Trung học Novato mở cửa lại sau vụ 1 học sinh bị bắn chết
NOVATO, California (NV) – Học sinh trường trung học Novato ở Marin County tại miền Bắc California đã đi học lại hôm Thứ Ba sau vụ một học sinh bị bắn chết và một học sinh khác bị thương hồi tuần trước, theo tin của đài KRON.

Trung học Novato ở Marine County. (Hình: novatohs.org)
Anh Josue Ramirez Guerra, 17 tuổi, cư dân San Rafael, bị bắn chết vào lúc 5 giờ chiều Thứ Tư tuần trước trên đường mòn Novato Trail, chỗ gần đoạn cuối của đường Fairview, trong khi một bạn học khác của nạn nhân cũng bị bắn nhưng chỉ bị thương và hiện đang hồi phục tại bệnh viện.
Theo lời các giới chức Sở Cảnh Sát Marin County, cho tới nay, có ba người bị cảnh sát bắt giữ vì dính líu tới án mạng và một nghi can nữa đang tại đào.
Cũng vẫn theo lời cảnh sát, vào hôm Thứ Năm tuần rồi, hai học sinh trường Novato bị bắt sau một cuộc đột kích của nhân viên công lực vào một địa điểm bên ngoài khuôn viên nhà trường. Một thanh niên, tên Elmer Machado-Rivera, 20 tuổi, bị bắt hôm Chủ Nhật vì bị tình nghi chủ mưu vụ sát nhân.
Hiện cảnh sát vẫn còn đang truy lùng nghi can thứ tư, cũng là một học sinh trường Novato, vì có liên quan tới án mạng. (V.P.)
Cô giáo nhìn nhận phá thai vì quan hệ tình dục với học trò
HOUSTON, Texas (NV) – Hôm Thứ Tư, cô Alexandria Vera, 24 tuổi, giáo viên môn tiếng Anh tại trường Stovall Middle School, nộp mình cho cảnh sát Montgomery ở Texas, sau khi bị truy nã về tội quan hệ tình dục với một học trò của mình, theo tin của tờ Dallas Morning News.

Trường Stovall Middle School. (Hình minh họa: aldine.k12.tx.us)
Cô giáo này sau đó được tại ngoại, sau khi đóng tiền thế chân $100,000.
Theo lời khai của cô, mối liên hệ tình cảm và tình dục giữa cô và cậu học trò mới 13 tuổi kia bắt đầu từ hồi Tháng Chín, 2015, và cả hai yêu nhau tha thiết, mặc dù lúc đầu cô từ chối không cho cậu học trò này biết tên thường dùng của mình trên Instagram.
Cũng vẫn theo lời cô, chính cậu học trò nhỏ khơi mào mối quan hệ tình dục giữa hai người khi thuyết phục cô ra ngoài đi chơi. Và khi cô giáo lái xe đến đón cậu học trò “bé hạt tiêu” này thì cậu đã chồm tới ôm hôn cô giáo của mình ngay trong xe, rồi sau đó cả hai cùng đưa nhau vào bên trong ngôi nhà của cha mẹ cậu học sinh.
Khi cô Vera đến thăm cha mẹ học trò cô được cậu giới thiệu với song thân là bạn gái của mình, và cha mẹ cậu tỏ ra chấp nhận mối quan hệ này.
Quan hệ tình dục giữa diễn ra gần như hằng ngày.
Hồ sơ truy tố cô Vera cho biết cô mang thai từ hồi Tháng Giêng năm nay, và khi hay biết chuyện đó, cha mẹ cậu học trò tỏ vẻ hứng khởi trông chờ ngày hài nhi chào đời.
Nhưng tới Tháng Hai, khi Sở Bảo Vệ Trẻ Em tới trường điều tra mối quan hệ giữa hai người, cô sợ quá, bèn đi phá thai.
Sau một cuộc điều tra cặn kẽ, Học Khu Aldine lập tức sa thải cô Vera, đồng thời báo biện lý cuộc để lập thủ tục truy tố. (V.P.)
Doanh gia Huntsman mua lại tờ Salt Lake Tribune
SALT LAKE CITY, Utah (NV) – Sau nhiều năm thương lượng, cuối cùng, việc bán lại nhật báo Salt Lake Tribune ở Utah cho một chủ nhân mới đã kết thúc vào hôm Thứ Ba, tờ báo này cho biết như thế.

(Hình minh họa: Wikipedia.org)
Ngay sau khi được tin công ty mẹ của tờ Tribune, là Digital First Media, có trụ sở tại New York, bán tờ báo này cho doanh gia Paul Hunstman, nhóm Citizens for Two Voices, với chủ trương chống độc quyền báo chí và đang kiện tờ Tribune cùng với tờ Deseret News về việc họ liên kết với nhau để chi phối ngành truyền thông tại Utah, tuyên bố hủy bỏ vụ kiện kéo dài từ hai năm qua.
Đồng thời, Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cũng quyết định ngưng cuộc điều tra về lời tố cáo hai tờ báo này thông đồng với nhau trong hoạt động truyền thông, mặc dù hai tờ báo này vẫn ký giao kèo để tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau sau khi tờ Tribune đổi chủ.
Theo lời bà Joan O’Brien, chủ tịch nhóm Citizens for Two Voices và cũng là một cựu nhân viên của tờ Tribune, các điều kiện trong khế ước cộng tác được sửa đổi giữa tờ Salt Lake Tribune và tờ Deseret News, theo đó phần lợi tức dành cho tờ Tribune được tăng từ 30% lên 40%, sẽ giúp tờ Tribune có khả năng sống vững mạnh và lâu dài.
Ông Terry Orme, chủ bút tờ Tribune, người vẫn giữ nguyên chức vụ sau khi tờ báo đổi chủ, nói rằng ông lạc quan về tương lai của tờ báo sau sự đổi thay có tính lịch sử này. (V.P.)
Brexit hay Break It?
Hùng Tâm/Người Việt
Quyết định của Anh và hậu vận của Liên Âu
Ngày 23 này, Anh hỏi ý người dân về việc có nên ở trong Liên hiệp Âu châu nữa không. Quyết định “Đi” hay “Ở” sẽ có ảnh hưởng sâu xa hơn quyền lợi kinh tế của nước Anh và của Liên Âu vì sẽ chi phối tương lai của toàn khối Âu-Mỹ. Trong một loạt bài liên tiếp, hồ sơ Người Việt sẽ tìm hiểu về vấn đề phức tạp này hầu quý độc giả. Bài này chỉ là mở đầu.
Tổng quan về nội dung
Chính quyền Bảo Thủ của Thủ Tướng David Cameron đã quyết định trưng cầu dân ý về việc Đi hay Ở vào ngày Thứ Năm, 23 Tháng Sáu tới đây. Bản thân ông Cameron thì chủ trương là Anh Quốc nên tiếp tục là thành viên của Liên Âu, nhưng nhiều thành phần khác ở trong và ngoài đảng thì đề nghị ra đi, được gọi tắt là “Brexit,” do động từ Exit.
Chúng ta có thể tìm hiểu về quyết định ấy của người dân, qua cách đặt vấn đề như sau:
Đầu tiên, để bảo vệ quyền lợi của mình thì một quốc gia có thể làm gì và không thể làm gì? Chuyện đi hay ở của Anh sẽ ảnh hưởng thế nào đến quan hệ ngoại thương và đầu tư của Anh với Liên Âu và ngược lại, nhiều nước Liên Âu sẽ bị thiệt hại ra sao? Nhưng làm sao biết trước được hậu quả ấy, vì dựa trên những tính toán hay dự phóng gì, của ai? Trong phạm vi Liên Âu, kịch bản Grexit có thể gia tăng chiều hướng phân hóa của tổ chức và còn gây bất ổn cho các nước buôn bán nhiều với Anh, và đấy là mối lo của Cộng Hòa liên bang Đức. Nhằm khắc phục rủi ro Grexit, Anh Quốc và Liên Âu sẽ phải sớm đàm phán về những thỏa ước ngoại thương. Đấy sẽ là thời sự nóng cho tương lai của đôi bên. Ngược lại, nếu dân Anh muốn ở lại và từ chối giải pháp Grexit, chính quyền Anh có thể đòi gia tăng ảnh hưởng trong Liên Âu và sẽ giới hạn vai trò của cột trụ Âu Châu là nước Đức. Ngoài ra, nan đề Brexit cũng chi phối Hoa Kỳ ở bên này Đại Tây Dương vì Liên Âu bị phân hóa thì nước Anh càng sát cánh hơn với nước Mỹ và quan hệ Anh-Mỹ sẽ gây ảnh hưởng đến Âu Châu.
Những vấn đề quá rắc rối vừa được tóm lược ở trên cho thấy là chúng ta nên chú ý đến bài toán Brexit.
Tranh luận Brexit
Liên Âu đã bị khủng hoảng từ năm 2010 vì các nguyên nhân tài chánh, kinh tế, chính trị và di dân lẫn nạn dân. Việc dân Anh bỏ phiếu đòi đi sẽ gây thêm khủng hoảng cho Liên Âu nhưng cũng tạo ra vấn đề cho nước Anh. Cho tới nay, cuộc tranh luận về hai lẽ Đi/Ở thường tập trung vào hai khía cạnh kinh tế và tài chánh, nhưng thật ra còn có hậu quả sâu rộng hơn vậy.
Khởi đầu và căn bản nhất là quyền tự quyết của người dân, là điều chính đáng vì người dân có quyền quyết định về việc bảo vệ chủ quyền quốc gia thay vì chia sẻ cho một tổ chức quốc tế. Nhưng bên cạnh đó cũng còn một vấn đề quan trọng khác là vai trò chiến lược của nước Anh trên trường quốc tế vì xứ này từng là một đại cường của thế giới. Những người chống Brexit và muốn ở lại thì viện dẫn hậu quả kinh tế, ngược lại, những người đòi ra đi từ chối bỏ hậu quả này mà nhấn mạnh đến tư thế Anh Quốc trước thế giới.
Về bối cảnh lịch sử thì xưa nay người Anh vẫn nghi ngờ lục địa Âu châu (xin gọi tắt là Âu Lục). Đấy là khu vực đông dân, cứ hay có mâu thuẫn xung đột khiến nước Anh trên đảo bị lấn át hoặc bị kéo vào tranh chấp bên trong Âu Lục. Khi trở thành cường quốc, nước Anh chú trọng đến quyền lợi của Đế Quốc Anh trên thế giới. Khi mất vị trí siêu cường từ sau Thế Chiến 2 thì nước Anh chú trọng đến quan hệ Anh-Mỹ. Sự thể này là một đặc tính truyền thống của Anh.
Sau Thế Chiến 2, khi khái niệm hội nhập kinh tế thành hình tại Âu Châu, do sáng kiến của Hoa Kỳ với kế hoạch viện trợ Marshall, Anh quốc đã chối từ sáng kiến này và đặc biệt nghi ngờ vai trò của Pháp, xưa kia đã từng là cừu thù trong nhiều thế kỷ. Đã vậy, vì là đồng minh chiến lược nhất của Mỹ trong Thế Chiến 2, Anh quốc không muốn xếp hàng đồng hạng với các nước Âu Lục để nhận viện trợ Mỹ. Cùng Hoa Kỳ, nước Anh đã góp phần giải phóng Âu Lục, chứ có kém cỏi gì!
Từ chối hội nhập kinh tế, Anh Quốc cũng không muốn bị ràng buộc vào những thỏa thuận hay cam kết của Liên Âu với nhau. Vì vậy mà khi Âu Lục kết hợp với nhau thành Thị Trường Chung Âu Châu và Cộng Đồng Kinh Tế Âu Châu (EEC) thì nước Anh lập ra khu vực quan thuế tự do với Bắc Âu và vài nước khác, đó là Hiệp Hội Tự Do Thương Mại Âu Châu (European Free Trade Association).
Sau bước hội nhập kinh tế và thương mại, các nước Âu Lục lại còn muốn tiến xa hơn, tới việc hội nhập chính trị để thành lập Liên Hiệp Âu Châu với Hiệp Ước Maastritcht, là định chế siêu quốc gia với những thẩm quyền chi tiết có thể thu hẹp chủ quyền của các thành viên. Khi ấy, nước Anh đã miễn cưỡng gia nhập Cộng Đồng EEC vì lợi ích kinh tế trong tinh thần sẽ giới hạn sự can thiệp của Âu Lục để bảo vệ được chủ quyền của mình. Nhưng thủy chung, Anh không chấp nhận hệ thống tiền tệ thống nhất của khối Euro.
Vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008 đã đảo lộn tất cả vì Anh không thể giới hạn được sự can thiệp của Liên Âu và toàn khối trở thành một mối bòng bong khó gỡ. Nhìn từ Anh, vụ Euro gây rạn nứt cho Liên Âu và gieo tai ương cho các nước Nam Âu chỉ vì đồng bạc này được thiết kế cho nhu cầu của nước Đức. Nếu Liên Âu không có ung nhọt Euro bên trong khi có khi đã tránh được nạn phân liệt.
Cuộc tranh luận về Brexit khởi đi từ đó.
Và nhìn ra khỏi khuôn khổ Anh-Âu thì nước Anh cũng có những quan hệ kinh tế và tài chánh chặt chẽ với Hoa Kỳ, thủ đô London là bàn đạp cho doanh nghiệp Mỹ tiến vào Âu Châu. Đã vậy, quan hệ Anh-Mỹ còn có chân rết bất ngờ là “Ngũ Bá.” Năm nước Anh, Mỹ, Canada, Úc và New Zealand không chỉ nói cùng ngôn ngữ, gắn bó về kinh tế và an ninh mà còn là năm đồng minh chí thiết về cả quân sự lẫn tình báo! Vì thế, có ở trong hay ở ngoài Liên Âu, nước Anh vẫn có thể bảo vệ được vai trò quốc tế của mình.
Sau bài dẫn nhập, kỳ sau chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp các khía cạnh phức tạp hơn của chuyện Brexit, với hậu quả có thể làm Liên Âu tan rã.
Tuổi trẻ Văn Nghệ Sài Gòn tuần lễ này, 47 năm trước
Viên Linh
Nhật ký Văn Nghệ, Thứ Bảy, 24 Tháng Năm, 1969
Đêm nay trên màn ảnh vô tuyến truyền hình Việt Nam, khán giả được xem vở kịch “Tiếng Cồng” do các nghệ sĩ thuộc Tiều Đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị (thuộc vùng II) trình diễn. Vở kịch, mặc dù thiếu những động tác thúc đẩy, thiếu sự hoài nghi (mầm mống tiềm tàng), chỉ kể lại một kinh nghiệm cũ, thiếu đột biến nhưng cũng được coi là một công trình đáng kể. Tác giả vở kịch trước hết đã hoàn thành một kịch bản tuyên truyền nhẹ nhàng. Viết kịch khó, viết kịch tuyên truyền khó hơn. Đối thoại được tính toán gọt giũa hết cái vẻ sỗ sàng hết cái ý muốn thuyết phục nóng nẩy, đề chỉ còn là sự việc. Nhưng sự việc trong Tiếng Cồng không nóng, không thôi thúc, bởi lẽ cái tranh chấp, cái đổi nghịch bị đẩy lùi về phía sau, trong khi chi tiết không nhiều. Kịch bản thành ra luôn luôn chỉ nằm trong một tình thế phẳng lặng – trong khi cần thay đổi tình thế nhiều lần, dồn các nhân vật vào chỗ phải phản ứng mạnh mẽ.

Nhà thơ Hoa Kỳ Allen Ginsberg (1926-1997) từng tới đọc thơ tại Sài Gòn trước 1975. (Trong The Great Modern Poets, Quercus). (Hình: Viên Linh cung cấp)
Trong các diễn viên, động thái của ông Trường làng thật đẹp, song cả vở kịch lại chỉ có một hình ảnh đẹp đó. Chi tiết tiếng đàn ma – không ai thấy người chơi đàn – cũng đẹp, song lại không nhiều. Tình tiết, khi chàng cán bộ Chiến Tranh Chính Trị được người con gái Thượng tặng cho chiếc koong diễn ra mờ nhạt hơn là sự mong đợi. Về phương diện thực hiện kịch bản, ban kịch đã thành công, bài trí có kịch tính ở trong (cửa sổ, liếp ngăn phòng trong và cửa ra vào, khẩu súng không bao giờ dùng đến,… đều gợi ra kịch tính). Các diễn viên gọn, kiềm chế tác động, nhất là người đóng vai ông trưởng làng, trưởng thôn. Vai cán bộ suy tưởng nhiều quá. Hai thiếu nữ Thượng mơ mộng chưa nồng, hận thù chưa nghiệt ngã. Màn quyết định đến hơi nhanh, khi tâm lý khán giả chưa thực sự được sửa soạn, không khí chưa thực sôi nổi vũ bão, chưa đằng đằng sát khí máu lửa mặc dù các mũi nhọn, lưỡi sắt lưỡi giáo mác bật ra liên hồi từ khác khe liếp ngách cửa xem rất ngoạn mục.
Khi màn buông xuống, chủ đề của vở Tiếng Cồng đã được trình bày tới nơi tới chốn, dù đôi điều nói ở trên có xảy ra, và vở kịch khá hấp dẫn. Đạo diễn vở kịch đã thành công khi đem được kịch bản Tiếng Cồng lên màn ảnh nhỏ – một việc không phải là dễ dàng gì.
Thứ Ba, 27 Tháng Năm, 1969
Màn bạc Sài Gòn vừa khởi chiếu từ hôm nay một phim chiến tranh của Walter E. Graumann, với Clif Robertson, George Chakiris và Maria Rerschy. Robertson được biết đến từ P.T.109 cuốn phim thuật lại cuộc đời binh nghiệp của Hải Quân Trung Úy Robert F. Kennedy, sau này là tổng thống Hoa Kỳ, và người tài tử hạng B này, năm nay vừa đoạt giải Oscar nam diễn viên xuất sắc nhất của Hàn Lâm Viện Khoa Học và Nghệ Thuật Hoa Kỳ. George Chakiris, gốc Hy Lạp, được khám phá từ West Side Story, là một trong những jeune premier sáng chói hiện nay. Cuốn phim nhan đề Mission 633.
Mission 633 là một phi vụ cực kỳ nguy hiểm của Đại Tá Grant và các phi công của ông. Họ phải phá bằng được những dàn hỏa tiễn của quân Đức, đang thiết lập tại một bờ biển thuộc Na Uy. Bấy giờ là năm 1944, Geogre Chakiris đảm nhiệm vai Trung Úy Bergmann, một trong những thủ lãnh quân kháng chiến Na Uy, làm hướng đạo viên cho Đại Tá Grant. Phi vụ thành công, nhưng 10 chiếc máy bay cất cảnh chỉ có một chiếc đáp được xuống đất, chiếc của Đại Tá Grant, nhưng ông vẫn phải chết. Vai chính chết, người hùng chết.
Người xem, sau khi ra khỏi rạp, có thể nhớ tới một phim tương tự, đã chiếu tại Sài Gòn cách đây khoảng 13 năm, đó là phim Les ponts sur Ton-Kirit một thiên anh hùng ca tuyệt diệu và cay đắng của Không Quân Hoa Kỳ, cũng trong đệ nhị thế chiến, vai chính do William Holden đảm trách. Chàng và phi đội phả phá bằng hết những cây cầu trên sông Ton-Kiri, và cuối cùng chàng cũng phải chết. Cái chết, đó là phần thưởng của anh hùng.
Thứ Sáu, 30 Tháng Năm, 1969
Tôi bước ra khoảng sân sau, ngửa mặt nhìn trời, nghe những hạt nước nho nhỏ, man mát bay lất phất. Trở vào nhà lấy cái ô Cụ Lý treo bỏ từ mùa mưa trước, mặc cái áo mưa ấm nhàu nát rồi lách ca lách cách tới nửa tiếng đồng hồ sau mới đặt được chân xuống ngõ. Đi nghe đọc thơ nó có khác đi xem xi nê, nhất là lại đi nghe đọc thơ ở quán “Thằng Bờm” nơi mỗi tối thứ sáu, chụm đầu quanh những chiếc bàn thấp dị hình, mộc mạc, trưởng giả một cách nghệ sĩ, anh chị em sinh viên, học sinh, tới ngồi bên nhau lẳng lặng và thỉ thầm, ngó nhau trong bóng mờ những ngọn đèn ít nến, đề thưởng thức một chương trình trình diễn nghệ thuật ca ngâm thân mật và miễn phí. Ở đây những tuần trước, Tú Kếu, Trần Tuấn Kiệt đã đọc thơ, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Khánh Ly đã hát. Và đêm nay từ miền Trung nghỉ phép vào Sài Gòn, đến lượt Hà Nguyên Thạch và Phan Nhự Thức trình bày những bài thơ mới nhất của mình, như tôi đã được thông báo trước đó hai ngày.
Ra khỏi nhà, cắp cái ô đen dưới nách, dưới những hạt mưa nhẹ lưa thưa không đủ ướt đất tôi đi bộ từ nhà ở đường Cao Thắng tới góc đường Đề Thám, con đường Dixmude bẩn thỉu chật hẹp xưa kia của miệt Sài Gòn chưa mở mang, chưa chật chội còn tăm tối và cũ kỹ. Lúc này mặt lề đã tráng sĩ măng, nhưng gồ ghề, ướt nhẹp, chỗ này xe sinh tố kềnh càng, chỗ kia một cái bàn bi đa gẫy chân, trước một đại lý bia B.G.I, hàng chồng thùng gỗ sừng sững, xếp từ hàng thùng cao lên tới phía trên mé lan can trên lầu một tấm vải bạt nhà binh hôi hám, lệt xệt. Cúi đầu đi dưới tấm bạt, tôi tới trước quán sinh viên.
Trước quán, xe dựng ngổn ngang, cả trên lề, cả dưới đường. Quanh đó thấp thoáng bóng người. Lúc này người ta đi nghe đọc thơ kể là đông.
Nhìn qua khung cửa hẹp, tôi ngại vào. Quán đã hết ghế. Phía trong trước cái quầy tính tiền bằng mây ken của cô Yến Trưng Vương, một thanh niên trong bộ treillis đang đọc thơ dưới bóng điện vàng.
Tôi mồi lửa điếu thuốc thơm, nghe Phan Nhự Thức đọc thơ tiếp người kia. qua tập thơ cầm trên tay. Tôi có cảm tưởng có ai đang vẫy mình, phía ngõ hẻm bên trái.
Đêm Nghĩa Hưng trời mịt mù lửa đạn
Chiều Ba Gia xác chết chật đường làng.
Người vẫy tôi là Nguyễn Hoàng Đoan, phóng viên các nhật báo, có làm thơ. Anh đưa tôi vào ngõ hẻm, đi lối sau vào trong quán Thằng Bờm. Bước qua cửa thấy một trong chín sinh viên quản trị quán, an Đạt, đang pha đồ uống. Đạt đưa cho tôi một ly chanh rhum là thứ tôi thích (thật ra họ không được quyền bán bia rượu ở đây, nhưng tôi dặn trước mua sẵn chai rhum, pha vào thành rượu mấy hồi). Tôi ngồi vào bên chiếc bàn thấp thuộc nhà bếp, bên ngoài không còn một chỗ nào. Lúc ấy Hà Nguyên Thạch đã đọc xong phần thơ của anh, và sau đó, Nguyễn Hoàng Đoan ra đọc một bài thơ tràng giang đại hải của Tú Kếu. Đọc thơ lúc này đã trở thành sinh hoạt văn nghệ phổ biến. Giữa tháng 5 vừa qua một số anh em ở Đà Nẵng trong khuôn khổ to chức CPS, cũng đã thực hiện được một đêm. Tôi nhớ, cách đây 3 năm, đêm đọc thơ đầu tiên đã rực rỡ thành công tại sân trường Đại Học Văn Khoa cũ, đường Gia Long, Anh em SVHS đã đông đảo tới ghe. Lần ấy có Đỗ Quí Toàn, Trần Tuấn Kiệt, Tú Kếu và tôi. Có thêm nhạc sĩ Thanh Thoại thuê ở đâu được một chiếc dương cầm Yamaha cà khổ, tới đệm tình tang cho nó xôm trò.
Thứ Ba, 3 Tháng Sáu, 1969
Viết tới những dòng trên, tôi đã ngừng để đi tim tài liệu về đêm đọc thơ gần nhất được biết của một thi sĩ Nga ở Mỹ Châu. Của Evgueni Evtoushenko ở Mexico. Cái đám khán giả đi nghe Evtoushenko đêm đó nó khác chúng ta nhiều, bởi vì ông ta đã đọc thơ cho các lực sĩ nghe. Đêm đọc thơ qui tụ khoảng 15,000 khán thính giả của thủ đô Mễ trong không khí Thế Vận Hội thứ XIX. Đêm đọc thơ như thế dĩ nhiên do Ban Tổ chức Thế Vận Hội dàn dựng. Dân Mễ xứ Mễ đi nghe Evtoushenko là dân Mễ của những “Candillos,” của Zapata của Franisco Villa của Dona Josefa Ortis de Domingues, của Octavio Pas, của những chàng cách mạng hụt, những tâm hồn nghệ sĩ dở dang trong phim “O’Cangaceiro” từng chiếu ở rạp Nam Việt, những chàng cao bồi lỡ trớn những lúc dừng ngựa, tựa lưng trên một bờ tường, thu mình trong một ngôi nhà đổ nát, réo rắt thổi lên âm thanh một chiếc khẩu cầm hay mệt mỏi bấm xuổng chiếc đàn ghi ta một khúc lãng tử buồn đời. Nó khác xa cái dân Mễ mà Sài Gòn được biết trong những phim cao bồi Mỹ sặc mùi đạn mã tử.
Hồi cuối năm ngoái, một ký giả đi Mễ về có mang cho tôi một món quà, tờ Press-Book về đêm đọc thơ cuối cùng của Evtoushenko đó. Nếu anh em sinh viên ở quán Thằng Bờm đã ỉn một tập Prospectus, tạm gọi như vậy, cho đêm đọc thơ vừa qua của hai bạn miền Trung, thì tờ Press-Book này đáng để mình nên làm theo. Một tờ giấy cứng gấp ba – thành sáu trang – in hình người thi sĩ đang đọc thơ, quang cảnh buổi đọc thơ, và một bài thơ làm tại chỗ của thi sĩ. Nó in offset nhiều màu nhiều hình trên giấy bìa láng, mình chỉ cần in typo trên giấy vừa vừa cũng sướng rồi. Nhưng cái tôi muốn nói là sân khấu của Evtoushenko. Một bục gỗ bao la, vĩ đại đèn chiếu sáng lóa. Trên bục có năm đài hình tròn, thi sĩ đứng ở đài giữa, bốn đài xung quanh là bốn người ngồi trong những thể ngồi khác nhau.
Thứ Tư, 1 Tháng Sáu, 2016
Cả năm nay dường như Little Saigon không có một đêm thơ nào? Mà dường như tháng nào cũng có một cuốn thơ được in ra? Sự khác biệt là gì? Thơ cho đám đông, thơ để đọc để ngâm cho một đám đông không phải là thứ thơ làm cho 2 người hay làm cho chỉ một người đọc thôi. Thơ vẫn in ra nhiều, nhưng có một loại thơ đã chết. Xin kết thúc bằng một đoạn thơ thi sĩ Evtoushenko đọc trước đám đông ở Mexico:
Quand changerons-nousles regles?
Repondez-moi!
Pourquoi gardez-vous le silence?
Premier peon?
Deuxième peon?
Troisième peon?
Quatrième peon?
-Vive le cinquième peon!
(Khi nào chúng ta sẽ đổi thay lề luật? Hãy trả lời tôi! Tại sao các người giữ im lặng? Hỡi con tốt một? Hỡi con tốt hai? Hỡi con tốt ba? Hỡi con tốt bốn? – Vạn tuế con tốt thứ năm!)
Rupert Neudeck, người sáng lập Cap Anamur, qua đời
BERLIN, Đức (NV) – Ông Rupert Neudeck, người đồng sáng lập của tổ chức cứu trợ Cap Anamur, giúp giải cứu hơn 10,000 thuyền nhân Việt Nam, vừa qua đời ở tuổi 77 vào hôm Thứ Ba tại Đức, theo nhật báo The New York Times.

Ông Rupert Neudeck. (Hình: Rainer Jensen/dpa via AP,File)
Ông Neudeck, một cựu nhà báo Đức, và vợ, bà Christel, là những đồng sáng lập của tổ chức có văn phòng tại Cologne, Đức, vào năm 1979 để cứu vớt những người tị nạn Việt Nam.
Sau cuộc khủng hoảng của người Việt, Cap Anamur mở rộng cung cấp viện trợ nhân đạo toàn cầu, tập trung vào chăm sóc y tế và giáo dục.
Năm 2004, tổ chức này va chạm với chính phủ Ý khi chiếc tàu này cố gắng cập cảng sau khi cứu 37 người Phi Châu từ Địa Trung Hải.
Cuối cùng tàu đậu ở Sicily sau ba tuần ra khơi, nhưng thuyền nhân ngay lập tức bị bắt giữ và hầu hết những người tị nạn đã bị trục xuất. (Q.D.)
Tổng Thống Obama cổ động chính sách kinh tế của đảng Dân Chủ
ELKHART, Indiana (AP) – Tổng Thống Obama đến thăm Indiana hôm Thứ Tư với mục đích làm cho đảng Dân Chủ thấy an lòng tiếp tục chính sách của chính quyền ông trước sự tấn công lì lợm của Cộng Hòa.

Tổng Thống Barack Obama chuẩn bị trả lời câu hỏi trong buổi gặp gỡ người dân tại Indiana. (Hình: AP Photo/Pablo Martinez Monsivais)
Bảy năm trước, khi vừa đắc cử, Tổng Thống Obama đã đến vùng phía Bắc tiểu bang Indiana lúc đó đang hoang phế trong thời đại khủng hoảng và hứa hẹn sẽ phục hồi nền kinh tế.
Bây giờ nơi đây đã hồi sinh khả quan dù cũng như mọi việc gì khác, không khi nào có thể coi là tuyệt đối hoàn hảo.
Chuyến thăm, do đó, được xem như màn đầu cuộc vận động tranh cử Tháng Mười Một.
Trong nội bộ đảng Dân Chủ, cho đến nay, ông hãy còn phải tránh tỏ ra thiên vị vì giai đoạn bầu cử sơ bộ chưa chính thức được coi là kết thúc.
Elkhart là một thành phố có 50,000 dân. Dù thị trường nhân dụng đã tiến triển tốt đẹp và cuộc khủng hoảng địa ốc đã chấm dứt, nhưng sinh hoạt kinh tế của cộng đồng này không được đa dạng hóa, với kỹ nghệ sản xuất xe RV là hoạt động chính.
Vì vậy, ứng cử viên Cộng Hòa Donald Trump có thể nhạo báng về chính sách tự do mậu dịch đã khiến hãng sản xuất máy điều hòa không khí Carrier Corp. chuyển cơ sở 1,400 công nhân từ Indianpolis qua Mexico.
Nhưng Tổng Thống Obama vẫn bênh vực kết quả của ngân khoản cứu nguy khổng lồ $840 tỷ đã gây nhiều tranh cãi.
Ông cho rằng cuối cùng đường lối này đã chứng minh được hiệu lực và kêu gọi vị tổng thống kế nhiệm hãy mạnh dạn chi tiêu lớn đẻ tăng trưởng kinh tế bất chấp chủ trương chính quyền nhỏ của phe bảo thủ.
Vào lúc cao điểm của khủng hoảng, mức thất nghiệp ở Elkhart lên tới 19.6% và sau khi giảm nhanh, hiện nay là 4%, thấp nhất toàn quốc.
Tổng Thống Obama thắng vẻ vang tại Indiana năm 2008, nhưng thua nặng năm 2012. Điều ấy chứng tỏ khả năng đối kháng ngoan cường của phái bảo thủ.
Phát biểu tại Elkhart hôm Thứ Tư, Tổng Thống Obama phê phán: “Những điều các người Cộng Hòa nói trong bầu cử sơ bộ không căn cứ trên sự kiện. Họ lập đi lập lại, không cần dựa trên thực tế nào vẫn nói. Tại sao? Chỉ vì điều ấy làm cho họ có phiếu.”
Ông nhấn mạnh: “Luận điểm của tôi là cần đập tan hoang tưởng điên rồ về chi tiêu của chính quyền cấp tiến. Chi tiêu của chính quyền không bóp nghẹt giới trung lưu.”
Ông nói thêm: “Hôm nay tôi đến Elkhart vì quận hạt này đã bỏ phiếu cho Cộng Hòa.”
Tổng Thống Obama đã đến Indiana 10 lần trong hai nhiệm kỳ của ông. (HC)
Canada có giám mục chánh tòa gốc Việt đầu tiên
KAMLOOPS, Canada (NV) – Đức Giáo Hoàng Francis vừa bổ nhiệm Linh Mục Joseph Phương Nguyễn làm giám mục chánh tòa Giáo Phận Kamloops, Canada, hôm 1 Tháng Sáu, theo thông báo của giáo phận cho biết.

Giám Mục David Monroe (trái) và Linh Mục Joseph Phương Nguyễn, người vừa được Đức Giáo Hoàng Francis bổ nhiệm làm giám mục chánh tòa Giáo Phận Kamloops. (Hình: Giáo Phận Kamloops)
Linh Mục Joseph Phương Nguyễn hiện là tổng đại diện Tổng Giáo Phận Vancouver.
Thông báo của Giáo Phận Kamloops viết: “Cha Phương sẽ thay thế Giám Mục David Monroe, người vừa chính thức về hưu ở tuổi 75 theo quy định của Vatican. Giám Mục Monroe làm giám mục chánh tòa từ năm 2002 và, giống như người kế vị ngài, cũng từng là tổng đại diện Tổng Giáo Phận Vancouver.”
Trước khi làm tổng đại diện (vị trí cao thứ nhì trong tổng giáo phận) vào năm 2013, Linh Mục Joseph Phương Nguyễn làm mục vụ tại giáo xứ St. Jude ở Vancouver, giáo xứ Immaculate Conception ở Delta, giáo xứ Corpus Christi ở Vancouver, và làm linh mục chánh xứ giáo xứ Our Lady of Mercy ở Burnaby và giáo xứ St. Andrew ở Vancouver.
Linh Mục Joseph Phương Nguyễn sinh ngày 25 Tháng Ba, 1957 ở Việt Nam, là con lớn nhất trong gia đình có 10 anh em, có một người em trai hiện là linh mục mục vụ tại Giáo Phận Hamilton ở Ontario, và có hai người em gái đi tu.
Lúc 11 tuổi, vị giám mục tương lai vào nhà dòng, sau đó học triết và thần học để chuẩn bị làm linh mục. Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc và các cơ sở Công Giáo bị chính quyền tịch thu, linh mục thường xuyên bị tù vì dạy giáo lý cho các giáo lý viên, theo thông cáo của giáo phận.
Cảm thấy không hy vọng được chịu chức linh mục, vị giám mục tương lai đành vượt biên bằng đường biển, bị bắt giam, bị tra tấn, và bị bỏ đói, vẫn theo thông báo.
Cuối cùng, ông cũng thoát khỏi Việt Nam, nhưng bị thương trong một tai nạn giao thông, bị hôn mê, và phải nhiều tháng sau mới hồi phục trong một trại tị nạn ở Philippines.
Sau đó, ông định cư tại Canada, học tiếng Anh, được nhận vào nhà dòng Christ the King ở Mission, và chịu chức linh mục ngày 30 Tháng Năm, 1992.
Như vậy, đây là giám mục chánh tòa gốc Việt đầu tiên của Canada, giám mục gốc Việt thứ nhì của quốc gia này, và là giám mục chánh tòa gốc Việt thứ nhì ở hải ngoại.
Hồi đầu Tháng Năm, Giám Mục Vincent Nguyễn Văn Long, lúc đó là giám mục phụ tá Tổng Giáo Phận Melbourne, Úc, được Đức Giáo Hoàng Francis bổ nhiệm làm giám mục chánh tòa Giáo Phận Parramatta.
Hồi năm 2009, Linh Mục Vincent Nguyễn Mạnh Hiếu được Đức Giáo Hoàng Benedict 16 bổ nhiệm làm giám mục phụ tá Tổng Giáo Phận Toronto, Canada.
Ngoài ra, vị tân Giám Mục Joseph Phương Nguyễn sẽ là giám mục gốc Việt thứ năm hiện còn sống tại hải ngoại.
Hai người kia là Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Tốt, hiện là sứ thần tòa thánh Vatican tại Sri Lanka, và Giám Mục Mai Thanh Lương, từng là giám mục phụ tá Giáo Phận Orange tại California, hiện đang nghỉ hưu.
Ngày thụ phong giám mục cho Linh Mục Joseph Phương Nguyễn tại Kamloops chưa được ấn định, theo thông báo của giáo phận.
Theo niên giám 2016 của Hội Đồng Giám Mục Canada, Giáo Phận Kamloops có 67 giáo xứ và các giáo điểm, với 51,435 người Công Giáo, có 16 linh mục triều, bốn linh mục dòng, hai phó tế vĩnh viễn, và 10 tu sĩ nam nữ. (Đ.D.)
Tình hình còn chuyển động
Bùi Tín
(Nguồn: VOA)
Tổng Thống Barack Obama đã kết thúc chuyến đi thăm chính thức Việt Nam. Các nhà quan sát trong và ngoài nước đang sôi nổi đánh giá ý nghĩa và kết quả của chuyến đi thăm quan trọng này. Đã có những lời đánh giá hơi cao, vượt quá sự thật. Nào là đây là bước “phát triển nhảy vọt,” từ “quan hệ đối tác toàn diện” nâng lên tầm cao mới là “đối tác liên minh chiến lược,” khi cản trở lớn cuối cùng là biện pháp cấm vận vũ khí sát thương đã được gỡ bỏ hoàn toan; nào là một sự “nâng cấp về chất lượng trong quan hệ song phương” nâng niềm tin chung lên một bước.
Về phía dư luận Hoa Kỳ cũng có những đánh giá khác biệt. Hai chuyên gia về Việt Nam là Giáo Sư Jonathan London ở Đại Học Hongkong và Murray Hiebert thuộc Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế CSIS ở thủ đô Washington tỏ ra lạc quan, cho sự kiện vừa qua đánh dấu một bước phát triển tốt đẹp của phía Việt Nam đã tách khỏi Trung Quốc một bước quan trọng và và xích lại gần Hoa Kỳ và phương Tây hơn theo một định hướng rõ rệt và mới mẻ.
Ba nhân vật chính trị Hoa Kỳ từng gắn bó với cuộc chiến tranh Việt Nam – Ngoại Trưởng John Kerry; Thượng Nghị Sĩ McCain, Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng; và cự Thượng Nghị Sĩ Bob Kerry, chủ tịch Ủy Ban Quản Trị Chương Trình Đại Học Fulbright – cũng tỏ ra hài lòng, tuy với ít nhiều dè dặt, thận trọng.
Trong khi đó các nhân vật phụ trách Châu Á của Human Rights Watch lại tỏ ra thất vọng sâu sắc, vì chỉ có Linh Mục Nguyễn Văn Lý là tù nhân chính trị duy nhất được trả tự do, và lời hứa của Hà Nội sẽ sửa đổi những điều luật hình sự võ đoán và cải cách hệ thống tư pháp vẫn bị trì hoãn. Nữ Dân Biểu Loretta Sanchez cùng 20 dân biểu Mỹ khác rất không hài lòng về chuyến đi thăm này khi không thấy có một bước tiến nào về tôn trọng nhân quyền cho nên có thể xem xét việc đưa Việt Nam trở lại quy chế CPC – Nước cần quan tâm đặc biệt về hạnh kiểm vi phạm nghiêm trọng Nhân quyền và tự do tôn giáo.
Cách đánh giá nào là đúng nhất và sát với thực tế nhất?
Điều quan trọng nhất là cần phân biệt ngôn từ ngoại giao với sự thật. Trong tuyên bố chung và họp báo chung đã có nhiều đoạn lấy hy vọng làm thực chất, nên dễ lẫn lộn những điều được hứa hẹn với những điều đã đạt được, như “quan hệ nâng cao hơn, sâu sắc hóa hơn, hiệu quả hơn…”
Tình hình đang còn chuyển động nên sự đánh giá cần thận trọng, đúng mức.
Một là Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương hiện nay là một tập thể mới mẻ, chưa biết quan hệ nội bộ ra sao, mới tập họp vài tháng nay, có sinh hoạt mang tính chất dân chủ hay vẫn theo kiểu quan liêu gia trưởng như xưa? Cả bốn vị tứ trụ chưa bộc lộ hết khả năng trong tư duy lãnh đạo có nhân tố cải cách, cầu tiến, gần dân hay vẫn giáo điều xa thực tế, xa dân như trước đây. Một sự kiện nổi bật là chuyện cá chết trắng suốt ven biển miền Trung, đã qua hơn một tháng, Bộ Chính Trị vẫn chưa có một kết luận rõ ràng minh bạch để trấn an dân chúng.
Phía Hoa Kỳ cũng đang ở thời kỳ chuyển đổi lớn, trong vài tháng nữa ai sẽ là tổng thống, ông Donald Trump thuộc đảng Cộng Hòa hay bà Hillary Clinton thuộc đảng Dân Chủ, với những chủ trương và đường lối đối nội và đối ngoại khác biệt, với một dàn cố vấn, trợ lý, chuyên gia mới mẻ?
Trong thời gian trước mắt, Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương khóa XII cũng như kỳ họp Quốc Hội khóa XIV sẽ phải có những chủ trương rõ ràng minh bạch về một loạt vấn đề then chốt nhất.
Trước hết là thái độ đối với Trung Quốc. Có nên giữ nguyên thái độ phụ thuộc Bắc Kinh, hay dám cứng cỏi đương đầu, đi thêm một bước dù nhỏ theo hướng thoát Trung? Có nên mở căn cứ Cam Ranh, làm dịch vụ hàng hải cho hải quân các nước bạn Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, các quốc gia Đông Nam Á…, cùng các nước duy trì tự do hàng hải trong mọi vùng biển quốc tế, theo đúng Luật về Biển của Liên Hiệp Quốc? Một bước quan trọng là Bộ Chính Trị và Quốc Hội cần có thái độ công khai đặt vấn đề chủ quyền bất khả xâm phạm trên vùng biển quốc gia Việt Nam, bày tỏ quyết tâm đưa vấn đề ra tòa án quốc tế như Philippines đã làm.
Một vấn đề quan trọng hàng đầu khác là thái độ của Bộ Chính Trị và Quốc hội đối với vấn đề tôn trọng nhân quyền và cải cách tư pháp theo hướng tôn trong nhân quyền. Đây là vấn đề đang gây trở ngại chính trong việc hòa nhập với thế giới. Đây cũng là yêu sách công khai cấp bách của Hoa Kỳ, của cộng đồng thế giới.
Khi đến Hà Nội, Tổng Thống Barack Obama đã đưa ra danh sách 15 nhân vật tiêu biểu đấu tranh cho nhân quyền, nhưng phía Việt Nam đã ngăn chặn, không cho 9 người trong số 15 người trong danh sách đến gặp nhà lãnh đạo Hoa Kỳ. Đây là một hành động bất lịch sự, thiếu lễ độ tối thiểu đối với vị quốc khách cao nhất. Đã có ý kiến cho rằng lẽ ra tổng thống Hoa Kỳ có thể về nước ngay khi bị đối xử như thế.
Việc bãi bỏ cấm bán vũ khí sát thương rất hào phóng không mang tính chất đơn phương, vẫn kèm theo điều kiện là sẽ được xem xét kỹ từng trường hợp cụ thể, gắn liền với thái độ tôn trọng nhân quyền của phía Việt Nam. Để đáp lại thiện chí ấy, lẽ ra ngay khi tổng thống Hoa Kỳ đang có mặt tại Việt Nam, các tù nhân chính trị Nguyễn Hữu Vinh – Ba Sàm, Luật Sư Nguyễn Văn Đài, kỹ sư Trần Huỳnh Duy Thức và các anh chị em khác đều được trả tự do, thì mới thật là vui vẻ trọn vẹn cả hai bên, tạo nên một ấn tượng sâu sắc, một cơ sở bền vững cho mối quan hệ Việt Mỹ được nâng tầm.
Về đánh giá kết quả chuyến đi của tổng thống Hoa Kỳ, có một cách đánh giá lý thú, không thể sai, là xem vẻ mặt các quan chức và vẻ mặt của người dân bình thường, nhất là tuổi trẻ các thành thị tiêu biểu cho sức sống mạnh mẽ của toàn dân Việt Nam. Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang là chủ nhà chính đứng ra tiếp khách thì giữ vẻ mặt lạnh lùng trong suốt buổi tiếp khách và họp báo. Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng có thái độ nhạt nhẽo, lạnh lùng. Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân thì lúng túng vụng về cho cá ăn theo kiểu xô bồ thô kệch. Còn Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng thì thần sắc nhợt nhạt, mệt mỏi, kém xa thái độ trong Tòa Bạch Ốc.
Có lẽ nét son của chuyến đi thăm Việt Nam là Tổng Thống Obama cảm thấy rõ sự nồng nhiệt chân thành của toàn dân Hà Nội và Sài Gòn, của các nam nữ thanh niên bất chấp đêm khuya, mưa lớn đã nô nức kéo nhau ra hai bên lề đường để tỏ rõ cảm tình, thái độ mến khách của minh. Có người dân thốt lên: đón ông Hồ hay đón tướng Giáp cũng không sao bằng.
















