Matta Đoàn Thị The

Vincentê Trần Đức Dũng

Huntington Beach: Xác định danh tánh người bị bắn gần trung học Marina

HUNTINGTON BEACH, California (NV) – Hôm Thứ Sáu, 22 Tháng Chín, anh Dilian Tabares ẩu đả với một cảnh sát viên trước cửa tiệm 7-Eleven, đối diện trường trung học Marina, Huntington Beach. Anh này bị bắn bảy phát rồi qua đời trong bệnh viện.

Theo tin của nhật báo The Orange County Register, anh Brandon Tabares, anh trai của anh Dilian, kể rằng em trai 27 tuổi của mình là một cựu binh sĩ hải quân, và đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn từ những thất bại trong thời gian tại ngũ và thuốc phiện.

Theo lời của anh Brandon, anh Dilian là một người sinh ra ở Huntington Beach, và từng đi hải quân cho đến khi giải ngũ hồi năm 2012.

Phát ngôn viên Hải Quân Cullen James cho biết anh Dilian nhập ngũ hồi năm 2008, từng nhận được vài huy chương trong thời gian tại ngũ, rồi giải ngũ hồi Tháng Tư, 2012.

Ông Cullen cho biết ông không được phép tiết lộ chi tiết về việc anh Dilian giải ngũ.

Theo một thông điệp trên Facebook, hồi Tháng Ba, 2012, anh Brandon có vẻ như đang nói ám chỉ về những khó khăn trong thời gian quân ngũ của mình.

Thông điệp ghi: “Hồi đầu năm, tôi có một căn nhà bốn phòng ngủ và ba chiếc xe. Tôi còn có một công việc tốt và tương lai sán lạn. Bây giờ, tôi chỉ còn có sự tự do của mình, nhưng tự do này cũng sắp mất rồi.”

“Tất cả mọi thứ hỏng hết rồi. Tôi làm hỏng tương lai mà mình ráng gầy dựng trong suốt bốn năm nay. Giờ thì mất hết tất cả rồi, từ giấy phép an ninh, rồi $45,000 tiền học, và ba chứng chỉ IT tôi đang học,” thông điệp ghi tiếp.

Anh Brandon kể thêm rằng trong những ngày tháng cuối trong hải quân, anh Dilian bắt đầu hút rất nhiều cần sa để đối chọi với trầm cảm, và một cuộc hôn nhân không thành.

Sau khi anh Dilian giải ngũ, hai anh em này đeo ba lô đi khắp nước Mỹ rồi về sống chung với nhau tại miền Nam California.

Sau một thời gian, anh Dilian bắt đầu sử dụng methamphetamine, hay còn được gọi là ma túy đá, rồi bỏ nhà để ở ngoài đường.

Lần cuối cùng anh Brandon gặp em trai của mình là vào Tháng Mười Một năm ngoái. Sau khi gặp, anh Bradon kêu em trai về sống chung tại căn nhà ở Costa Mesa.

Anh Brandon còn tổ chức một bữa tiệc mừng em trai quay về, nhưng không thành công.

“Bạn bè tôi ai cũng chào mừng nó quay về, nhưng nó không chịu,” anh Brandon kể.

Anh cho biết không có gì ngạc nhiên khi nghe tin em trai mình ẩu đả với cảnh sát rồi bị bắn chết.

“Dilian không phải là một người hay đi kiếm chuyện với người khác. Nhưng nếu có ai đụng nó, nó không ngại phản kháng đâu,” anh Brandon kể.

Cuộc đụng độ với cảnh sát hôm Thứ Sáu, xảy ra trước tiệm 7-Eleven ở đối diện trường trung học Marina, nơi anh Dilian từng học.

Có ít nhất hai nhân chứng quay phim lại được cuộc ẩu đả giữa anh Dilian và cảnh sát viên.

Một video cho thấy cảnh sát viên vừa đi lùi lại vừa kêu anh Dilian ngồi xuống, nhưng anh này chạy lại và đấm cảnh sát viên này hai lần.

Cảnh sát viên này vật anh Dilian xuống đất, và hai người tiếp tục giằng co.

Sau khi bị đấm vài lần, anh Dilian đưa tay lên thắt lưng của cảnh sát viên này, rồi lấy được một món đồ gì từ đó ra.

Sau đó, cảnh sát viên này buông anh ra, rồi đứng dậy và bắn anh bảy phát.

Một video, của một nhân chứng khác, cho thấy cảnh anh Dilian loạng choạng, rồi ngã vào cửa kính của tiệm 7-Eleven. Video còn cho thấy có một vật thể màu đen rơi từ tay anh ra.

Cảnh sát viên không bị thương tích gì hết.

Anh Brandon không rõ lý do tại sao anh Dilian lại đi tấn công cảnh sát như vậy, nhưng anh nghĩ rằng em trai mình đang chán sống.

“Chắc nó mệt mỏi quá rồi, nó muốn đi đến một kết cục đẹp hơn.” anh Brandon nói.

Cảnh sát vẫn chưa cho biết nguyên nhân gì dẫn đến cuộc ẩu đả giữa hai người, và tại sao cảnh sát viên này có mặt ở tiệm 7-Eleven vào thời điểm đó.

Ông Robert Handy, cảnh sát trưởng Huntington Beach, cho biết cảnh sát viên này ráng dùng súng điện để hạ gục anh Dilian.

Ông Handy còn nói thêm rằng việc dùng súng thật để bắn anh Dilian là đúng vì cảnh sát viên này bị anh tấn công. (TL)

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Ba, ngày 26 tháng 9 năm 2017

Giá tăng, nhưng nhiều người vẫn không bán được nhà

(CNBC) – Cả giá nhà lẫn nhu cầu về nhà ở đang gia tăng, và các địa ốc viên đang chật vật tìm người muốn bán nhà. Những điều đó có vẻ như là một mơ ước đối với bất cứ chủ nhà nào muốn bán nhà. Tiếc thay, gần 3 triệu chủ nhà vẫn không thể bán được căn nhà của họ.

Theo CoreLogic, gần một chục năm sau khi thị trường nhà đất khởi sự hồi phục, 5.4% mọi bất động sản có vay tiền thế chấp vẫn ở trong tình trạng nợ nhiều hơn trị giá căn nhà của họ. Tuy nhiên tỉ lệ đó đã cải thiện nhiều so với một năm trước đây, khi 7.1% các bất động sản có thế chấp ở trong tình trạng nợ nhiều hơn trị giá nhà.

Kể từ khi giá nhà liên tiếp sụt giảm, xuống tới mức thấp nhất vào năm 2009, các chủ nhà đã chứng kiến những gia tăng có vẻ đều đặn về trị giá căn nhà thuộc về họ (home equity), tức trị giá thị trường của căn nhà trừ đi số tiền mà họ còn nợ, những gia tăng này trở nên vững chắc kể từ năm 2013. Trong năm ngoái, các chủ nhà gia tăng tài sản bị cầm cố của họ tổng cộng khoảng $766 tỉ.

Trong ba tháng cuối cùng của năm 2009, hơn một phần tư mọi căn nhà còn nợ tiền thế chấp ở trong tình trạng nợ nhiều hơn trị giá nhà (equity âm). Trên toàn quốc, các chủ nhà tính chung vẫn phải cần $284 tỉ mới cân bằng được tiền nợ và trị giá nhà.

Trị giá căn nhà thuộc về các chủ nhà đã lên tới $8 ngàn tỉ trong tam cá nguyệt thứ nhì của năm 2017, tức hơn gấp đôi so với mức được ghi nhận chỉ mới năm năm trước, theo ông Frank Martell, chủ tịch kiêm tổng giám đốc của CoreLogic. Sự gia tăng nhanh chóng về equity không những giảm bớt rủi ro cho các ngân hàng thế chấp mà còn hỗ trợ sự chi tiêu của giới tiêu thụ và sự phát triển kinh tế.

Sự gia tăng equity cũng giúp ích những người đang gần như mắc nợ nhiều hơn trị giá nhà, có nghĩa họ có một ít equity trong những căn nhà của họ nhưng không đủ để trang trải phí tổn trong việc mua nhà mới, hoặc ngay cả phí tổn dọn nhà hoặc thuê nhà. Gần 710,000 bất động sản có equity chưa tới 5%.

Equity âm là một trong những lý do chính giải thích tại sao có ít nhà bán như vậy. Số nhà bán trên thị trường lại sụt giảm trong Tháng Tám,  theo Hiệp Hội Địa Ốc Toàn Quốc (NAR) sự sụt giảm lên tới hơn 6% so với một năm trước.

Với thị trường việc làm đang mạnh, tình trạng nhân khẩu thuận lợi và lãi suất thế chấp nhà ở mức thấp nhất, tạo thuận lợi cho khả năng mua nhà, thị trường mua bán loại nhà hiện hữu đáng lẽ sẽ tăng vọt thay vì diễn ra ì xèo, theo bà Svenja Gudell, kinh tế gia trưởng của Zillow, khi phản ứng trước báo cáo của NAR về tình trạng mua bán nhà yếu kém. Tất cả những yếu tố đó đáng lẽ sẽ có hiệu quả thúc đẩy, nhưng chúng đang bị đè nén bởi sự kiện giản dị là có rất ít nhà thực sự được cung cấp trên thị trường để mua.

Bà Gudell ghi nhận rằng một nửa số nhà được cung cấp trên thị trường nhà bán có giá cao, không đáp ứng được nhu cầu mạnh nhất ở mức giá thấp hơn.

Tình trạng equity âm, cũng như mọi điều khác trong ngành địa ốc, thay đổi tùy theo thị trường địa phương. Các thị trường với số bất động sản còn nợ thế chấp và có equity âm là Miami (14.7%), Las Vegas (12.2%), Chicago (10.8%) và vùng đô thị thuộc Washington D.C. (7.2%).

Ngoài ra, mặc dù nhà trống trải vì con cái đã ở riêng, nhiều người thuộc thế hệ hậu chiến vẫn ở lại những căn nhà lớn của họ, và theo bà Gudell, đó là lý do tại sao tình trạng thiếu hụt nhà không cải thiện. (N.N)

Mời độc giả xem phỏng vấn “Cô gái gốc Việt chế cải lương dạy Việt ngữ trên Youtube hơn 2 triệu người xem”(Phần 1)

Dân biểu quỳ gối ở Hạ Viện bày tỏ đoàn kết với cầu thủ football

WASHINGTON, DC (NV) – Nữ Dân Biểu Sheila Jackson Lee (Dân Chủ-Texas) vào đêm Thứ Hai quỳ gối trên sàn Hạ Viện để bày tỏ sự đoàn kết với các cầu thủ đội football NFL, những người thách thức Tổng Thống Donald Trump để phản đối sự bạo hành của cảnh sát.

Theo trang mạng TheHill, bà Jackson Lee, một thành viên của Nhóm Dân Biểu Da Đen, phê phán ông Trump khi ông lên án các cầu thủ NFL vì họ quỳ gối trong buổi lễ chào cờ tại cuộc thi đấu để thu hút sự chú ý đến sự ngược đãi người Mỹ gốc Phi Châu của nhân viên công lực.

Bà Jackson Lee nói: “Tôi quỳ gối trước lá quốc kỳ và trên sàn Hạ Viện này để vinh danh họ.”

“Tôi quỳ gối để vinh danh Tu Chính Án Thứ Nhất. Tôi quỳ gối vì lá cờ là biểu tượng của sự tự do. Tôi quỳ gối vì tôi chống lại sự kỳ thị chủng tộc. Tôi quỳ gối vì tôi sát cánh bên những người trẻ đó và bên các chiến binh của chúng ta. Tôi đứng về phía nước Mỹ vì thế mà tôi quỳ gối,” bà Jackson Lee tiếp.

Anh Colin Kaepernick, cựu quarterback của đội San Francisco 49ers, là người đầu tiên gây nên sự tranh cãi hồi năm ngoái khi quỳ gối trong suốt buổi chào quốc kỳ.

Hôm Thứ Sáu, ông Trump khơi dậy cuộc tranh cãi tại một cuộc tập hợp ở Alabama, khi nói: “Quí vị có thể nào mến mộ một trong những chủ nhân của NFL này được không, khi có người dám bất kính đối với lá cờ của chúng ta, để nói rằng ‘tên chó đẻ cút khỏi sân ngay lập tức. Đuổi cổ hắn đi.’”

Ông Trump tiếp tục khơi thêm ngọn lửa hồi cuối tuần, qua nhiều tweet gửi đi hôm Chủ Nhật, rằng “người ái mộ thể thao chớ nên tha thứ cho cầu thủ nào không bày tỏ niềm hãnh diện đối với quốc thiều hay tổ quốc họ. NFL cần phải thay đổi chính sách của mình!”

Chủ nhân nhiều đội banh cùng các cầu thủ phản ứng chống lại ông Trump bằng cách đồng loạt quỳ gối, vòng tay vào nhau, hoặc ở trong phòng thay đồ, không ra chào cờ trong các trận thi đấu của NFL hôm Thứ Bảy và Chủ Nhật.

Và hôm Thứ Hai, toàn đội Dallas Cowboys, gồm chủ nhân Jerry Jones, quỳ gối trước buổi lễ chào cờ trước khi bắt đầu trận đấu với đội Arizona Cardinals. (TP)

TT Trump đổ thừa Thượng Nghị Sĩ McCain làm luật y tế mới thất bại

Đại Hội Liên Hoan Sách, ngày hội của văn nhân

GARDEN GROVE, California (NV) – Không ồn ào, không náo nhiệt, không có những câu nói đùa oang oang vô bổ, buổi Đại Hội Liên Hoan Sách do Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại tổ chức hôm Thứ Bảy, 23 Tháng Chín, tại Thiền Viện Sùng Nghiêm, Garden Grove, diễn ra trong không khí trầm lắng và thân mật với phong cách nhẹ nhàng, điềm đạm của những người từng sáng tác.

Tại đây, một số thành viên Văn Bút như Tố Anh, Hồ Phi, Vũ Văn Hòa, Kiều Giang, Trần Văn Thống, Dược Sĩ Vũ Tuyết Yên cùng nhau chia sẻ những ưu tư của người cầm bút, những công việc mà thành viên của Văn Bút nên làm đối với đồng hương tại hải ngoại, cũng như trong nước.

“Đây là lần đầu tiên chúng tôi tổ chức liên hoan sách tại Nam California. Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại là một hội chuyên môn, nhằm mục đích vinh danh những người cầm bút,” ông Vũ Văn Tùng, chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, nói.

“Tổ chức một đại hội này là điều mà mọi người trong Văn Bút ấp ủ nhiều năm, và mãi đến bây giờ mới thực hiện được. Tôi hy vọng đại hội này có tác dụng khởi đầu cho những sinh hoạt văn học, nghệ thuật khác trong nhiều năm tới,” ông tâm sự.

Hoài bão lớn lao của Văn Bút, theo ông Tùng, là tạo điều kiện cho những thành viên thoát ra khỏi cái tháp ngà của mình để đóng góp tích cực và hữu hiệu trong mọi sinh hoạt cộng đồng.

Ông Đinh Mộng Lân, tổng thư ký, nói: “Điều kiện để gia nhập Văn Bút là phải có tối thiểu hai tác phẩm và phải sinh hoạt trong hội thường xuyên.”

Ông Lân từng sáng tác nhiều tác phẩm như Việt Nam Lịch Sử Anh Hùng Ca Trầm Tư Thế Kỷ, Chủ Nghĩa Hòa Bình và Hoa Kỳ Lịch Sử Thế Giới Ca.

Một thành viên khác, ông Trần Đức Hân, chia sẻ cuốn sách của mình là Tiếng Việt Đáng Yêu.

Qua đó, ông nghiên cứu về sự hình thành của ngôn ngữ Việt, từ khi còn bị ảnh hưởng của chữ Hán đến chữ Nho, chữ Nôm rồi chữ Quốc Ngữ.

Cuốn Tiếng Việt Đáng Yêu của ông theo dõi lịch sử thăng trầm của ngôn ngữ Việt qua bao nhiêu triều đại hưng vong.

Vài cuốn sách do ông Vũ Văn Tùng biên soạn. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ông cho biết ngôn ngữ Việt còn tồn tại được là do con dân nước Việt, chứ các vua qua của triều đình ngày xưa, trừ vua Quang Trung, chỉ trọng chữ Hán mà thôi.

“Tôi yêu tiếng Việt lắm, nhưng mấy cuốn mới nhất của tôi là bằng tiếng Anh vì tôi muốn con cháu mình sau này còn đọc được và hiểu được về văn chương Việt Nam. Mấy cuốn sách này của tôi đều do Mỹ ấn hành,” ông Hân nói.

Những cuốn viết bằng tiếng Anh của ông là The Clan Divided, Women Victims Of Wars, và Solving the Adversities.

Văn Bút Việt Nam ra đời, dựa trên tinh thần của Văn Bút Quốc Tế, một hiệp hội được thành hình năm 1926, gồm các tác giả của 104 quốc gia tham dự, theo ông Tùng.

Văn Bút Việt Nam là thành viên của Văn Bút Quốc Tế.

Văn Bút Việt Nam được thành lập năm 1957 và kéo dài đến Tháng Tư, 1975.

Những cây bút thuộc Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng& là những thành viên đầu tiên của Văn Bút Việt Nam, theo ông Tùng.

Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại được Văn Sĩ Minh Đức Hoài Trinh gầy dựng năm 1979 lại Paris, Pháp, để tiếp tục là hội đoàn cho những người Việt Nam còn mang nợ bút nghiên.

——-

Liên lạc tác giả: [email protected]

Giá nước cam tăng lên sau bão Irma

MIAMI, Florida (NV) — Ảnh hưởng của bão Irma đối với kỹ nghệ trồng cam ở Florida sẽ khiến nước cam tăng giá, và cũng tạo thiệt hại lâu dài cho kỹ nghệ này.

Bản tin của hãng thông tấn UPI cho hay giá nước cam có thể tăng thêm $2.30 mỗi gallon, theo các chuyên gia thị trường.

Tuy nhiên, mức gia tăng sẽ tùy thuộc vào khả năng gia tăng xuất cảng của Brazil để bù đắp cho thiếu hụt tại Mỹ.

Tháng Chín và Tháng Mười là hai tháng quan trọng cho kỹ nghệ trồng cam, vì đây là mùa chín tới.

Hiện có ước tính là khoảng 30% đến 70% vụ mùa cam ở Florida bị thiệt hại do bão Irma, bản tin UPI cho hay.

“Có một số nhân viên đi thanh tra cho công ty bảo hiểm cho hay thiệt hại có nơi lên tới 100%,” theo Adam Putnam, ủy viên nông nghiệp Florida. “Vẫn còn những vườn cam bị ngập nước. Mặt đất đầy trái cam rụng hư thối, các cây cam bị rụng hết lá,” ông Putnam cho biết thêm.

Ông Putnam nói rằng để cho kỹ nghệ quan trọng này của Florida phục hồi trở lại, việc trợ giúp tài chánh từ liên bang là điều phải có.

“Bão Irma tàn phá kỹ nghệ cam của chúng ta,” ông nói. “Con đường của trận bão này gây ra tổn thất nặng nề nhất cho nông nghiệp và cam của Florida.”

Tuy nhiên, ông Putnam khẳng định là “chúng ta sẽ đứng dậy, trồng lại và phục hồi.” (V.Giang)

Khoảng 1/3 nhân viên Nội Vụ không trung thành với TT Trump

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: 1968-1975 (RVNAF, 1968-1975)

Lời người dịch: Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 Tháng Ba năm 2006.

Trong số nhiều diễn giả Việt Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm trung thực và thẳng thắn nhất của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm, song song với những ý kiến không quanh co che đậy về giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Việt Nam. Bài này dịch thuật nguyên văn bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày lại, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ.

Trong bản dịch dưới đây, những chữ in nghiêng trong ngoặc đơn là chú thích thêm của người dịch để làm rõ nghĩa câu văn Mỹ của tác giả, những chữ in đậm là nguyên văn tiếng Việt mà tác giả viết trong tài liệu. Hình ảnh lấy từ website của Trung Tâm Việt Nam, Lubbock, Texas.

“…cần phải nhìn nhận rằng QLVNCH đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ. – Bill Laurie, Historian

QLVNCH thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới truyền thông tin tức (Hoa Kỳ) lưu ý, và nhìn chung thì đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là “sách sử.” Một phần nguyên nhân của sự kiện này là do bản chất và tầm mức của sự thay đổi không dễ được tiên đoán hay tiên kiến, dựa trên hiệu quả hoạt động và khả năng của QLVNCH trước năm 1968.

Bài này không hề muốn chối bỏ những vấn đề nghiêm trọng đã hiện hữu, hay chối bỏ rằng vấn đề tham nhũng, lãnh đạo kém cỏi không tiếp tục gây họa cho khả năng của QLVNCH bảo vệ đất nước họ. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó những vấn đề này có được giải quyết, và những khía cạnh tích cực của QLVNCH không thể bị xóa khỏi trang lịch sử vinh quang.

Tôi đã tự chứng nghiệm điều này, khi đến Việt Nam cuối năm 1971, phục vụ 1 năm tại MACV, rồi sau đó trở lại thêm hai năm, từ 1973-1975, làm việc ở phòng Tùy Viên Quân Sự.

Khởi thủy, được huấn luyện và dự trù phục vụ như một cố vấn, tôi tham dự khóa huấn luyện căn bản sĩ quan lục quân tại Fort Benning, Georgia, tình báo chiến thuật và chuyên biệt về Ðông Nam Á ở Ft. Holabird, Maryland, và học trường Việt ngữ tại Ft. Bliss, Texas. Tới Việt Nam thì được biết những nhiệm vụ cố vấn đang được giảm dần để đi đến chỗ bỏ hẳn; nên thay vào đó tôi được chỉ định vào MACV J-2 với cương vị một chuyên viên phân tích tình báo, trước hết phụ trách Cambodia, rồi tập trung vào Quân Khu IV, bao quát toàn vùng đồng bằng châu thổ sông Mekong. Công việc này mở rộng một cách không chính thức để bao gồm công tác liên lạc giữa Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, các toán cố vấn Mỹ, các chính quyền tỉnh của Việt Nam, và cả các đơn vị QLVNCH ở vùng IV.

Trong 3 năm đó, tôi có mặt lúc chỗ này, lúc chỗ khác, trên khắp 18 trong số 44 tỉnh của VNCH, liên lạc không những với các đơn vị Mỹ và VNCH mà cả với người Úc, cơ quan viện trợ Mỹ USAID, và CIA. Khi thì đứng vào vị trí rất cao cấp trong những buổi thuyết trình ở tổng hành dinh của MACV cũng như ở Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tuần lễ sau đó tôi có thể đã lội trên những ruộng lúa tỉnh Kiến Phong cùng với các binh sĩ Ðịa Phương Quân, hay bay ngang tỉnh Ðịnh Tường trên một chiếc trực thăng Huey của QLVNCH, hoặc là nằm trong căn cứ Biệt Ðộng Quân Trà Cú bên sông Vàm Cỏ Ðông.

Nói tiếng Việt là điều vô cùng quan trọng, và trong vòng một tháng sau khi tới Việt Nam, thật rõ ràng hiển nhiên là những điều tôi từng nghe ở Mỹ, dù là tin tức báo chí hay là những cuộc thảo luận ngốc nghếch trong các trường đại học, mà có thể diễn tả được những gì tôi đang trải qua và gặp phải. Nói vắn tắt, tôi tự hỏi: “Nếu tất cả những người ở Mỹ quả là đang nói về Việt Nam, thì mình đang ở nơi nào đây?”

Những thời khắc ngoài giờ làm việc của tôi được dàn trải trọn vẹn trong một kích thước thực tế hoàn toàn Việt Nam. Dù là ở Sài Gòn, Cao Lãnh, hay Rạch Giá, tôi cũng lui tới những cái quán nhỏ, với những bàn cà-phê, mì, cháo… háo hức lắng nghe người dân người lính Việt Nam nói chuyện, tôi hỏi han, và học được thật nhiều, nhiều hơn những gì tôi từng học ở Hoa Kỳ.

***

Sự học tập của tôi không dừng lại ở năm 1975. Từ đó đến nay tôi đã đọc hằng feet khối những tài liệu giải mật và hằng trăm cuốn sách, kể cả những tác phẩm tiếng Việt, phỏng vấn đến mức từ kỷ lục này qua kỷ lục nọ những người cựu chiến binh gốc Ðông Nam Á và gốc Hoa Kỳ, săn tìm trong hằng trăm trang web Việt Nam và Ðông Nam Á trên Internet. Vẫn còn rất nhiều điều về Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan hơn là những gì công chúng Hoa Kỳ tưởng, và những kết luận do những người ở những xứ ấy tự trình bày lên thì lại không phù hợp với những gì mà hầu hết mọi con người (ở Mỹ) tưởng là họ biết.

Quả là có những vấn đề nghiêm trọng về tham nhũng. Ðúng là có những tấm gương về lãnh đạo bất xứng. Tuy nhiên, chẳng phải ai nói hay gợi ý gì với tôi, mà chính là ngay lần đầu tiên đến vói Sư Ðoàn 9 Bộ Binh VNCH, tôi đã phát giác khả năng dày dạn và đầy chuyên nghiệp trong những hoạt động mà tôi chứng kiến ở một trung tâm hỏa lực cấp sư đoàn. Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Ðoàn 7 Bộ Binh VNCH, cái đơn vị mãi bị kết tội vì khả năng chiến đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đã biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lãnh đạo chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một tì vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đã được người Việt Nam tôn sùng đúng mức.

Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những một mà tới ba trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội. Họ đã nhai nát và nhổ phun ra nguyên cả lực lượng tấn kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó. Ðịa Phương Quân không được Pháo Binh và Không Quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy VNCH, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến. Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh. Nếu quân Bắc Việt đánh thủng được chiến tuyến này thì họ đã lập tức trực tiếp đe dọa Sài Gòn, chỉ cách đó 25 dặm, buộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh VNCH phải rút khỏi quốc lộ 13, từ đó để cho lực lượng Bắc Việt hướng thẳng vào An Lộc. Và như Tiến Sĩ James H. Willbanks viết trong tác phẩm xuất sắc của ông (về trận An Lộc), Sư Ðoàn 21 tuy không thành công trong việc phá vòng vây An Lộc nhưng cũng đã buộc Bắc Việt phải đưa một sư đoàn đổi hướng khỏi chiến trường An Lộc, nếu không, nơi này có thể đã sụp đổ với những hậu quả khốc liệt.

Nói vắn tắt, QLVNCH, một cách toàn diện, đã có khả năng cao hơn nhiều so với những gì tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những gì được chuyển tới cho người dân Mỹ.

Ngày trước… và ngày nay cũng vậy.

***

Trở lại thời kỳ đang thảo luận trong bản thuyết trình này, ai cũng biết QLVNCH vướng mắc nhiều vấn đề trầm trọng. Ðiều này là hiển nhiên. Nếu không như vậy thì đã chẳng cần phải yêu cầu những đơn vị chiến đấu của Hoa Kỳ, Úc, Nam Hàn, Thái Lan và New Zealand tới đó.

Tuy nhiên, còn có những chỉ dấu cho thấy lực lượng VNCH khi được trang bị đúng mức và chỉ huy tốt đẹp thì sẽ có khả năng tới đâu. Năm 1966, một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân VNCH đã gây thiệt hại nặng và đã “giúp” giảm quân số chỉ còn 1 phần 10 cho một trung đoàn Bắc Việt đông gấp ba lần họ ở Thạch Trụ. Tiểu đoàn này được Tổng Thống Johnson tặng thưởng “Huy chương của tổng thống Hoa Kỳ.” Ðại Úy Bobby Jackson, cố vấn tiểu đoàn này, đã mô tả người đối tác của ông, Ðại Úy Nguyễn Văn Chinh (hay Chính?), như là con người tuyệt nhiên không hề sợ hãi. Tiểu Ðoàn 2 TQLC, mang huy hiệu Trâu Ðiên, đã từng bắt nạt nhiều đơn vị Cộng Sản miền Nam và chính quy Bắc Việt, chứng tỏ sự xứng hợp của huy hiệu “Trâu Ðiên” (càng có ý nghĩa đối với những ai đã từng gặp phải một con trâu đang nổi giận và bị nó ăn hiếp!) Công trạng của họ không hề được tường trình trong giới truyền thông tin tức của Hoa Kỳ, và về sau cũng bị bỏ quên trong cái gọi là “lịch sử”…

Năm 1968, trong bối cảnh cuộc Tổng Công Kích 68 thất bại của Hà Nội, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ thấy rõ là kế hoạch Việt Nam hóa phải được tăng tiến, nhưng nhiều người (Mỹ) lại lầm tưởng đó là ranh giới giữa hai thời kỳ: thời kỳ QLVNCH không chiến đấu, và bây giờ là lúc họ bắt đầu chiến đấu. Thái độ này đã bỏ quên dữ kiện là mức tử vong vì chiến sự hằng tháng của QLVNCH đã vượt xa mức tổn thất trong toàn cuộc chiến của tất cả các lực lượng đồng minh cộng lại.

Rốt cuộc thì QLVNCH cũng được cung cấp vũ khí tối tân, thay thế những trang bị thời thế chiến thứ hai mà hầu hết quân lực này phải sử dụng (khoảng đầu năm 1968 chỉ có 5% quân đội VNCH được trang bị súng M16), nhìn chung thì thua kém vũ khí của Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt. Ðồng thời, quân số cũng tăng tiến, theo như bảng dưới đây trình bày: (bảng ghi những con số gia tăng quân số của các lực lượng chính quy và Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, từ năm 1968 đến năm 1972, cho thấy quân số tổng cộng tăng 28%, từ 820 ngàn lên 1 triệu 48 ngàn quân. Trong đó, Không Quân gia tăng quân số tới 163%, Hải Quân tăng 110%, Lục Quân tăng gần 8% quân số).

Trong bảng này, nhóm từ Anh ngữ ARVN, tức the Army of Republic of Vietnam, có nghĩa là Lục Quân Việt Nam, chỉ bao gồm 38% QLVNCH (tác giả không đồng ý dùng nhóm chữ ARVN để chỉ QLVNCH, và ông dùng nhóm chữ RVNAF, Republic of Vietnam’s Armed Forces). Ngoài ra còn những thành phần khác, gồm Cảnh Sát Dã Chiến, Nhân Dân Tự Vệ, và các Toán Xây Dựng Nông Thôn. Lực lượng Xây Dựng Nông Thôn không được coi là lực lượng chiến đấu, còn lực lượng Nhân Dân Tự Vệ thường bị chế diễu nhưng (những lực lượng này) cũng là chướng ngại cho quân Việt Cộng và quân đội Bắc Việt (North Vietnam’s Army trong nguyên bản). Có lần một toán Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn đã đẩy lui cả một tiểu đoàn Việt Cộng ở tỉnh Vĩnh Long. Các toán viên biết gọi pháo binh của tỉnh yểm trợ. Chuyện này cũng không được biết đến để ghi nhận vào tài liệu.

Thành phần của lực lượng Nhân Dân Tự Vệ thì quá trẻ, hay quá già, hay vì thương tật nên không gia nhập quân đội chính quy, chỉ phục vụ như lực lượng phòng vệ làng ấp chống lại những toán thu thuế, tuyển mộ, hay tuyên truyền của Cộng Sản địa phương. Nhưng Nhân Dân Tự Vệ cũng là một yếu tố mà Cộng Sản địa phương phải đối phó sau năm 1968. Trước đó không có lực lượng này, Việt Cộng ở địa phương tự do đi vào ấp xã lúc ban đêm. Nhiều lúc Nhân Dân Tự Vệ không có hiệu quả, nhiều khi họ bị tuyên truyền để đi theo Việt Cộng, nhưng có nhiều lúc khác lại có những báo cáo như sau: (trích từ các sách vở của các tác giả người Mỹ).

“Hai Việt Cộng đang bắt cóc một Nhân Dân Tự Vệ thì một Nhân Dân Tự Vệ khác xuất hiện, bắn chết hai Việt Cộng này bằng súng M.1 (không ghi rõ garant hay carbine), tịch thu được một súng AK47 và một súng lục 9 ly.”

Và “cả hai ấp Prey Vang và Tahou đêm nay bị bắn súng nhỏ và B-40. Nhân Dân Tự Vệ địa phương đẩy lui hai toán trinh sát nhẹ.”

Còn nữa: “Một Nhân Dân Tự Vệ 18 tuổi đã là người bắn cháy chiếc xe tăng đầu tiên trong rất nhiều xe tăng T 54 của Bắc Việt bị tiêu hủy tại An Lộc trong cuộc bao vây năm 1972.”

Hà Nội không mấy hài lòng về lực lượng này, theo như tài liệu sau đây:

“Chúng (QLVNCH) tăng cường các lực lượng bù nhìn, củng cố chính quyền bù nhìn và thiết lập mạng lưới tiền đồn cùng các tổ chức Nhân Dân Tự Vệ bù nhìn ở nhiều làng xã. Chúng cung cấp thêm trang bị kỹ thuật và tính lưu động cho lực lượng bù nhìn, thiết lập những tuyến phòng vệ, và dựng ra cả một hệ thống phòng thủ và đàn áp mới ở những khu vực đông dân cư. Kết quả là chúng đã gây nhiều khó khăn và tổn thất cho lực lượng bạn (Việt Cộng).”

Sự kiện này không thể xảy ra trước năm 1968, khi lực lượng Nhân Dân Tự Vệ được thành lập và trang bị bằng những vũ khí thời thế chiến thứ hai do các lực lượng QLVNCH chuyển giao lại.

Tương tự như vậy, lực lượng Nghĩa Quân, Ðịa Phương Quân với sự trợ giúp của các toán cố vấn Mỹ lưu động, được tuyển mộ thêm từ năm 1968 và trang bị vũ khí tốt hơn, khởi sự tiến bộ, như Cố Vấn David Donovan thuộc một toán lưu động chứng kiến trong một trận tấn công bộ binh năm 1970:

“Chúng tôi vừa vượt khỏi khu mìn bẫy chính thì bị hỏa lực từ một rặng cây trước mặt bắn tới. Nước văng tung tóe xung quanh, đạn bay véo véo trên đầu, trong tiếng súng nhỏ nổ giòn. Binh sĩ bây giờ phản ứng tốt lắm, không giống như trước kia cứ mỗi khi bị bắn là họ gần như tê liệt. Trung Sĩ Abney chỉ huy cánh đuôi của đội hình hàng dọc, bung qua bên phải, sử dụng như thành phần điều động tấn kích, trong khi chúng tôi ở phía trước phản ứng lại hỏa lực địch. Khi toán của Abney tới được chỗ địa thế có che chở thì họ dừng lại và bắt đầu tác xạ. Dưới hỏa lực bắn che đó chúng tôi tràn tới một vị trí khác. Hai thành phần chúng tôi yểm trợ nhau như vậy và tiến được tới hàng cây, sẵn sàng xung phong. Ba người trong toán của tôi bị trúng đạn, không biết nặng nhẹ ra sao nhưng mọi người đều xông tới. Chúng tôi đã hành động khá hay.”

Kinh nghiệm của Donovan không phải là độc nhất. Cố vấn John Cook nhắc lại niềm lạc quan của ông vào năm 1970:

“Chúng tôi (tức Cook và sĩ quan đối tác phía Việt Nam) đang rất lên tinh thần, cảm thấy như mình là ‘kim cương bất hoại.’ Tinh thần chiến đấu và hăng hái chủ động tấn công trong quận hết sức cao, khiến chúng tôi truy kích quân địch một cách gần như khinh suất, liều lĩnh.”

Những thành tích như vậy không phải mọi nơi đều có. Có những đơn vị không đáp ứng được trong thời kỳ thay đổi và vẫn bị lãnh đạo chỉ huy kém cỏi, chẳng thực hiện một cuộc hành quân lục soát với chiến thuật chủ động tấn công nào. Có khi cố vấn Hoa Kỳ suýt bị giết hay bị dọa giết bởi những sĩ quan địa phương của Việt Nam mà họ không hòa thuận được. Nhiều cố vấn Mỹ khác không gặp cảnh ngộ khó chịu đó, nhưng cũng chẳng có ấn tượng tốt nào về hoạt động của những đơn vị mà họ cố vấn. Dù sao thì những chuyện tích cực và thích thú do cố vấn Mỹ chứng kiến cũng đầy rẫy, nhưng lại hoàn toàn vắng bóng trong những cuộc thảo luận trên nước Mỹ hay trong ý tưởng của những người Mỹ bình thường, cũng như trong những gì được dạy dỗ tại các trường học Hoa Kỳ.

Sự tiến bộ hay những tấm gương xuất sắc ngay trước mắt không phải chỉ hiển hiện trong những lực lượng lãnh thổ và những Sư Ðoàn Bộ Binh VNCH, (là những đơn vị) thường bị cho là không mấy nổi trội về chiến thuật chủ động tấn công. Cố vấn về kế hoạch bình định của tỉnh Quảng Trị, Richard Stevens, trước đó từng phục vụ trong Thủy Quân Lục Chiến Mỹ tại Việt Nam, tỏ ra ngạc nhiên trước thành tích của một đơn vị thuộc Sư Ðoàn 1 Bô Binh Việt Nam trong trận tấn công một vị trí phóng hỏa tiễn của quân Bắc Việt:

“Tôi có ấn tượng hoàn toàn tốt, và thực sự là kinh ngạc, về cách thức hành quân và sự táo bạo của họ trong mọi việc… Ðây là cuộc hành quân thứ 13 như vậy do vị Tiểu Ðoàn Trưởng này chỉ huy. Ta đang nói chuyện về những chuyên gia hết sức tinh thục trong những gì họ làm, những người đã từng thực hiện những công tác xởn tóc gáy và vẫn tiếp tục thực hiện… Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn nói với tôi lúc tôi ra đó, rằng: ‘Anh đang làm việc với những người giỏi nhất. Chúng ta không có điều gì để mà có thể nói cho những người này làm. Chúng ta (các cố vấn) chỉ có việc yểm trợ hỏa lực mà thôi. Còn về sự hiểu biết trong hành quân, thì họ là người dạy chúng ta.’ Chúng tôi có các cố vấn người Úc và người Mỹ, họ đều nói y như nhau.” (tác giả trích luận án Master năm 1987 của Howard C.H Feng, Ðại Học Hawaii).

Ở miền Nam, trong lãnh thổ tỉnh Ðịnh Tường thuộc Quân Khu IV, Sư Ðoàn 7 Bộ Binh VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm, theo lời xác nhận của các cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng chuyển quân cho các binh sĩ Sư Ðoàn 7 trong những trận tấn công. Sư đoàn này từng bị mang tiếng là sư đoàn “lùng và né” (thay vì “lùng và diệt,” search and destroy), có thể vì trận Ấp Bắc hồi 1963, nhưng những ai trực tiếp công tác với họ không thể nói gì hơn là những lời ca tụng, ngưỡng mộ về sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng hái xông xáo. Một cựu cán binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh:

“Vùng giải phóng bị thu hẹp… Tôi mất thêm thời gian di chuyển quanh, cố tránh xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH.

Ở Bến Tre (tức tỉnh Kiến Hòa), Sư Ðoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên nhiều khó khăn. Hầu hết Sư Ðoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu Long nên họ biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như chúng tôi” (tác giả trích dẫn David Chenoff và Ðoàn Văn Toại, sách Chân Dung Kẻ Ðịch, Random House ở New York xuất bản năm 1986).

Tình hình còn tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền khuyết cho các đơn vị “Việt Cộng,” không hiểu biết chút nào về vùng này và được trang bị kém cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía bắc vùng châu thổ. Một tù binh cho biết bị bắt sống không bao lâu sau khi tới, lúc anh ta và những người khác được lệnh phục kích một cuộc hành quân càn quét của Sư Ðoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí xong trước bình minh, đội quân đáng lẽ phục kích người ta thì lại bị tấn công từ phía sau do thành phần bên sườn của Sư Ðoàn 7, trước khi tới lượt lực lượng chính. (tài liệu trích dẫn).

Kết quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và 1971, thời kỳ mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, trong khi những cuộc hành quân tấn công của Việt Cộng và quân Bắc Việt lại bị suy giảm rõ rệt: (Bảng thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ năm 1968 đến 1971 đã giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn công của Việt Cộng và quân Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%, chỉ còn 2 trận, những cuộc tấn công lẻ tẻ của phía Cộng Sản cũng giảm, kể cả những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số xã ấp có an ninh tăng 56%, diện tích trồng tỉa lúa tăng 9,8%, thương vong vì chiến tranh của dân và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt Cộng, Bắc Việt trên toàn miền Nam giảm 21%).

Tỉ lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía Cộng Sản giảm hơn là tỉ lệ giảm quân số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân sự, dưới tỉ lệ dự đoán là 21% quân số sụt giảm. Ðiều này xảy ra trong khi quân số tham chiến của Hoa Kỳ giảm tới 58%. Quân Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng không những chỉ có mặt ít hơn trên toàn lãnh thổ, mà còn kém khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích.

Nhiều con số thống kê của VNCH không chính xác, nhất là con số xã ấp có an ninh thì lại còn kém xác thực hơn, nhưng biểu đồ khuynh hướng khá rõ ràng, và không có bằng chứng dù về thống kê hay tin đồn vặt, mà nêu ra điều gì khác hơn là sự xuống dốc thẳng đứng trong thời vận của quân Việt Cộng và quân đội Bắc Việt trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1971. Trong khi Việt Cộng, gọi như vậy để phân biệt với quân Bắc Việt, không bị tiêu diệt hoàn toàn, và những ổ kháng cự có ảnh hưởng mạnh do họ kiểm soát vẫn tồn tại ở những tỉnh như Chương Thiện, Ðịnh Tường, Quảng Nam, Quảng Ngãi, thì Việt Cộng ở địa phương cũng không còn là một lực lượng chiến lược. Nếu không có sự xâm nhập đại quy mô của quân Bắc Việt và sự cung cấp vũ khí hiện đại, thì chiến tranh đã dần dần tự tàn lụi. Những đơn vị và khu vực của Việt Cộng tồn tại được cũng hoàn toàn không phụ thuộc vào quân đội Bắc Việt để sống còn.

Tác giả “phản chiến” Frances Fitzgerald của cuốn “Lửa Trong Hồ” (thật khôi hài, là cuốn sách bị đả kích bởi cả người chỉ đạo về tư tưởng của Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện, lẫn người ủng hộ Mặt Trận Giải Phóng và Hà Nội, Ngô Vĩnh Long), nhìn nhận rằng khả năng sinh tồn của cả Việt Cộng lẫn QLVNCH hồi năm 1966 là mỗi bên 50%, nhưng đến 1969 thì cơ hội sống còn của Việt Cộng chỉ còn 10%, trong khi tỉ lệ này phía QLVNCH lên hẳn 90%. Nguyễn Văn Thành, sau 23 năm theo Việt Cộng, hồi chánh năm 1970, cho rằng cứu cánh của Mặt Trận Giải Phóng là vô vọng. Ông ta nêu ra những cuộc hành quân gia tăng của QLVNCH, sự phát triển những đơn vị Nghĩa Quân xã quận và các chương trình Nhân Dân Tự Vệ, cùng với kế hoạch cải tổ về ruộng đất của chính phủ VNCH, coi đó là những việc không thể đối phó được nữa. Stanley Karnow khẳng định thẳng thừng trong cuốn sách được đánh giá cao quá đáng của ông, không cần giải thích nguyên do, rằng đến năm 1971, thì “riêng phía Việt Cộng không phải là đối thủ của quân đội chính quyền Sài Gòn.”

Don Colin trải qua nhiều năm ở Việt Nam, được nhiều người biết đến qua lối bày tỏ thô lỗ, phản bác thô bạo và quá đáng, cộng với lối rủa sả om sòm những gì mà ông ta coi là tào lao nhảm nhí. Ông này đã phải chịu đựng những khó khăn trở ngại, những khởi đầu sai lạc cùng những vấn đề tương tự, bị coi như toàn những điềm gở. Nhưng năm 1971 Don Colin cũng thấy những kết quả tích tụ hiển hiện ở vùng châu thổ:

“Ba mươi tháng trước, con số những cấp chỉ huy giỏi ở Quân Khu IV chỉ đếm được trên một bàn tay. Ngay cả tư lệnh Quân Ðoàn, một cấp chỉ huy tốt, trong sạch và tương đối có khả năng, cũng nhút nhát, thiếu óc sáng tạo và không đủ sức kích động thuộc cấp vào những hoạt động xông xáo và tích cực. Cấp tư lệnh sư đoàn thì phần lớn thiếu khả năng, hầu hết các tỉnh trưởng cũng kém cỏi và tham nhũng. Các cấp chỉ huy thuộc quyền của họ thì chẳng những noi gương xấu mà nhiều khi còn phạm khuyết điểm quá hơn cấp trên nữa. Nhưng nay thì chuẩn mực chung về tài năng, sự trong sạch và tận tâm đã tăng lên tới mức mà trước kia tôi cho là không thể tưởng tượng được. Sự thay đổi đặc biệt này khiến tôi thêm lạc quan tin tưởng ở khả năng tối hậu của chính phủ trong việc kiểm soát được Việt Nam và thành lập một chính quyền ổn định.”

***

Rồi tới cuộc tấn công 1972 của Hà Nội, một cuộc tấn công tốc chiến phối hợp phương tiện cơ khí kiểu cổ điển (a classical blitzkrieg), với đặc điểm là những vũ khí hạng nặng và những vũ khí chết người được đưa ra sử dụng như hỏa tiễn tầm nhiệt phòng không SA-7, hỏa tiễn công phá điều khiển bằng dây AT-3, những đoàn chiến xa T-54 được yểm trợ bằng mấy trăm khẩu đội hỏa tiễn 122 ly, đại bác 130 ly, hơn hẳn tất cả mọi thứ từng được Hoa Kỳ cung cấp cho lực lượng pháo binh QLVNCH.

QLVNCH bị đánh tơi bời, có lúc đã gần tới kết cuộc, và sự đổ vỡ hiển hiện rõ ràng. Nhưng cái Quân Lực đang nằm đo ván đã đứng dậy ở tiếng đếm thứ 8, hồi phục sức lực và bẻ gãy cuộc tấn công nặng nề nhất ở Việt Nam, tính tới lúc đó. Không ai khác hơn là học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt Nam, Douglas Pike, đã tuyên bố cuộc xâm lược của Hà Nội thất bại là vì “…Nam Việt Nam chiến đấu hơn hẳn quân đội xâm lăng đến từ phương Bắc.”

Nhiều nhà bình luận, kể cả Tướng Ngô Quang Trưởng, nói tới không lực Hoa Kỳ như một yếu tố quyết định, thì đó đúng là yếu tố chính. Nhưng những điều ngụ ý nói là QLVNCH không thể chiến đấu nếu như không có không lực Mỹ, thì đã thiếu sót hai điều căn bản:

– Thứ nhất, quân đội Mỹ cũng chỉ được yểm trợ bằng không lực giống như QLVNCH đã được.

– Thứ hai, là điểm người ta ít nhìn ra: không lực Hoa Kỳ là một yếu tố bổ sung để cân bằng với hai lực lượng vượt trội của Bắc Việt là thiết giáp và, lợi hại hơn cả, là lực lượng pháo binh hơn hẳn, hỏa tiễn 122 ly chính xác và đại pháo 130 ly gây tàn phá quy mô ở tầm tối đa 19 dặm (32 km). Hoa Kỳ không cung cấp cho đồng minh của họ, VNCH, những vũ khí lợi hại ngang bằng, nhất là về pháo binh, như Liên Xô và Trung Cộng cung cấp cho Hà Nội. Hà Nội có hằng trăm hỏa tiễn 122 và đại pháo 130. QLVNCH không đủ đại bác để phản pháo, chỉ có 24 khẩu 175 ly, không chính xác bằng, bắn chậm hơn các loại 122 ly và 130 ly. Cả pháo đài kiên cố cũng không chịu nổi đạn 130 ly khoan hầm, nổ chậm.

Các vũ khí phòng không và xe tăng của khối Cộng Sản bị QLVNCH tịch thu.

Tựu trung, trở lại đề tài không lực, thì Không Quân Việt Nam đã thi hành nhiệm vụ một cách đáng kính phục trong các trận chiến năm 1972, nhưng vẫn bị giới bình luận Hoa Kỳ hoàn toàn quên lãng. Một chuyên viên điều không tiền tuyến của Hoa Kỳ tỏ ra ngưỡng mộ một phi công A-37 của Việt Nam mà anh ta cùng thi hành một vụ tấn công không lục vào vị trí quân Bắc Việt:

“Anh ta đâm chúc đầu chiếc máy bay xuống tới tầm vũ khí liên thanh, và quả nhiên tôi thấy nhiều lằn đạn lửa vạch đường sáng bao quanh Pepper dẫn đầu. Tôi la lên báo động, thì đã thấy anh thả bom ở độ cực thấp và ghi một bàn tuyệt hảo trúng ngay bức tường. Trong những lần oanh kích tiếp theo ngay đó, các phi công của Không Quân Việt Nam cũng ghi bàng hoàng hảo mỗi lần đâm xuống, cũng là mỗi lần họ bị đạn phòng không bắn lên xối xả… Hỏa lực từ mặt đất vô cùng mạnh mẽ. Quân Bắc Việt có vẻ như biết rằng đối thủ của họ là người Nam Việt Nam.”

“Tôi tin chắc là hai chiếc A-37 sẽ bị bắn rơi, nhưng cả hai đều xả hết bom đạn của họ trúng đích, không hề hấn gì. Hai phi công Không Quân Việt Nam đã trình diễn một màn tuyệt vời, và tôi ngưỡng phục lòng can đảm của họ trên cả sự thông minh. Trong giây phút đó lòng can đảm ấy đã vượt hẳn sự khôn ngoan trong những tính toán hơn thiệt về sự an toàn của cá nhân họ.”

Ðây không phải là một sự kiện riêng lẻ, theo như một quan sát viên Không Quân của Mỹ chứng thực:

“Không Quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích 1972… Trong trận phòng thủ Kontum, KQVN thật cừ khôi, hết sức tuyệt diệu.”

QLVNCH lãnh cú mạnh nhất của Hà Nội năm 1972, mạnh hơn nhiều so với trận Tết Mậu Thân 1968, về khía cạnh quân số và hỏa lực. Ước lượng có khoảng gần 150 ngàn quân Bắc Việt đã tham chiến trong giai đoạn 1, và thêm 50 ngàn quân khác bổ sung khi trận chiến tiếp diễn. Mặt khác, trong trận Tết ’68 chỉ có 84 ngàn quân Việt Cộng và Bắc Việt tham chiến, với pháo binh và xe tăng rất hạn chế (ngoại trừ ở Quân khu I).

QLVNCH tiếp tục hoạt động tốt đẹp sau khi Hiệp Ðịnh Paris gian lận được ký kết và bị vi phạm lập tức. Cuối Tháng Mười Một năm 1973, một lực lượng đặc nhiệm VNCH đã đánh đuổi Sư Ðoàn 1 Bắc Việt ra khỏi căn cứ Thất Sơn, gây tổn thất nặng tới nỗi Sư Ðoàn 1 này của Bắc Việt phải giải thể, số quân sống sót phải gia nhập các đơn vị khác. Ít tháng sau, Sư Ðoàn 7 VNCH tung ra cuộc hành quân lớn để quét các đơn vị Bắc Việt khỏi mật khu Tri Pháp ở vùng giáp ranh ba tỉnh Ðịnh Tường, Kiến Tường, Kiến Phong, gây tổn thất nặng cho địch. Tri Pháp chưa bao giờ bị xâm phạm trong suốt cuộc chiến tranh, có đặc điểm là những vị trí phòng thủ kiên cố; cuộc thất trận gây hổ thẹn tới mức nhà cầm quyền Cộng Sản cảnh cáo các cấp là phải dấu sự thất bại đừng để bộ đội của họ biết, sợ bộ đội xuống tinh thần.

Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên bất lực, chỉ là gián điệp cho Cộng Sản Hà Nội. Nhưng một trong những báo cáo của họ năm 1973 xác định là không có đơn vị Việt Cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đơn vị Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến của VNCH.

***

Tuy nhiên đến giữa 1974 thì việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ bắt đầu từ từ “siết cổ” QLVNCH, và đạo quân này chỉ còn nước xuống dốc dần dần từ khi ấy. Ðến 1975 cấp số cung ứng có sẵn (Available Supply Rate- ASR) dành cho đạn đại bác đã giảm nhanh tới mức không thể chấp nhận, như theo bảng dưới đây, cho mỗi khẩu đội bắn trong một ngày:

Năm 1972 Năm 1975 Tỉ lệ giảm
Ðạn 105 ly: 180 viên 10 viên 94%
Ðạn 155 ly: 150 viên 5 viên 97%
Ðạn 175 ly 30 viên 3 viên 90%

Mọi thứ bị cắt đến tận xương, rồi tận tủy. Nhiều binh sĩ bộ binh được cấp số đạn căn bản là 60 viên M16 cho một tuần lễ. Nhiều đơn vị cấm binh sĩ bắn M16 liên thanh, chỉ được bắn phát một. Các đơn vị chạm địch có khi bị giới hạn chỉ còn được bắn yểm trợ hai trái đạn đại bác, ngoại trừ khi bị tràn ngập. Thiếu cơ phận thay thế, xe tăng, tàu giang tuần, máy bay,… nằm ụ chờ rỉ sét (“cho mối mọt ăn”). Tệ hơn nữa, binh sĩ QLVNCH và gia đình họ phải chịu thiếu thốn khi nền kinh tế bị lạm phát 50%, và 25% thất nghiệp. Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974 tiết lộ 82% binh sĩ VNCH không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đình. Ðói kém và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu.

Tình hình những tháng sau đó càng xuống dốc, và người ta đau lòng chứng kiến một cái chết chắc chắn sẽ đến vì hằng ngàn vết thương. Một năm sau, khi chính phủ Việt Nam cuối cùng sụp đổ, và, theo như những sách gọi là sách sử, thì nhiều người Mỹ ngạc nhiên, tự hỏi tại sao mọi thứ có thể sụp đổ nhanh chóng như vậy. Lẽ ra câu hỏi đáng chú ý hơn phải là tại sao QLVNCH đã có thể chiến đấu dài lâu sau thời gian giữa năm 1974, với sự thiếu thốn về vũ khí, trang bị, đạn dược, nhiên liệu, thuốc men, với những cái bụng lép kẹp, và gia đình cũng đói khát không kém?

Khi bắt đầu sự đổ vỡ tan hoang, và đám đông hỗn độn theo lệnh ông Thiệu rút khỏi vùng cao nguyên, thì khủng hoảng và kinh hoàng xảy đến, phần nào tăng thêm vì những lệnh lạc trái ngược phát xuất từ dinh Tổng Thống. Nhưng trong sự sụp đổ nhục nhã sau cùng, vẫn có không ít những trận “Alamo” nhỏ của những người lính VNCH chiến đấu đến phút cuối. Sư Ðoàn 18 BB đứng vững ở Xuân Lộc là một trận anh hùng ca, nhưng sự có mặt và vai trò của của Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù trong trận này không hề được biết đến. Khi Quân Khu II đổ vỡ và kết cuộc đã gần, Sư Ðoàn 7 VNCH vẫn đánh bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 14, con đường quốc lộ duy nhất nối vùng châu thổ Cửu Long với Sài Gòn.

Vào ngày cuối, gọi là “Ngày Quốc Hận” (tác giả viết bằng tiếng Việt), một máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu nòng do các Trung Úy Thanh và Trần Văn Hiền (hay Thành, Hiển?) còn bay quanh Sài Gòn yểm trợ hỏa lực cho những đơn vị VNCH lâm chiến sau cùng. Hết xăng, hết đạn, họ đáp xuống đổ xăng và lấy thêm đạn, sĩ quan hành quân biểu họ không cần cất cánh nữa, tất cả đã mất hết rồi. Nhưng các trung úy Thanh và Hiền vẫn vững chí, nhận nhiên liệu và đạn dược, và được hai chiếc A1H-Skyraider tháp tùng do Thiếu Tá Trương Phụng và Ðại Úy Phúc lái, họ tiếp tục lại một trận chiến tuyệt vọng. Sau cùng chỉ còn Ðại Úy Phúc sống sót, oanh kích đến khi hết đạn. Hai Trung Úy Thanh, Hiền và Thiếu Tá Trương Phùng đều bị SA-7 bắn rơi, tử trận. Họ đã chiến đấu đến mãi tận giây phút cuối cùng!

Một cách tổng quát, cứ bị đói như QLVNCH đã bị thì không một quân đội nào có thể chống lại cuộc tấn công cuồng bạo của quân đội Bắc Việt, với thừa ứ những khẩu pháo, xe tăng, vũ khí, nhiên liệu, xe tải quân, đạn dược, do khối Cộng Sản cung cấp. Trước một đạo quân VNCH bị rút ruột vì cắt viện trợ như vậy, quân đội Bắc Việt đã phải tung ra tất cả những gì họ có. Chừng 400 ngàn quân Cộng Sản, gần 90% là bộ đội miền Bắc, được đưa ra trận để đánh bại QLVNCH. Hà Nội chưa bao giờ từng tung ra một lực lượng khổng lồ và hiện đại như họ đã ném vào trận chiến năm 1975. Hà Nội chưa từng rút ra tất cả các đơn vị từ Lào, Cambodia. Về lượng, quân số 400 ngàn là gần gấp 5 số quân Việt Cộng và Bắc Việt lâm chiến hồi Tết 1968, trong khi về phẩm, còn có hằng trăm đại bác tầm xa, hằng trăm xe tăng, hằng ngàn xe tải, và nguyên một kho vũ khí hiện đại, Ðoàn quân viễn chinh năm 1975 có hơn gấp năm lần khả năng chiến đấu của lực lượng Cộng Sản hồi Tết Mậu thân 1968.

Xem xét sự việc từ một khía cạnh khác, có thể phán đoán mà không sợ sai lầm rằng giả sử quân đội Bắc Việt bị yếu đi vì cắt giảm mức cung ứng như QLVNCH đã gánh chịu, thì họ không bao giờ có thể tung ra một cuộc tổng công kích sau cùng, mà hẳn đã yếu kém hơn thế nhiều. Ưu thế hỏa lực quyết định chiến trường, chẳng phải là điều gì mới lạ trong lịch sử quân sự. Vào lúc cuối, QLVNCH chịu sự tổn thất khoảng 275 ngàn tử trận, không kể con số bị ám sát, trong một quốc gia mà dân số trung bình khoảng 17 triệu. Nước Mỹ với dân số 200 triệu, nếu chịu tổn thất với tỉ lệ tương đương trong cùng khoảng thời gian ấy, con số tử vong sẽ là 3 triệu 200 ngàn, cần dựng thêm 56 bức tường đá đen nữa mới đủ ghi tên tử sĩ. Ðiều này không lọt qua mắt của một số nhà quan sát. Sir Robert Thompson, tuy biết rõ những nhược điểm của QLVNCH, cũng kết luận:

“Quân đội và chính phủ VNCH vượt qua những cuộc khủng hoảng quốc gia và cá nhân mà có thể đã nghiền nát hầu hết mọi người, và mặc dù mức tổn thất có thể gây kinh ngạc và làm sụp đổ Hoa Kỳ, VNCH vẫn duy trì được một triệu quân dưới cờ sau hơn 10 năm chiến tranh. Vương Quốc Anh cũng làm được như thế, theo tỉ lệ tương đương, trong năm 1917, sau ba năm chiến tranh, nhưng không bao giờ làm được nữa. Hoa Kỳ chưa bao giờ làm được điều này.” (được nhấn mạnh và thêm vào)

Ký giả Peter Kann, sáng suốt hơn rất nhiều so vói những đồng nghiệp, cũng nhập cuộc, sau khi Sài Gòn thất thủ:

“Nam Việt Nam quả đã phấn đấu để kháng chiến trong nhiều năm ròng rã, không phải lúc nào cũng được Hoa Kỳ giúp đỡ dồi dào. Ít có quốc gia hay xã hội nào mà tôi cho là có thể chiến đấu được lâu dài đến thế.”

***

Kế hoạch Việt Nam hóa có hiệu quả không? QLVNCH có trưởng thành nên một lực lượng chiến đấu có khả năng?

Có thể biện luận rằng kế hoạch Việt Nam Hóa có hiệu quả, nhưng lại bị moi ruột vì cắt giảm viện trợ chí tử. Năm 1974, có cuộc thăm dò các Tướng lãnh Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam, nhằm tìm hiểu chương trình Việt Nam hóa thành công tới mức nào. Các câu hỏi và trả lời như sau:

1. QLVNCH là lực lượng chiến đấu rất đáng chấp nhận?: 8% đồng ý.

2. QLVNCH xứng đáng và cơ may hơn 50% đứng vững trong tương lai: 57% đồng ý.

3. Có nghi ngờ khả năng QLVNCH có thể đẩy lui một cuộc tấn công mạnh của lực lượng Việt Cộng – Bắc Việt trong tương lai: 25% nghi ngờ.

4. Ý kiến khác và không ý kiến: 10%

Như vậy 65% các tướng lãnh chỉ huy của Hoa Kỳ dành cho QLVNCH tỉ lệ phiếu thuận, tuy nhiên những câu trả lời này có thể đã mang khuynh hướng lệch theo chiều xuống. Không biết bao nhiêu vị Tướng phục vụ trong khoảng 1966-1967, trước khi QLVNCH thực hiện những đổi thay to lớn nhất. Chức vụ mà các sĩ quan này đảm trách là gì, họ làm việc với ai, và họ quen thuộc với Quân đội VNCH ở mức độ nào, sự tăng tiến hiệu năng của lực lượng Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, vân vân… cũng không được tiết lộ. Câu hỏi cũng không hỏi: “Nếu quân đội Mỹ cũng bị cắt giảm cung ứng như QLVNCH vào năm 1974-1975 thì còn đứng vững được bao lâu?”

Huấn luyện Nhân Dân Tự Vệ.

Ðiều có thể nói chắc chắn, là QLVNCH từ 1968 trở đi đã hoàn thành nhiệm vụ tốt đẹp hơn nhiều so với những gì được biết đến một cách chung chung, rằng các đơn vị QLVNCH đã thi triển tài năng để có thể đứng vững và đánh bại quân xâm lược Bắc Việt trong năm 1972, thường là không cần tới sự yểm trợ hỏa lực ồ ạt của pháo binh và không quân chiến thuật, như trong trường hợp của Nghĩa Quân và Ðịa Phương Quân. Ðiều có thể nói chắc chắn nữa là sự hiểu biết của người Mỹ về việc này thấp kém đến kinh tởm, thấp tít mù xa như vực thẳm không đáy.

Một yếu tố rất quan trọng nữa mà nhiều nhà bình luận bỏ qua và tới nay vẫn không biết gì hơn, là thế hệ các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan QLVNCH trẻ trung hơn, hết lòng hết dạ vì mục tiêu một nước Việt Nam không Cộng Sản. Họ cởi mở, ngay thật, biết lẽ phải, trong sạch, biết nhìn nhận phải trái, ví dụ như họ cho là người Thượng không nên được đối xử thấp kém hơn, rằng tham nhũng cần bị công kích, rằng một quốc gia Việt Nam mới cần được tạo thành, bung ra khỏi mọi xích xiềng quá khứ. Nhiều người trong số này có thể có vị trí tốt để tránh quân dịch hay giữ một chỗ an toàn, không ra trận; nhưng họ không cần cả hai thứ đó, đã có mặt trong hàng ngũ phục vụ tại những vị trí chiến đấu đầy nguy hiểm, với tư cách những người tình nguyện. Thái độ của họ được một sĩ quan trẻ của QLVNCH bày tỏ:

“Những người ở cỡ tuổi tôi vào quân đội vì chúng tôi có một lý tưởng, chúng tôi hiểu được cuộc sống trong một thế giới tự do ra sao, và sống trong thế giới Cộng Sản ra sao. Không phải như người ta nói, rằng những ai vào quân đội thì chỉ vì đến tuổi lính và không có lý tưởng gì riêng cho mình. Nhưng người Mỹ không bao giờ có vẻ hiểu ra điều đó.”

Trần Quốc Bửu là chủ tịch Liên Ðoàn Lao Công Nam Việt Nam, tương đương với AFL-CIO của Hoa Kỳ. Ông có ảnh hưởng và có thể xếp đặt cho con trai ông tìm một chỗ an toàn, an toàn hơn nhiều so với vị trí của anh này là một sĩ quan Bộ Binh VNCH. Trong những tuần lễ sau cuối của VNCH, lúc bị Bắc Việt dập pháo tơi bời, tuyệt vọng trong cảnh thiếu đạn, con ông Bửu viết cho ông một lá thư:

“Ba phải giải thích cho người Mỹ hiểu sự nghiêm trọng của tình hình chúng ta… Họ phải cung cấp viện trợ quân sự và kỹ thuật như họ đã hứa. Con xin ba, ba à, hãy can thiệp với họ. Nếu không, chúng ta sẽ bị đè bẹp và thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ chết… Trong mọi tình huống, con sẽ giữ vững vị trí và không rút lui.”

Con ông Bửu hy sinh tại chiến trường.

Bác Sĩ Phan Quang Ðán là Quốc Vụ Khanh về định cư và tị nạn, một cựu đối lập với ông Ngô Ðình Diệm, nổi tiếng nhờ trong sạch. Ông có đủ quyền lực và ảnh hưởng để giữ con trai là Phan Quang Tuấn khỏi bị nguy hiểm. Cả hai cha con đều không chọn điều đó, và Tuấn tình nguyện lái A-1E Skyraider, chỉ dùng để yểm trợ chiến thuật gần cho các đơn vị dưới đất. Sau khi tiêu diệt 7 xe tăng quân Bắc Việt tại khu vực ngưng chiến, trong trận tấn công 1972 của Hà Nội, Ðại Úy Tuấn bị hỏa lực phòng không địch bắn rơi, tử trận. Những cá nhân ấy không phải là duy nhất. Người viết bài này hằng ngày gặp những phi công trực thăng võ trang trẻ tuổi, những sĩ quan trẻ trong Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù,… tất cả đều tình nguyện lãnh nhiệm vụ tác chiến nguy hiểm, bị “lưỡng đầu thọ địch,” với hệ tư tưởng về một nước Việt Nam Cộng Sản, và với nạn tham nhũng trở thành thông lệ hằng ngày ở Sài Gòn.

Mời độc giả xem chương trình dạy tiếng Anh “ESL Garage: Bài học về âm tiết”

Một trong những tấm gương gây xúc động hơn nữa về lòng tận tụy với chính nghĩa Quốc Gia, là cảnh các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt chuẩn bị cho trận đánh sau cùng của họ, mà ký giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến, vào lúc họ tiến ra để chặn các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới:

“- Anh sắp bị giết đó!

– Vâng. -Một sinh viên sĩ quan trả lời.

– Sao vậy? Ðã kết thúc rồi mà!

– Tại vì chúng tôi không ưa Cộng Sản.

Và, lòng đầy can đảm, những sinh viên trẻ tuổi trong bộ quân phục mới toanh, tuyệt đẹp, giày bóng loáng, tiến ra để chờ chết.”

Trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, là trường nội trú, trong học trình có dạy quân sự cho các thiếu niên Việt Nam có cha tử trận. Khi đến lúc cuối, những em trai 12-13 tuổi đuổi các em Thiếu Sinh Quân nhỏ hơn về nhà, lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các đơn vị quân Bắc Việt:

“Họ tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đã đầu hàng!… Nhiều người trong số họ bị giết. Và khi quân Cộng Sản tiến vào, các Thiếu Sinh Quân đánh trả. Cộng Sản không vào được ngôi trường ngay lúc đó.”

Những con người tương tự (lúc đó) đang gia tăng trong mọi cấp bực của QLVNCH, và nhu cầu cấp bách của tình hình buộc sự thăng thưởng phải dựa trên khả năng, không dựa trên quan hệ chính trị hay quan hệ gia đình.

Giới truyền thông Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, thua bại hoàn toàn và thê thảm hơn nhiều so với các lực lượng quân sự của VNCH, Hoa Kỳ và các đồng minh. Họ thường lên án bằng những lối can thiệp đầy tự phụ và tự mãn. Một cuộc thăm dò 9.604 chương trình truyền hình của NBC, CBS và ABC từ 1963 đến 1977 cho thấy rõ những sự thiếu sót của những cái gọi là bài tường thuật truyền hình. 0,7% chương trình nói về việc huấn luyện QLVNCH. 0.8% về bình định. 2.7% về chính quyền hay Quân Lực VNCH hay Cambodia. Tổng cộng chỉ có 392 chương trình, tức 2.7% toàn bộ các chương trình tin tức truyền hình Mỹ, tường trình về Việt Nam. Không có một lời nào về hơn 200 ngàn hồi chánh viên, không một lời về QLVNCH thiện chiến. Không có gì về những phi công Ong Chúa lừng danh của trực thăng Việt Nam cứu mạng cho những toán Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ chạm địch dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Hầu hết người Mỹ, nếu không phải là tất cả, đều nhớ hình ảnh bi hùng của một người Trung Hoa đứng trước đoàn xe tăng ở quảng trường Thiên An Môn, nhưng không ai biết Trung Sĩ Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Huỳnh Văn Lượm đứng trên cầu Ðông Hà chặn đứng đoàn xe tăng Bắc Việt, tác xạ bằng khẩu súng chống tăng LAW của anh:

“Cảnh tượng anh lính TQLC nặng có 95 cân Anh trụ ngay trên đường tiến của 40 xe tăng không có ý nào muốn dừng lại, trên một khía cạnh thì là dại dột một cách khó tin. Trên khía cạnh khác, quan trọng hơn, hình ảnh này mang đầy niềm phấn khích đối với một lực lượng phòng thủ mỏng manh đến thê thảm, và với nhiều người tị nạn, ít ai trong số đó từng chứng kiến một hành động thách đố dũng cảm đến thế… Sự anh dũng lạ thường của người lính Thủy Quân Lục Chiến Nam Việt Nam này đã khiến đợt tấn công bằng xe tăng, tới lúc đó chừng như chắc chắn phải thắng lợi, đã bị mất đà tấn kích.”

Trong một khoảnh khắc mà giới truyền thông mang tật cận thị lên tiếng, thì phóng viên Donald Kirk tuyệt đối không tỏ ra sự quan tâm nào khi đến thăm Sư Ðoàn 7 Bộ Binh VNCH, nơi đã trở nên một đơn vị có hiệu năng cao tuyệt dưới tài lãnh đạo của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Quân nhân trong sư đoàn nhận thức rõ giá trị những nông trại của sư đoàn do Tướng Nam thiết lập để giảm bớt gánh nặng kinh tế cho binh sĩ của Sư Ðoàn 7. Nhưng khi Kirk và các phóng viên khác bị giữ lại ở một điểm chắn đường của quân đội Bắc Việt rồi được thả ra sau đó, thì Kirk lại thất vọng vì anh ta không có cơ hội để nói chuyện với bộ đội Bắc Việt:

“Tôi cứ nghĩ mãi về việc trông họ như vừa bước ra khỏi cuốn phim… Họ có vẻ là những tay chính quy, vậy đó. Tôi chỉ mong sao chúng tôi đã có thể ở lại thêm và nói chuyện với họ lâu hơn.”

Ông Kirk có thể yên tâm rằng quân sĩ Sư Ðoàn 7 đều là “những tay chính quy,” rất đáng để nói chuyện, và học hỏi nơi họ. Anh chàng này, cũng như đông đảo trong giới truyền thông làm tin tức, đã không để ý gì đến việc đó, cho nên không có gì kỳ bí về nguyên nhân vì sao hầu hết những người Mỹ từng phục vụ tại Ðông Nam Á đều nhìn cái giới truyền thông tin tức này với sự khinh miệt gay gắt.

Phải chi giới này chịu khó quan hệ với quân dân Việt Nam mà họ gặp gỡ, như tôi đã làm nhiều lần, thì đám ký giả hẳn đã biết trong mắt những người Việt ấy chủ nghĩa Cộng Sản của Hà Nội là điều đáng khinh bỉ và kinh tởm, như một loại phản bội văn hóa và truyền thống Việt Nam. Không phải những người Việt này chiến đấu và hy sinh để bảo vệ “chế độ tham nhũng của Thiệu,” mà là để gìn giữ một cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân, cho con cái, và cho đất nước của họ. Một Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam diễn giải và lột tả chân xác nhất về điều này, khi anh ta nói với tôi rằng sau khi quân đội VNCH giải quyết xong với quân đội miền Bắc, họ sẽ quay súng lại chống đám tham nhũng ở Sài Gòn. Những sự kiện thảm thiết bi thương sau năm 1975 đã chứng thực tính thuận lý và giá trị của điều quyết tâm ấy.

***

Giới truyền thông giải trí và giới giáo dục ở Hoa Kỳ cũng chẳng khá gì hơn, mà còn mãn nguyện khi lặp lại, nếu không phải là thêm mắm thêm muối vào cái chuyện thần thoại do truyền thông dựng lên. Một cuốn sách sử trung học được sử dụng rộng rãi ở Mỹ có chương sử về Việt Nam không hề nói đến QLVNCH, chỉ viết rằng: “Việt Nam hóa thất bại,” ngoài ra còn gom góp hơn 200 điều khẳng định có thể được chứng minh là sai trái và mang hoàn toàn tính chất dẫn dắt lạc hướng, trong 13 trang bài học. Có nói đến vụ tấn công sang Cambodia, nhưng không nói gì về việc quân VNCH tham dự đông đảo hơn lực lượng Hoa Kỳ, 29 ngàn quân so với 19,300 quân Mỹ tham chiến. Sách cũng không nói lên rằng trước khi chính thức mở chiến dịch, quân đội VNCH đã tấn công trước vào các vị trí phòng thủ của quân đội Bắc Việt ở Cambodia. QLVNCH đã hoàn toàn vô hình, như một đề tài sẽ được trình bày nơi đây (trong cuộc hội thảo).

Phim ảnh và truyền hình lại càng tệ hơn, mặc dù có được một số phim tài liệu lịch sử. Cả cuốn phim “Bat 21,” nhằm miêu tả cuộc tìm cứu Trung Tá Iceal Hambleton năm 1972, không thể hiểu được tại sao đã loại hẳn sự kiện là một chiến sĩ Người Nhái Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệt, người cùng thi hành công tác tìm cứu đó với người nhái Hoa Kỳ Tom Norris, được tặng thưởng huy chương US Navy Cross do sự dũng cảm và anh hùng của Kiệt. Làm sao công chúng có thể trông mong được biết bất kỳ điều gì khi mà chế độ “kiểm duyệt” trên thực tế đã bôi xóa tất cả và từng dấu vết của sự hoạt động gương mẫu của QLVNCH?

***

Sau cùng, cần phải nhìn nhận rằng QLVNCH đã bị đè bẹp bởi một gánh nặng trầm kha không thể nào vượt thắng: đó là một đồng minh bất xứng, ngu dốt và gây rối một cách đáng kinh ngạc, dưới hình thức cái chính phủ Hoa Kỳ.

Một hội nghị chuyên đề toàn diện nên được tổ chức về đề tài này, và cần phải có hội nghị đó. Những chiến lược giả hiệu phát xuất từ Washington, về bản chất, phải bị coi là cẩu thả mang tính cách tội ác. Không một hành động nào được tung ra để chặn và giữ đường mòn Hồ Chí Minh. Không có con đường này thì cuộc chiến tranh của Hà Nội đã không thể nào tiến hành được. Không một việc gì được thi hành để giao chiến với chiến tranh thông tin tuyên truyền-phản tuyên truyền dưới hình thức gọi là địch vận, một trong những chiến lược quan trọng của Hà Nội, được thi hành với những sự lừa gạt quỷ quyệt xuất chúng. Không làm một việc gì mãi đến khi cơ quan CORDS được thành lập để ra kế hoạch và phối hợp những hoạt động quân sự và bình định về mặt tình báo. Không làm một việc gì để khai triển một liên minh rộng lớn như một chiến trường chung của người Việt, người Lào, người Cambodia và Thái Lan, chống lại kẻ thù chung. Trong khi Hà Nội đã làm y như vậy: thiết lập một cấu trúc chỉ huy chiến trường Ðông Dương nhằm kết hợp mọi yếu tố vào một chiến lược gắn bó cho toàn khu vực. Lý cớ về lãnh đạo của Hoa Kỳ là mù lòa, lần mò vụng dại như con heo trên tảng băng, như một con cóc vàng, rất giàu có nhưng cũng rất ngu độn.

Những kế hoạch, những đề nghị đi ngược dòng lịch sử khó có thể được chứng minh hoàn toàn chắc chắn, và có thể chiến tranh (Việt Nam đã qua) là một cuộc chiến không thể nào thắng được.

Có thể như vậy. Tuy nhiên những người Mỹ, người Úc đã phục vụ sát cánh những chiến hữu của họ trong QLVNCH, “những chiến hữu, bạn bè, giống như anh em ruột,” (viết tiếng Việt trong nguyên bản) mang trong lòng họ nỗi buồn sâu xa vì đã thua cuộc, hay đã mất biết bao bạn bè tận tụy, mất cả niềm vinh dự lớn lao cho việc đã cố gắng đạt cho kỳ được một thế giới tốt đẹp hơn cho những người dân thường của Việt Nam, Lào, Cambodia và Thái Lan. Họ không bị thúc đẩy vì những quan niệm tinh vi về địa lý chính trị thế giới, nhưng đúng hơn, là do sự kính trọng và ngưỡng mộ đối với nhiều người Ðông Nam Á đã biết yêu quý xứ sở, những con người đã “thề bảo vệ giang sơn quê hương.”

Nhiều trang lịch sử còn chưa được lật ra, phản ảnh sự tiếp nối cái khuynh hướng của Hoa Kỳ chỉ toàn nhìn qua con mắt người Mỹ, bị lọc qua định kiến của người Mỹ. Một số sách vở nói đến Việt Nam như một “giai đoạn thử thách đầy khổ đau của Hoa Kỳ,” mà chưa từng một lần hỏi xem người Ðông Nam Á đã trải qua loại thử thách khổ đau nào. Ðầy rẫy những dữ kiện lịch sử quý giá và những nét quan sát sắc sảo nằm trong những cuốn sách được viết do người Việt Nam (và cả người Lào). Thiếu những sách đó, không thể nào có được sự hiểu biết toàn diện.

Những tác phẩm của Lý Tòng Bá, Hà Mai Việt, Phan Nhật Nam, Trần Văn Nhựt, và nhiều người khác, đang kêu gào đòi được dịch thuật, cũng như hằng chục bài phổ biến hằng năm trên sách báo tạp chí quân sự và các ấn bản khác. Nhiều bài trong đó mô tả những trận đánh, những diễn tiến và những nhân cách, không hề được các sử gia Hoa Kỳ biết đến. Không tham khảo những nguồn đó thì chắc chắn là chiến tranh Việt Nam, cũng là chiến tranh Ðông Dương của Hà Nội, sẽ mãi là những bí ẩn không thể giải đoán, và lịch sử chân thực của QLVNCH sẽ mãi bị chôn vùi dưới tầng lớp này qua tầng lớp nọ của những chuyện hoang đường, của sự không thông hiểu, và của sự giả định vô căn cứ.

Mời độc giả xem chương trình du lịch “Dân tộc Karen – Người cổ dài ở Thái Lan”(Phần 2)

Target nâng mức lương tối thiểu lên $11, dự trù sẽ là $15 năm 2020

MINNEAPOLIS, Minnesota (NV) – Công ty Target hôm Thứ Hai cho hay sẽ nâng mức lương tối thiểu trong công ty lên thêm $1 một giờ vào tháng tới, tức là $11, và dự trù sẽ lên tới $15 vào năm 2020.

“Target luôn cung cấp mức lương cao cho nhân viên,” theo lời ông Brian Cornell, tổng giám đốc và cũng là chủ tịch công ty Target, có trụ sở chính đặt tại Minneapolis, tiểu bang Minnesota, theo bản tin của hãng thông tấn UPI.

Target, công ty bán lẻ lớn hàng thứ nhì ở Mỹ, tăng mức lương tối thiểu hồi năm ngoái thành $10 để cạnh tranh với đối thủ là WalMart, công ty bán lẻ lớn hàng đầu nước Mỹ, vốn có cùng mức lương.

Ông Cornell nói rằng việc tăng lương sẽ bắt đầu vào Tháng Mười cho khoảng 100,000 nhân viên làm việc tạm thời, được thuê trước thời gian nước Mỹ bước vào mùa lễ lớn và người dân khởi sự mua sắm, theo UPI.

Công ty Target hiện có 323,000 nhân viên tại hơn 1,800 cửa tiệm.

Target không cho hay mức lương trung bình của nhân viên mình là bao nhiêu. Tờ Wall Street Journal hồi Tháng Giêng cho hay mức lương trung bình của nhân viên WalMart là $13.69 một giờ.

Mức lương giờ tối thiểu do chính phủ liên bang ấn định hiện là $7.25.

Tiểu bang Minnesota, nơi Target đặt trụ sở chính, dự trù tăng mức lương tối thiểu từ $9.50/giờ lên thành $9.65/giờ cho nhân viên làm việc ở các công ty lớn, cũng theo UPI. (V.Giang)

Cháy rừng ở Nam California khiến hơn 1,000 người dân phải di tản

Cộng Hòa lại thất bại, không xóa được Obamacare

WASHINGTON, DC (AP) – Thấy rõ ràng không đủ số phiếu để thông qua một dự luật nhằm xóa Obamacare, thành phần lãnh đạo đảng Cộng Hòa hôm Thứ Ba quyết định từ bỏ nỗ lực mới nhất nhằm thực hiện điều được coi là căn bản trong cuộc tranh cử vừa qua.

“Dự luật này coi như kết liễu,” theo lời Thượng Nghị Sĩ John Kennedy (Cộng Hòa-Louisiana), khi rời khỏi phòng họp nơi các thượng nghị sĩ Cộng Hòa quyết định không tiến hành cuộc bỏ phiếu vô vọng này.

Đây là một thất bại lớn cho Tổng Thống Donald Trump và lãnh tụ khối đa số Cộng Hòa tại Thượng Viện, Thượng Nghị Sĩ Mitch McConnell (Cộng Hòa-Kentucky).

Hồi Tháng Bảy, Thượng Viện Mỹ, hiện do đảng Cộng Hòa kiểm soát, bác bỏ ba dự luật tương tự của phía Cộng Hòa, một điều làm thành phần bảo thủ trong đảng giận dữ và khiến ông Trump trong suốt mùa Hè vừa qua gửi tweet với những lời lẽ nhục mạ ông McConnell cùng là các thượng nghị sĩ Cộng Hòa khác vì không thực hiện được việc này.

Ông McConnell cùng các thượng nghị sĩ khác trong đảng, gọi đây là một thất bại tạm thời, và cho hay có thể sẽ quay trở lại vấn đề này trong những tháng sắp tới.

Tuy vậy, ông McConnell nói rằng nay đến lúc phải chú trọng đến những vấn đề khác cũng không kém phần quan trọng với đảng Cộng Hòa như cải tổ thuế.

Việc không thông qua được dự luật coi như rõ ràng trong ngày Thứ Hai sau khi Thượng Nghị Sĩ Susan Collins (Cộng Hòa-Maine) loan báo là bà sẽ bỏ phiếu chống.

Bà Collins cùng với các thượng nghị sĩ Cộng Hòa khác như John McCain ở Arizona, Rand Paul ở Kentucky và Ted Cruz ở Texas cho hay họ chống lại dự luật, dù với các lý do khác hẳn nhau.

Các phụ tá của ông Cruz vào phút cuối vẫn nói rằng ông còn thương lượng để có thay đổi trong luật hầu có thể bỏ phiếu thuận.

Thượng Nghị Sĩ Lisa Murkowski (Cộng Hòa-Alaska), người từng bỏ phiếu chống trước đây, không cho biết rõ ràng lập trường của bà, nhưng cũng không bày tỏ sự ủng hộ.

Do tất cả các thượng nghị sĩ Dân Chủ đều đồng lòng bỏ phiếu chống, phía Cộng Hòa chỉ có thể chấp nhận có hai phiếu chống từ đảng mình để thông qua dự luật.

Hiện chưa rõ là sau thất bại này, phía Cộng Hòa sẽ có hành động gì trong lãnh vực y tế, nhất là khi Tổng Thống Trump trong vài tuần trở lại đây đã có hành động bắt tay với phía Dân Chủ trong các vấn đề ngân sách và di trú.

Trước đó trong ngày Thứ Ba, ông Trump mạnh mẽ đả kích các nhà lập pháp Cộng Hòa vì từ bỏ nỗ lực xóa Obamacare.

Ông nói với giới truyền thông rằng: “Chúng tôi thất vọng với những người tự nhận là Cộng Hòa này.” (V.Giang)

Ít nhất có sáu cố vấn thân cận Tòa Bạch Ốc sử dụng email cá nhân

Vụ Trịnh Xuân Thanh: Bắt kế toán trưởng Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam

HÀ NỘI (NV) – Ông Lê Đình Mậu, kế toán trưởng Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN), vừa bị bắt để điều tra về hành vi “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.”

Hệ thống báo đài tại Việt Nam đồng loạt đưa tin ông Lê Đình Mậu bị bắt giam cùng với 3 người nữa cũng của PVN và công ty con Tổng Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam (PVC) mà ông Trịnh Xuân Thanh từng làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị. Ba người sau chỉ thấy nói bị khám xét và khởi tố nhưng chưa thấy nói gì đến bị tống giam.

Việc bắt ông Mậu cho đến giờ này, người ta thấy có khá nhiều chức sắc cao cấp của PVN và một số công ty con của tập đoàn, đã bị tống giam tất cả đều liên quan đến tham nhũng và tội “Cố ý làm trái…”

Các vụ việc này đều liên quan xa gần tới tập đoàn PVN dưới thời ông Đinh La Thăng làm chủ tịch Hội Đồng Quản Trị. Dù vậy, ông Thăng chỉ mới bị đẩy ra khỏi Bộ Chính Trị, mất ghế bí thư Thành Ủy Sài Gòn và “ngồi chơi xơi nước” với cái hàm “phó ban kinh tế trung ương.”

Theo nội dung lệnh bắt giam để điều tra được các báo tại Việt Nam đăng tải, ông Mậu bị bắt vì liên quan đến vụ án “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Tổng Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam (PVC) và các đơn vị thành viên.

Hiện nay, cựu chủ tịch PVC là Trịnh Xuân Thanh và Vũ Đức Thuận, cựu tổng giám đốc PVC cùng một số cấp chỉ huy khác tại PVC đã bị tống giam để điều tra. Riêng ông Trịnh Xuân Thanh trốn sang Đức đã bị Hà Nội bắt cóc mang về nước. Hiện chính phủ Đức đã trục xuất hai viên chức tòa đại sứ CSVN và loan báo dừng hợp tác “đối tác chiến lược” với Việt Nam.

Theo thông tin hôm 26 Tháng Chín 2017, ông Lê Đình Mậu và các đồng phạm sử dụng trái quy định số tiền tạm ứng cho dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2.

Ông Lê Đình Mậu, sinh ngày 8 Tháng Mười Hai 1972, quê tại Thanh Hóa. Ông Mậu là cử nhân kinh tế, từ năm 2003 công tác tại Ban Tài Chính Kế Toán và Kiểm Toán của Tập Đoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam. Đến năm 2012, ông Mậu giữ chức trưởng ban kiểm soát Công Ty Cổ Phần Kinh Doanh Dịch Vụ Cao Cấp Dầu Khí Việt Nam sau khi nắm giữ một số chức vụ về kế toán tài chính của tập đoàn. Đến ngày 1 Tháng Sáu 2016 thì được bổ nhiệm chức kế toán trưởng kiêm trưởng ban tài chính, kế toán và kiểm toán.

Cùng lúc bắt giam ông Lê Đình Mậu, công an cũng đã “khởi tố bị can” và khám xét đối với các ông Vũ Hồng Chương, nguyên trưởng Ban Quản Lý dự án điện lực dầu khí Thái Bình 2 thuộc Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam; Trần Văn Nguyên, kế toán trưởng Ban Quản Lý dự án điện lực dầu khí Thái Bình 2 và Nguyễn Ngọc, nguyên phó chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Tổng Công Ty Cổ Phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam (PVC).

Theo những gì thấy phơi bày trên mặt báo về nguyên nhân khởi tố những người nêu trên, “Mặc dù mới có chủ trương giao PVC thực hiện gói thầu EPC của dự án, chưa ký hợp đồng, nhưng trước đó Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam đã làm thủ tục chuyển 8.2 triệu USD và hơn 1,317 tỉ đồng cho Ban Quản Lý dự án điện lực để tạm ứng 6.6 triệu USD và 1,312 tỉ cho PVC, gây thiệt hại cho nhà nước số tiền lãi phát sinh thời điểm tạm ứng đến thời điểm hợp đồng EPC có hiệu lực (11 Tháng Mười 2011) hơn 51.7 tỉ đồng và hơn 66,000 USD.”

Những số tiền ứng trước từ PVN cho PVC dược PVC dùng để trả lãi ngân hàng, trả nợ cho một số công ty con, lại còn dùng để đầu tư thêm một số dự án mà “3 công ty kinh doanh thua lỗ không thu hồi được vốn.”

Ngày 1 Tháng Chín 2017, ông Ninh Văn Quỳnh, nguyên kế toán trưởng, hiện là phó tổng giám đốc Tập Đoàn PVN, đã bị khởi tố và bắt giam liên quan tố tiền “lại quả” hàng chục tỉ đồng từ Oceanbank và tội “cố ý làm trái” dẫn đến mất trắng 800 tỉ đồng đầu tư của PVN. Ông Nguyễn Xuân Sơn, nguyên tổng giám đốc Oceanbank và nguyên phó tổng giám đốc PVN đã bị đề nghị án tử hình trong vụ án “cố ý làm trái…” và tham nhũng gây thảm họa cho ngân hàng vừa kể.

Cuộc điều tra về thất thoát và tham nhũng trong Tập Đoàn PVN có vẻ còn đang được mở rộng nhưng được mở rộng tới mức nào vẫn không ai bên ngoài được biết trong khi phải theo chủ trương “đập chuột không làm vỡ bình” của ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng. (TN)

Mời độc giả xem phóng sự “Đất của người chết trở thành nhà của người sống”

Người tiêu thụ Mỹ bớt lạc quan; số bán nhà mới xây thấp nhất từ 8 tháng nay

WASHINGTON, DC (NV) – Sự lạc quan của người tiêu thụ Mỹ giảm trong Tháng Chín và số nhà bán trong Tháng Tám giảm xuống mức thấp nhất, được cho là vì ảnh hưởng của bão Harvey cùng Irma, tạo lo ngại rằng thiên tai sẽ ảnh hưởng đến mức phát triển kinh tế trong quý 3.

Nền kinh tế Mỹ tuy nhiên vẫn được coi là vững mạnh vì các dữ kiện khác cho thấy giá nhà tăng cao trong Tháng Bảy.

Con số do cơ quan Conference Board đưa ra cho thấy chỉ số lạc quan của người tiêu thụ giảm xuống còn 119.8 trong tháng này, so với 120.4 hồi Tháng Tám, vốn được coi là cao nhất trong năm tháng.

Cơ quan bất vụ lợi có sự tham dự của nhiều doanh nghiệp này cũng cho hay số người cảm thấy “công việc làm dư thừa” giảm xuống còn 32.6% so với 34.4% hồi Tháng Tám, theo bản tin hãng thông tấn Reuters.

Tuy nhiên, số người nói rằng “công việc làm khó kiếm” giảm từ 18.4% xuống còn 18.1%.

Con số người tiêu dùng trông đợi là lợi tức của họ sẽ tăng hiện là 20.5% so với 19.9% hồi tháng qua.

Số người dự trù lợi tức giảm không thay đổi, ở mức 8.3%, Reuters cho biết.

Trong khi đó, một báo cáo của Bộ Thương Mại cho hay số bán của nhà mới xây giảm 3.4% trong tháng qua, xuống còn 560,000 căn, được coi là thấp nhất kể từ Tháng Mười Hai, 2016.

Bộ Thương Mại giải thích rằng đây có thể là do ảnh hưởng của bão Harvey và Irma, cũng theo Reuters. (V.Giang)

Dân cử da đen quỳ gối ở Hạ Viện bày tỏ sự đoàn kết với cầu thủ NFL

Cần biết về bệnh Sốt Xuất Huyết (Dengue)

Khi nào thì phải “nghĩ đến’’ sốt xuất huyết?

Khi có sốt cao thì phải nghĩ ngay đến Sốt Xuất Huyết (SXH). Thà “nghĩ đến” mà không phải còn hơn là chủ quan, để bệnh trở nặng trở tay không kịp!

Vì sao? Vì SXH là một thứ bệnh diễn biến rất khó lường! Cho đến nay, SXH vẫn là thứ bệnh chưa có thuốc đặc trị, chưa có thuốc chủng ngừa. Ở những vùng sâu vùng xa, tỷ lệ tử vong vẫn còn cao, nhất là ở trẻ em! Bệnh diễn biến rất bất ngờ. Mới thấy trẻ chỉ sốt suông, có vẻ khỏe, bỗng rơi vào sốc, trụy tim mạch, rối lọan đông máu, co giật, lúc đó thì đã nặng!

Một trẻ bị sốt cao liên tục 3, 4 ngày liền (sốt trên 39 độ C), khó làm hạ sốt (uống thuốc hạ sốt không hiệu quả), thường chỉ sốt suông (không kèm với ho, ỉa chảy như các lần trước…) thì… “chắc” là SXH rồi, nên đưa ngay đến bệnh viện để được thăm khám.

Bệnh nguy hiểm nhất xảy ra vào ngày thứ ba đến ngày thứ sáu, đó là thời điểm dễ rơi vào “sốc”, đặc biệt lúc vừa giảm sốt, chưa kịp mừng thì bệnh đã trở nặng! Năm xưa, một đứa cháu của một nhà văn nổi tiếng ở miền Trung bị sốt cao ba ngày liền, đưa đi khám bác sĩ, bác sĩ bảo viêm họng, không phải sốt xuất huyết, còn thề thốt nếu cháu mà bị SXH thì ông sẽ… từ chức, bỏ nghề! Kết quả, đứa bé… tử vong vì SXH!

Làm sao biết SXH “chuyển độ” từ nhẹ sang nặng?

Vấn đề là làm sao biết lúc nào thì bệnh chuyển từ độ nhẹ sang có dấu hiệu cảnh báo và sang độ nặng nguy hiểm để can thiệp kịp thời? Có một số dấu hiệu giúp phát hiện sớm sự chuyển độ này với điều kiện bệnh nhân phải được theo dõi thật sát. Ai theo dõi? Chính phụ huynh, người nhà của trẻ bệnh chớ không phải ai khác. Vì trong mùa dịch, bệnh viện tràn ngập, các bác sĩ, điều dưỡng đều đầu tắt mặt tối, không thể theo dõi kỹ trên từng bệnh nhân như người nhà được! Vả lại việc theo dõi các dấu hiệu này cũng dễ, ai cũng làm được nếu biết. Dấu hiệu chuyển độ, từ nhẹ sang nặng là đột nhiên trẻ kêu đau bụng (đau nhiều hơn, đau vùng hông phải), bứt rứt, lăn lộn, kêu khát nước, da đổi sắc (bầm bầm, tím tái), tay chân lạnh, mạch nhanh và nhẹ… Phải báo động ngay cho bác sĩ.

Tóm lại, khi trẻ sốt cao đột ngột, sốt suông (sốt khơi khơi, không kèm ho, sổ mũi gì cả!), khó làm hạ sốt, vài ngày sau nếu có dấu xuất huyết dưới da, chảy máu cam, chảy máu nướu răng (lợi), nổi vết bầm chỗ chích, cắt, lể… thì đã gần chắc là SXH. Khi bệnh trở nặng thì có thêm đau bụng, và dấu hiệu sốc: lạnh tay chân, mạch yếu và nhanh…

Trong khi theo dõi, đặc biệt từ ngày thứ ba trở đi, khi sốt cao đã giảm, chớ vội mừng, nếu thấy bệnh nhân có một vài dấu hiệu dưới đây thì phải báo động ngay cho bác sĩ:

1.Bứt rứt, lăn lộn, vật vả hoặc li bì, lừ đừ…một cách bất thường.

2.Đau bụng, đau nhiều hơn, đau vùng hông phải (vùng gan).

3.Chảy máu cam, chảy máu nướu răng (lợi), đi phân lợn cợn đen, ói có máu…

4.Tay chân lạnh giá, da đổi sắc, bầm bầm, tím tái…

5.Tiểu ít, khát nước nhiều.

SXH ở người lớn?

Những năm gần đây, tỷ lệ SXH ở người lớn ngày càng tăng. Các dấu hiệu SXH Dengue có nhiều điểm khác biệt ở người lớn và trẻ em. Ngoài sốt cao, người lớn thường kèm theo lạnh run, nhức đầu (Sốt Dengue, giống như cảm cúm, có thể tự khỏi, có thể chuyển độ nặng). Thời gian sốt kéo dài hơn (từ 5-7 ngày, dễ nhầm với các bệnh khác) trong khi ở trẻ em chỉ sốt 3-4 ngày. Sốt thường kèm ói mửa, tiêu chảy, đau bụng.

Những trường hợp nặng có dấu hiệu xuất huyết (xuất huyết da, xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết âm đạo, chảy máu răng, chảy máu cam, xuất huyết kết mạc…). Có báo cáo cho thấy có một số biểu hiện nặng khác như viêm cơ tim, xuất huyết não…, suy gan, hôn mê, co giật. Tóm lại, SXH ngày nay không chỉ gặp ở trẻ con mà còn gặp ngày càng nhiều ở người lớn với bệnh cảnh phức tạp hơn và nặng nề hơn. Cho nên phải hết sức cảnh giác.

Mời độc giả xem chương trình du lịch “Dân tộc Karen – Người cổ dài ở Thái Lan”(Phần 2)

Anh lính Cộng Hòa ơi

Thuở đó tâm hồn em sáng trong
Như giấy trắng tinh trải tấm lòng
Chưa biết buồn lo, chưa sầu nhớ
Chưa lén khóc thầm hay đợi mong

Én liệng bầu trời xanh, rất xanh
Xuân, Hè hoa nắng nở long lanh
Nhìn lá vàng bay, mưa phơi phới
Gió thoảng hương thu thoáng qua mành

Rồi Ngày Quân Lực đến mỗi năm
Những chàng trai trẻ chốn xa xăm
Bôn ba khắp nẻo đường đất nước
Mừng đón anh về, hội hoa đăng

Thành phố tưng bừng, nhạc trống vang
Hoa Dù lờ lửng gió mây ngàn
Hoa Rừng, hoa Biển, hoa Đồng Nội…
Sắc áo màu cờ quyện giang san

Cà Mau, Đồng Tháp, đến Kiến Phong…
Anh trai hào kiệt giống Lạc Hồng
Bụi chiến trường xa vương áo lính
Cô bé ngày xưa, xao xuyến lòng

Từ dạo chúng mình quen biết nhau
Anh không thệ ước dưới trăng sao
Chẳng đón đưa em chiều tan học
Chinh nhân ơi! Da ngựa, chiến hào

Làm sao em hờn trách được anh?
Người đi làm rạng rỡ sử xanh
Hiểm trở, dãi dầu nơi chiến tuyến
Mong sao đất nước sớm an lành

Ba mươi, tháng Tư giặc tràn vào!
Đày anh rừng thẳm, biển, núi cao…
Bao năm vật vã trong tù ngục
Thể xác héo mòn, dạ chẳng nao!

Cờ vàng trong nắng phấp phới bay
Chiến sĩ, tấm lòng khó chuyển lay
Dù nay sức yếu, thân chùm gởi
Anh quyết tâm đào luyện người trai

Bản Giốc, Hoàng Sa, đến Trường Sa
Việt Cộng dâng hiến cho Trung Hoa
Tội đồ thiên cổ! Ai bán nước?
Xé nát hồn em! Mắt lệ nhòa

Năm Châu đoàn kết sức thanh niên
Những chàng trai Việt ở ba miền
Tị nạn Cộng thù, hay du học…
Nguyện đưa nước Việt khỏi xích xiềng

Hải ngoại mọi người xiết chặt tay
Trẻ già chung sức dựng tương lai
Cộng Sản tan tành trên cố quốc
Hãy vững lòng tin, có một ngày…

Đường phố hôm nay rộn nói cười
Mừng Ngày Quân Lực, nắng hồng tươi
Người lính Cộng Hòa muôn năm đó
Sống mãi trong tim của mọi người

Mời độc giả xem chương trình du lịch “Dân tộc Karen – Người cổ dài ở Thái Lan”(Phần 2)

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH
(Disabled Veterans and Widows Relief Association)
A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-449949
P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799
Phone: (714) 553-3714, (714) 553-4270, (714) 553-5790, (714) 553-3478, (714) 553-5391
Email: [email protected]; [email protected]
Website: http://www.CAmonanhtb.com
Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH

Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:
(Ghi đến ngày 11 Tháng Chín 2017)

Buong D. Ninh, Salem, OR $50
Hoàng Quang Ðàm, Salt Lake City, UT $50
Ô.B. Nhan Tôn Nguyễn, Elk Grove, CA $50
Châu T. Nguyễn, Randolph, MA $30
Trang M. Lê, Bowling Green, KY $25
To Ðàm, Colorado Sorings, CO $20
Trịnh Trang, Bristow, VA $10
Thuan Dương, Houston, TX $5
Kiên Văn Ðặng, Fountain Valley, CA $100
Cúc Nguyễn & Thu Nguyễn , Tucker, GA $100 (In memory of Major Nguyễn Tươi)
Ô.B. Ðinh Hữu Tô, Philadelphia, PA $100
Cương M. Nguyễn , Houston, TX $100 (Còn tiếp)

Danh sách ân nhân ÐNH ‘Cám Ơn Anh’ kỳ 11:

Ô.B. Minh Q. Lê, Walnut, CA $100
Quang Nguyễn, Philadelphia, PA $100
Lê Phát Hớn, San Jose, CA $100
Thanh P. Ðỗ, Garden City, KS $100
Hòa Trần, Spring, TX $100
Phước Nguyễn, Oakland, CA $100
Dung Cao, San Jose, CA $100
Ngọc Trần, Lowell, MA $100
Ann Ngô/Kwet M. Steinmetz, Fullerton, CA $100
Khôi Quốc Nguyễn, Irvine, CA $50
Bích Ðào T. Trịnh, Silver Spring, MD $50
Thuy Lê, Phoenix, AZ $100
Long D Lê, Phoenix, AZ $50
Hue T Huỳnh, San Jose, CA $60
Nguyễn K. Chiêm, Huntington Beach, CA $60
Ðắc Nguyễn, Litchfield Park, AZ $50
Phan Ngọc Huề, San Jose, CA $50
Ðốc Nguyễn, Canoga Park, CA $50
Sinh Trần, Cleveland, OH $50
Phương Nguyễn, Cary, NC $50
Hanh H. Ðào, Salem, OR $50
Anh Trần, Anaheim, CA $50
Giang Châu Trần, Portland, OR $50
Phan Nguyễn, Valley Center, CA $50
Julie B. Lieu/Pod Joann Lieu, Lorton, VA $50
Hai Trương, Harrisburg, PA $50 (Còn tiếp)

Danh sách TPB VNCH đã được giúp đỡ:

Phan Ngọc Anh, Sóc Trăng, SQ:65/150699/HS/TQLC. Cụt 4 ngón bàn tay phải.
Nguyễn Văn Quới, Hậu Giang, SQ:853228/NQ. Mù mắt phải.
Phan Thí, Trà Vinh, SQ:40/091212/TS/CLQ. Cụt chân trái.,
Nguyễn Văn Lạc, An Giang, SQ:xxxxxx/TS1/ND. Cụt chân phải.
Ðinh Văn Y, Hậu Giang, SQ:52/605014/B2/ÐPQ. Cụt chân phải.
Trần Huông, Sóc Trăng, SQ:59/502281/B2/ND. Cụt chân trái.
Lê Thanh Quang, Vĩnh Long, SQ:52/733590/B2/ÐPQ., Cụt chân phải.
Phan Văn Nhất, Hậu Giang, SQ:58/157328/B2/ND. Cụt chân trái.
Nguyễn Văn Sáu (Hum), Hậu Giang, SQ:828859/NQ. Cụt chân trái.
Nguyễn Văn Xinh, Vĩnh Long SQ:74/006896/B2/CLQ. Cụt chân phải.,
Nguyễn Văn Quan, Vĩnh Long, SQ:56/M03409/NQ. Cụt chân trái.
Nguyễn Khắc Dũng, Vĩnh Long, SQ:800635/NQ. Bị thương ở bụng.
Trần Văn Trử, An Giang, SQ:63/502933/HSI/CLQ, Cụt chân trái.
Lâm Som, Sóc Trăng, SQ:68/517247/B2/CLQ, Mù mắt phải. Gãy tay phải.
Trần Văn Ga, Vĩnh Long, SQ:423293/NQ. Liệt tay phải.
Huỳnh Văn Hưng, Vĩnh Long, SQ:423888/B2/CLQ, Liệt tay phải.
Nguyễn Văn Vân, Hậu Giang, SQ:67/504287/TSI/CLQ, Gãy chân phải.
Nguyễn Văn Sô, Sóc Trăng, SQ:891219/B2/ÐPQ. Cụt bàn chân phải.
Nguyễn Văn Dũng, Vĩnh Long, SQ:56/902498/B2/CLQ, Cụt chân phải.
Lê Văn Nua, Hậu Giang, SQ:423876/NQ. Cụt chân trái.
Ðồng Văn Sơn, Hậu Giang, SQ:34/427073/HS/ÐPQ. Cụt chân phải.
Nguyễn Văn Năng, Trà Vinh, SQ:428123/NQ. Cụt chân trái.
Hà Lượm, Trà Vinh, SQ:41/114010/B2/ÐPQ. Cụt chân phải. (Còn tiếp)

Danh sách quả phụ VNCH đã được giúp đỡ:

Nguyễn Thị Cự, Bình Ðịnh, QP Cố ÐPQ Nguyễn Ngọc Sang SQ:247.791. Tử 09/02/72.
Nguyễn Thị Cúc, Khánh Hòa. QP Cố NQ Lê Tín SQ:104.276. Tử 15/04/72.
Nguyễn Thị Giao, Huế, QP Cố HS Lê Loan SQ:52/290.005. Tử 01/11/66.
Nguyễn Thị Giỏi, Vũng Tàu, QP Cố TrU Cao Thành Tài SQ:64/112.354. Tử 07/08/69.
Nguyễn Thị Hòe, Saigon, QP Cố TrU Ðặng Thành Long SQ:62/417.281. Mất 30/04/75.
Nguyễn Thị Hương, Lâm Ðồng, QP Cố CLQ Phạm Văn Thành SQ:70/134.191. Tử 21/01/73.
Nguyễn Thị Lệ, Saigon, QP Cố B2 Trương Văn Hai SQ:63/807.343. Mất 28/11/73.
Nguyễn Thị Lựa, Long An., QP Cố Dân Vệ Ngô Ngọc Ðiện SQ:Xxx.Xxx. Tử 06/04/61.
Nguyễn Thị Mánh, An Giang, QP Cố HS Nguyễn Văn Chàng SQ:45/212.639. Tử 21/03/73.
Nguyễn Thị May, Darlac, QP Cố ThS Trần Mua SQ:53/201.526. Tử 06/04/67.
Nguyễn Thị Ngọc Em, Bình Dương, QP Cố B2 Tống Phước Lan SQ:73./138.579. Tử 26/07/72.
Nguyễn Thị Sê, Phú Yên, QP Cố TS1 Ðặng Văn Hương SQ:61/414.134. Tử 04/04/71.
(Còn tiếp)

Mời độc giả xem chương trình du lịch “Dân tộc Karen – Người cổ dài ở Thái Lan”(Phần 2)

Ôi tội hồng phúc! (Kỳ 26)

Tuấn đứng xa xa, mỉm cười bâng quơ, lâng lâng với niềm vui hồn nhiên của Hương. Thỉnh thoảng, một luồng gió mạnh từ ngoài sông, quyện theo hương thơm dìu dịu của hoa lá hoang dại, thổi ập tới, hất tung chiếc khăn quàng cổ của chàng. Giữa khung cảnh đất trời lồng lộng, tươi mát, chàng chợt cảm thấy nỗi bất mãn thầm lặng từ tối qua như lắng dịu xuống hẳn. Quỳnh Hương của chàng là thế đấy! Có lúc ngây ngô như trẻ thơ đến đáng yêu, mà lắm lúc lại giáo điều như bà lão đến phát bực!

Cuối tuần này, Hương đón xe đò đường dài từ Montréal lên Ottawa thăm Tuấn. Những người bạn cùng nhà với chàng đều về thăm gia đình ở Montréal nên cả căn hộ rộng lớn bốn buồng ngủ chỉ còn lại hai người. Sau bữa ăn tối, nàng cặm cụi hết lau nhà bếp đến chùi nhà tắm. Phần chàng, dọn dẹp bát dĩa xong, trở vào buồng, chàng tình cờ dừng mắt trên tập sách dày mà nàng mang theo để ôn bài. Tiện tay lôi ra xem chương trình học của nàng, ánh mắt hiếu kỳ của chàng bất giác tối sầm trước cái tên Bùi Thanh Tùng trên một đề cương khóa học. Hóa ra hắn bây giờ trở thành thầy giáo của nàng. Một cảm giác khó chịu mơ hồ bỗng ngự trị tâm can chàng.

Tuấn leo lên giường với tâm trạng nặng nề không nói ra thành lời. Ðang nhắm mắt thiu thiu, chàng bỗng giật mình thức giấc bởi tiếng chân rón rén bước vào buồng. Dưới ánh sáng mờ mờ ảo ảo hắt ra từ chiếc đèn đêm, bóng Hương ẻo lả in trên tường, ngả dài lên người chàng một cách gọi mời. Không kềm hãm được cảm giác rạo rực đang dâng cao trong lòng, chàng bất ngờ chồm dậy, dùng đôi tay mạnh mẽ nhấc bổng nàng lên, xoay một vòng, rồi nhẹ nhàng đáp xuống giường. Chàng háo hức ôm nghiến lấy nàng giữa những nụ hôn cuồng nhiệt:

– Lâu rồi chưa gặp em, nhớ em quá!

– Á! Á! Á! Em buồn ngủ quá!

Hương giãy giụa, mong vùng thoát ra. Tuấn nới lỏng vòng tay, đắm đuối nhìn nàng với ánh mắt thèm khát, thì thào rủ rê:

– Ngủ đây với anh nhé?

– Không được! Không được đâu! Anh không nhớ đã hứa gì với em sao?

Hương hốt hoảng vùng vẫy, lắc đầu nguầy nguậy. Gớm! Lại cái lời hứa thổ tả ấy! Thật là một gáo nước lạnh tạt vào mặt làm tiêu tan bao hứng thú. Niềm tự tôn nam nhi bị thương tổn nặng nề bởi sự từ khước thẳng thừng, Tuấn lầm lì đứng phắt lên, dằn gót bước ra khỏi buồng. Thấy vẻ phật ý của chàng, nàng lo lắng gọi với theo:

– Anh đi đâu đấy?

– Em đuổi thì anh ra buồng khách ngủ.

Sa sầm nét mặt, Tuấn lạnh lùng so vai, bước một mạch về phía buồng khách. Cái tên Bùi Thanh Tùng trên đề cương khóa học lại lấp ló ám ảnh. Hương có thật sự vì lời hứa ấy hay đã lạc lòng vì hắn? Một áng mây hồ nghi u ám chợt phủ trùm lên bộ não tăm tối của chàng. Khắp người bỗng bức bối đến toát đẫm mồ hôi, chàng bực dọc xoay gót. Trong phút chốc, cánh cửa nhà tắm khép lại, tiếp theo là tiếng nước xối xả từ vòi sen. Từng tia nước mát lạnh phun lên bộ mặt dàu dàu rồi miên man chảy dài trên cơ thể nóng rực, xua tan dần luồng hỏa khí hỉ nộ đang thiêu đốt tâm hồn chàng…

Kiều hối giúp Việt Nam ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế

HÀ NỘI (NV) – Khối lượng kiều hối rất lớn từ người Việt Nam đang sống ở nước ngoài giúp ổn định đồng bạc Việt Nam cũng như đóng góp cho phát triển kinh tế trong nước.

Ông Nguyễn Hoàng Minh, phó giám đốc Ngân Hàng Nhà Nước CSVN chi nhánh Sài Gòn được báo chí tường thuật cho hay lượng kiều hối gửi về thành phố được dự báo sẽ tăng 10%, tức có thể đạt con số $5.5 tỷ trong năm nay.

Theo thống kê, lượng kiều hối gửi về thành phố Sài Gòn chiếm tới 60% của lượng kiều hối cả năm trên toàn quốc vào năm ngoái.

Nhờ vậy, nhà cầm quyền Việt Nam thấy yên tâm về nguồn dự trữ ngoại hối vừa để trả nợ nước ngoài, vừa dùng để nhập cảng hàng hóa các loại. Năm 2016, lượng kiều hối chỉ dược khoảng $9 tỉ sau khi đã tăng vọt lên tới $12.25 tỉ trong năm 2015.

Nhà cầm quyền Việt Nam đang lúng túng tìm cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách nới lỏng chính sách tín dụng. Tuy nhiên khả năng đạt mức tăng trưởng 6.7% khó đạt được theo những dấu hiệu được Ngân Hàng Thế Giới ghi nhận.

Theo hãng tin tài chính Bloomberg, ngày 22 Tháng Chín 2017 vừa qua, ông Nguyễn Hoàng Minh cho hay, nhờ lượng kiều hối gia tăng giúp đảm bảo đủ nguồn cung đô la để đáp ứng nhu cầu của các công ty và cá nhân, đồng thời cho phép NHNN tích tụ dự trữ ngoại tệ.

Theo lời ông Minh, nhờ lượng kiều hối dồi dào, áp lực đánh sụt giá đồng nội tệ so với đô la Mỹ giảm thiểu trong dịp cuối năm, đồng thời “giúp Ngân Hàng Nhà Nước theo đuổi các chính sách nhằm giúp tăng trưởng kinh tế.”

“Kiều hối gia tăng vững vàng những tháng gần đây.” Ông Minh nói, “Chúng tôi dự trù khuynh hướng tiếp tục cho đến cuối năm khi Việt kiều ở nước ngoài thường gửi tiền về giúp thân nhân, gia đình vào các dịp lễ Tết.”

Đầu năm ngoái, khi tin về lượng kiều hối tăng vọt bất thường trong năm 2015, một số nhà phân tích đặt nghi vấn về khả năng rửa tiền tham nhũng chạy lòng vòng theo những kênh lậu ra nước ngoài rồi theo các con đường “chính ngạch” chạy về lại Việt Nam.

Kiều hối về Việt Nam từ mức $3.15 tỷ vào năm 2005 đã tăng lên $6.80 tỷ vào năm 2008, sau đó chững lại một thời gian rồi tiếp tục tăng chóng mặt. Kiều hối năm 2014 lên đến $12 tỉ năm nau lên thành $12.25 tỉ nhưng năm sau sụt xuống còn có $9 tỉ.

Trước các tin vui lượng kiều hối để về nuôi guồng máy đảng và nhà nước vừa độc tài vừa tham nhũng, người Việt Nam ở nước ngoài được guồng máy tuyên truyền của chế độ ca ngợi là “khúc ruột ngàn dặm.” Nhưng nếu có ai kêu gọi tự do, dân chủ, nhân quyền thì đều bị cáo buộc là “phản động” và “thế lực thù địch.” (TN) 

Mời độc giả xem phỏng vấn “Cô gái gốc Việt chế cải lương dạy Việt ngữ trên Youtube hơn 2 triệu người xem”(Phần 2)

Tom Cruise ‘liên quan’ đến cái chết của 2 phi công tại phim trường

HOLLYWOOD, California (NV) – Một tai nạn máy bay vào năm 2015 tại Colombia khiến hai phi công thiệt mạng khi quay cảnh mạo hiểm cho bộ phim của diễn viên Tom Cruise sắp công chiếu, “American Made.” Theo hồ sơ của tòa mới thu nhập, diễn viên Cruise “góp phần” dẫn đến sự việc này, theo báo mạng The Huffington Post.

Có tất cả ba người liên quan đến tai nạn này: Ông Jimmy Lee, một nhân viên phim trường, hiện bị liệt nửa người; và một diễn viên phi công chuyên đóng thế, ông Alan Purwin, và phụ tá phi công, ông Carlos Berl, cả hai chết trong vụ tai nạn.

Chiếc may bay hư hại nặng khi va vào một vách núi, và người dân xung quanh nhanh chóng đến tiếp cứu nhưng không kịp.

Gia đình của ông Purwin và ông Berl đang kiện hãng làm phim Imagine Entertainment, Vendian Entertainment và Cross Creek Pictures, cáo buộc rằng diễn viên Tom Cruise và đạo diễn Doug Liman “góp phần” vào tai nạn này khi yêu cầu cả hai bay thêm nhiều chuyến bay cho việc quay phim.

“Với nhiều yêu cầu để thu hút những cảnh quay tại Colombia, diễn viên Tom Cruise và đạo diễn Doug Liman ‘háo hức’ yêu cầu nhiều pha quay trong nhiều giờ, khiến việc thu hình lâu thêm, và tăng tần suất công việc trong lịch làm việc,” theo ghi nhận của tòa.

Tuy nhiên, bản cáo buộc không nêu đích danh tên của diễn viên Tom Cruise và đạo diễn Doug Liman, nhưng cho biết đây là sự “cẩu thả” của hai nhân vật trên.

Gia đình của ông Purwin và ông Berl cũng cho biết đây là “một bộ phim nguy hiểm nhất họ từng thấy.” Họ cũng khẳng định từng gửi một khiếu nại công ty bảo hiểm của hãng làm phim để chống lại diễn viên Tom Cruise và đạo diễn Doug Liman.

Vụ kiện tụng cũng rối rắm hơn, khi gia đình ông Purwin và gia đình ông Garland kiện tụng lẫn nhau, trong khi hãng phim đâm đơn kiện vào đầu tháng này đến hãng hàng không liên quan đến bộ phim.

Bộ phim “American Made,” dự tính công chiếu vào ngày 29 Tháng Chín, và nam diễn viên Tom Cruise vào vai một nhân viên CIA được thuê để vận chuyển ma túy bất hợp pháp, vào thập niên 1980. (Kh.L.)

Mời độc giả xem chương trình dạy tiếng Anh “ESL Garage: Bài học về âm tiết”

Ít nhất có 6 cố vấn Tòa Bạch Ốc sử dụng email cá nhân

WASHINGTON, DC (NV) – Các giới chức cũ cũng như đương nhiệm hôm Thứ Hai cho hay, có ít nhất sáu cố vấn thân cận của Tổng Thống Donald Trump thỉnh thoảng sử dụng email cá nhân để bàn luận về các vấn đề trong Tòa Bạch Ốc.

Theo báo The New York Times, những tiết lộ này được đưa ra chỉ một ngày sau khi có tin nói rằng ông Jared Kushner, con rể và cũng là cố vấn của tổng thống, từng sử dụng email cá nhân để gởi hoặc nhận khoảng 100 email liên hệ đến công việc trong bảy tháng đầu của tân chính phủ.

Không riêng gì ông Kushner, các ông Stephen K Bannon, cựu chiến lược gia trưởng tại Tòa Bạch Ốc; và ông Reince Priebus, cựu chánh văn phòng Tòa Bạch Ốc, thỉnh thoảng cũng dùng email cá nhân vào việc công.

Ngoài ra, các cố vấn khác như Gary Cohn và Stephen Miller, từng gửi hoặc nhận ít nhất vài email trên trương mục cá nhân.

Tuần báo Newsweek hôm Thứ Hai cũng tường thuật rằng, cô Ivanka Trump, con gái lớn của tổng thống và là vợ của ông Kushner, từng dùng email cá nhân trong thời gian làm cố vấn không lương trong những tháng đầu của chính phủ Trump.

Các giới chức phải sử dụng email của chính phủ cho mọi việc công để những trao đổi giữa họ có thể được giám sát và công chúng có thể thẩm tường.

Trong thời gian tranh cử tổng thống, ông Trump không ngừng lên án việc bà Hillary Clinton, ứng cử viên tổng thống đảng Dân Chủ, sử dụng email cá nhân khi đang làm ngoại trưởng Hoa Kỳ.

Ông lấy việc này để làm đề tài cho cuộc vận động, để tô vẽ bà như là một người bất khả tín, và đòi nhốt bà vào tù. (TP)

TT Trump đổ thừa Thượng Nghị Sĩ McCain làm luật y tế mới thất bại

Bộ trưởng Nội Vụ: 1/3 nhân viên không trung thành với TT Trump

WASHINGTON, DC (AP) – Bộ Trưởng Nội Vụ Mỹ, ông Ryan Zinke, cho hay gần một phần ba nhân viên trong bộ này không trung thành với ông cũng như với Tổng Thống Donald Trump.

Ông cũng cho hay sẽ tìm cách thay đổi lề lối làm việc nơi đây để thân thiện hơn với các doanh nghiệp.

Ông Zinke, người từng là trung tá Hải Kích Mỹ trước khi nghỉ hưu, hôm Thứ Hai nói rằng khi ông mới đến nhận chức vụ chỉ huy cơ quan với 70,000 nhân viên này hồi Tháng Ba, ông biết “có 30% số người ở đây không trung thành với lá cờ tổ quốc.”

Trong bài diễn văn đọc trước một nhóm doanh gia thuộc kỹ nghệ dầu hỏa, ông Zinke so sánh Bộ Nội Vụ cũng giống như “một tàu hải tặc bắt được một tàu nhiều hàng hóa quý giá ngoài biển mà chỉ có thuyền trưởng và thuyền phó chèo xuồng tới” để hoàn tất nhiệm vụ.

“Chúng tôi có người tốt tại Bộ Nội Vụ,” ông Zinke cho hay, “tuy nhiên phải có hướng dẫn rõ ràng và phải buộc người ta có trách nhiệm.”

Thượng Nghị Sĩ Maria Cantwell (Dân Chủ-Washington), giới chức cao cấp nhất của đảng Dân Chủ trong Ủy Ban Năng Lượng và Tài Nguyên Thiên Nhiên tại Thượng Viện, nói rằng lời phát biểu của ông Zinke cho thấy ông không hiểu gì về vai trò của các công chức.

Bà Cantwell nói phần lớn trong số 70,000 nhân viên của Bộ Nội Vụ là công chức, thi hành các luật lệ do Quốc Hội thông qua, chứ không phải là những người được bổ nhiệm do khuynh hướng chính trị của họ, và nhiều người trong số này có những hiểu biết sâu xa trong phần hành của mình.

“Thay thế các công chức này bằng những người thuần túy chính trị sẽ không bảo vệ được đất công hay người trả thuế trước các đòi hỏi của thành phần quyền lợi đặc biệt,” bà Cantwell nói. (V.Giang)

 

Tin mới cập nhật