TNS Janet Nguyễn muốn thợ nail được làm ‘wax giới hạn’

WESTMINSTER, California (NV) – Một nhóm công tác đặc biệt do Hội Đồng Thẩm Mỹ California (BBC) thành lập, theo đề nghị của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn, sẽ nghiên cứu xem liệu có thể cho phép những người thợ nail tại California được làm thêm dịch vụ “wax giới hạn” đối với lông mép, lông mày, lông từ cùi chỏ cho tới ngón tay, hoặc từ đầu gối cho tới ngón chân bằng cách học thêm một số giờ nhất định nữa hay không.

Lý do Thượng Nghị Sĩ Janet quyết định đưa ra đề nghị này là vì, “Tại California, có đến 80% thợ nail là người Mỹ gốc Việt, và trên toàn quốc con số này là 60%. Nhiều con em trong cộng đồng này trở thành kỹ sư, bác sĩ, luật sư cũng từ sự vất vả làm nail của cha mẹ, anh chị trong gia đình để cho họ có một tương lai tốt đẹp hơn. Trong bối cảnh ngành nail đang ngày càng khó khăn, việc tạo điều kiện để những thợ nail nào muốn có thể học thêm một số giờ lấy bằng ‘wax giới hạn’ để có thể kiếm thêm thu nhập là điều chúng tôi quan tâm và muốn thực hiện.”

Bà phân tích, “Ai cũng biết, để lấy được bằng nail, người ta phải học 400 giờ. Muốn làm thêm ‘wax’ thì phải học 1,600 giờ, trong đó bao gồm luôn cả việc học làm tóc, làm mặt. Trong khi nhiều người thợ nail không hề muốn làm thêm những công việc này, mà họ chỉ muốn làm ‘wax giới hạn’ một số nơi trên cơ thể như lông mép, lông mày, lông từ cùi chỏ cho tới ngón tay, hoặc từ đầu gối cho tới ngón chân mà thôi.”

Nghiên cứu kinh nghiệm của tiểu bang New York, là chỉ yêu cầu thợ nail phải hoàn tất 75 giờ học để có thể được cấp thêm bằng hành nghề “wax giới hạn,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn và Thượng Nghị Sĩ Jerry Hill đã gởi một lá thư đến Hội Đồng Thẩm Mỹ California, yêu cầu họ lập ra một Nhóm Công Tác để xem xét về vấn đề này.

Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Hội Đồng Thẩm Mỹ California đã chấp thuận thư yêu cầu của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn và sẽ báo cáo kết quả cho Quốc Hội vào đầu Tháng Mười Hai, 2017.

“Chúng tôi muốn Hội Đồng Thẩm Mỹ California thử làm một nghiên cứu xem liệu tiểu bang California có thể làm giống như New York được không, có thể là học thêm 75 giờ, 100 giờ hay, 200 giờ gì đó. Chúng tôi muốn tìm cách nào thuận tiện nhất để người thợ nail có thêm dịch vụ chuyên nghiệp qua một sự huấn luyện để bảo đảm an toàn cho khách hàng nhưng không phải trải qua những đòi hỏi khó khăn,” Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn nói.

Vì những lý do này và việc lập ra Nhóm Công Tác của Hội Đồng Thẩm Mỹ California, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn đã giới thiệu Dự Luật Thượng Viện SB 296, mở rộng định nghĩa về Bằng Hành Nghề của chuyên viên làm móng tay bao gồm việc được làm “wax giới hạn,” sau khi bằng hành nghề này hội đủ một số yêu cầu. Quốc Hội California sẽ xem xét dự luật SB 296 vào năm 2018.

Mời độc giả xem phóng sự “Muôn nẻo đường đến với nghề nail”

“Nếu nghiên cứu của Hội Đồng Thẩm Mỹ California cho biết là điều đó có thể thực hiện được thì Dự Luật SB 296 của chúng tôi năm tới sẽ thành luật, và đến năm 2019 thì quý đồng hương nào muốn làm thêm ‘wax giới hạn’ có thể bắt đầu học để có cơ hội tăng thêm thu nhập để nuôi sống gia đình,” bà nói.

Năm 2016, một dự luật của Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn đưa ra cũng đã thành luật, liên quan đến hai vấn đề: thứ nhất là các văn bản luật lệ của ngành nail được in thành bốn thứ tiếng Anh, Tây Ban Nha, Triều Tiên, và Việt.

“Khi gia hạn bằng hành nghề, quý vị có quyền yêu cầu Hội Đồng Thẩm Mỹ California gửi những văn bản liên quan đến luật lệ mới bằng tiếng Việt để có thể hiểu được rõ ràng hơn,” thượng nghị sĩ cho biết.

Thứ hai, những ai bị phạt từ $500 trở lên có quyền xin Hội Đồng Thẩm Mỹ California cho trả góp từng tháng, chứ không phải trả một lần.

Bà giải thích thêm, “Những ai là chủ trước đây bị phạt vài ngàn mà không có tiền đóng phạt thì tiểu bang rút lại giấy phép, tiệm bị đóng cửa. Giờ thì mình có quyền xin được trả góp hàng tháng theo khả năng của mình, và tất nhiên tùy theo từng trường hợp mà Hội Đồng Thẩm Mỹ giải quyết.”

Trong vai trò một thượng nghị sĩ đại diện cho địa hạt 34, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn kêu gọi, “Quý vị có cần giúp gì cứ mạnh dạn liên lạc với văn phòng chúng tôi, chúng tôi sẽ làm hết khả năng của mình để giúp quý vị, hoặc có cần hỏi gì thì cứ gọi cho chúng tôi ở số (714) 741-1034. Nhiều khi quý vị cần luật gì thì cũng cho chúng tôi biết để chúng tôi xem có thể giúp được hay không.”

Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn được cử tri Địa Hạt 34 của California bầu chọn qua cuộc bầu cử năm 2014. Với chiến thắng này, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn trở thành phụ nữ đầu tiên đại diện Địa Hạt 34 và là người Việt Nam đầu tiên trong lịch sử được bầu vào Thượng Viện California. Bà hiện cũng là dân cử gốc Việt cao cấp nhất tại California.

Mời độc giả xem phỏng vấn “TNS Janet Nguyễn đề nghị thợ nail học thêm ít giờ để có bằng wax giới hạn”

Liên lạc tác giả: [email protected]

Quốc lộ qua Ðồng Nai ngập cả mét sau cơn mưa

ÐỒNG NAI (NV) – Tuy cơn mưa không lớn nhưng con đường huyết mạch nối Sài Gòn đi Bà Rịa-Vũng Tàu ngang qua Ðồng Nai bị chia cắt khi nước ngập bủa vây, có nơi sâu cả mét.

Theo truyền thông Việt Nam, sau cơn mưa khá lớn tối 5 Tháng Chín, nhiều nơi ở thành phố Biên Hòa như phường Tân Hiệp, Bình Ða, Long Bình… ngập nặng. Trong đó, một đoạn thuộc Quốc lộ 51 dài chừng 500 mét băng qua phường Long Bình Tân ngập sâu đến gần cả mét.

Tường thuật của VNExpress ngày 6 Tháng Chín, ở đoạn đường trên, nước ngập lút bánh xe khiến hàng loạt người đi xe máy phải hì hục dắt bộ. Nhiều xe hơi không dám băng qua do nước chảy xiết khiến quốc lộ kẹt xe trầm trọng kéo dài nhiều cả cây số. Công nhân khu công nghiệp Biên Hòa 1 và 2 không thể về nhà, đứng chờ nước rút.

“Ðoạn đường này cứ hễ mưa là ngập. Mấy lần trước đường ngập, tôi cố chạy qua nên bị té ướt hết đồ đạc, điện thoại, nên hôm nay đợi nước rút tuy hơi lâu nhưng về cho an toàn,” chị Hồng, một nữ công nhân nói.

Nước mưa còn tràn vào hàng chục khu nhà trọ, cửa hàng, trường học… ở phường Long Bình Tân. Nhiều xe máy, đồ đạc không kịp kê lên cao đã bị nước nhấn chìm, gây hư hỏng.

Bà Mai Thị Thanh Thúy (49 tuổi), ở khu phố Bình Dương, phường Long Bình Tân, ngao ngán nói: “Tình trạng ngập mỗi khi mưa lớn đã kéo dài nhiều năm nay nhưng chưa được khắc phục. Ðây là lần ngập sâu nhất từ trước tới nay. Nước vào quá nhanh đến nỗi không kịp dọn đồ đạc.”

Ông Lê Anh Khanh, chủ tiệm xe Tuấn Khanh, gần bên cũng cho biết, trận mưa vừa qua gia đình anh thiệt hại không dưới vài chục triệu đồng. “Vừa rồi nhà tôi đã nâng nhà lên 1.5 mét nhưng nước vẫn vào. Chỗ sâu nhất ngập tới cổ. Ðồ đạc trong nhà hư hỏng hết,” ông Khanh nói.

“Không chỉ ảnh hưởng người đi đường mà cuộc sống sinh hoạt của người dân cũng bị xáo trộn, nhiều lúc nước ngập hư hết tài sản, đồ đạc,” ông Nguyễn Văn Sơn (48 tuổi), phường Long Binh Tân cho bất bình nói.

Nói với báo điện tử VNExpress, ông Hoàng Văn Thiện, chủ tịch phường Long Bình Tân cho biết, cơn mưa lớn tối qua đã khiến khoảng 50 hộ dân khu phố 1 bị ngập nặng, quốc lộ 51 kẹt xe hơn một giờ.

“Ðây là đợt ngập đầu tiên trong năm, có nơi sâu nhất gần 1 mét nước, nhưng không lớn bằng mọi năm,” ông Thiện nói.

Theo ông Nguyễn Phước Huy, giám đốc Trung Tâm Khí Tượng Thủy Văn Ðồng Nai: “Lượng mưa tối 5 Tháng Chín đo được ở Biên Hòa từ 24.6-46.1 mm, cường độ cao nhưng mưa ngắn, ấy vậy mà nước thoát không kịp nên gây ngập nặng,” ông Huy cho biết. (Tr.N)

Em rể đánh chết chị vợ bại liệt để ‘khỏi làm phiền’

ÐỒNG NAI, Việt Nam (NV) – Chỉ vì bà chị vợ bị bại liệt ở nhờ làm phiền, ông em rể sống ở xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, đã dùng cây phơi quần áo đánh chết để khỏi làm phiền.

Báo Pháp Luật TP.HCM loan tin, chiều 5 Tháng Chín, công an tỉnh Ðồng Nai đã bắt giữ ông Hồ Lê Phước (34 tuổi), quê tỉnh Ðắk Lắk khi đang lẩn trốn tại một nhà trọ ở xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch. Ông Phước được xác định là nghi can dùng cây phơi đồ đánh chết bà Trần Thị Cẩm Tâm (36 tuổi), quê Ðắk Lắk, là chị vợ của ông này.

Trước đó, vào khoảng 20 giờ 30 đêm 4 Tháng Chín, bà Trần Thị Kim Cúc (32 tuổi), em gái bà Tâm, vợ ông Phước đi làm về nhà ở xã Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch thì phát hiện chị gái mình chết ở nền nhà với nhiều vết thương trên cơ thể. Bà Cúc hốt hoảng liền gọi điện báo sự việc lên công an. Trong khi đó, ông Phước không có mặt ở nhà.

Nhận được tin báo, công an tỉnh Ðồng Nai đến khám hiện trường, tiến hành giảo nghiệm tử thi và xác định bà Tâm bị “đa chấn thương dẫn đến chết.”

Khai báo ban đầu với công an, ông Phước cho biết đã dùng cây phơi đồ đánh bà Tâm đến chết. Bà Tâm bị bại liệt, sống chung với vợ chồng ông Phước khoảng một tháng nay. Thời gian gần đây, bà Tâm thường xuyên đại tiểu tiện không kiểm soát ra khắp phòng nên bị ông Phước chửi mắng nhiều lần. Sau khi giết người, ông Phước đã bỏ trốn khỏi nơi ở. (Tr.N)

Sài Gòn bắt hai container ngà voi giấu trong thùng nhựa đường

Vượt sông bằng xe bò, 3 người ở Ninh Thuận mất tích

BÌNH THUẬN (NV) – Do không có cầu để qua sông, hai người đàn ông và một phụ nữ ở xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn đã vượt sông bằng xe bò để vào rẫy đã bị nước lũ thượng nguồn bất ngờ đổ về cuốn trôi mất tích.

Ðến trưa ngày 6 Tháng Chín, nói với báo Người Lao Ðộng, ông Ðinh Hữu Sỹ, chủ tịch xã Mỹ Sơn, cho biết, lực lượng cảnh sát cứu hộ công an tỉnh Ninh Thuận cùng người dân địa phương vẫn đang tìm kiếm 3 người mất tích trên sông Cái, xã Mỹ Sơn, huyện Ninh Sơn.

Tin cho biết, khoảng hơn 22 giờ ngày 5 Tháng Chín, các ông Nguyễn Ðình Nghĩa (55 tuổi), Thới Khẩn (53 tuổi), Nguyễn Hữu Phương (47 tuổi) và bà Huỳnh Thị Thu Hà (49 tuổi) cùng đi trên hai chiếc xe bò từ xã Mỹ Sơn vượt sông Cái qua xã Phước Vinh, huyện Ninh Phước để đến rẫy ngủ lại đêm canh giữ gia súc và hoa màu.

Do vài ngày qua, ở Ninh Thuận có mưa lớn. Khi ra đến giữa dòng, bất ngờ nước lũ từ thượng nguồn đổ về cuốn trôi cả người và xe bò. Ông Phương may mắn bơi được vào bờ, nhưng 3 người còn lại đã bị nước cuốn mất tích.

Theo truyền thông Việt Nam, vào buổi chiều cùng ngày, 4 người này đã đi xe bò băng qua sông an toàn. Tuy nhiên, khi về thì bị nạn. Hiện công tác tìm kiếm đang gặp nhiều khó khăn bởi nước quá đục và chảy xiết. (Tr.N)

Quốc lộ qua Đồng Nai ngập cả mét xe sau cơn mưa

Đi săn ở Montana, một ông bị gấu cào rách đầu suýt chết

HELENA, Montana (AP) – Một con gấu xám giành con mồi của một người đi săn tại Montana, tấn công người này, gây ra vết cắt dài 16 inch (khoảng 41 cm) trên đầu ông, khiến phải cần tới 90 mũi khâu mới đóng lại.

“Con gấu nhào thẳng tới chúng tôi,” theo lời ông Tom Sommer, khi đang bình phục tại một bệnh viện ở Montana trưa ngày Thứ Ba. Ông cho hay con gấu xám này chỉ cần 3 hay 4 giây là vượt qua khoảng cách chừng 9 mét để tới ngay họ.

“Nó cắn vào hông tôi, cào cổ tay, và sau đó tấn công vào đầu tôi,” ông Sommer nói.

“Tôi có thể nghe thấy xương đầu mình kêu rào rạo, cũng như bạn từng nghe kể trước đây về các vụ tấn công,” ông Sommer cho biết tiếp.

Ông Sommer nói rằng ông và một người bạn săn đang tìm kiếm con nai mà họ vừa dùng cung bắn được sáng ngày Thứ Hai, thì người bạn bất chợt nhìn thấy con gấu ở khu vực Gravelly Range, nằm ngay về phía Bắc của biên giới với Idaho.

Người bạn ông xịt thuốc chống gấu, khiến con vật chậm lại. Ông Sommer nói ông rút bình xịt của mình ra nhưng quên không mở nắp an toàn và sau đó không còn thời giờ ngó xuống vì con gấu đã đến gần. Ông chạy quanh thân cây và làm rớt bình thuốc xịt.

Dù bị thương, ông Sommer vẫn cố rút khẩu súng lục của mình ra, định bắn vào cổ con gấu, nhưng nó lấy tay đập văng khẩu súng của ông.

Sau đó, con vật chợt ngừng lại rồi bỏ đi. Người bạn của ông Sommer tiếp tục xịt thuốc chống gấu, chấm dứt cuộc tấn công vốn theo ông chỉ kéo dài khoảng 25 giây.

“Tôi còn may mắn lắm,” ông cho biết.

Sau khi cầm máu, ông Sommer và người bạn đi bộ gần hai cây số về nơi dựng trại, đi lừa hơn sáu cây số nữa để ra bãi đậu xe, và tiếp theo là hai giờ lái xe truck đến bệnh viện ở Ennis.

Ông Sommer, 57 tuổi, cho hay là thợ săn từ nhiều năm nay, nói rằng không giận dữ gì với con gấu.

“Nó chỉ có phản ứng của con gấu, cũng như tôi, tôi sẽ bắn nó chết.”  (V.Giang)

Bốn cảnh sát viên Bắc California bị truy tố tội có hành vi tấn công “bệnh hoạn” đối với tù nhân

Sài Gòn: Bắt 1.3 tấn ngà voi giấu trong thùng nhựa đường

SÀI GÒN (NV) – Lần đầu tiên các giới chức của Hải Quan Sài Gòn phát hiện hơn 1.3 tấn ngà voi nhập lậu từ Châu Phi được cất giấu tinh vi trong các thùng phuy chứa nhựa đường.

Ngày 6 Tháng Chín, báo Lao Ðộng dẫn tin từ Chi Cục Hải Quan cảng Sài Gòn khu vực 1 cho biết cơ quan này vừa phối hợp với công an Sài Gòn tiến hành khám xét 2 container khả nghi và phát hiện hàng trăm khúc ngà voi được ngụy trang trong các thùng nhựa đường.

Theo các giới chức, đây là lô hàng của công ty Empire Group, trụ sở ở quận Phú Nhuận nhập quá cảnh về Việt Nam để đưa sang Cambodia. Trên hồ sơ, công ty này khai báo là nhựa đường, đóng trong hơn 100 thùng phuy.

Tuy nhiên qua soi chiếu, Hải Quan nghi ngờ bên trong chứa hàng cấm nên kiểm tra thực tế. Kết quả trong số hơn 100 “thùng phuy nhựa đường” trên, mỗi thùng chứa từ 30-50 đoạn ngà voi cắt khúc, khối lượng hơn 110 kg xen lẫn với mùn cưa và thạch cao, trên cùng là lớp nhựa đường.

Theo các giới chức, đây là lần đầu tiên một thủ đoạn mới trong việc cất giấu ngà voi nhập lậu bị bắt giữ. Nếu như các lần trước, ngà voi được giấu lẫn trong thủy sản, các khối gỗ rỗng ruột thì lần này được nguy trang tinh vi hơn nhằm tránh sự phát hiện của các máy soi container. (Tr.N)

Quốc lộ qua Đồng Nai ngập cả mét xe sau cơn mưa

Nữ sinh gia đình ngoại giao đâm nam sinh trọng thương

Một thiếu niên 13 tuổi vào trưa ngày Thứ Ba bị một nữ sinh 14 tuổi, có quyền đặc miễn ngoại giao, đâm mấy nhát dao tại một trường tư thục ở Washington, DC. Cảnh sát đô thành cho hay vụ đâm người này xảy ra lúc 12 giờ 50 phút trưa tại trường British International School.Theo bản tin của tờ New York Daily News, cảnh sát tới nơi thấy một thiếu niên bị mấy nhát dao đâm.Nạn nhân được cấp tốc chở vào bệnh viện với các vết thương được coi là không đe dọa tính mạng.

Putin kêu gọi thương thảo với Bắc Hàn, cho hay trừng phạt không hiệu quả

SEOUL, Nam Hàn (AP) – Tuy cùng lên án Bắc Hàn về vụ thử nguyên tử mới nhất, hai nhà lãnh đạo Nga và Nam Hàn lại không đồng ý về vấn đề gia tăng trừng phạt nhắm vào chế độ Bình Nhưỡng, sau một cuộc họp hôm Thứ Tư ở cảng Vladivostok của Nga.

Lên tiếng sau cuộc họp với Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-in, Tổng Thống Nga Vladimir Putin kêu gọi có cuộc thương thảo với Bắc Hàn, nói rằng trừng phạt không là giải pháp để chấm dứt chương trình nghiên cứu hỏa tiễn và nguyên tử của quốc gia này.

Ông Moon kêu gọi Moscow hậu thuẫn việc có biện pháp trừng phạt nặng nề hơn với Bắc Hàn, vốn vừa thực hiện vụ nổ lần thứ sáu hôm Chủ Nhật vừa qua, và cho hay thành công trong việc chế tạo bom khinh khí có thể đặt lên hỏa tiễn.

“Chúng ta không nên có thái độ bồng bột và dồn Bắc Hàn vào một góc,” ông Putin tuyên bố trong cuộc họp báo sau cuộc họp về phát triển kinh tế ở vùng Viễn Đông của Nga.

Ông Putin dự trù sẽ gặp Thủ Tướng Nhật Shinzo Abe tại đây hôm Thứ Năm này và chắc chắn vấn đề Bắc Hàn sẽ lại được nêu lên.

Hôm Thứ Tư, ông Abe tuyên bố trước khi rời khỏi Nhật rằng “phải để Bắc Hàn thấy rằng sẽ không có tương lai sáng sủa nếu tiếp tục theo con đường này.”  (V.Giang)

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 6 tháng 9 năm 2017

Bắc Kinh lại gọi Hoàng Sa là ‘lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc’

BẮC KINH (NV) – Bắc Kinh nói quần đảo “Tây Sa” (Việt Nam gọi là quần đảo Hoàng Sa) là một thành phần không thể tranh cãi của nước Trung Quốc, vốn là lành thổ “cố hữu.”

Trong cuộc họp báo tại Bắc Kinh hôm Thứ Tư, 6 Tháng Chín 2017, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Geng Shuang (Cảnh Sảng) nói như trên khi được hỏi về phản ứng đối với lời tuyên bố của Việt Nam phản đối hành động tập trận của Trung Quốc tại khu vực gần quần đảo Hoàng Sa mà Việt Nam vẫn xác định chủ quyền “không thể tranh cãi.”

“Quần đảo Tây Sa là một thành phần không thể tranh cãi của Trung Quốc, vốn là lành thổ ‘cố hữu.’ Cuộc tập trận quân sự của lực lượng võ trang Trung Quốc gần quần đảo Tây Sa nằm trong vùng chủ quyền của Trung Quốc, và chúng tôi hy vọng các phía khác nhau tôn trọng (chủ quyền của chúng tôi) một cách bình tĩnh và hợp lý.”

Phản ứng của ông Cảnh Sảng được đưa ra sau khi bà Lê Thị Thu Hằng, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam lên tiếng “phản đối mạnh mẽ” cuộc tập trận kéo dài một tuần lễ của Trung Quốc diễn ra trong vùng biển của Việt Nam, chỉ cách Ðà Nẵng có 75 hải lý. Cuộc tập trận lần này rất gần với Việt Nam như một sự thách đố Hà Nội, đồng thời dằn mặt Hà Nội khi có các hành động làm Bắc Kinh tức giận.

Bà Hằng ngày Thứ Năm tuần trước đã bày tỏ “hết sức quan ngại” về cuộc tập trận bắn đạn thật của Trung Quốc diễn ra từ ngày 29 Tháng Tám đến 4 Tháng Chín 2017 “trong khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ.”

“Lập trường của Việt Nam là mọi hoạt động của nước ngoài trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam cần phải được thực hiện phù hợp với các quy định của luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Việt Nam đề nghị Trung Quốc chấm dứt và không lặp lại các hành động làm phức tạp tình hình tại Biển Ðông.” Lời bà Hằng ngày 31 Tháng Tám được dẫn lại trên Thông Tấn Xã Việt Nam.

Hôm sau, tức Thứ Sáu tuần trước, bà Hoa Xuân Oánh, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cũng đã phản bác lại lời tuyên bố của bà Hằng.

“…Quân đội Trung Quốc hiện đang tập luyện bình thường ở vùng biển Tây Bắc của tỉnh Hải Nam theo kế hoạch huấn luyện hàng năm. Cục An Toàn Hàng Hải của tỉnh Hải Nam đã ra thông báo trước như thường lệ và theo luật. Khu vực tập trận là vùng biển thuộc pháp quyền của Trung Quốc. Trên căn bản luật nội bộ của Trung Quốc, luật quốc tế và thông lệ quốc tế, cuộc tập trận của Trung Quốc trong vùng biển liên quan là nằm ngoài vùng tranh chấp. Chúng tôi hy vọng các nước liên quan nhìn vấn đề ấy một cách bình tĩnh và hợp lý.”

Việt Nam đã rất nhiều lần lập đi lập lại lời tuyên bố xác nhận chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với các bằng chứng lịch sử “không thể tranh cãi.” Nhiều cuộc triển lãm các tấm bản đồ cổ, sách sử của cả Trung Quốc và các nguồn tư liệu khắp nơi trên thế giới, chứng minh rằng hai quần đảo này là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ngư dân Việt Nam coi các vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa là các ngư trường truyền thống suốt bao đời qua.

Lời qua tiếng lại ngược nhau về vấn đề chủ quyền lãnh thổ giữa phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam và Trung Quốc chứng tỏ tình nghĩa “4 tốt” và “16 chữ vàng” của hai nước Cộng Sản anh em chỉ là những khẩu hiệu để hô hào mỗi khi lãnh tụ hai đảng Cộng Sản gặp nhau.

Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ từ năm 2000 nhưng cho đến nay các cuộc họp kế tiếp về vùng biển chồng lấn giữa hai nước gần như bế tắc. Việt Nam vẫn tuyên bố chủ quyền “không thể tranh cãi” với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong khi đó, Trung Quốc còn ngang ngược tuyên bố chủ quyền chiếm hơn 80% Biển Ðông theo 9 vạch nối lại giống hình “lưỡi bò.” Không những nuốt gọn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong đó, nhiều khu vực cái vạch “lưỡi bò” lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và một số nước khác trong khu vực.

Hồi Tháng Bảy, Việt Nam đã buộc phải bỏ ngang cuộc dò tìm dầu khí tại lô 136-3 thuộc khu vực Tư Chính- Vũng Mây khoảng 160km phía Ðông Nam Vũng Tàu vì bị Bắc Kinh đe dọa sẽ đánh các căn cứ của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Nhiều cuộc dò tìm dầu khí của Việt Nam trên thềm lục địa Việt Nam nằm trong phạm vi 200 hải lý cũng đã bị Bắc Kinh cản trở. (TN)

Mời độc giả xem phóng sự “Từ Sài Gòn học nail để đi Mỹ”

Bốn cảnh sát viên Bắc California bị truy tố tội có hành vi tấn công “bệnh hoạn” đối với tù nhân

Bốn cảnh sát viên thuộc một văn phòng cảnh sát ở Bắc California vừa bị bắt giữ tuần qua về các tội hình sự vì đã hành hạ tù nhân bằng cách ném phân và nước tiểu vào họ.

 

Quốc lộ qua Đồng Nai ngập cả mét xe sau cơn mưa

Tuy cơn mưa không lớn nhưng con đường huyết mạch nối Sài Gòn đi Bà Rịa – Vũng Tàu ngang qua Đồng Nai bị chia cắt khi nước ngập bủa vây, có nơi sâu cả mét. Theo truyền thông Việt Nam, sau cơn mưa tối 5 Tháng Chín, nhiều nơi ở thành phố Biên Hòa như phường Tân Hiệp, Bình Đa, Long Bình… ngập nặng.

Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ

WESTMINSTER, California (NV) – “Những thế hệ đi sau như chúng tôi, muôn đời rất biết ơn những người chiến sĩ của Quân Lực VNCH đã từng phục vụ cho đất nước Việt Nam. Chúng tôi đang là một quân nhân của chính phủ Hoa Kỳ, vẫn tiếp tục tranh đấu cho lý tưởng tự do, và vẫn không quên nguồn gốc của mình là người Việt Nam.”

Đó là lời của Chuẩn Tướng Châu Lập Thế, Vệ Binh Hoa Kỳ ở Virginia, nói trong buổi lễ đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, Westminster, vào sáng Chủ Nhật, 3 Tháng Chín, vừa qua.

Trong lễ truy điệu diễn ra tại đây, tất cả các quân nhân gốc Việt đều mặc quân phục chỉnh tề. Đi trước là hai quân nhân trịnh trọng mang vòng hoa được kết thành lá quốc kỳ VNCH, các quân nhân theo sau vòng hoa đến đặt trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ và giơ tay chào kính.

Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ Chris Phan, một sáng lập viên Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt, cho biết: “Hội tổ chức buổi lễ đặt vòng hoa này là để tưởng niệm những quý chú bác trong Quân Lực VNCH và những cựu chiến binh Hoa Kỳ đã nằm xuống để cho các con cháu chúng ta được sống tự do trên xứ sở này.”

Các quân nhân Mỹ gốc Việt trong nghi thức khai mạc. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Chúng tôi hãnh diện vì được phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Nhưng còn một hãnh diện hơn nữa, đó là hơn 42 năm qua, cộng đồng người Việt của chúng ta đã gầy dựng một lý tưởng, mà lý tưởng này do từ cha mẹ, từ những chú bác trong Quân Lực VNCH cho chúng tôi, chứ không phải do riêng chúng tôi mà tự có được. Chúng tôi được dạy dỗ là phải phục vụ cho quốc gia dân tộc Việt Nam cũng như của chính phủ Hoa Kỳ đã cưu mang, cho chúng tôi có được tự do như ngày hôm nay,” ông tâm tình.

Một sáng lập viên nữa của hội là cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ hồi hưu Nguyễn Văn Thọ, cũng có lời chia sẻ: “Tôi vượt biên và được định cư tại Hoa Kỳ 1980. Sau đó, tôi được học tại trường đại học của Hoa Kỳ. Trước khi tốt nghiệp đại học, tôi đã gia nhập vào sĩ quan trừ bị của Quân Đội Hoa Kỳ và được đeo lon thiếu úy. Sau 28 năm, tôi đã làm rất nhiều công việc khác nhau trong quân đội, tôi được đeo lon trung tá, và được hồi hưu vào năm ngoái, nhưng vẫn còn là một thành viên của hội này để hướng dẫn các em trẻ sĩ quan gốc Việt của quân đội Hoa Kỳ trong vấn đề binh nghiệp.”

Kể về việc thành lập hội, cựu trung tá Hải Quân Hoa Kỳ hồi hưu Nguyễn Anh Tuấn cho phóng viên nhật báo Người Việt biết: “Năm 2007, tại chiến trường Iraq, Thiếu Tá Hải Quân Hoa Kỳ Christ Phan và Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Nguyễn Văn Thọ gặp nhau tại chiến trường và cùng có ý kiến lập ra một hội để các quân nhân người Mỹ gốc Việt được quen biết, giúp đỡ lẫn nhau về tinh thần, cũng như chia sẻ với nhau về những kinh nghiệm làm việc trong Quân Đội Hoa Kỳ.”

Từ trái, Chuẩn Tướng Châu Lập Thể, nữ tài tử điện ảnh Kiều Chinh, cựu phóng viên chiến trường Nick Út, và nữ Đại Tá Mimi Phan. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Đến năm 2008, hai ông về Nam California lập ra hội này, với danh xưng là Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt. Cho đến bây giờ, hội có khoảng 1,500 hội viên. Kể từ sau năm 1975, có khoảng trên 10,000 quân nhân người Mỹ gốc Việt tính luôn cả hồi hưu đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Cho đến bây giờ, có khoảng hơn 20,000 quân nhân Mỹ gốc Việt đang hoặc hồi hưu của quân đội Hoa Kỳ,” ông nói thêm.

Nữ Đại Tá Mimi Phan, hội trưởng Hội Quân Nhân Người Mỹ Gốc Việt, kiêm trưởng ban tổ chức tiệc ra mắt hội với cộng đồng người Việt tại California, cho biết: “Vào khoảng Tháng Hai, 2016, tôi có về Việt Nam vì bố của tôi bị ngã bệnh khi về Việt Nam. Trong khoảng bảy ngày ở bệnh viện cùng bố, tôi có quan sát được những gì chung quanh mình. Từ một quốc gia có tự do dân chủ, mình cảm thấy hơi buồn vì thấy đất nước của mình còn nghèo quá. Mình mong rằng một ngày nào đó dân tộc của mình có thể được cường mạnh hơn nữa.”

Đến dự lễ, ông Nguyễn Phước Ái Đỉnh, cựu Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, hội trưởng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam Đà Lạt Nam California, nói: “Mục đích chúng tôi đến tham dự buổi lễ này là để đại diện cho một đơn vị của Quân Lực VNCH đến tưởng niệm các chiến sĩ Việt-Mỹ đã hy sinh tại chiến trường Việt Nam, đồng thời cũng tưởng niệm người con của tôi là cựu quân nhân của Sư Đoàn 101 Nhảy Dù Hoa Kỳ, đã nằm xuống cho công việc phụng sự quốc gia Hoa Kỳ tại chiến trường Iraq.”

Ban tổ chức, quan khách và đồng hương đến tham dự. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

“Đối với những anh em quân nhân người Mỹ gốc Việt, phần nhiều những gia đình của họ là tị nạn Cộng Sản đã được chính phủ Hoa Kỳ giúp đỡ cho họ được định cư tại xứ sở này. Khi học hành xong, họ gia nhập vào quân đội Hoa Kỳ với mục đích cũng là góp một phần trả công ơn của chính phủ Hoa Kỳ đã cưu mang gia đình của họ cũng như cộng đồng người Việt tại xứ sở này. Đối với tôi, đó là một sự trả ơn rất trân quý. Tôi rất hạnh diện là một cựu quân nhân đã từng chiến đấu chống Cộng Sản tại Việt Nam, và được làm cha của một chiến sĩ trong quân đội Hoa Kỳ đã hy sinh tại chiến trường Iraq,” ông nói thêm.

Bà Jennifer Ngô, cư dân Santa Ana, cho biết chồng của bà là cựu quân nhân Biệt Kích của Nha Kỹ Thuật Quân Lực VNCH, và chia sẻ: “Tôi là một quả phụ của một cựu quân nhân từng đi chiến đấu với địch quân tại Việt Nam, nên hôm nay, tôi thấy những người lính Mỹ gốc Việt thì tôi rất thương mến họ. Tôi đến đây để tưởng niệm sự hy sinh cao cả của các chiến sĩ Quân Lực VNCH và các quân nhân Hoa Kỳ gốc Việt cho tự do của miền Nam Việt Nam, cho Hoa Kỳ và thế giới.”

Mời độc giả xem phóng sự “Hướng đạo sinh Nam California tham gia trại Liên Kết lần thứ 16”

Chuyện những người lính tử thủ An Lộc

(Ðể nhớ lại những ngày Mùa Hè Bão Lửa 1972 – Tri ân những người lính QLVNCH)

Ngày 7 Tháng Bảy 1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đáp xuống An Lộc tuyên dương công trạng và đặc cách thăng cấp tất cả chiến sĩ tử thủ An Lộc sau gần ba tháng ác chiến với bốn sư đoàn Cộng quân 5, 7, 9 và Bình Long. Trong lúc tình hình mặt trận vẫn còn rất ngột ngạt, tuy rằng các sư đoàn địch đã lùi ra xa, nhưng không có gì bảo đảm rằng sự hiện diện của vị tổng tư lệnh là không nguy hiểm cho chính bản thân ông. Tổng Thống Thiệu được đích thân Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, tư lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, lái xe Jeep chở đi một vòng thành phố để quan sát những đổ vỡ của chiến tranh. Tổng Thống Thiệu đã cảm khái đứng lặng thinh bên những nấm mộ chôn vội của tử sĩ và người dân An Lộc. Chiếc xe Jeep phải chạy ngang khu bến xe An Lộc để ông có thể ngậm ngùi trông thấy được một cái nghĩa trang nhỏ, đơn sơ nhưng rất tươm tất, nơi an táng hình hài của 68 anh hùng 81 Biệt Cách Dù, mà đã được đồng đội còn sống lập nên thành.

Chiến thắng An Lộc mang một kích thước quá lớn, không còn của riêng dân tộc Việt Nam đánh bại đạo quân tiền phong của khối Cộng Sản quốc tế là binh đội Bắc Việt, mà nó còn là một biểu tượng của thế giới tự do đánh thắng chủ nghĩa Cộng Sản, là khúc dạo đầu báo hiệu sự hủy diệt cái chủ nghĩa quái thai đó 17 năm sau: Cuộc sụp đổ năm 1989 của Liên Xô và khối Cộng Sản Ðông Âu. Tổng Thống Thiệu đã trân trọng trao tặng quân dân tử thủ ở cái thành phố nhỏ bé mà cang cường này một mỹ danh mà sẽ vĩnh viễn đi vào những trang sử dân tộc và cả quân sử thế giới: Bình Long Anh Dũng – An Lộc Anh Dũng. Vị tổng thống đã vui vẻ gọi về cho phu nhân của mình, giọng hân hoan của ông có thể được nghe rộng rắp đất nước từ hàng triệu chiếc máy thu thanh:

– Bà đừng chờ cơm tôi. Tôi ở đây ăn cơm với anh em chiến sĩ An Lộc.

Người cựu tư lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh đã tươi cười đứng giữa những chiến hữu của ông chụp nhiều bức hình, mà ngày hôm sau đã nằm ở trang đầu của những tờ báo thủ đô Sài Gòn và cả trên các báo khắp thế giới. Ðó há chẳng phải là một vinh dự cực lớn mà quân dân Bình Long Anh Dũng đã xứng đáng nhận được từ chính máu xương của mình. Há chẳng phải đó là một thách thức ngạo nghễ đối với lũ âm binh què quặt của bốn sư đoàn Cộng quân đang lẩn trốn đâu đó trong những cánh rừng già Miền Ðông và bên kia biên giới. Há chẳng phải là một cú đấm ngàn cân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào giữa mặt cái khối gọi là “các nước xã hội chủ nghĩa anh em.” Há chẳng phải đó mà một xác nhận cuộc chiến bại nhục nhã mà tướng tá Hà Nội dù có lật lọng đến đâu cũng phải cúi đầu câm nín hay sao.

Chiếc trực thăng phành phạch đập cánh quạt đưa Tổng Thống Thiệu và phái đoàn hùng hậu quan khách Sài Gòn ra thăm viếng đã xa dần. Nhưng đối với quân dân An Lộc, cuộc chiến đấu vẫn còn rất gian nan ở phía trước. Cộng quân đâu đã cam chịu chiến bại, các đơn vị của chúng vẫn còn lẩn quẩn bên ngoài An Lộc giội pháo quấy phá ngày đêm.

Ngày 22 tháng 6, 1972, các đơn vị tiền phong của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh đã nhảy xuống thay thế nhiệm vụ trấn thủ An Lộc cho Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Các đơn vị Sư Ðoàn 5 Bộ Binh lục tục được không vận về căn cứ Lai Khê, trong khi các đơn vị của Sư Ðoàn 18 tiếp tục đổ vào thành phố. Vẫn còn một khối lượng công tác chiến đấu ngổn ngang đang chờ đón đoàn tinh binh tràn đầy nhuệ khí này. Ðồi Gió, Ðồi 169, phi trường Quản Lợi vẫn còn đang nằm trong tay quân giặc. Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo và chiến sĩ Nỏ Thần Miền Ðông của ông sẽ rất bận rộn trong những ngày hành quân trước mặt. Nhưng dù thế nào mặc lòng, buổi chào cờ sáng và thượng Quốc kỳ mỗi Thứ Hai luôn được Chuẩn Tướng Ðảo cho cử hành trang trọng, bất chấp địch đang pháo hay không pháo.

Trong những ngày ngột ngạt đó, phóng viên chiến trường Lưu Văn Giỏi nhận lệnh của Bộ Tư Lệnh Không Quân Việt Nam Cộng Hòa nhảy xuống An Lộc để ghi nhận những đổ nát của chiến tranh, những hoạt động âm thầm của những người lính bay Không Quân và người lính Bộ Binh, cùng quân dân An Lộc đã chiến đấu anh dũng như thế nào, đang và sẽ chiến đấu ra sao, cùng những mất mát não lòng.

Anh Lưu Văn Giỏi từng là chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Toronto, Canada, nhiều nhiệm kỳ. Anh đã về hưu từ lâu và vui thú điền viên. Nhưng những thiên bút ký chiến trường ngày xưa của anh và những đóng góp của anh trong công cuộc đấu tranh chống cộng và tôn vinh Lá Cờ Vàng Ðại Nghĩa cùng Những Người Lính QLVNCH vẫn luôn ghi khắc sâu trong lòng mỗi chúng ta. Bài viết Trên Vùng Trời Ðất Nước của anh đã nhận được Giải Ba Cuộc Thi Phóng Sự Chiến Trường Năm 1973 của Cục Chính Huấn:

***

Tại Sư Ðoàn 2 Không Quân, tôi nhận một công điện từ Bộ Tư Lệnh Không Quân gọi về trình diện gấp, vì nhu cầu công vụ, thời gian công tác và ngày về sẽ cho đơn vị biết sau. Một chiếc phản lực A37 đi công tác đưa tôi từ Nha Trang vào Sài Gòn. Tại Parking vãng lai, tôi thót lên “Honda ôm” trực chỉ Bộ Tư Lệnh Không Quân. Và nửa giờ sau tại đây tôi nhận một sự vụ lệnh khác, thời gian và nơi đến là 8 ngày tại An Lộc. Tờ mờ sáng hôm sau, tôi có mặt trên bãi đậu trực thăng của Sư Ðoàn 3 Không Quân để đi Lai Khê. Lần đi này ngoài hợp đoàn 18 chiếc trực thăng võ trang UH, còn có 6 chiếc CH-47 (loại trực thăng khổng lồ tải hàng)

*30 phút ở Lai Khê:

Phi trường Lai Khê là một phi trường nhỏ được dùng làm Bộ Chỉ Huy Tiền Phương, tất cả trực thăng yểm trợ cho An Lộc đều đặt ở đây để tiện đường cho quân bạn tải quân, tải hàng đến, và nhất là để thu ngắn đường chim bay đến An Lộc. Tại đây, dưới những gốc cao su già có những hàng cơm, hàng nước kiểu dã chiến, vài hoa tiêu mắc võng nằm nhai bánh mì chờ… thời tiết.

Tôi gặp Ðại Úy Ðào Vũ Anh Hùng, nhà văn kiêm hoa tiêu trực thăng. Thấy tôi, Hùng hỏi:

– Ði làm hay đi chơi?

Câu hỏi ngắn và tôi cũng trả lời gọn:

– Ði làm.

Hùng moi trong túi áo bay ra một gói xôi bắp đã bẹp:

– Ăn không?

Tôi lắc đầu vỗ nhẹ tay lên bụng, trong khi anh nhìn tôi từ đầu đến chân:

– Vào Ðiện Biên Phủ thứ hai mà cứ y như là đi du lịch vậy? Không có áo giáp, nón sắt thì phòng không và pháo kích nó không chê bạn đâu.

Hùng chỉ chiếc máy ảnh tôi đang mang trước ngực:

– Phải có thêm một nón sắt nhỏ cho ống kính mới an toàn, nếu không thì bạn có nhiều triển vọng thất nghiệp đấy!

Kỳ trước, có một ông bạn báo chí lên An Lộc, khi ông ta vừa đưa máy lên ngắm thì một viên AK đã ưu ái chui vào nằm gọn trong ống kính. Cũng may là tầm đạn đã yếu nên không bị chột.

Có nhìn thấy cái cảnh phi công Việt Nam treo võng nằm tòn ten dưới những gốc cao su gậm bánh mì, cạp xôi bắp chờ phi vụ ta mới thấy thương họ. Nghỉ ngơi và ăn uống như thế mà bay như điên, bay bất kể giờ giấc và thời tiết. Có khi vừa đáp, chưa kịp nghỉ ngơi mà thấy có tên trong Phi Vụ Lệnh là lại xách nón.

Chiến đấu cơ oanh tạc yểm trợ bộ binh. đi bay. Cứ sáng vác tàu đi, tối vác về…

Có người đi rồi không bao giờ trở lại. Cũng có người về mà trên thân tàu lỗ chỗ đầy dấu đạn phòng không. Cũng có người khi đã đáp an toàn trên bãi đậu rồi mới biết người xạ thủ phi hành của mình đã gục đầu trên cây đại liên mà chết tự lúc nào. Cũng có khi người hoa tiêu chánh bị phòng không ngồi chết ngay ngắn trong ghế lái trong “tư thế còn sống,” cái chết thật đẹp như cái chết của một Từ Hải mà người hoa tiêu phụ vẫn cố cắn răng để nước mắt mình lăn dài xuống má, tiếp tục bay thi hành cho xong sứ mạng đã, rồi mới về. Cũng có người phải bỏ tàu giữa rừng để về bằng một tàu khác, hoặc băng rừng lội suối, rồi năm bảy ngày sau mới về với một thể xác đói khát và đầy thương tích. Ta có thể so sánh những tiện nghi cùng số giờ bay và thành tích chiến đấu một trời một vực giữa phi công Hoa Kỳ và phi công Giao Chỉ như sau:

Pilot Hoa Kỳ không biết mắc võng ở gốc cây nằm gặm bánh mì chờ phi vụ như pilot An Nam ta. Hồi tháng 4, 1972, ở mặt trận Tây Nguyên, tại Bộ Chỉ Huy của tiền đồn Tân Cảnh, tôi đã thấy một đại úy phi công Hoa Kỳ trong bữa cơm. Ông ta đã ăn gần nửa ký thịt với bơ, sữa, hột gà, táo, nho, rồi mới bước lên chiếc trực thăng võ trang Cobra mà cất cánh, trong khi hoa tiêu Giao Chỉ cũng trước một phi vụ nhưng chỉ… “thổi hết một cái kèn bằng bột,” rồi ngửa cổ ừng ực nước lã trong bi đông, xong… cuốn võng leo lên ghế lái, bay vù vù, bay như điên.

Về số giờ bay và thành tích, ta có thể so sánh thật thà như sau: “Chiến trận Hạ Lào chính thức khai diễn ngày 8 tháng 2, 1971, trong 29 ngày đầu tại đây, người Mỹ có số giờ bay cao nhất là một thiếu tá, 80 giờ. Trong khi đó, phi công có số giờ bay cao nhất là Trung Úy Dương Ðức Ngọc, thuộc Không Ðoàn 62 Chiến thuật, Sư Ðoàn 2 Không Quân, 168 giờ. Người Mỹ đánh nhiều chiến xa nhất, một trung úy phi công phản lực, 3 chiếc. Trong khi đó Trung Úy Dương Ðức Ngọc đánh 17 chiếc T54. Số giờ bay và thành tích đó đã làm vẻ vang về tinh thần chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bên cạnh quân đội đồng minh tại Hạ Lào. Trong trận này, Ngọc cũng là người lãnh đạn phòng không nhiều nhất. Một lần phi cơ anh đứng một chong chóng, phài đáp ở Ðà Nẵng lúc 23 giờ 30, 3 lần khác bị gãy cánh trái và cánh đuôi, nhưng lúc bấy giờ thời tiết ở Việt Nam không cho phép, nên anh phải dẫn tàu qua Thái Lan đáp trên phi trường Nakhom-Phakhom. Sự so sánh thật thà trên đã là một chứng minh cụ thể cho ta thấy tinh thần chiến đấu cao độ của người lính Việt Nam trên đất nước nghèo nàn này.

Ðồng hồ tay chỉ 7 giờ 45, trời vẫn còn xấu. Các hoa tiêu có vẻ sốt ruột, họ tụm năm tụm ba ngồi đấu láo với nhau, nói chuyện thời tiết, nói chuyện phi vụ hôm qua, chuyện hào hoa, lả lướt đêm rồi và bàn với nhau cho phi vụ sắp tới. Một nhân viên của toán Ðiều Không đến nói với Hùng:

– Cứ cất cánh, vì An Lộc đang chờ.

Tôi đứng dậy nhưng không đi với Hùng, vì anh bay tàu C and C (Hướng dẫn C and C = Command and Control và chỉ huy, không đáp). Tôi theo chân một hoa tiêu ra chiếc võ trang đậu ngoài bãi. Tại đây, lương thực, vũ khí, đạn dược và chiến sĩ đổ bộ đã chờ sẵn. Tôi đi chiếc tàu tải đạn. Mười phút sau tất cả những chiếc trực thăng tại đây đã bốc khỏi mặt đất và… trực chỉ An Lộc. Trên đường từ Lai Khê đến An Lộc trần mây thật thấp, sương mù còn thật mù, họ phải để đèn báo hiệu cho khỏi đụng nhau trên trời. Ngồi trên trực thăng nhìn chung quanh những chiếc võ trang đang lù lù bay theo, tôi có cảm tưởng như đây là một đàn ong khổng lồ bị vỡ tổ và đang di dân. Sau vài phút bay, đến một nơi quang đãng hơn, dưới mắt tôi ruộng đồng xơ xác, những hàng tre cháy sém, những hố đạn, hố bom cày nát trên ruộng đất bỏ hoang…

*Nhảy xuống An Lộc:

Người xạ thủ phi hành ghé váo tai tôi:

– Anh có xuống không?

Tôi gật đầu. Anh ta lại nhìn tôi với vẻ ái ngại như thầm hỏi tôi sao không có áo giáp và nón sắt, nhưng… tôi lờ đi. Bỗng anh khom lưng chĩa mũi minigun xuống đất bấm cò. Những hồi đạn rú dài như… bò rống. Tôi thấy… rức tim khi những vệt lửa từ dưới xẹt lên quanh phi cơ. Xung quanh tôi, năm chiến sĩ bộ binh thuộc Sư Ðoàn 18 cũng… lên đạn. Tôi cũng nhét vội băng đạn vào khẩu Colt của mình cho vững bụng. Ðang bay, tàu bỗng sà xuống đột ngột rồi bất ngờ đáp vội trên Quốc Lộ 13, “càng” chưa chạm đất, mấy quả đạn pháo kích đã ào ào bay tới rớt quanh đó làm gãy mấy cây cao su.

Tôi nhảy vội theo năm chiến sĩ rời thân tàu và lăn tròn qua mặt lộ nằm gọn dưới một hố bom. Chúng tôi chưa kịp xô hàng xuống, thì tàu đã bốc vội lên cao bay mất hút, một trái dạn khác rớt ngay chỗ phi cơ vừa đáp làm banh xác cái ba lô vô tội của một chiến sĩ vừa quăng xuống. Mấy bịch gạo sấy tung tóe trắng mặt đường. Tôi nằm dưới hố bom mà thầm nghĩ: “Người Mỹ đã dạy cho người Việt biết đánh giặc bằng trực thăng, nhưng còn lâu sự khôn lanh của họ mới bằng sự nhanh nhẹn của người Việt Nam và… có lẽ chừng nào người Mỹ biết ăn trầu, thì họ mới có đủ được kinh nghiệm của chiến trường Việt Nam. Vì nếu lơ mơ không bốc lên kịp, thì chiếc trực thăng kia với một núi đạn 81 ly trong đó sẽ lãnh đủ trái đạn pháo vừa rồi.”

Tôi nhìn theo chiếc trực thăng đã mất hút ở cuối bìa rừng cao su, như hiểu ý, một người nằm gần nói với tôi:

– Cứ nằm đây chờ, chút nữa hết pháo họ sẽ đến.

Tôi hỏi lại:

– Nhỡ đến mà nó pháo nữa thì sao?

Anh ta thản nhiên:

– Trúng thì rớt, không trúng thì bay đi.

Sau câu nói này, tôi nhớ lại cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Nhàn thuộc Phi Ðoàn CH-47 của Sư Ðoàn 3 Không Quân trước đây một tuần tại mặt trận An Lộc. Trong một phi vụ tiếp tế, tàu của Nhàn bị trúng phòng không, bạn bè bay theo bảo anh rời vòng chiến ngay và đáp ép buộc chờ trực thăng võ trang cứu. Nhưng anh đã trả lời:

– Biết rồi, để thả hết hàng cho họ đã. Họ bị thiếu tiếp tế từ mấy ngày nay, không lẽ mình vượt bao nhiêu màn lưới phòng không mới vào được đây, mà bây giờ lại ra sao?

Anh chỉ trả lời như thế rồi tiếp tục vào vòng yểm trợ. Khi số hàng còn lại trên tàu vừa thả được xong, thì cũng là lúc chiếc CH-47 anh đã nằm gọn trong màng lưới phòng không. Thiếu Tá Mai là bạn của anh bay gần đó đã nghe được những lời cuối cùng của anh qua hệ thống vô tuyến: “Hàng thả hết rồi, nhưng tất cả hệ thống điều khiển trong phòng lái đã ngưng hoạt động. Bây giờ tao đáp ép buộc đây, tụi mày hãy theo tao cover thật kỹ và pick-up thật nhanh…” Nhưng không còn kịp nữa, anh vừa nói xong thì chiếc trực thăng đã như một bó đuốc khổng lồ từ trời cao rơi xuống nổ tung trên mặt đất, và anh đã chết theo tàu…

Tôi và các chiến sĩ vẫn nằm trốn đạn và chờ trực thăng đến. Quanh đó, vài chiến xa T.54 nằm chỏng trơ, vài chiếc khác nằm chúi đầu xuống những hố bom, phía sau tôi là rừng cao su trùng điệp. Trong phút chốc tàu bốc vội lên mây, mất hút ở cuối một khúc quanh của con lộ 13. Vài tràng đạn AK đuổi theo, mấy quả đạn pháo kích khác rớt quanh đó như xé gió phá rừng, những thân cây lại thi nhau gãy rôm rốp. Mấy thùng đạn vừa được đem xuống vẫn còn nằm trên quốc lộ. Một anh kéo tôi đi nơi khác:

– Hãy tránh xa đống đạn này, đạn pháo kích mà nó rớt vào đây thì… bỏ bu.

Từ hướng Xa Cam, một đoàn người gồng gánh, bồng bế nhau chạy loạn về hướng chúng tôi. Tức thì mấy quả đạn pháo kích được câu đến từ Ðồi Gió rớt vào giữa đám dân chạy loạn này, gây vô số người chết, vô số người bị thương. Có những người bị thương cách đây vài giờ lại bị thương nữa. Có những người sắp chết, muốn được chết cho rảnh tay người thân chạy nạn, thì bây giờ được chết. Trong số những người chết này, một cảnh tượng thật thương tâm đã xảy ra ngay trên bìa rừng cao su An Lộc. Một người mẹ bồng đứa con khoảng sáu tháng bị mảnh pháo phá vỡ khuôn ngực và bà ngã ra chết liền tại chỗ. Ðứa nhỏ không chết, cũng không bị thương, nó bò trên bụng mẹ khóc thét lên trong sự hãi hùng. Khóc mệt, nó lại gục đầu vào ngực mẹ nó mà bú. Một người khác cũng dân chạy loạn đến bế nó ra, thì mặt mũi của đứa bé bê bết máu của mẹ nó và trong mồm nó cũng có máu, mà có lẽ nó tưởng đó là chất sữa nên đã hút vào. Một lúc sau đứa bé cũng chết luôn trên tay người bế nó.

Một cảnh tượng khác mà tôi cũng không làm sao quên được. Một đứa bé gái khoảng 13 tuổi mù hai mắt, gầy yếu xanh xao, cõng thằng anh nó khoảng 15 tuổi trên lưng, bị cụt một chân. Ðứa nhỏ mù mắt cõng đứa lớn cụt chân. Ðứa cụt chân ngồi trên lưng đứa mù mắt để chỉ đường mà chạy trốn Việt Cộng. Trong xách tay tôi còn hai ổ bánh mì mua hồi sáng ở Lai Khê, tôi lấy đưa cả cho anh em nó. Trước đây tôi đã được đọc những câu in trên bích chương dán ở thành phố: “…Pháo kích bừa bãi, giết hại dân lành, nhà cháy người chết, thù hận này biết đến bao giờ mới nguôi ngoai trong lòng người dân Việt…”

Dạo đó tôi đã nghĩ rằng những câu này chỉ là về phương diện chính trị thôi. Nghĩa là Việt Cộng xuyên tạc mình thì mình xuyên tạc lại. Nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu đó là sự thật, một sự thật mà không thể đội trời chung với bọn người dã man đó được, và tự nhiên trong lòng tôi thấy dâng lên những thù hận ngút ngàn.

Thật tình mà nói, trước khi bước vào An Lộc, tôi đã thầm nghĩ: Mình chỉ chết khi bị trúng đạn, chứ nếu đối diện gần thì trên ngực áo tôi có hai chữ báo chí “nó” không giết đâu mà sợ, cao lắm thì chỉ bắt sống là cùng. Nhưng bây giờ thì tôi không còn nghĩ như thế nữa. Trước mặt tôi, chung quanh tôi, những người dân vô tội đang thương vong la liệt. Tôi sờ tay vào hông, khẩu Colt vẫn cồm cộm. Tôi quyết định: “Nếu đêm nay còn phải ở đây mà rủi gặp bọn chúng, thì dù thế nào tôi cũng đẩy về hướng chúng 6 viên và còn lại là cho tôi, chứ nhất định không để bị bắt sống.” Nghĩ đến đây, hình ảnh vợ con tôi tại trại gia binh lại hiện ra, tôi thấy nhói trong lòng.

*Chuẩn bị lên đường. Nhảy vào trận địa An Lộc

Từ xa có tiếng đập phần phật của trực thăng, rồi trong phút chốc 8 chiếc lượn sát những ngọn cao su và cũng bất thần đáp dài trên quốc lộ, trong khi đạn pháo kích của Việt Cộng tiếp tục rải dài theo hai bên bìa đường. Các chiến sĩ đổ bộ thuộc Sư Ðoàn 18 Bộ Binh lẽ ra khi nhảy xuống thì họ di tản, nhưng họ đã đến phụ khiêng xác chết và người bị thương lên phi cơ xong mới đi. Tôi ngồi tựa lưng vào xích của một chiếc T.54 bỏ hoang nhìn theo mấy chiếc trực thăng đang bốc vút về hướng Lai Khê mà trong đó có gần 100 người dân vô tội vừa chết, vừa bị thương, vừa kinh hoàng… Cộng sản Bắc Việt vừa sát hại xong dân lành vô tội bằng công cụ giết người của chúng, thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến mang những người dân đó về nơi an toàn…

Từ hướng Chi Khu An Lộc, một chiếc Jeep mui trần chở gần 20 đồng bào tiến về hướng bãi đáp trực thăng. Tôi quá giang chiếc Jeep này vào chi khu và tại đây tôi được gặp Ðại Úy Lê Văn Vẫn, chi khu phó Chi Khu An Lộc. Ðại Úy Vẫn cho biết ông là người ở đây lâu nhất (bốn đời quận trưởng đã thay phiên nhau) từ năm 1964. Và bây giờ ông nhất định ở đây chiến đấu đến hơi thở cuối cùng chứ không đi đâu hết. Ông kể tiếp:

– Ngày mặt trận An Lộc mở màn có 6 chiếc trực thăng của Sư Ðoàn 3 Không Quân đến đáp vào chi khu để đưa gia đình của quân nhân tại đây rời An Lộc.
Tôi chạy vào hầm trú ẩn nói với vợ tôi: “Có trực thăng đến, em mau đưa các con về Sài Gòn, ở đây nguy hiểm lắm. Khi nào êm, anh sẽ về đưa mẹ con em lên.” Nhưng vợ tôi nhứt định không chịu và trả lời: “Mẹ con em về nơi an toàn, ở đây rủi anh chết thì mẹ con em sống với ai? Em xin được ở lại đây cùng sống chết với anh.” Trong lúc đó vợ con của anh em quân nhân tại đây đều đã nhất loạt trả lời như thế, nên cuối cùng sáu chiếc trực thăng phải rời chi khu mà không có đàn bà trẻ con nào theo…

Sau câu nói của Ðại Úy Vẫn, tôi chợt nhớ lại gương liệt nữ Phạm Thị Thàng cách đây đã lâu. Chị Thàng là vợ của một chiến sĩ Nghĩa Quân. Chị và các con đều sống chung trong công sự chiến đấu của chồng trong làng. Một đêm nọ Việt Cộng công đồn, chồng chị bị trúng đạn, chị thay chồng tung mấy chục trái lựu đạn vào đám Việt Cộng khi chúng tấn công bằng biển người. Nhưng đến quả cuối cùng, bọn chúng quá gần nên chị đã chết chung với thêm mấy tên Việt Cộng nữa bằng quả lựu đạn đó. Bây giờ vợ lính ở An Lộc cũng đã noi gương chị Thàng không chịu đi Sài Gòn ở lại tử thủ: sống chết với chồng con tại An Lộc. Ðại Úy Vẫn tiếp:

– Sáu chiếc trực thăng vừa bốc lên thì một chiếc bị trúng đạn và rớt ngay bên ngoài vòng đai chi khu rồi bốc cháy. Chúng tôi nhìn theo mà đã khóc lúc nào không hay. Anh em Không Quân đã vì sinh mạng gia đình chúng tôi mà phải chết, tôi kính trọng và nhớ ơn nghĩa cử của quí anh em đó lắm. Cuối cùng tôi quyết định cho một trung đội mở đường máu ra cứu phi hành đoàn, nhưng cũng không kịp. Khi trung đội trở vào thì… chỉ còn phân nửa quân số, bởi lúc bấy giờ chiến xa Việt Cộng quá nhiều. Rồi hai hôm sau, trại gia binh của chúng tôi tại đây cũng bị pháo kích nặng, hơn tám chục phần trăm gia đình của quân nhân chết và bị thương…

*Gà trống nuôi con:

Trong khi ngồi tiếp chuyện với tôi tại một căn hầm dã chiến được đào sâu dưới mặt đất, trước mặt tôi là Ðại Úy Vẫn, quanh đó khoảng năm, bảy chiến sĩ mà mỗi người đang có vài em bé quấn quít bên cạnh. Ðại Úy Vẫn xoa đầu một bé gái khoảng 4 tuổi:

– Tôi có năm đứa, bây giờ chỉ còn mình nó, anh chị nó chết hết rồi, má nó cũng chết, ông nội bà nội, ông ngoại bà ngoại nó cũng chết trong trận pháo kích đó…

Ông chỉ những đứa bé đang đứng cạnh mấy chiến sĩ quanh ông:

– Ðấy anh xem, bây giờ ở đây cái cảnh gà trống nuôi con rất nhiều. Cha mẹ và vợ con chúng tôi đã vì chúng tôi mà chết tại đây, nên chúng tôi đã thề tử thủ tại đây đến hơi thở cuối cùng, dù có được đổi về Sài Gòn cũng không đi. Nếu một ngày nào đó mà anh gặp lại một trong những khuôn mặt của chúng tôi tại đây trên một địa danh an toàn nào đó không phải là An Lộc mà lúc đó chúng tôi còn tại ngũ thì… anh có quyền giết chúng tôi, nếu không phải là lệnh hay chỉ thị cho chúng tôi rời An Lộc. Hôm nay anh là người báo chí của Không Quân đầu tiên đến đây, tôi xin được đại diện các chiến sĩ tử thủ An Lộc gửi đến anh em Không Quân, nhất là những phi hành đoàn đã lái tàu bay vào chi khu với ý định đưa vợ con chúng tôi đến nơi an toàn, những lời thành thật muôn đời nhớ ơn của chúng tôi, mặc dù vợ con chúng tôi không đi và đã chết.

*Những chiếc vòng tử thủ:

Nói đến đây Ðại Úy Vẫn gỡ trong tay của ông ta ra 3 chiếc vòng trao cho tôi:

– Tất cả những chiến sĩ tử thủ tại đây mỗi người đều có mang ba chiếc vòng này và chúng tôi đã đặt tên là… vòng AN LỘC TỬ THỦ. Nay tôi xin tặng anh để làm kỷ niệm… Anh là người thứ hai, sau tổng thống Việt Nam Cộng Hòa mà chúng tôi tặng ba vòng này.

Một thiếu úy ngồi gần đó nhìn Ðại Úy Vẫn rồi nói với tôi:

– Anh có viết bài thì nhớ nói là thiếu tá, vì ổng lên lon gần hai tháng nay, nhưng từ đó đến nay ở đây không ai bán “lon” mà mua nên… ông Vẫn “vẫn” mang “lon cũ.”

Tôi nhìn Ðại Úy Vẫn như thầm hỏi lại: “Có đúng thế không?” Thiếu Tá Vẫn gật đầu:

– Ðúng vậy.

*68 Ngày tử thủ An Lộc không lãnh lương:

Cũng tại đây, tôi gặp một chiến sĩ còn rất trẻ, anh ta tâm sự với tôi như sau:

– Em là Binh Nhất Lê Nhâm Thình, quân nhân Không Quân, thuộc Sư Ðoàn 2 Không Quân tại Phù Cát, kỹ thuật phi cơ loại C-7A. Về phép thăm nhà hôm 28 tháng 3, 1972 rồi bị kẹt lại đây đến bây giờ. Trọn gia đình em bị pháo kích chết hết rồi, chỉ còn lại một người anh đang tại ngũ tại An Lộc này thôi. Ðã nhiều lần em muốn ra đón tàu để về lại với Không Quân, nhưng còn ngại sẽ bị rắc rối về an ninh nên chưa dám. Tính đến nay là 68 ngày, trong suốt thời gian này tại đây em đã chiến đấu như một chiến sĩ Bộ Binh thật sự, nhưng chỉ ăn nhờ cơm gạo sấy của anh em ở đây thôi chứ không có lãnh lương. Em có lấy được một AK của tên Việt Cộng mà em đã bắn chết nó. Hôm nào về Sài Gòn, nhờ anh trình lên Bộ Tư Lệnh Không Quân, nếu không bị rắc rối, anh viết thư về đây, KBC.6995, lúc đó em sẽ bằng đủ mọi cách về trình diện đơn vị…

Buổi chiều, tôi có dịp vào thị trấn An Lộc. Phố xá thật tiêu điều, những căn nhà không người trơ vách, những tuyến kẽm gai quanh chi khu cháy cong queo. Ðó đây một vài xác trực thăng cháy sụm, những chiến xa đứt xích nằm chỏng chơ như quái vật không đầu, vài chiếc khác chúi mũi xuống những hố bom, một chiếc dù màu trắng đỏ phất phơ theo chiều gió trên ngọn cao su. Những chiếc dù tải hàng còn vương vãi theo hai bên quốc lộ, trên mặt con lộ 13 những hố đạn, hố bom sâu hoắm. Những vỏ đạn đủ cỡ, đủ loại nằm ngổn ngang, những thân cây cao su cháy đen ngã gục. Trong vòng đai chi khu, một bức tường dầy và cao lỗ chỗ đầy vết đạn lớn nhỏ mà phía trên còn đọc được ba chữ “Quận An Lộc.” Gần đó, một vách tường khác có dấu hồng thập tự với ba chữ “Trạm Cứu Thương,” phía sau là một trường tiểu học bị tróc nóc. Xa hơn một chút là trại gia binh An Lộc cũng đã điêu tàn. Bước ra phía ngoài, một xe Honda bốn bánh nằm lật ngang, bên hông có cẩn thận ghi hai chữ thật lớn “Xe Nhà” bằng sơn màu trắng và… một chữ “BINH” viết bằng đất đỏ An Lộc. Tôi thầm cười, trạm cứu thương, trại gia binh, nhà thờ, chùa chiền và đàn bà trẻ thơ vô tội còn phải lãnh đạn pháo kích của “quân giải phóng,” thì… “Xe Nhà Binh” sức mấy mà thoát khỏi, sao không đề là… “xe của quân giải phóng.” Tôi đâm ra phục lối chơi chữ hay hay của người nào đó đã viết thêm chữ “Binh” sau hai chữ “Xe Nhà” này.

*Châu chấu đá voi

Cách cổng vào Chi Khu An Lộc khoảng hai cây số, một chiếc xe cần cẩu của tư nhân màu vàng nằm chắn ngang một nửa mặt con lộ 13, một chiếc khác nằm trơ bánh lên trời dưới mé lộ. Ðược biết, trong những ngày đầu sôi động của An Lộc, khổ chủ hai chiếc xe trên đã tình nguyện đem ra cho “đâu đít lại với nhau” nằm chắn ngang lộ, với ý định không cho chiến xa của Việt Cộng vào thị trấn An Lộc thân yêu của họ. Vì họ đã nghĩ rằng, một khi mà chiến xa của Việt Cộng vào được trong thị trấn thì dù cho xe cần cẩu của họ có để trong nhà cũng không còn. Nhưng… kết quả T54 của Việt Cộng là voi, mà xe cần cẩu của họ là châu chấu!

*Thoát chết nhờ lối tuyên truyền láo của Việt Cộng:

Gần vòng đai chi khu vài chục thước, mấy chiếc T54 nằm quay đầu ra bất động. Hỏi, thì một chiến sĩ cho biết như sau:

– Dạo đó, khi An Lộc bị thất thủ, hàng chục chiến xa Việt Cộng đã phây phây đi vào và các tay xạ thủ cũng đã phây phây ngồi hẳn phía trên xe. Chúng tôi lúc đó chỉ còn hơn đại đội, nấp dưới những hầm hố, không dám bắn trước. Nhưng chúng tôi lấy làm lạ, không hiểu tại sao những chiến xa này không khai hỏa mà chỉ vào đậu đó, xong chạy vòng vòng, thật chậm như có ý tìm kiếm rồi quay ra và… khi chúng quay đầu xe ra, bọn tôi xách M72 chạy theo hạ hết. Thứ này mà bắn vào đứt xích là nằm liền. Các trưởng xa và xạ thủ thoát khỏi xe cũng bị chúng tôi hạ luôn, có vài tên bị chúng tôi bắt làm tù binh và chúng cho biết: Sở dĩ khi chúng đưa xe vào tận đây mà không khai hỏa, vì trước khi vào đây, cấp chỉ huy đã cho chúng biết, hiện An Lộc hoàn toàn do quân giải phóng kiểm soát và… làm chủ tình hình, nên chúng vào và cứ tự nhiên ngồi trên nóc xe như “người quân nhân trở về đơn vị” và chạy vòng vòng là có ý đi tìm “đồng chí.” Ðến khi tìm mà không gặp được đồng chí nào hết nên mới lừng lững quay ra, và khi quay ra thì mỗi chiếc bị lãnh vài viên M72 từ mặt hậu rồi đứt xích luôn không thể quay đầu lại. Bởi thế mà anh thấy những chiến xa quanh vòng đai này phần đông đều quay đầu ra. Còn những chiếc khác xa xa thì lại quay đầu vào, những chiếc này hầu hết là lãnh bom và rocket từ phi cơ.

*Các pháo thủ nhìn skyraider thả bom. Trẻ em An Lộc vui đùa trên chiếc T54 bị bắn hạ

Nghe xong câu chuyện, tôi thầm nghĩ: “Bọn Cộng Sản Bắc Việt ngoài lối thí quân, nướng quân bằng những cuộc tấn công biển người ồ ạt của chúng, mặc cho hỏa lực khủng khiếp từ phi cơ ta “làm cỏ,” nay chúng có thêm một lối “nướng quân” bằng cách tuyên truyền láo với quân sĩ thuộc quyền. Bởi nếu chúng không nói láo với quân sĩ của chúng thì anh lính này đâu còn sống đến ngay nay để kể lại giai thoại “chiến xa Việt Cộng phây phây vào sào huyệt ta đi tìm “đồng chí,” để rồi khi quay đầu ra vừa khỏi vòng đai, thì… nằm đây luôn đến bây giờ. Trong lúc vui miệng anh lại kể cho tôi nghe thêm một vài chuyện khó tin, nhưng tại đây lại… có thật.

*Trong thời gian tử thủ bệnh táo bón rất quí:

Có những lúc bên ngoài nó pháo rát quá, hầm trú ẩn thì nhỏ, mà anh em lại quá đông, đôi khi muốn đi cầu lại ngại lãnh đạn, nên chúng tôi cứ… “cố nín, cố nín.” Ðến khi không thể nín được mà bên ngoài vẫn còn pháo, thì dùng… lớp trong của nón sắt làm cái “bô.” Xong, đứng ở miệng hầm liệng ra ngoài. Có người chỉ mới hai ngày đã liệng luôn cả hai lớp của nón sắt, nên ở đây mà trong thời gian đó ai có được cái bệnh táo bón là quí như vàng, thảnh thơi lắm. Mà tóm lại trong thời gian đó, người nào có táo bón mấy đi nữa thì cũng phải có một lần “liệng nón sắt.”

Một giai thoại khác: “Tắm bằng mồ hôi,” vì tại đây nước rất quí, quí hơn vàng, có khi phải dùng đến nước tiểu để làm “nở cơm sấy” khi ăn. Có nhiều người chịu không nổi phải bịt cả hai lỗ mũi, nhai sơ rồi nuốt vội như cố “tống cơm vào bao tử” cho xong để có sức mà… tử thủ nhưng không dám ăn nhiều, vì nếu ăn nhiều thì trời sẽ không cho được cái bệnh táo bón. Bởi nước quí như vàng, nên trong thời gian đó lúc nào thấy êm, ai muốn tắm thì cứ cử tạ bằng cách bưng một thùng đạn nặng trịch đưa lên, đưa xuống cho đổ mồ hôi. Xong cởi ngay quần áo ra… ung dung ngồi kỳ đất trên da nở ra và rất dễ… “tắm bằng mồ hôi.”

*Những hippy và Fidel Castro ở An Lộc:

Ðã hơn 9 giờ tối, trong một công sự chiến đấu, mấy anh em chiến sĩ tử thủ tại đây và tôi ngồi quanh một cái bàn uống trà và… nói chuyện chiến tranh. Bàn và ghế ngồi đều là thùng đạn còn nguyên xi, ly đựng nước trà là chuôi của một loại đạn bằng nhựa. Trông họ như những Trần Văn Trạch hay những Hippy ở Sài Gòn, có người râu ria trông như Fidel Castro. Chỉ khác một điều là Trần Văn Trạch và Hippy Sài Gòn với Castro, râu tóc được chính chủ nó nuôi dưỡng, thỉnh thoảng ghé vào tiệm cho thợ cắt, tỉa, sấy gội, còn những Hippy và Fidel Castro ở đây thì râu tóc của họ được chính… chiến tranh nuôi dưỡng, không cần phải vào tiệm cho thợ cạo sửa mà trông vẫn Hippy và vẫn Fidel Castro như ai. Ở đây, tôi thấy nếu so theo tỉ lệ thì râu của họ hình như… dài hơn tóc, bởi thường thì thức đêm râu rất mau ra. Mà lính ở An Lộc này làm gì có chuyện ngon giấc ban đêm? Tôi có một ý ngh hơi ngộ nghĩnh là… nếu lính ở An Lộc mà cứ để nguyên râu tóc thế này rồi hè nhau… hạ san xuống phố thì nhất định… mấy ông Quân Cảnh không chịu đâu?

21 giờ 30, hơn mười trái pháo rớt quanh chi khu gây những tiếng nổ chát chúa vang dội, hơi điện bị cúp ngang. Tức thì một người lấy giấy bao đạn có chất mỡ để ở giữa một sợi dây, quấn cứng lại làm đèn cầy “dã chiến.” Thêm mấy trái khác tiếp theo gần hơn. Tôi rức tim nhìn lên nóc hầm trú ẩn, một người thảy cho tôi cây M16 và mấy băng đạn:

– Anh cứ cầm cây này đi, cho anh luôn đó, và hãy… yên trí, nóc hầm này phải năm quả rớt liền một lúc mới có thể sập.

Tôi cầm cây M16 trong tay và lấy lại được bình tĩnh sau câu nói “trấn an” này, và cũng nhờ thấy họ vẫn thản nhiên ngồi uống trà mà… “đàm đạo chuyện chiến tranh”… Một anh khác chen vào:

– Thế này mà ăn nhằm gì. Dạo đó ở đây có một ngày không bao giờ nghe dứt tiếng pháo kích và ngày đó bảy ngàn quả.

Tôi nghe ớn tận xương sống với con số này. Bảy ngàn quả trong một ngày mà họ còn sống đến giờ này, thì bây giờ chưa đầy hai chục trái, tôi còn có triển vọng về được tới Sài Gòn lắm, vì Sài Gòn với An Lộc, thì… tôi vẫn thích Sài Gòn hơn… Ở đây nhức tim quá! Tôi chưa ra Quảng Trị, chưa thấy sự đổ nát của thành phố Quảng Trị thế nào, chứ ở đây con số bảy ngàn đó với thị trấn điêu tàn này đã cho phép tôi nghĩ rằng mặt trận An Lộc đã lên đến mức… “đụng phông của chiến tranh.”..

Qua một đêm ngủ chập chờn bởi những tiếng AK nổ lẻ tẻ, những hồi pháo kích đinh tai, sáng hôm sau tôi ra Quốc Lộ 13 đón tàu về Lai Khê. Trước khi chia tay, một chiến sĩ nói với tôi:

– Ở đây bãi đáp duy nhất cho trực thăng là một khoảng dài độ hai chục cây số trên Quốc Lộ 13. Vì hai bên là rừng cao su, trên khoảng hai chục cây số đó, trực thăng tự do đáp bất cứ ở đoạn nào. Nếu vừa đáp mà bị pháo kích thì bốc lên bay đến đáp chỗ khác rồi… chỗ khác nữa… mình sức người không thể nào chạy theo kịp tàu bay. Muốn đón tàu đi cho được thì phải làm sao gần tàu. Mà hễ gần tàu thì lại sợ pháo kích, vì phần đông chúng chỉ pháo khi nghe trực thăng đến nên… chua lắm…

Tại Quốc Lộ 13, từ 7 giờ 30 đến 16 giờ, bao nhiêu lần trực thăng đáp mà tôi vẫn không làm sao chạy theo kịp để đi được, vì lần nào cũng thế, trực thăng đáp, tôi chưa kịp chạy đến, thì vì…. pháo kích nó đã bốc lên vội bay đến nơi khác. Tôi lại quay đầu chạy theo, thì lại cũng vì pháo kích mà nó cũng bốc lên bay đi nơi khác nữa. Lúc bấy giờ tôi tưởng như mình đã trở thành lực sĩ “Marathon.”

Ðến 17 giờ, tôi lại đứng chung với một nhóm thương binh của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Họ nằm đây, trên trời, dưới đất mà chờ trực thăng đến tải thương, trong số đó có vài người đã chết vì không chịu nổi. Gần đó, một cái mền hoa trải rộng ra trên mặt l làm dấu cho trực thăng đáp, vì nếu ở đây mà dùng khói màu thì được coi như… gián tiếp chỉ điểm bãi đáp cho Việt Cộng. Hai chiếc trực thăng bay đến thật thấp rồi đáp nhanh xuống, tôi cũng thật nhanh và… may mắn bước được lên tàu, nhưng… cuối cùng phải bước xuống nhường chỗ của mình để có thể chở thêm được một thương binh.

Loại trực thăng võ trang này chở tối đa 12 người ngồi, vậy mà chỉ có 3 chiếc đã hốt gọn trên 50 thương bệnh binh vừa nằm, vừa ngồi. Tàu bốc nhanh lên, những trái pháo rơi chận hai bên quốc lộ mà tôi tưởng có thể thấy được cái cảnh “người chết hai lần.” Những người còn lại phải chạy vào rừng cao su trốn pháo kích. Tại đây, tôi gặp một xác trực thăng mang cờ Việt Nam đã cháy hết bảy chục phần trăm. Quanh đó là… bốn bộ xương người còn nguyên vẹn (Mỗi trực thăng võ trang, phi hành đoàn 4 người gồm 2 hoa tiêu và 2 xạ thủ phi hành). Một trong bốn bộ xương nằm sấp trong tư thế của người đang bơi lội.

Tôi rời nơi đây đi vào sâu hơn một chút, nhìn lên trời, từ đàng xa những chiếc trực thăng đang bốc lên, hạ xuống và đảo mình tránh né phòng không. Có lẽ nơi đó đang giao tranh? Tôi thầm cảm phục lòng gan dạ của những phi công Việt Nam hơn bao giờ hết. Nếu trong quân đội Nhật Hoàng có Phi Ðội Thần Phong với những hoa tiêu trẻ, đầy gan lì, dám lao phi cơ vào tàu thủy của địch, thì trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng có những phi công mà số giờ bay hành quân cao hơn cấp bậc. Họ cũng không ngần ngại bay vào giông tố trên vùng trời đầy lửa đạn phòng không. Bãi đáp bất an ư? Vẫn đáp, vì một đại bàng gãy cánh, sẽ có mười đại bàng khác cất cánh bay lên bảo vệ vùng trời quê hương yêu quí, quyết mang đạn bom và xương máu ra để đổi lấy Tự Do. Bởi bên cạnh họ còn có một rừng người cùng chung một chính nghĩa, cùng chung một lý tưởng.

Cảnh tượng những người dân vô tội thương vong nằm la liệt trên Quốc Lộ 13 vẫn còn ám ảnh tôi. Một câu mà tôi vẫn còn nhớ: “… Ðường lối chiến đấu của chính phủ ta là thà để mười tên giặc chạy thoát, còn hơn là bắn lầm một người dân.” Câu nói chí lý này đã thể hiện trong hàng ngũ quân ta vào dịp Tết Mậu Thân tại Nha Trang. Ðịch quân đã đặt toàn bộ Bộ Chỉ Huy và hỏa lực nòng cốt dưới chân tượng Ðức Phật trên một ngọn núi, cạnh đó là một ngôi chùa lớn nhất ở Nha Trang. Chùa cũng tọa lạc trên núi và cũng bị chúng dùng làm công sự chiến đấu. Ðây là một cao điểm có nhiều lợi thế về quân sự cho bọn Việt Cộng trong công tác tấn công chiếm thị xã này. Trong trận này, thay vì quân ta dùng phi cơ xạ kích tiêu diệt chúng rồi sau đó sẽ xây lại tượng Ðức Phật và chùa thì dễ như trở bàn tay, nhưng vì tôn trọng tự do tín ngưỡng của dân, hơn nữa lúc bấy giờ còn vài vị sư sãi bị chúng quản thúc trong chùa, cho nên ta đã phải chiến đấu bằng một chiến thuật cam go hơn, mất nhiều xương máu của quân sĩ ta hơn để không mất chùa, không mất tượng Phật, không mất mấy vị sư sãi của ta, và nhất là không mất lòng dân.

17 giờ, 18 giờ, rồi… 19 giờ, vẫn không nghe tiếng của trực thăng đến. Và… đêm đó tôi ngủ lại trong rừng cao su An Lộc. Sáng hôm sau thật sớm, một hợp đoàn trực thăng tải đạn đến An Lộc và tôi về lại Lai Khê bằng một trong những trực thăng thênh thang đó. Khi về Biên Hòa, tôi vẽ lại một bản đồ chỉ chỗ phi cơ trực thăng lâm nạn trình lên Ðại Tá Tường, tư lệnh phó Sư Ðoàn 3 Không Quân, và kết quả là nội nhật hôm đó toán tìm cứu của Sư Ðoàn 3 Không Quân đã lên An Lộc đem bốn bộ xương người về. Rồi khi về đến Sài Gòn, tôi cũng trình luôn chuyện “Người lính Không Quân tử thủ An Lộc 68 ngày không lương.” Sau đó Ban Quân Pháp của Không Quân (Thiếu Tá Thư) làm mọi thủ tục và… Binh Nhất Lê Nhâm Thình cũng đã trở về lại với gia đình Không Quân.

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Ba, ngày 5 tháng 9 năm 2017

‘Thời Nay’ và tuổi thơ của tôi

Tối Thứ Năm, 31 Tháng Tám, đọc thấy tin từ nhà văn Song Thao cho biết ông Nguyễn Văn Thái vừa từ trần tại Sài Gòn, sau đó có hình ảnh từ nhà văn Thiếu Khanh về lễ viếng ông Thái, tôi bồi hồi cảm xúc, những tháng ngày thơ ấu như tập sách cũ lâu năm đóng bụi thời gian bỗng mở ra, tươi mới rõ ràng như mới hôm qua. Những cái tên này có thể không có ý nghĩa với nhiều người nhưng đã đồng hành với tôi suốt bao năm tháng từ hồi mới biết giở sách đọc chữ. (Ngồi đây viết lại theo trí nhớ vì trong tay hiện không có cuốn Thời Nay nào, thể nào cũng có sai sót, mong các chú Song Thao và Thiếu Khanh lượng thứ, quả tình cháu không dám múa rìu qua mắt thợ).

Má tôi nói tôi biết đọc từ lúc bốn tuổi vì má tôi chở theo vào lớp học, để ngồi bàn cuối. Đó là thời điểm khủng hoảng không chỉ với gia đình tôi mà cho đại đa số gia đình miền Nam. Ba tôi trình diện tập trung cải tạo, bà Tư hàng xóm vẫn coi giữ chị em tôi hàng ngày cho má tôi đi dạy nay phải về quê phụ con dâu có chồng đi cải tạo, má tôi chỉ gởi được em tôi mới một tuổi cho người quen, còn thì đưa tôi và chị tôi theo vào trường. Lớn lên vào thời điểm chiến dịch kiểm kê văn hóa, tôi đáng lẽ cũng chịu chung cảnh bưng bít kiến thức như nhiều trẻ em Việt Nam hồi ấy nhưng may mắn được ở vùng Tân Quy có làng thương phế binh và cư xá cho công chức, sĩ quan, đa số người dân cùng chung hoàn cảnh nên đùm bọc thương yêu nhau, cán bộ phường xã cũng dĩ hoà vi quý. Đội kiểm kê gồm nhiều học trò cũ của má tôi nên tuy biết nhà tôi nổi tiếng có tủ sách lớn nhất vùng đã làm ngơ vì tiếc, chỉ kê vài cuốn giáo khoa cũ mà không tịch thu. Hàng xóm và các thầy cô giáo thấy vậy chở thêm sách lại cho tị nạn nhà tôi. Má tôi cẩn tắc vô ưu nên dù được bảo đảm vẫn đóng khóa sách cẩn thận. Nhà tôi có một tủ sắt loại locker cho cầu thủ trong sân vận động, cao tới nóc nhà. Má tôi tống hết sách báo vào đó, từ tạp chí Văn, Bách Khoa, sách Trung Hoa xưa, tiền chiến, Tự Lực Văn Đoàn, cho đến các tác giả bị liệt vào hạng phản động Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Thụy Long, Mai Thảo, Chu Tử, Duyên Anh, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh, Vũ Hoàng Chương, Nhất Tuấn, Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Phạm Công Thiện, Túy Hồng, Nhã Ca, Thụy Vũ… Một cô giáo còn chở lại cả tủ Quỳnh Dao. Má tôi khóa tủ sắt, dặn chị em tôi không được lấy sách ra đọc rồi bỏ lung tung lỡ có ai thấy, ai hỏi thì nói khóa tủ hư lâu rồi không mở được. Dĩ nhiên chị em tôi tránh sao khỏi tò mò, má tôi đi dạy là mở tủ lôi sách ra đọc ngấu nghiến, canh giờ má tôi sắp về thì gom sách cất khóa lại. Cũng từ lúc này tôi mới biết ở Huế có cây sầu đâu!

Riêng bán nguyệt san Thời Nay, do số lượng quá nhiều (mỗi tháng hai số trong 15 năm) và cũng là tờ tạp chí yêu thích nhất, má tôi dành riêng một chỗ rất đặc biệt và an toàn. Dân miền Nam xưa chắc ai cũng biết cái garde-manger, người Bắc gọi là chạn thức ăn, phần trên có hai ngăn, hai cánh cửa tủ, giữa là ngăn trống để chai hũ, phần dưới không có ngăn nên rất rộng, chắc dành cho những bao hũ khổ lớn, có cửa đóng lại, là chỗ trú ẩn của bộ Thời Nay gia đình tôi. Đội kiểm kê có vào chắc cũng chẳng nghĩ tới xét lục ngăn thường đựng nước mắm, dưa cải, v.v… này. Chị em tôi say mê đọc Thời Nay từng số tới lui đến thuộc lòng mà không chán, mỗi lần lấy ra mấy cuốn một lúc, đọc xong nhét giấu dưới gối nệm, tránh sao khỏi quăn góc, rớt bìa. Hễ má tôi thấy là la, vậy mà không chừa. Ngày đầu kỳ nghỉ Hè, má tôi quậy một nồi hồ, chị em tôi mở tủ Thời Nay lôi cả bộ ra, tìm những trang bìa rời dán lại, sắp theo thứ tự ngày tháng. Ít lâu lại tiếp tục rớt bìa, lại dán, lại sắp. Tụi tôi thuộc lòng tới nỗi nhìn tờ bìa là nhớ vanh vách trong cuốn đó có bài nào, ai viết.

Thời Nay được ông Nguyễn Văn Thái khai sinh và gầy dựng, tới lúc ra số chót Tháng Tư, 1975 là hơn 15 năm, một quãng thời gian quá ngắn ngủi so với đời người, nhưng đủ để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả miền Nam, với đứa hậu sinh như tôi thì đó là tờ tạp chí tiếng Việt hay nhất trên đời. Mô hình tương tự Reader’s Digest, nhưng nếu Reader’s Digest như một chương trình tạp kỹ với một vài bài về y tế sức khỏe, chính trị, giải trí, xã hội, tâm lý v.v… gom tứ tung vào một số, Thời Nay chọn lựa và sắp xếp bài vở công phu, thường có chủ đề cho mỗi số, ngoài số Xuân, kỷ niệm chu niên. Hình bìa trình bày mỹ thuật, thường là tranh, ảnh nghệ thuật hay địa danh nổi tiếng, không bao giờ có hình chính trị gia, tài tử hay ngôi sao thể thao. Hình bìa thường theo nội dung chủ đề của số đó. Phần quảng cáo cũng hạn chế để đảm bảo tính nghệ thuật, trang đầu là nước ngọt Con Cọp “Nước ngọt Con Cọp ở đâu, Đấy là khỏe mạnh sống lâu yêu đời,” trang chót là dầu gội đầu Lan Sơn “Tóc mai sợi vắn sợi dài, Lan Sơn em gội thương hoài ngàn năm.”

Thời gian đầu, Thời Nay có khổ nhỏ, vuông vuông, chữ in nhỏ rí, bìa tối màu, những năm về sau khổ dài hơn, rõ ra hình chữ nhật, chữ in lớn và thưa hơn, bìa nhiều màu sáng hơn. Lối in tựa Thời Nay bằng chữ thường “thời nay” giản dị trên bìa đã từng bị các độc giả khó tính phê bình là sai luật văn phạm/chính tả (trong mục thư độc giả) nhưng Thời Nay trung thành với lối trình bày rất đặc biệt đó tới số chót. Sau trang Con Cọp là mục lục bài vở. Những trang đầu dành cho “Thời Nay Khắp Nơi” và “Thế Giới Dưới Mắt Người Việt” điểm tin trong và ngoài nước với lối viết cô đọng, sắc sảo và trào phúng của Trọng Thăng làm tôi rất mê đọc dù lúc tôi đọc những chuyển biến thời cuộc đó đã quá cũ, mục này giúp tôi hiểu rõ những sự kiện mà sau này tôi được dạy khác hẳn. Những bài viết theo chủ đề của số được sắp gần nhau rất dễ đọc, gồm phóng sự của Đông Quân, phiếm luận hài hước cười đau bụng của Thiên Ân, Thẩm Dương, Thẩm Diên An (có phải một người?), bình luận thể thao của Lân Lũy Thân, những bài có tính cách khảo cứu giáo dục tâm lý của Xuân Tước, Thượng Nhân, ký sự của Song Thao… Sau có Minh Trí là một bác sĩ y khoa viết nhiều bài về y học. Các học giả nổi tiếng Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Vương Hồng Sển cũng góp mặt thường xuyên. Xen lẫn đây đó là truyện ngắn của Thiếu Khanh, Lê Tất Điều, Tạ Sương Phụng… Thỉnh thoảng có truyện ngắn dịch từ các tác giả ngoại quốc O. Henry, Guy de Maupassant, Andre Gide, Leo Tolstoy… Thơ không nhiều, nhưng bài nào được chọn đăng cũng thật hay, thường hai ba bài thơ sắp cùng một trang, tựa bài thơ và các chữ đầu câu bao giờ cũng in bằng chữ thường, không hề có chữ in hoa. Nhiều tác giả gửi thơ lúc đó là học sinh sinh viên, sau thành những nhà thơ tên tuổi những năm 80-90. Trang trí bên cạnh tựa bài là những ký họa đơn sơ, hình như của Khánh Giang? Cuối các bài viết có một chuyện vui ngắn in bằng chữ nhỏ nghiêng, nhờ đó tôi thu thập cả kho chuyện cười kể cho bạn bè nghe. Sau mục truyện dài là những trang cuối dành cho độc giả với mục câu đối, câu đố và hộp thư bạn đọc. Trang bìa sau đề tên giám đốc Nguyễn văn Thái, thư ký tòa soạn Khánh Giang, địa chỉ 217 Phạm Ngũ Lão, Văn Thái Ấn Quán. Thời Nay có khuynh hướng chính trị phóng khoáng với thành phần cộng tác viên trẻ nên có bài bị đục đen lỗ chỗ trong những giai đoạn kiểm duyệt khắt khe, bây giờ trong nước gọi là “nhạy cảm!” Mỗi kỳ sự kiện quan trọng như Đại Hội Đồng Liên Hợp quốc, Hòa Đàm Paris, cho đến World Cup (hồi đó gọi là giải túc cầu thế giới), Thế Vận Hội, Thời Nay có cộng tác viên tường thuật tại chỗ với bài vở, hình ảnh phong phú, khi tôi đọc là cũng cả chục năm rồi mà vẫn thấy hấp dẫn.

Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh cộng tác rất đắc lực cho Thời Nay. Cô có những thiên phóng sự nhiều kỳ rất đặc sắc về những chủ đề trong xã hội như “con không cha,” ký tên “cô Minh Đức.” Cô có lối viết giản dị mà sắc bén, lôi cuốn, những chủ đề vui cô cũng rất hóm hỉnh trào lộng. Có dạo cô viết phóng sự vui nhiều kỳ “Ôi đàn ông,” sau đó lại xuất hiện “Ôi đàn bà” mà cô giải thích là vì bị độc giả nam giới khiếu nại quá nhiều nên cô phải viết để đảm bảo lẽ công bằng! Những trang cuối Thời Nay thường dành cho truyện dài nhiều kỳ của cô như Phi lễ, Thiên Nga, Bên ni bên tê. Khi viết truyện dài, giọng văn cô tuy gai góc bướng bỉnh nhưng vẫn mềm mại nữ tính. Dù sao đọc văn cô tôi vẫn tưởng tượng cô là một phụ nữ mạnh mẽ, độc lập kiểu nữ quyền (feminist). Mãi tới khi ra hải ngoại thấy hình cô, một phụ nữ mảnh mai xinh đẹp, thanh lịch, tôi mới tin đó là tác giả những dòng thơ yêu đương mãnh liệt mà nhạc sĩ Phạm Duy đã làm cho bất tử với hai bản nhạc “Đừng bỏ em một mình” và “Kiếp nào có yêu nhau.” Cô vừa mất cách đây không lâu.

Một cộng sự nhiệt tình khác của Thời Nay là Song Thao. Ông đi đây đi đó nhiều theo nhu cầu công việc, đi đến đâu ông không quên gửi một ký sự cho độc giả cùng thưởng thức. Từ Manila, Hồng Kông, Seoul, Tokyo, đến New York, Washington, DC, Los Angeles… độc giả đi du lịch theo ngòi bút sống động đầy hình tượng của ông với những chuyện vui chuyện buồn. Hồi đó còn nhỏ xíu tôi rất mê đọc ký sự Song Thao, đọc đi đọc lại, mơ ước một ngày đặt chân đến những nơi ấy. Bây giờ đi du lịch đã nhiều, những ấn tượng đầu tiên vẫn còn nguyên vẹn khi đọc lại những ký sự này in trong tập “Dấu chân lang bạt” ông xuất bản năm ngoái. Song Thao còn giữ mục “100 cuốn tiểu thuyết hay nhất thế giới,” mỗi kỳ tóm tắt một tác phẩm cổ điển rất cô đọng mà diễn cảm. Lúc ấy tôi đọc ông viết về Jane Eyre (Charlotte Bronte), Đỉnh gió hú (Emily Bronte), Phù hoa giả dối (William Thackeray), David Copperfield (Charles Dickens)… Lên cấp hai, đủ trình độ đọc các tác phẩm này trọn vẹn, bài giới thiệu của Song Thao vẫn là cảm hứng ban đầu giúp tôi say mê những nhân vật trong sách. Sau này, khi cộng tác với tạp chí Văn của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, thấy tên Song Thao dưới một truyện ngắn, tôi hỏi có phải đó là Song Thao của Thời Nay không, ông Hoàng bảo “đúng rồi” mà ngạc nhiên không hiểu sao tôi biết Thời Nay! Hay tin ông đã ở Canada, vẫn viết rất mạnh, thiên về truyện ngắn, tôi mừng vì biết thân phận những người cầm bút còn ở lại rất lao khổ. Máu viết phiếm luận và ký sự vẫn còn tươi trong Song Thao nên ông viết đều đặn, đã xuất bản tới cuốn “Phiếm” số 19. Ông cho biết những truyện ngắn ký tên Tạ Sương Phụng, Phượng Uyển trên Thời Nay cũng là của ông.

Khi nhớ lại giai đoạn “đổi đời” của người dân Sài Gòn, tôi cứ nghĩ về ông Thái. Gầy dựng, nuôi nấng tờ tạp chí và nhà in với tất cả tâm huyết qua mười lăm năm nhiều biến động chính trị đến khi chứng kiến nó bị khai tử, hủy diệt, chắc ông phải đau lòng lắm? Phạm Ngũ Lão bây giờ là khu Tây ba-lô xô bồ xô bộn với đủ loại dịch vụ to nhỏ mọc lên như nấm, không còn dấu vết gì của khu báo chí ngày xưa. Tôi thử tìm trên Google địa chỉ 217 thì thấy một khách sạn mini, không còn giống gì hình tòa soạn Thời Nay mà nhà văn Song Thao gởi cho tôi xem. Không biết số nhà có thay đổi không, thật đúng là nơi tòa soạn cũ chắc tôi chẳng bao giờ muốn đi ngang nếu là ông Thái.

Tạ thế ở tuổi 90, ông đã chứng kiến lẽ đời thăng trầm bể dâu, có thể cuối đời ông cũng chẳng còn tiếc nuối gì. Thời Nay bị khai tử nhưng nó không chết trong lòng độc giả ái mộ và thế hệ hậu sinh như tôi. Xin vĩnh biệt ông, thần tượng tuổi thơ của tôi, một thời ôm Thời Nay đọc giấu dưới gối!

Mời độc giả xem phóng sự “Họa sĩ Hồ Thành Đức – Bé Ký và những trăn trở hiện tại”

Món ngon gia truyền, cà ri gà Mã Thắng Viên Chợ Lớn

SÀI GÒN (NV) – Trong ẩm thực Việt và Hoa ở Chợ Lớn, hiếm có món dùng gia vị cà ri. Nhưng nếu hỏi các món ăn của người gốc Ấn có dùng gia vị cà ri thì gần như không được mấy người kể được tên, ngoại trừ món cà ri dê.

Ấy vậy mà từ xưa, ở khu Chợ Lớn có một tiệm ăn chuyên bán mỗi một món cà ri gà của người gốc Hoa, đó là tiệm Mã Thắng Viên nằm trên góc đường Lò Siêu, và đường 3 Tháng 2.

Nói đến tiệm chuyên bán món cà ri gà của gia đình họ Mã này, người ta liền liên tưởng đến một thời phim võ thuật Hồng Kông chiếm lĩnh hầu hết các rạp chiếu phim ở Sài Gòn, và một trong các bộ phim nổi tiếng làm mưa làm gió trong giới mê phim võ thuật tàu là phim Mã Vĩnh Trinh. Người ta không thể biết họ Mã gốc Quảng Ðông ở Chợ Lớn có bao nhiêu người, nhưng chắc rằng từng nghe qua những cái tên như yên hùng xa lộ như Mã Kim So, giang hồ hùng cứ một cõi như Mã Thầu Dậu…

Theo thời thế những giai thoại hấp dẫn về các nhân vật Chợ Lớn, ban hội người Hoa xưa đều lụi tàn dưới chế độ hiện nay, nhưng món ngon cà ri gà Mã Thắng Viên vẫn còn y đó.

Tiệm cà ri gà Mã Thắng Viên ngày nay vẫn ở đúng địa chỉ cũ. Vẻ ngoài của căn phố mặt tiền đường này không thay đổi nhiều so với trước đây, dù chủ đứng tiệm bán hàng là lứa con cháu và không còn dùng tiếng Hoa để giao tiếp với nhau nữa, nhưng bí quyết nấu món cà ri gà và cách bán món này vẫn hút thực khách với vị ngon đặc biệt.

Cà ri gà ở tiệm này được ăn với cả bún và bánh mì, luôn luôn là như vậy, nếu ai chỉ ăn bún không ăn thêm bánh mì thì giá tiền cũng không bớt. Cái kiểu ăn cà ri gà với bún và bánh mì từng phổ biến ở khắp các địa phương miền Nam. Trước đây, các gia đình người Nam, nếu mở tiệc hay nấu đám mà không có món cà ri gà ăn với bún, chấm thêm bánh mì là bị khách chê liền. Món cà ri gà phổ biến đến mức trở thành món cúng chính trong đám giỗ. Không có gì quá đáng khi tin rằng lúc còn sống ưa ăn cà ri gà khi chết con cháu không làm món này để cúng là coi như không đủ lễ.

Thực khách đang thưởng thức món ngon gia truyền lâu đời cà ri gà Mã Thắng Viên. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)

Món cà ri gà ở tiệm Mã Thắng Viên nấu với nước cốt dừa, cách nấu cà ri với nước cốt dừa cũng trùng hạp với khẩu vị của người Thái và các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á. Thành ra nói món này thuộc dòng ẩm thực đặc thù Trung Hoa thì có khi không đúng, vì khó mà tìm được món ăn kiểu Tàu khác nấu có nước cốt dừa. Thêm nữa món cà ri của tiệm Mã Thắng Viên và trong các gia đình người miền Nam đều chấm với muối ớt, vắt chanh, không có bóng dáng xì dầu hay nước mắm.

Vào tiệm Mã Thắng Viên, chúng tôi gọi một phần cà ri gà và được người phục vụ dọn ra một tô bún trong đó có vài miếng thịt gà, huyết và dọn thêm một dĩa giá sống với lá quế. Trong tô bún cà ri này không thấy có thêm khoai lang, khoai mì như cách nấu cà ri gà của người miền Nam.

Phải nói là trong tô bún cà ri gà của tiệm Mã Thắng Viên từ gia vị, nguyên liệu được sử dụng rất tinh tế nên không gây “phản ứng” với cả những người vốn không ưa mùi gia vị cà ri và vị béo nước cốt dừa. Khi tìm hiểu thêm thì được biết vị cà ri được chế biến theo bí quyết gia truyền, ngay cả với cách chọn thịt gà cũng là một thứ tay nghề được truyền riêng, thịt con gà ta ở đây không quá dai, không mềm nhũn rất là vừa sức nhai của cả người già lẫn trẻ con.

Tiệm cà ri gà Mã Thắng Viên là một trong ít tiệm nấu ăn ngon lâu năm nhưng vẫn nguyên vẹn sức thu hút thực khách.

Có lần nhạc sĩ Tuấn Khanh hỏi tôi, “Mới rồi cô học trò người Hoa dắt đi ăn món cà ri gà ở Chợ Lớn ngon hết sẩy, anh biết tiệm đó chưa, để tôi chỉ cho.” Thật ra ai là người từng có thời gian sống ở khu Chợ Lớn đều biết danh món cà ri gà Mã Thắng Viên. Có dịp đến quán này là biết có những thực khách không phân biệt người Việt hay người Hoa đã thưởng thức món cà ri gà từ lúc trẻ thơ đến khi đầu bạc.

Mời độc giả xem chương trình nấu ăn “Cánh gà chiên nước mắm”

Vĩnh biệt Cassini

Tiến trình countdown đã bắt đầu. Chỉ trong vòng chưa đầy một tuần, phi thuyền Cassini sẽ đâm lần cuối cùng vào khoảng cách giữa Thổ Tinh (Saturn) và hệ thống vòng (rings) của hành tinh. Sau đó, Cassini sẽ bay qua Titan, mặt trăng vệ tinh lớn nhất của hành tinh để rồi bị sức hút của hành tinh hút dần rơi xuống bề mặt của hành tinh này.

Đến khoảng trưa giờ GMT ngày 15 tháng 9 phi thuyền sẽ rơi theo một vòng xoắn xuống bầu khí quyển của Thổ Tinh chấm dứt chuyến du hành lịch sử kéo dài 20 năm này bằng một đợt bốc cháy tựa như một cái pháo bông.

Cái tên Cassini của phi thuyền được lựa chọn để vinh danh nhà thiên văn người Pháp gốc Ý Jean Dominique Cassini của thế kỷ thứ 17, người đã khám phá ra một số các mặt trăng vệ tinh của Thổ Tinh. Những hình ảnh và số liệu đo được mà phi thuyền gởi về đã giúp các nhà khoa học viết ra một chương mới trong việc tìm hiểu Thái Dương Hệ của chúng ta.

Sứ mạng của Cassini bắt đầu vào năm 1997 như là một trong hai thành phần của một phi thuyền kép Cassini-Huyghens. Sau bảy năm du hành trong vũ trụ, phi thuyền kép này đến Thổ Tinh vào năm 2004. Huyghens sau đó được tách ra khỏi hệ thống và cho hạ cánh xuống bề mặt của Titan, mặt trăng vệ tinh lớn nhất của Thổ Tinh và trong khi hạ cánh, lập ra môt kỷ lục mới như là phi thuyền hạ cánh xuống bề mặt tại một thiên thể xa nhất từ trước tới lúc đó.

Là một hơp tác tay ba giữa cơ quan NASA của Mỹ, Cơ Quan Không Gian Châu Âu (European Space Agency – ESA) và Cơ Quan Không Gian của Ý ASI, những thành quả thu được của hệ thống Cassini-Huyghens đã biến những thông tin mới ở tình trạng phác thảo thu được từ các sứ mạng Voyager và Pioneer trước đó ba thập niên thành một cuốn sách dầy, tuy rằng còn chưa đầy đủ về Thái Dương Hệ. Nay thì chúng ta biết Thổ Tinh (Saturn) có đến 62 mặt trăng bay quanh nó (như vậy là có đến 12 mặt trăng mà trước đó người ta không biết). Titan nay được biết trên phương diện hóa học có thành phần giống như là một trái đất bị đông cứng vì lạnh và có chứa cả những hợp chất hữu cơ, một bằng chứng về khả năng có thể có sự sống. Một mặt trăng khác, Encedalus có những tia nước khổng lồ phun lên từ một đại dương dưới lòng đất. Và người ta cũng còn đang chờ đợi thêm nhưng ghi chú mới từ Cassini. Trong khi đâm xuống bề mặt Thổ Tinh, truớc khi chết Cassini được dự trù sẽ gởi về những chi tiết về thành phần và cấu trúc của bầu khí quyển Thổ Tinh và những đo đạc chính xác hơn về độ dài của một ngày trên sao Thổ.

Trong lúc Mộc Tinh (Jupiter) là hành tinh lớn nhất trong Thái Dương Hệ, Thổ Tinh (Saturn), hành tinh lớn thứ nhì lại được coi như là hành tinh đẹp nhất. Chàng “khổng lồ khí” (gas giant) này, đứng xa thứ sáu về khoảng cách đối với mặt trời, có thành phần hầu hết là khí hydrogen và helium, vẫn được ca tụng vì những vòng sáng bay chung quanh mình như một cái vương miện. Các vòng này lớn hơn và sáng hơn là các vòng bay chung quanh Mộc Tinh (Jupiter), Thiên Vuơng Tinh (Uranus) và Hải Vuơng Tinh (Neptune). Các vòng chính được đánh dấu từ A đến G tuy rằng nguời ta không hiểu tại sao lại không theo thứ tự (D nằm gần với Thổ Tinh nhất). Các vòng này còn được tạo ra bởi những vòng nhỏ hơn mà con số có thể lên đến hàng ngàn. Cái vương miện này trải dài cách Thổ Tinh 175,000 dặm được cấu trúc từ đá và nước đá. Trước đó người ta nghĩ rằng các vòng này phải có tuổi bằng tuổi của Thái Dương Hệ, tức là khoảng hàng tỷ năm. Nhưng rồi Cassini tới và cho thấy các vòng này là nơi mà xảy ra những đụng độ gay gắt  – những đụng độ này mạnh đến nỗi chúng không thể kéo dài lâu đến như vậy được và phải tan rã từ lâu nếu xuất phát cùng lúc với vịệc hình thành Thái Duơng Hệ. Sự kiện rằng chúng còn hiện hữu cho thấy tuổi của chúng phải đo bằng mức hàng triệu năm thay vì hàng tỷ.

Các vòng này có thành phần là những mảnh của những mặt trăng và sao chổi bị vỡ vụn vì trọng lực của Thổ Tinh. Các mảnh này nhỏ thì có thể bằng hạt cát trong lúc lớn thì có thể bằng một cái nhà. Sự thành công của Khúc Đại Kết Cục (Grand Finale) như các nhà khoa học đặt tên cho giai đọan giã từ của cuộc hành trình của Cassini tùy thuộc vào việc phi thuyền có thể tránh đụng vào những mảnh vỡ này và an toàn rơi vào khí quyển Thổ Tinh.

Bên ngoài hệ thống vòng, di sản đáng chú ý nhất của Cassini-Huyghens là tìm ra  những dấu hiệu có thể có sự sống – tuy rằng chỉ dưới dạng vi khuẩn tại môt số mặt trăng của Thổ Tinh. Hiện nay nguời ta nghĩ rằng Titan và Enceladus cộng với Hỏa Tinh và Europa, mặt trăng của Mộc Tinh (Jupiter) là những thiên thể trong Thái Dương Hệ có nhiều triển vọng tìm thấy sự sống nhất bên ngoài quả đất.

Cái chết của Cassini sẽ là một phút đau buồn cho nhiều người trong đó có tôi, vốn theo dõi và trình bày việc phóng phi thuyền này cho ban Việt Ngữ đài BBC cách đây 20 năm. Đối với nhiều nhà khoa học, sự kết thúc sứ mạng của Cassini cũng đánh dấu một giai đọan trong cuộc đời sự nghiệp của họ. Giáo Sư Michele Dougherty của Viện Đại Học Imperial College London, một nhà khoa học vốn đi theo với Cassini trong gần 30 năm cho biết tuy rằng buồn và mệt mỏi, nhưng bà cũng tự hào vì Cassini đã sống được đến ngày nay.

Mời độc giả xem bình luận “Lương y như ác mẫu”(Phần 1)

Sài Gòn bắt 1.3 tấn ngà voi giấu trong thùng nhựa đường

Cơ quan chức năng Sài Gòn vừa phát hiện hơn 1.3 tấn ngà voi nhập từ châu Phi, được cất giấu tinh vi trong các thùng phuy chứa nhựa đường.

Bão Irma cấp 5, đổ vào Caribbean, gây lụt lội nặng nề

Bão Irma kéo tới vùng Caribbean vào sáng ngày Thứ Tư, với sức gió kỷ lục lên tới 185 dặm/giờ làm rung chuyển nhà cửa và gây lụt lội một loạt các đảo nhỏ dọc Puerto Rico, Dominican Republic, Haiti, Cuba và có thể đánh thẳng vào khu vực Nam Florida.

Hillary Clinton đổ lỗi Bernie Sanders ‘mở đường’ cho Donald Trump

Các trích đoạn từ cuốn sách sắp xuất bản của bà Hillary Clinton, có tựa “Điều Gì Đã Xảy Ra” (What Happened), nhìn lại cuộc tranh cử tổng thống thất bại của bà năm 2016, cho thấy vị cựu Ngoại Trưởng Mỹ này đổ lỗi, ít nhiều cho sự thất bại của bà lên đối thủ sơ bộ trong đảng là Thượng Nghị Sĩ Bernie Sanders.

Người Mỹ da trắng theo Thiên Chúa Giáo không còn chiếm đa số

NEW YORK, New York (AP) – Con số người Mỹ cho hay là da trắng và theo Thiên Chúa Giáo nay xuống dưới mức 50%, một chuyển đổi từ người di dân và cũng vì ngày càng có nhiều người không muốn gia nhập các tôn giáo có tổ chức, theo kết quả một cuộc thăm dò được công bố hôm Thứ Tư.

Người theo Thiên Chúa Giáo nói chung vẫn chiếm đa số ở Mỹ, vào khoảng gần 70%. Tuy nhiên, người da trắng theo Thiên Chúa Giáo, có lúc chiếm đại đa số trong lãnh vực tôn giáo Mỹ, nay chỉ vào khoảng 43% dân số, theo kết quả thăm dò của cơ quan Public Religion Research Institute (PRRI), có trụ sở đặt tại Washington, DC. Chừng bốn thập niên trước đây, khoảng 8 trong 10 người Mỹ là người da trắng theo Thiên Chúa Giáo.

Sự thay đổi này thấy xảy ra ở mọi giáo phái Thiên Chúa Giáo truyền thống tại Mỹ, kể cả sự sút giảm lớn lao trong thành phần người da trắng trong các nhóm thuộc tông phái Kháng Cách (Protestantism) như Giáo Hội Trưởng Lão (Presbyterians) và Giáo Hội Luther (Lutheran); sự gia tăng mạnh mẽ của người Lation trong Hội Thánh Công Giáo La Mã, trong lúc có một số người Công Giáo không phải là Hispanic bỏ đi; cùng là sự sút giảm về thành phần da trắng theo Tin Lành (evangelicals), vốn cho đến gần đây vẫn được coi là vững bền, khó suy suyển.

Trong số người Mỹ theo đạo Công Giáo, có 55% nay cho hay mình là người da trắng, so với 87% khoảng 25 năm trước đây, do sự hiện diện ngày càng đông của người gốc Latino, theo bản báo cáo.

Trong thập niên qua, số người da trắng theo Công Giáo trong dân số Mỹ giảm từ 16% xuống 11%. Cùng lúc đó, thành phần người da trắng theo tông phái Kháng Cách giảm từ 18% xuống còn 13% trong dân số Mỹ. (V.Giang)

Hillary Clinton đổ lỗi Bernie Sanders “mở đường” cho Donald Trump

Tin mới cập nhật