họ đang theo. Trước khi đến Charlottesville, lãnh tụ đám Da Trắng Độc Tôn đã từng tuyên bố rằng họ đang làm theo ý muốn của Tổng Thống Trump. Ngày hôm sau, ông Trump đọc một bản tuyên bố chống các chủ trương da trắng độc tôn, nhưng sang một ngày sau đó, ông nhắc lại tất cả những điều ông nói lúc đầu! Ngoài các nhà chính trị, giới lãnh đạo kinh doanh, chỉ huy bốn binh chủng trong quân đội Mỹ đều tỏ thái độ không bằng lòng.

Nhưng còn dân chúng Mỹ thì sao? Họ có sống như các quy tắc bao dung các chủng tộc và tôn giáo như các vị tổng thống trước đây vẫn đề cao hay không?

So sánh các cuộc nghiên cứu dư luận 50 năm gần đây cho ta thấy rất đáng mừng: Dân Mỹ ngày càng tỏ ra có thái độ bao dung rộng lượng đối với những người khác mình, khác trên rất nhiều phương diện, không phải chỉ khác màu da.

Thí dụ, người ta hay đặt câu hỏi: ông/bà nghĩ sao về hôn nhân giữa những người khác chủng tộc? (Interracial marriage, người nghe nghĩ tới mầu da đen hoặc trắng). Trước đây gần 50 năm, cuộc nghiên cứu của viện Gallup cho thấy 73 phần trăm dân Mỹ không chấp nhận người da trắng và da đen lấy nhau, rất nhiều người da đen cũng trong số đó. Đó là năm 1968, chỉ có 20% dân Mỹ coi hôn nhân dị chủng là bình thường.

Nhưng tới năm 2013, tình trạng đã đảo ngược: 87% dân Mỹ coi hôn nhân dị chủng là bình thường, chỉ có 11% vẫn chống.

Theo viện nghiên cứu Pew Research Center thì hiện nay có 7% người Mỹ xác nhận họ lai nhiều chủng tộc khác nhau; tỷ lệ trong giới trẻ cao hơn. Phần lớn dân da mầu không cảm thấy màu da gây trở ngại khi cần thăng tiến trong xã hội. Ba phần tư cho biết mầu da không ảnh hưởng gì tới cuộc sống hàng ngày và công việc họ làm, trong khi 20% còn nghĩ đó là một lợi thế!

Bên cạnh vấn đề chủng tộc, số người Mỹ chấp nhận những cách sống khác mình cũng gia tăng, bao dung cả những hành vi trái ngược với đạo lý và niềm tin của mình. Thái độ của đa số dân Mỹ đã thay đổi nhiều trong các vấn đề như ngừa thai, phá thai, hôn nhân đồng tính theo chiều hướng ngày một rộng lượng hơn.

Những thái độ bao dung đó có khiến xã hội suy đồi hay không?

Song song với những quan niệm sống thay đổi, nước Mỹ cũng hiền hòa hơn.

Hiện nay, tỷ lệ tội phạm và vợ chồng ly dị trong nước Mỹ đã giảm xuống bằng những năm 1970, sau mấy thập niên gia tăng. Năm 2014, tỷ số phụ nữ phá thai đã xuống mức thấp nhất kể từ sau năm 1973, khi Tối Cao Pháp Viện, đi ngược với ý kiến những người Mỹ muốn bảo vệ niềm tin tôn giáo, đã phán rằng quyền phá thai không trái với Hiến Pháp Mỹ.

Trong hơn một thập niên đầu thế kỷ 21, người ta thấy nhiều hiện tượng xấu đã đi xuống: nước Mỹ giảm bớt bạo lực, người Mỹ bớt phá thai, bớt ly dị, và số con hoang, những trẻ sinh ngoài hôn nhân, cũng giảm bớt.

Xã hội Mỹ cải thiện về mặt đạo đức, thấy rõ trong các chỉ số đời sống văn hóa, trong Index of Leading Cultural Indicators được nêu trên đây. Qua các cuộc phỏng vấn, thấy đa số người Mỹ cũng bao dung, rộng lượng hơn đối với người khác.

Hai hiện tượng trên không thể nói cái nào là nhân, cái nào là quả. Cả hai có thể ảnh hưởng hỗ tương lẫn nhau. Cả hai đều là hậu quả của những làn sóng thông tin mở rộng, thông tin đa dạng phơi bầy nhiều sự kiện cũng như quan điểm đối nghịch. Mạng thông tin nối kết người với người. Thông tin cũng giúp nền giáo dục không ngừng cải thiện. Nhờ những tiến bộ đó, tiếng nói của Thiện đang thắng Ác; xóa bỏ dần những thói quen đố kỵ, thù hận, sân si.

Mời độc giả xem bình luận “Afghanistan, Mỹ, Nga, Iran”(Phần 1)

Ấn Độ: Một con chuột làm hoãn chuyến bay 9 tiếng

NEW DELHI, Ấn Độ (NV) – Một chuyến bay đường dài dự trù bay trực tiếp từ New Delhi, Ấn Độ, đến thành phố San Francisco phải bị hoãn lại hơn chín tiếng sau khi người ta phát giác một con chuột trên máy bay.

Nhật báo San Francisco Chronicle tường thuật theo tờ The Times of India nói rằng, vào lúc 2 giờ 30 sáng, lúc chiếc máy bay chở theo khoảng 200 hành khách đang lăn bánh trên phi đạo chuẩn bị cất cánh thì có người chợt trông thấy một con chuột.

Theo thủ tục, máy bay bắt buộc phải quay về trạm để diệt chuột, sát trùng.

Tiến trình mất hết sáu giờ khiến cả phi công lẫn phi hành đoàn không còn có thể tiếp tục với chuyến bay đường dài vì thời gian làm việc của họ đã đạt đến mức tối đa cho phép.

Vậy là máy bay phải nằm chờ thêm để có nhân viên phi hành mới đến thay thế.

Cuối cùng thì máy bay cũng cất cánh, đến San Francisco bị trễ mất 9 giờ 32 phút, và tổng số giờ bay là 17 tiếng.

Chuột dễ dàng quá giang lên máy bay qua hành lý hoặc xe tải cung cấp thức ăn.

Chúng không những gây nguy hiểm trong vấn đề vệ sinh mà còn có thể làm hư hại hệ thống điện nghiêm trọng.

Chuột thường có nhiều ở Ấn Độ vào mùa mưa vốn kéo dài từ Tháng Sáu đến Tháng Chín.

Vào mùa mưa, chuột từ hang của chúng chạy vào bên trong các tòa nhà, trong đó có cả các nhà bếp, nơi làm thức ăn đóng hộp cung cấp cho các chuyến bay. (TP)

TT Trump cho biết mọi giải pháp với Bắc Hàn đều được xét tới

Bắc Kinh không muốn Hà Nội ngả về phương Tây

BẮC KINH (NV) – Bắc Kinh lên giọng cảnh cáo Hà Nội là “đừng để phương Tây ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam.”

Tờ Hoàn Cầu Thời Báo, phó bản của tờ Nhân Dân nhật báo và chung trụ sở với tờ Nhân Dân nhật báo ở Bắc Kinh hôm Thứ Ba, 29 Tháng Tám 2017, viết bài bình luận với tựa đề như trên nhằm đe nẹt giới lãnh đạo chóp bu ở Hà Nội sau một số diễn biến liên tiếp thời gian gần đây làm mối quan hệ “16 chữ vàng” và “4 tốt” của ‘hai nước Cộng Sản anh em chùng xuống thấp.

Bài bình luận nói Việt Nam đã buộc công ty dò tìm dầu khí Repsol ngừng khoan tìm ở bãi Tư Chính, khu vực đặc quyền kinh tế trên thềm lục Việt Nam, hồi Tháng Bảy “sau khi Trung Quốc can thiệp” mà “một số người Tây phương bày tỏ thất vọng khi vấn đề được dàn xếp ôn hòa.”

Tờ Hoàn Cầu dẫn một câu mà họ cho là chế diễu của báo Washington Post nói Hà Nội “đặt hợp tác kinh tế hay sự đoàn kết cộng sản bên trên niềm tự hào quốc gia.”

“Với một hệ thống chính trị khép kín khiến các toan tính ngoại giao trở thành bí mật, hầu hết mọi người, kể cả giới chuyên gia, dù họ tự nhìn nhận, cũng hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra, điều đó tạo mảnh đất màu mỡ cho các suy đoán lung tung.” Báo Washington Post viết, tờ Hoàn Cầu trích lại.

Hoàn Cầu trích dẫn tiếp bài bình luận của báo Mỹ chỉ trích “sự hiện diện bị thu nhỏ lại của Mỹ (ở khu vực) đã cho Trung Quốc cơ hội hành động ở hậu trường” mà 10 nước ASEAN đang trôi dần “về hướng thân Trung Quốc” kể từ khi Tổng Thống Donald Trump lên cầm quyền.

“Việt Nam là thành viên cuối cùng (của ASEAN) công khai thúc đẩy một lập trường cứng rắn hơn để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Ðông” nhưng “bây giờ đang bị cô lập công khai trên vấn đề dùng luật pháp quốc tế để đẩy ngược lại Trung Quốc.”

Tờ Hoàn Cầu nói rằng báo Washington Post muốn hy vọng thấy Việt Nam tiếp tục chống lại Trung Quốc và nhiều người Tây phương nóng lòng muốn thấy Việt Nam đóng vai trò dẫn đầu trong việc chống Trung Quốc thì Hà Nội “chỉ là quân cờ cho Mỹ và Nhật đạt lợi thế địa chính trị…” trong khi “chỉ đổi được ít hậu thuẫn tinh thần và chút ít viện trợ.”

Tờ Hoàn Cầu dỗ dành rằng “Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng hữu nghị. Về mặt kinh tế, Bắc Kinh và Hà Nội là hai đối tác lớn nhất. Về chính trị, cả hai đều là nước xã hội chủ nghĩa cầm đầu bởi hai đảng Cộng Sản, chia sẻ rất nhiều thứ chung.” Cho nên “Hà Nội sẽ không chịu chống lại Bắc Kinh như một thứ tốt đen cho Mỹ dùng để kềm chế Trung Quốc trên Biển Ðông.”

Cuối cùng, Hoàn Cầu Thời Báo cảnh cáo rằng, “Hợp tác toàn diện có thể đem lại nhiều lợi ích hơn là tranh chấp trên biển, hai nước Trung Quốc và Việt Nam nên tránh không để sự hợp tác hữu hảo ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.” (TN)

Ba tuyến cáp quang biển Việt Nam đi quốc tế bị đứt cùng lúc

Little Saigon cầu nguyện cho các nạn nhân Cộng Sản

WESTMINSTER, California (NV) – “Hôm nay là ngày Lễ Cầu Nguyện Cho Những Nạn Nhân Của Cộng Sản Trên Toàn Thế Giới, và lần này là lần thứ ba tổ chức tại California. Hy vọng trong tương lai chúng ta sẽ có Ðài Tưởng Niệm Những Nạn Nhân Cộng Sản tại thành phố này.”

Ðó là lời ông Bùi Ðẹp, trung tâm trưởng Trung Tâm Ðiều Hợp Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Tây Nam Hoa Kỳ, kiêm trưởng ban tổ chức, nói về buổi lễ tưởng niệm do Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai phối hợp cùng Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Tập Thể Chiến Sĩ Trung Tâm Tây Nam Hoa Kỳ và các hội đoàn đứng ra tổ chức vào chiều Chủ Nhật, 27 Tháng Tám, tại Tượng Ðài Chiến Sĩ Việt Mỹ ở thành phố Westminster.

Ông Ngô Thiện Ðức, phó ban tổ chức, đại diện cho Ðoàn Thể Trẻ Cao Ðài Nam California, nói: “Lễ tưởng niệm này để chúng ta nhắc nhở, thứ nhất là chúng ta cầu nguyện cho những người đã chết vì sự tàn ác của Cộng Sản, cầu ơn trên cho hương linh họ được về cõi thiêng liêng hằng sống. Thứ hai là để chúng ta nhắc nhở mọi người nhớ lại sự tàn ác của Cộng Sản đối với dân tộc Việt Nam của chúng ta, mà chế độ phi nhân, độc đảng, độc quyền, nhưng hèn với giặc và ác với dân. Vì thế, chế độ Cộng Sản trước sau gì cũng đi vào trong bóng tối.”

Quan khách niệm hương. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Sau khi kể vài điển hình tội ác của Cộng Sản trên thế giới và Cộng Sản Việt Nam, ông Bùi Ðẹp nói: “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi xâm lăng chiếm trọn miền Nam Việt Nam, Cộng Sản Hà Nội đã biến miền Nam thành một vùng biển máu: nhà tù, chém, giết, tử hình, cướp nhà, cướp của, hãm hiếp,… Người dân lương thiện miền Nam kinh hoàng, hoảng hốt bỏ chạy khỏi quê hương tán loạn, không còn dám nhìn lại mái nhà thân yêu của mình, dù chỉ một lần… Vì thế, ngày nào Cộng Sản Hà Nội còn cầm quyền, ngày đó quê hương ta còn điêu linh, thống khổ, và quê hương ta còn chậm tiến, lạc hậu.”

Sau lễ đặt vòng hoa của ban tổ chức là lễ niệm hương do Hội Bô Lão Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai thực hiện.

Lễ dâng hương do đại diện Hội Ðồng Liên Tôn, gồm Hòa Thượng Thích Chơn Thành, phó thượng thủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Trên Thế Giới, viện chủ chùa Liên Hoa, Garden Grove; Giáo Sư Nguyễn Thanh Giàu, hội trưởng Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo Miền Nam California; Chánh Trị Sự Hà Vũ Băng, quyền đầu tộc, Tộc Ðạo Orange, và quý lãnh đạo tinh thần gồm Hòa Thượng Thích Nguyên Trí, đệ nhất phó chủ tịch nội vụ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, viện chủ chùa Bát Nhã, Santa Ana, và Mục Sư David Huỳnh.

Mở đầu chương trình văn nghệ đấu tranh, nhạc sĩ Cao Minh Hưng, trưởng nhóm CLB Tình Nghệ Sĩ, cho biết: “Hôm nay, chúng tôi hợp ca bài ‘Thắp Sáng Việt Nam’ của Anh Bằng và Cao Minh Hưng. Ý nghĩa của ngọn đuốc thắp sáng trong bài nhạc này là nói lên sự soi sáng cho tình trạng màu đen tối đang bao trùm trên quê hương của mình do bị chế độ tàn ác của Cộng Sản cai trị. Ánh đuốc là niềm hy vọng, một niềm tin để chuyển về cho đất nước, dân tộc Việt Nam để trong tương lai, quê hương của chúng ta sẽ được tự do, dân chủ và nhân quyền.”

CLB Tình Nghệ Sĩ đồng ca bài “Thắp Sáng Việt Nam.” (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Ông Sơn Ðỗ, cư dân Westminster, thành viên Hội Cảnh Sát Quốc Gia VNCH Nam California, nói: “Sở dĩ chúng tôi hát bài ‘Ðáp Lời Sông Núi’ của nhạc sĩ Trúc Hồ vì hiện tại tình hình của đất nước rất nguy hiểm. Và bài nhạc này cũng để nói lên tinh thần của người Việt hải ngoại vẫn quan tâm tâm đến quê hương, dân tộc Việt Nam, cũng nhằm để khuyến khích đồng bào trong nước, kể cả những người trong quân đội đang phục vụ cho chế độ hiện tại, vì họ là những thành phần trẻ tuổi có nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và dân tộc, họ phải đứng lên đáp lời sông núi là phải chống lại nhà nước Cộng Sản, và không để đất nước lọt vào tay của Trung Cộng. Ðó là lý do chúng tôi hát bài này.”

Trong số ca sĩ tham dự có nhạc sĩ Vũ Hùng, trong Ban Tù Ca Xuân Ðiềm, hát bài “Sài Gòn Trong Trái Tim Ta” do chính tác giả hát.

“Tôi viết bài này sau khi Sài Gòn bị đổi tên, sự đổi tên này đã gây cho người Việt rất căm phẫn, và cho đến bây giờ vẫn không thể nguôi được. Nội dung của bài này tôi có viết tặng cho tất cả những người lính VNCH bị lưu đày trong chế độ Cộng Sản bằng cái tên ‘cải tạo.’ Theo tôi, đối với những chiến sĩ VNCH không có gì để cải tạo cả, bởi vì họ không có làm một điều gi sai trái để cải tạo, có chăng đó chỉ là một cái lớp màu mè để che đậy ngục tù của Cộng Sản mà thôi,” ông Hùng chia sẻ.

Ông Nguyễn Minh, trung tâm trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Thể Dục và Võ Thuật Việt Nam, nói: “Hôm nay, chúng ta là những nhân chứng sống còn lại để kể về tội ác của Cộng Sản. Ðối với những thế hệ kế tiếp, chúng ta cần hướng dẫn các em để cho các em biết về vị trí và trách nhiệm của mình đang sống trên nước Mỹ. Và cũng nhắc nhở cho các em luôn tưởng nhớ đến sự hy sinh của tiền nhân cũng như sự hy sinh của những chiến sĩ VNCH để bảo vệ mảnh đất tự do của chúng ta.”

Ông Đặng Phú

Tin mới cập nhật