Những sai lầm tai hại khi vay tiền mua nhà

(Realtor.com) Khi vay tiền mua nhà, bạn không nên nhắm mắt nghe theo lời khuyên của người khác, dù họ có thiện chí giúp đỡ bạn. Bởi vì những lời khuyên đó có thể hoàn toàn sai lầm. Trước khi làm theo bất cứ lời khuyên nào, bạn hãy kiểm điểm danh sách những sai lầm tai hại nhất sau đây:








Ðừng cố gắng mua những căn nhà vợt quá tầm tay của mình. (Hình: Getty Images)


– Không xin chấp thuận trước món thế chấp


Một vài lời khuyên có thể cho rằng bạn không cần phải xin chấp thuận trước. Vả lại, một món vay được chấp thuận trước không thực sự là được chấp thuận trước – bởi vì đơn của bạn chưa được duyệt xét bởi một công ty cam kết tài trợ, do đó không có gì bảo đảm sau này bạn sẽ được chấp thuận vay tiền. Vậy bạn xin chấp thuận trước để làm gì?


Tuy nhiên, trong khi việc chấp thuận trước có thể không chính thức, nó sẽ giúp bạn tránh được những vấn nạn lớn sau này. Ðó là một cách để tránh sự đau lòng khi bạn yêu thích một căn nhà nhưng không thể vay tiền để mua căn nhà đó. Ngoài ra, nó cũng giúp người mua chiếm ưu thế so với những đề nghị của những người khác đối với cùng một căn nhà. Người bán sẽ cảm thấy tin tưởng hơn khi lựa chọn một đề nghị của một người được chấp thuận trước, so với một người có thể chưa bắt đầu thủ tục.


– Vay món thế chấp từ ngân hàng mà bạn đã mở trương mục


Bạn có thể nghĩ rằng vì bạn đã có một mối liên hệ với ngân hàng đó, họ sẽ dành cho bạn lãi suất tốt nhất. Ðiều đó không phải luôn luôn đúng. Bạn đã tìm kiếm một căn nhà. Bạn cũng cần làm như vậy đối với món vay. Bạn luôn luôn nên tìm một ngân hàng cho vay với những điều khoản thuận lợi nhất cho bạn.


– Không để ý tới những chữ in nhỏ


Giấy tờ trong hồ sơ vay tiền thế chấp đã làm bạn điên đầu. Do đó bạn chỉ muốn ký giấy tờ cho xong, không còn đủ kiên nhẫn để đọc những hàng chữ in nhỏ. Nhưng những chữ in nhỏ đó có thể chứa những điều khoản làm bạn tốn tiền!


Hãy bỏ thì giờ và xem xét từng chữ. Nếu tiến trình đòi hỏi thêm một ít thời gian, nó đáng để bạn chờ đợi.


– Luôn luôn chọn lãi suất thấp nhất


Một lãi suất thấp có nghĩa món tiền thanh toán hàng tháng thấp. Nhưng một lãi suất thấp, thường dưới hình thức một món thế chấp với lãi suất có thể điều chỉnh (ARM), đi kèm với đủ loại ràng buộc.


ARM không phải luôn luôn xấu, nhưng bạn nên cẩn thận khi có người đề nghị một món thế chấp với lãi suất thả nổi và trong thời gian đầu chỉ trả tiền lời. ARM chỉ trả tiền lời có thể gây choáng váng với những khoản thanh toán lớn sau này, đặc biệt nếu lãi suất sẽ tăng và tiền chiết khấu bắt đầu tính vào món thanh toán hàng tháng. Mặc dù lãi suất bây giờ thấp, chẳng mấy chốc nó sẽ tăng, vậy bạn nên cẩn thận.


– Vay tới mức tối đa, dù bạn không cần tới mức đó


Bạn nên khôn ngoan và sống trong khả năng phương tiện của bạn cho phép, bởi vì bạn không bao giờ biết khi nào cuộc sống có thể đẩy bạn vào một hoàn cảnh tài chánh khó khăn, như bị nghỉ việc hoặc gặp một vấn nạn về sức khỏe.


Bạn có thể đủ điều kiện để trả hàng tháng lên tới 50% lợi tức chưa trừ thuế của bạn. Nhưng nửa lợi tức có vẻ hơi nhiều đối với hầu hết mọi người, đặc biệt khi xét thêm vấn đề thuế và lệ phí bảo hiểm.


Do đó bạn nên thiết lập một ngân sách, quyết định bạn đủ sức thanh toán hàng tháng bao nhiêu một cách thoải mái, và theo đuổi ngân sách đó. (n.n)

Vài điều cần biết khi xây nhà từ đất trống

(RealtyTimes) Hầu hết các chủ nhà đều thích mua một căn nhà và dọn thẳng vào mà không gặp bất cứ rắc rối hoặc phiền hà nào. Vấn nạn duy nhất với phương pháp đó là bạn phải dọn vào một căn nhà không hoàn toàn đúng ý bạn. Dù đó là một căn nhà đáng yêu, mọi thứ không hẳn là những điều mà bạn đã mơ ước. Và còn nhiều thứ nữa. Khi bạn xây một căn nhà từ số không, bạn có thể xây dựng căn nhà mơ ước của bạn. Việc xây dựng một căn nhà từ đất trống không phải là một công việc dễ dàng, và sau đây là điều để giúp bạn làm cho công việc đó dễ dàng hơn.








Một căn nhà mới xây ở California. (Hình: Getty Images)


1. Công việc đó sẽ tốn kém hơn bạn nghĩ


Dù ngân sách xây nhà của bạn là bao nhiêu, hãy thêm một khoản phụ trội 10% trên ngân sách đó để bạn sẽ có đủ tiền. Lúc đầu, ngân sách của bạn có vẻ như chắc chắn. Nhưng sau một vài tuần, nó sẽ khởi sự giảm dần. Chẳng mấy chốc, bạn sẽ không còn đồng nào và công việc xây dựng sẽ phải ngưng lại. Mặc dù điều đó có vẻ như được phóng đại, nó thường xảy ra cho rất nhiều chủ nhà. Hãy cố tiết kiệm càng nhiều càng tốt để củng cố tình trạng tài chánh của bạn.


2. Nhưng xây nhà không tốn kém nhiều như mua nhà


Ðúng, trong trường kỳ, nó sẽ không làm bạn tốn kém nhiều như khi mua nhà. Trong một thời gian ngắn hay trung bình, nó có vẻ như tốn kém hơn một chút. Nhưng cuối cùng phí tổn sẽ trở nên đều đặn và bạn sẽ khởi sự tiết kiệm được tiền bạc nhờ xây nhà thay vì mua nhà. Khi bạn lựa chọn vật liệu và nhà thầu xây dựng tốt, bạn sẽ tốn kém hơn. Tuy nhiên, khi công việc hoàn tất, căn nhà của bạn sẽ hoàn hảo. Ðiều đó có nghĩa bạn sẽ không phải chi tiêu cho các dự án tân trang tốn kém. Các chủ nhà thường tốn hàng ngàn đô la cho việc tân trang nhà cửa của họ, và phí tổn đó cộng thêm vào phí tổn sơ khởi khi mua nhà.


3. Nhà thầu xây dựng đóng vai trò chủ chốt


Trong số những nhà thầu xây dựng, có người làm tốt có người làm xấu. Dĩ nhiên bạn muốn đạt được kết quả tốt nhất nếu có thể được. Cách tốt nhất là tìm được nhà thầu xây dựng tốt, nhưng họ không dễ tìm, vì trên thị trường đầy rẫy những kẻ tầm thường. Ðể tìm ra những người tốt, bạn cần kiểm tra tiếng tăm của họ. Bất cứ nhà thầu xây dựng nào được giới thiệu bởi một nguồn đáng tin tưởng là một giải pháp. Ngoài ra, giá biểu của họ sẽ nói lên nhiều. Các nhà thầu xây dựng tốt đòi chi phí nhiều hơn cho các dịch vụ của họ. Vả lại, bạn phải trả tiền để mua phẩm chất.


4. Trị giá bán lại


Bất kể bạn yêu mến căn nhà này tới mức nào, bạn sẽ xây dựng trong khi luôn luôn nghĩ tới trị giá bán lại của nó. Bạn không bao giờ biết khi nào bạn sẽ phải đặt căn nhà của bạn lên thị trường và dọn tới một căn nhà khác. Ðôi khi, người ta phải làm như vậy dù họ muốn ở lại căn nhà cũ. Nếu điều đó xảy ra, bạn sẽ muốn bán căn nhà với giá cao nhất. Những căn nhà có những đặc điểm phổ biến đang được thị trường ưa chuộng, điều đó có nghĩa chúng giúp chủ nhà bán được nhiều tiền nhất. Một số những đặc điểm đó là:


– Không gian sinh hoạt ngoài trời: những người mua lựa chọn một căn nhà lớn hơn thường muốn có một lò sưởi ở bên ngoài để tổ chức những buổi tiệc tùng ngoài trời.


– Trang trí trung tính: có thể đây là đặc điểm tốt nhất để một căn nhà dễ bán.


– Nhà bếp tân tiến: với tính cách trái tim của mọi căn nhà, đây là nơi những căn nhà nổi bật với thiết kế, các tủ chén, mặt bàn và đèn mới nhất và tốt nhất, chưa nói gì tới các dụng cụ tân tiến nhất.


– Thân thiện với môi trường: nhà mới xây thường tiết kiệm năng lượng hơn nhà cũ.


– Các dụng cụ tiết kiệm năng lượng: các dụng cụ và hệ thống điều hòa không khí trong những căn nhà mới hiện nay thường tiết kiệm năng lượng được 30% so với một căn nhà được xây dựng năm năm trước đây, chưa nói gì tới những căn nhà được xây dựng cách đây 10 đến 20 năm.


– Nhà xe chứa được hai xe, với chỗ chứa đồ hoặc nơi làm việc: Nhiều nhà xây dựng cũng cung cấp những nhà xe chứa được ba xe và cung cấp đủ chỗ chứa đồ.


Trong khi bạn có thể dự tính ở lại căn nhà của bạn trong nhiều năm, căn nhà mới của bạn có nhiều triển vọng đáp ứng được các nhu cầu của một người mua nếu bạn muốn bán nó, so với một căn nhà cũ đã lỗi thời. (n.n)

Thời tiết do El Nino gây ra có thể đẩy giá gạo lên cao năm nay

WASHINGTON, DC (NV)Tình trạng khan hiếm gạo có thể xảy ra trong năm nay, do ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết El Nino. Thiếu gạo đưa đến việc giá cả tăng vọt là điều sẽ đến nếu có một số yếu tố chính xảy ra trong vài tháng tới đây.


(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Tình trạng thời tiết nóng bức và khô hạn do El Nino gây ra hiện đang ảnh hưởng tới một số các khu vực sản xuất lúa gạo, gồm cả Ấn Ðộ, Pakistan, Thái Lan và Việt Nam.

Mức thu hoạch lúa dự trù sẽ giảm sút, theo bản tin của tờ báo The Independent xuất bản tại Anh.

Tuy nhiên, tình trạng thiếu gạo trầm trọng vẫn còn có thể tránh được nếu có được một số yếu tố, kể cả mùa mưa tới đây ở Á Châu.

“Tầm vóc của cuộc khủng hoảng này đều tùy thuộc vào những gì xảy ra trong mùa mưa tới đây,” theo lời Tiến Sĩ Samarendu Mohanty, thuộc Viện Nghiên Cứu Gạo Quốc Tế, cho tờ báo Independent hay. “Nếu có quá ít mưa ở Ấn Ðộ và Indonesia, thì sẽ có vấn đề lớn thời gian tới.”

Tiến Sĩ Mohanty nói rằng tình hình lúc này chưa đến nỗi trầm trọng như vào năm 2008, tuy rằng tháng qua BBC News loan tin có bạo động ở Philippines vì thiếu gạo.

Thái Lan và Việt Nam, hai quốc gia sản xuất gạo đứng hàng thứ nhì và thứ ba thế giới, cũng đều gặp tình trạng hạn hán.

Giá gạo hiện chưa tăng vì còn hàng tồn trữ trong kho, tuy nhiên, điều này có thể sớm thay đổi, theo ông James Feel, một kinh tế gia tại Viện Ngũ Gốc Quốc Tế.

“Ngay lúc này chúng ta chưa thấy giá cả tăng lên vì còn số lượng gạo tồn kho rất lớn ở Ấn Ðộ và Thái Lan,” ông Fell nói. “Nhưng điều này không kéo dài mãi được.” (V.Giang)

Israel và Hamas đụng độ trực tiếp lần đầu từ sau cuộc chiến 2014

GAZA CITY, (NV) Các đơn vị lính Israel và các tay súng Hamas đã có các cuộc đụng độ trực tiếp lần đầu tiên kể từ sau cuộc chiến năm 2014, AFP trích nguồn tin quân đội Israel hôm Thứ Năm, trong khi một con đường hầm mới do Hamas đào vừa được khám phá.


(Hình minh họa: AP photo/Tsafrir Abayov)

Phát ngôn viên quân sự Israel, ông Peter Lerner, cho hay trong 24 giờ qua đã có ít nhất sáu vụ Hamas bắn vào vị trí của quân đội Israel.

Ông nói rằng phía Israel có phản ứng đáp trả trong cuộc đối đầu lần đầu tiên giữa lính Israel và các tay súng Hamas kể từ khi các cuộc đụng độ lớn ở Gaza chấm dứt vào năm 2014.

Giao tranh giữa hai bên tiếp tục ở phía Ðông thị trấn Rafah ở Dải Gaza vào trưa ngày Thứ Năm, theo nguồn tin quân sự và dân chúng địa phương.

Quân đội Israel cho hay họ đáp trả bằng hỏa lực chiến xa sau khi bị phía Hamas pháo kích bằng súng cối.

Việc giao tranh tái diễn đã tạo lo ngại về khả năng duy trì cuộc ngưng bắn giữa Israel và Hamas kể từ sau cuộc chiến kéo dài 50 ngày khiến hơn 2,251 người Palestine và 73 người Israel thiệt mạng. (V.Giang)

Ðám cháy đổi chiều khiến thêm dân ở Alberta phải di tản

FORT MCMURRAY, Alberta (AP) Một đám cháy lớn, hiện chưa ngăn chặn được, đã chuyển hướng và khiến dân chúng sinh sống tại ba khu vực ở phía Nam Canada phải di tản hôm Thứ Năm.

Giới hữu trách tại vùng Wood Buffalo đã được thông báo về việc gió đổi chiều và quyết định di tản dân ra khỏi ba nơi là Anzac, Gregoire Lake Estates, và Fort McMurray First Nation.


Một nơi tạm trú của cư dân Canada trong vùng bị cháy. (Hình: Cole Burston/AFP/Getty Images)

Ðám cháy trước đó đã buộc hơn 80,000 người phải di tản và thiêu rụi hơn 1,600 căn nhà ở Fort McMurray. Tỉnh bang Alberta phải loan báo tình trạng khẩn cấp.

Vào lúc sáng sớm ngày Thứ Năm, những người dân di tản từ Fort McMurray đã được đưa lên xe buýt để đi về Edmonton sau khi bị buộc phải rời khỏi nơi trú ẩn tạm thời của họ ở Anzac.

Họ đến Anzac vào khuya ngày Thứ Ba sau khi được di tản khỏi nhà ở Fort McMurray.

Ðến sáng Thứ Tư, trung tâm sinh hoạt ở Anzac đã đầy chật người với các bàn thức ăn được bày ra, cùng với các dãy nệm cho người di tản nằm đỡ.

Tuy nhiên, đến tối Thứ Tư, cả nơi này trở nên vắng lặng khi có lệnh tiếp tục di tản đi nơi khác.

Giới hữu trách loan báo là nhà máy lọc nước ở Fort McMurray đã không bị thiệt hại và phần lớn khu vực trung tâm thành phố còn nguyên vẹn nhờ vào các nỗ lực tối đa của lính cứu hỏa.

Hiện chưa có tin tức gì về việc có ai bị thương hay thiệt mạng trong đám cháy này hay không. (V.Giang)

California nâng tuổi mua sản phẩm thuốc lá từ 18 lên 21

SACRAMENTO, California (AP)Thống đốc tiểu bang California, ông Jerry Brown, hôm Thứ Tư ký ban hành luật nâng hạn tuổi tối thiểu để mua sản phẩm thuốc lá dùng để hút, nhai, hoặc hít khói nicotine từ thuốc lá điện tử (vape), từ 18 lên 21.


(Hình minh họa: Gabriel Bouys/AFP/Getty Images)

Luật mới này sẽ có hiệu lực từ ngày 9 Tháng Sáu, đưa California thành tiểu bang thứ nhì ở Mỹ nâng hạn tuổi cho phép hút thuốc lên 21, sau tiểu bang Hawaii.

Luật này sẽ không áp dụng cho các quân nhân.

Ông Brown không giải thích lý do vì sao ông ký luật này cùng ba luật khác nhằm giới hạn việc dùng thuốc lá bằng nhiều cách, các phụ tá của ông cũng từ chối bình luận về việc này.

“Hành động đó tự nó giải thích sự việc,” nữ phát ngôn viên Deborah Hoffman của ông Brown cho báo chí hay.

Những người ủng hộ luật cho hay điều này nhằm ngăn cản thiếu niên không bị ảnh hưởng độc hại, có khi làm chết người, của việc nghiện nicotine.

Viện Nghiên Cứu Y Khoa Mỹ cho hay có tới 90% những người hút thuốc hàng ngày đã khởi sự dùng sản phẩm từ thuốc lá trước khi được 19 tuổi.

Các giới chức Quốc Hội tiểu bang cũng như các nhà tranh đấu chống thuốc lá hoan nghênh hành động này của ông Brown và trông đợi các tiểu bang khác theo gương California.

“Bằng cách nâng hạn tuổi tối thiểu lên 21, tiểu bang đông dân nhất nước Mỹ này sẽ tạo động năng mạnh mẽ cho các nỗ lực khác trên toàn quốc,” theo ông Matthew Myers, giám đốc chương trình vận động ngăn trẻ em hút thuốc có tên “Campaign for Tobacco-Free Kids.”

Kỹ nghệ bán các dụng cụ hít khói nicotine đang quảng cáo sản phẩm của họ là biện pháp an toàn cho những người nghiện thuốc lá, và phát ngôn viên của một nhóm có tên “Smoke-Free Alternatives Trade Association” gọi hành động của ông Brown là “bước thụt lùi.”

Viện Nghiên Cứu Y Khoa Mỹ cho hay trong bản báo cáo đưa ra hồi Tháng Ba, 2015 rằng nâng hạn tuổi tối thiểu để hút thuốc lên 21 sẽ ngay lập tức giảm 15% số người từ 18 đến 20 không tập có thói quen có thể kéo dài cả đời này. (V.Giang)

Ðơn xin trợ cấp thất nghiệp tăng tuần qua, nhưng vẫn thấp

WASHINGTON, DC (AP) Có thêm nhiều người dân Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp tuần qua, nhưng nói chung con số này vẫn còn ở gần mức thấp nhất, một chỉ dấu cho thấy tình trạng trì trệ kinh tế thời gian gần đây chưa đến nỗi khiến giới chủ nhân ào ạt cho nhân viên nghỉ việc.


(Hình minh họa: Justin Sullivan/Getty Images)

Bản báo cáo do Bộ Lao Ðộng Mỹ đưa ra sáng ngày Thứ Năm ở Washington, DC, cho hay số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tuần qua tăng 17,000 so với tuần trước đó, lên tới con số 274,000.

Con số trung bình của bốn tuần lễ, một cách tính ít bị ảnh hưởng của các giao động bất thường, lên tới 258,000, gần với mức thấp nhất trong 42 năm, có được hai tuần trước đây.

Trong 12 tháng qua, con số người nhận trợ cấp thất nghiệp giảm 5.4%, xuống còn 2.12 triệu, dù rằng điều này không hoàn toàn vì có nhiều người dân Mỹ kiếm được việc làm.

Ðơn xin trợ cấp thất nghiệp là biểu hiện của tình trạng hãng xưởng cho nhân viên nghỉ việc.

Qua số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tương đối thấp như hiện nay, có vẻ là giới chủ nhân không quá lo lắng về sự phát triển chậm của kinh tế Mỹ.

Nền kinh tế quốc gia phát triển chỉ khoảng .5% trong quý đầu tiên năm 2016, yếu kém nhất trong hai năm trở lại đây. Con số này tiếp theo mức 1.4% trong ba tháng cuối năm 2015.

Tuy nhiên, giới chủ nhân hiện vẫn tỏ vẻ không quá lo lắng về sự trì trệ này.

Ðơn xin trợ cấp thất nghiệp tiếp tục ở dưới mức 300,000 trong liên tục 61 tuần lễ, tính đến tuần qua và là chuỗi dài nhất từ năm 1973.

Con số vừa công bố cũng cho thấy mức độ thu nhận nhân viên mới tiếp tục duy trì bình thường.

Tuy nhiên, cũng có chỉ dấu cho thấy mức độ này sẽ không sớm tăng trưởng như trông đợi.

Các con số do ADP, công ty chuyên làm sổ lương cho các công ty tư nhân, hôm Thứ Tư cho hay giới chủ nhân chỉ tạo thêm 156,000 việc làm trong Tháng Tư, có giảm sút so với con số 194,000 trong Tháng Ba. (V.Giang)

Biển Ðông đỏ máu và nước mắt (1/2)

Hơn một tháng nay, nước biển từ Hà Tĩnh vào đến bờ biển ở Huế, Ðà Nẵng bị ô nhiễm mang mầu đỏ lan dần dần, nhiều người đã nhìn thấy một “Biển Ðông chảy máu! Ba hiện tượng, “cá chết trên bãi biển miền Trung,” “công nhân Tàu không giấy phép tràn ngập Vũng Áng,” và “Trung Cộng lộng hành trên Biển Ðông,” đều dính dáng với nhau và bắt nguồn từ một đầu mối: Quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản, Việt Cộng lệ thuộc Trung Cộng Người Việt TV (c) 2016 – http://NGUOIVIETTV.com Người Việt Online – http://NGUOI-VIET.com

Biển Ðông đỏ máu và nước mắt (2/2)

Hơn một tháng nay, nước biển từ Hà Tĩnh vào đến bờ biển ở Huế, Ðà Nẵng bị ô nhiễm mang mầu đỏ lan dần dần, nhiều người đã nhìn thấy một “Biển Ðông chảy máu! Ba hiện tượng, “cá chết trên bãi biển miền Trung,” “công nhân Tàu không giấy phép tràn ngập Vũng Áng,” và “Trung Cộng lộng hành trên Biển Ðông,” đều dính dáng với nhau và bắt nguồn từ một đầu mối: Quan hệ giữa hai đảng Cộng Sản, Việt Cộng lệ thuộc Trung Cộng Người Việt TV (c) 2016 – http://NGUOIVIETTV.com Người Việt Online – http://NGUOI-VIET.com

Pakistan: Bắt 14 người thiêu sống một thiếu nữ

PESHAWAR, Pakistan (NV)Mười bốn chức sắc một làng nhỏ ở Tây Bắc Pakistan bị bắt hôm Thứ Năm và bị truy tố tội thiêu sống một thiếu nữ vì em đã ngầm giúp bạn làm đám cưới không có sự cho phép của gia đình.

   Các chức sắc liên hệ đến vụ thiêu sống một thiếu nữ “vì danh dự gia đình,” bị cảnh sát bịt mắt bắt đi. (Hình: Getty Images/Shakeel Ahmed)

Theo báo Washington Post, tội ác này một lần nữa gây thêm sự chú ý về thành tích thiếu bảo vệ phụ nữ và trẻ em khỏi bị lạm dụng của Pakistan.

Cảnh sát quận phía Bắc thành phố Abbottabad cho hay, thi thể em Ambreen Riasat được tìm thấy bên trong một chiếc xe van bị đốt cháy rụi, ở khu vực nghỉ mát Donga Gali, hôm 29 Tháng Tư.

Ảnh chụp xác cháy đen của thiếu nữ được nhanh chóng phát tán trên Internet, có vẻ như cô gái bị trói vào sau lưng khi bị thiêu sống.

Thoạt đầu, cảnh sát nghi là em bị bạn trai hiếp dâm hoặc có chuyện bất đồng trong gia đình.

Tuy nhiên, đến hôm Thứ Năm, cảnh sát Abbottabad loan báo đây là “hành động có tính toán” của 14 chức sắc trong làng.

Theo cảnh sát, toàn bộ hội đồng bô lão làng thực hiện hành động này như là một sự răn đe với các thanh thiếu niên khác.

Nạn nhân bị lên án đã giúp bạn mình bí mật lấy một bạn trai.

Sau khi cha của cô dâu biết rõ sự tình, ông liền yêu cầu các bô lão trong làng giúp điều tra.

Các bô lão triệu tập buổi họp và nhanh chóng tìm ra nạn nhân là người từng giúp cho bạn làm trái ý của cha cô dâu.

Họ quyết định một hình phạt nặng nề để cảnh cáo những người trẻ khác trong làng.

Xin mời xem thêm video: Trung Quốc
đưa tàu chiến hiện đại tập trận ở Biển Đông

Theo cảnh sát, nhiều người đàn ông kéo cô gái ra khỏi nhà rồi trói vào bên trong chiếc xe van. Mặc cho sự van xin của cha mẹ nạn nhân, cô gái bị thiêu sống đến chết.

Trong số bị bắt có vị trưởng lão và cha của cô dâu.

Không rõ cô dâu và chồng mới cưới có chịu hình phạt nào không.

Ở Pakistan, nhiều nơi phụ nữ vẫn còn phải chờ có phép của người cha mới được lấy chồng, theo luật “Jirga” thuộc văn hóa Pashtun, vốn thịnh hành ở Pakistan và nước láng giềng Afghanistan.

Theo Ủy Ban Nhân Quyền Pakistan, có 8,694 cô gái và phụ nữ đã bị chết vì cái gọi là “giết vì danh dự gia đình” trong hai năm 2014 và 2015.

Một phần tư trong số nạn nhân là các em tuổi vị thành niên.

Mặc dù tập tục “giết vì danh dự gia đình” thường phổ biến ở các vùng hẻo lánh xa xôi nhưng vẫn xảy ra ở ngay các thành phố lớn hơn và tiến bộ hơn. (TP)

Ðao phủ Henry I Ðội Mũ Ðen


Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)


“Nhiều người trong đó có tôi luôn cho rằng nếu như có một tay hung ác đội mũ đen (black hatted villain) trong thảm kịch Saigon năm 1963 và cái chết của hai anh em ông Diệm, Nhu thì đó chính là Lodge,” tác giả James W. Douglas kết luận trong một cuốn sách nghiên cứu công phu xuất bản năm 2008. Ðại Sứ Cabot Lodge đã không trực tiếp ra lệnh đảo chính TT Diệm, nhưng ông đã có trách nhiệm lớn lao đưa tới lệnh ấy và khi thi hành mệnh lệnh thì lại dùng nhiều thủ đoạn – kể cả bóp méo những chỉ thị từ Washington – nhằm triệt hạ cho bằng được hai anh em ông Diệm-Nhu.

Thật cũng lạ: nếu như thời Ðệ Nhị Cộng Hòa, có tay đao phủ tên là Henry (Kissinger), người đã đẩy Miền Nam xuống vực thẳm, thì thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, lại đã có một tay đao phủ khác cũng tên là Henry – Henry Cabot Lodge. Sự trùng hợp này thì chính tác giả cũng mới chợt để ý tới, vì trước đó khi nói tới viên đại sứ Mỹ cuối cùng trong thời Ðệ Nhất Cộng hòa thì ta thường nói tới ông Cabot Lodge. Cho nên chúng tôi gọi ông Henry Cabot Lodge là Ðao phủ Henry I và Henry Alfred Kissinger là đao phủ II.

Cuối Tháng Sáu, 1963, đang khi tình hình ở Saigon có vẻ lắng dịu xuống sau biến cố Phật Giáo ở Huế thì có tin từ Washington là tới Tháng Tám, Hoa kỳ sẽ thay thế Ðại Sứ Nolting, người đã nhất mực ủng hộ TT Diệm. Sau ba năm phục vụ, ÐS Nolting yêu cầu được thuyên chuyển về Mỹ vì lý do gia đình. Ðang khi chờ đợi quyết định của TT Kennedy, gia đình ông Nolting đi nghỉ ở Hy Lạp. Cho đến khi về tới New York ngày 1 Tháng Bảy ông mới nhận được lá thư của Bộ Trưởng Phủ Tổng Thống Nguyễn Ðình Thuần viết cho ông rằng, “Tổng Thống Diệm yêu cầu ngài về Saigon gấp.” Trong khi ông Nolting đi nghỉ, ông Thuần cũng đã yêu cầu tòa Ðại Sứ Mỹ thông tin cho ÐS Nolting là TT Diệm muốn ông trở về để làm trung gian giải quyết cuộc khủng hoảng. Truehart có hứa sẽ chuyển lời nhưng đã thất hứa. Giả như ông Nolting nhận được yêu cầu của TT Diệm thì chắc chắn ông đã trở về Saigon để làm cho bầu không khí căng thẳng Việt-Mỹ dịu đi được phần nào.

Về tới Saigon, ông Nolting thấy ông Diệm thực sự đã thi hành một số biện pháp theo như yêu cầu của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Ngày 18 Tháng Sáu, ông Diệm cho phát sóng một thông điệp kêu gọi toàn thể chính phủ phải thực thi “Bản Tuyên Cáo Chung” giữa chính phủ và lãnh đạo Phật Giáo (16 Tháng Sáu). Ông cho phép các nhà sư trở về những ngôi chùa bị cô lập hóa, rồi trừng phạt viên đại tá là người đã tổ chức cuộc biểu tình chống Phật Giáo. Trong những ngày cuối cùng khi Nolting còn làm đại sứ ở Saigon, ông vẫn cố thuyết phục Washington là cuộc khủng hoảng Phật Giáo đang dần dần lắng dịu và Washington nên tuyên bố ủng hộ ông Diệm. Nhưng đồng thời, tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, bè phái Hillsman đã quyết tâm hành động.


Cabot Lodge là ai?


Ông Henry Cabot Lodge sinh ra tại Nahant, Massachusetts. Cha ông là George Cabot Lodge, một nhà thơ. Năm 1924, ông tốt nghiệp hạng ưu tại Ðại Học Harvard, nơi ông là một thành viên của hai hội Hasty Pudding và Fox Club. Năm 1933 ông được bầu vào Hạ Viện tiểu bang Massachusetts và năm 1936 được bầu làm nghị sĩ đảng Cộng Hòa tại Thượng Viện Hoa Kỳ. Lodge phục vụ năm đầu tiên của nhiệm kỳ Thượng Viện mới của mình, nhưng sau đó đã từ chức ghế Thượng viện của ông vào ngày 3 Tháng Hai năm 1944 để trở lại quân đội. Ông nổi tiếng là con người bảo thủ, cứng rắn, võ biền. Ông Lodge cũng là người đã tranh cử với ông Kennedy hai lần và đều thất bại.

Lần đầu là năm 1952 khi ông muốn tái cử chức Nghị sĩ tiểu bang Massachusetts, và lần thứ hai là trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1960 khi ông đứng chung liên danh Nixon-Lodge (và chính chúng tôi đã đi vận động cho liên danh này).


Thành kiến sẵn về TT Diệm


Thoạt đầu TT Kennedy có ý định chỉ định ông Edmund Gullion (cựu lãnh sự Mỹ ở Saigon đầu thập niên 1950) để làm đại sứ thay ông Nolting. Gullion là người có thiện cảm với những người có tinh thần quốc gia cũng giống như Kennedy, nhưng Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk không đồng ý và đề nghị ông Lodge. Trong cuốn sách “Triumph Forsaken” tác giả Moyar viện dẫn nhà sử học Arthur Schlesinger để cho rằng: năm 1963 TT Kennedy biết rằng ông Cabot Lodge sẽ là ứng cử viên Ðảng Cộng Hòa ra tranh cử nên chỉ định ông làm đại sứ ở Saigon để ông phải đứng vào thế thủ, không thể cáo buộc những thất bại ở Việt Nam cho đảng Dân chủ. Trước khi nhậm chức ông Lodge đã có thành kiến sẵn về TT Diệm. Ông đã đi tới kết luận là ông Diệm vừa bất tài vừa độc tài, và chính phủ ông thì tham nhũng. TT Diệm không biết nhiều về ông Lodge nhưng khi nghe tin ông sắp thay thế ông Nolting làm đại sứ và là người có thành kiến về mình, ông Diệm tâm sự với Bộ Trưởng Thuần, “Họ có thể gửi mười ông Lodge sang, nhưng tôi không thể để cho chính tôi hay đất nước này bị nhục mạ, dù họ có chĩa đại bác vào Dinh Ðộc Lập.”

Ðại Sứ Lodge đã ra tay dẹp Nhà Ngô như thế nào? Nghiên cứu kỹ tài liệu lịch sử chúng tôi thấy ông đã có những hành động như sau:

– Vừa tới Saigon, ông đã phớt lờ và không muốn điều đình gì với TT Diệm, một hành động bật đèn xanh cho tướng lãnh.

– Rồi ông trực tiếp khích lệ tướng lãnh đảo chính.

– Tiếp theo là việc loại bỏ trạm trưởng CIA là Richarson (người quen thân với ông Nhu) và không cho Tư Lệnh Harkins (người ủng hộ ông Diệm) biết đầy đủ thông tin về đảo chính, như vậy Lodge dễ bề hành động.

– Ông cũng không cho TT Kennedy biết hết những gì đang xẩy ra ở Saigon; và

– Hết mực thuyết phục Washington chấp thuận đảo chính.

– Khi lệnh từ Washington chưa rõ ràng, ông đã giải thích theo ý mình; rồi sau cùng, đã

– Ðánh lừa cả TT Diệm vào ngay ngày đảo chính; đồng thời

– Không thông báo cáo kịp thời cho TT Kennedy về thông điệp và nhượng bộ của TT Diệm vào sáng ngày đảo chính.

Sau cùng, ông Lodge đã hứa với TT Diệm là nếu ông yêu cầu thì sẽ giúp phương tiện để bay ra ngoại quốc, nhưng tới khi ông Diệm nhờ cậy việc này thì ông Lodge lại làm ngơ.


Bức mật điện lịch sử 24 Tháng Tám, 1963, cho phép đảo chính


Tại Saigon, ông Lodge vừa tới nơi là đã họp ngay với báo chí và thăm các nhà sư trước cả lễ nghi trình diện với Tổng Thống Diệm. Hôm sau, Tướng Trần Văn Ðôn gửi cho ông Lodge một bức thư qua Conein, nói rằng quân đội không nhúng tay vào biến cố Phật giáo vừa qua. Ông Lodge lập tức báo cáo về Washington mà không cần kiểm tra lại về sự chính xác của thông tin này. Washington phản ứng ngay vì những người chống ông Diệm ở Bộ Ngoại Giao (trong nhóm gọi là “The New Frontier” – Biên Cương Mới, chữ mà TT Kennedy hay dùng) đang cố đổ hết tội cho ông Nhu. Ngày 24 Tháng Tám nhằm ngày Thứ Bảy cuối tuần, quan chức cao cấp ở Washington đi nghỉ. Tổng Thống Kennedy thì về Hyannis Port (Massachussets). Tại Washington các ông Harriman (thứ trưởng Ngoại Giao), Hillsman (phụ tá ngoại trưởng), và Forrestal (phụ tá ở tòa Bạch Cung) soạn thảo một mật điện tín ra chỉ thị đầu tiên về việc đảo chính. Thật xui cho ông Diệm, sau khi soạn xong văn bản, phụ tá Forrestal chỉ gọi cho Tổng Thống Kennedy để đọc cho ông nghe qua điện thoại. Ðang nghỉ ngơi chiều Thứ Bảy mà lại phải nghe văn thư này nọ, ông Kennedy bảo thôi cứ để tới sáng thứ hai triệu tập một cuộc họp rồi hãy tính. Harriman cùng với Hillsman thúc giục là cần gửi gấp. Kennedy đồng ý với điều kiện là phải hỏi các xếp của hai ông. Hillmans gọi báo cho Ngoại Trưởng Rusk. Không biết ông nói như thế nào mà ông Rusk hiểu lầm rằng tổng thống đã đồng ý nên ông Rusk cũng OK. Còn McNamara và xếp CIA McCone thì chưa được thông báo, nhưng điện văn được gửi đi ngay. Vì đây là một tài liệu nòng cốt cho những âm mưu tiếp theo để đi tới cuộc đảo chính 1 tháng 11, chúng tôi in lại hầu như toàn bộ trong phần Phụ Lục. Sau đây là vài đoạn:






Ngày 24 Tháng Tám, 1963
BNG 243
TC: CAS 265 -TAB E
Bộ Ngoại Giao gửi Ðại Sứ Lodge
……..

“Chính phủ Hoa kỳ không thể khoan thứ một tình huống mà quyền bính nằm trong tay ông Nhu. Ta phải cho ông Diệm cơ hội dứt bỏ ông Nhu cùng với vây cánh và thay thế họ bằng những nhân vật chính trị và quân sự giỏi nhất hiện có.

“Nếu, mặc dầu tất cả những cố gắng của đại sứ mà ông Diệm vẫn ngoan cố và từ khước thì ta phải đối diện với khả năng là không thể bảo tồn chính bản thân ông Diệm nữa.

“Ðồng thời chúng ta phải thông báo cho những người lãnh đạo quân sự nòng cốt biết rằng Hoa kỳ không thể tiếp tục yểm trợ chính phủ VNCH về quân sự và kinh tế nữa, nếu không ngay lập tức áp dụng những biện pháp nói trên, trong đó chúng tôi nhìn nhận phải đưa ông bà Nhu ra khỏi chính trường.

“Chúng tôi muốn cho ông Diệm có một cơ hội họp lý để cách chức họ nhưng nếu ông ấy vẫn ngoan cố thì chúng tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả hiển nhiên là chúng tôi không thể ủng hộ ông Diệm được nữa.

“Ông cũng có thể cho những người chỉ huy quân sự nào thích đáng biết rằng chúng ta sẽ yểm trợ họ trực tiếp trong giai đoạn lâm thời khi guồng máy chính quyền trung ương bị tê liệt& Cùng lúc với sự việc nói trên, ông đại sứ và cộng tác viên nên khẩn cấp cứu xét mọi nhân vật lãnh đạo có khả năng thay thế và dự thảo kế hoạch làm cách nào để thi hành việc thay thế ông Diệm nếu điều này trở nên cần thiết…

Chấp thuận bởi: Averell Harriman






Ông Lodge đi xa hơn lệnh và đi thẳng với tướng lãnh
 
Dù trong công điện này còn nói tới việc cho ông Diệm một cơ hội: “Ta phải cho ông Diệm cơ hội dứt bỏ ông Nhu cùng với vây cánh… Chúng tôi muốn cho ông Diệm một cơ hội hợp lý để cách chức họ nhưng nếu ông ấy vẫn ngoan cố thì..” nhưng ông Lodge không muốn cho ông Diệm một cơ hội nào nữa. Ở Saigon, điện văn của Bộ Ngoại Giao đã mở màn cho một loạt những biến cố. Ðiện văn tới Saigon vào đêm Chủ Nhật, ngày 25 Tháng Tám. Nhận được, ông Lodge cấp thời đánh điện về Bộ Ngoại Giao, đề nghị một thay đổi chiến thuật: đó là không cần phải thuyết phục ông Diệm nữa mà cứ đi thẳng với các tướng lãnh.


Mưu lược ông đại sứ


Vì tòa đại sứ bây giờ đi thẳng với các tướng lãnh cho nên ngay sau mật điện này, ngày 29 Tháng Tám, Tướng Minh đã ra mặt: ông thay thế Tướng Ðôn để gặp Trung Tá Conein. Ông Minh yêu cầu Mỹ cung cấp bằng chứng rõ rệt là sẽ không tiết lộ âm mưu đảo chính cho ông Nhu biết. Bằng chứng ấy, theo ông Minh là Hoa Kỳ ngưng viện trợ kinh tế cho TT Diệm.

Ngay hôm sau, 29 Tháng Tám, ông Lodge gửi thêm một thông điệp, hết sức thuyết phục, đặt vấn đề phải lật đổ chính phủ Diệm vì hai lý do: uy tín của Hoa Kỳ và nhu cầu chiến thắng Cộng sản, hai yếu tố quan trọng nhất của chính sách Hoa kỳ đối với Việt Nam:






Ngày 29 tháng 8, 1963
Ðại Sứ Lodge gửi Ngoại Trưởng Rusk


“Chúng ta đã bước vào một cuộc hành trình mà không thể nào trở lại một cách đàng hoàng được nữa: đó là việc lật đổ chánh phủ Diệm.

“Tại sao không có cách nào quay trở lại được nữa? Ðó là một phần vì uy tín của Hoa Kỳ nói chung đã cam kết công khai vào mục tiêu này và sẽ còn tiếp tục như vậy nữa khi mà các sự việc bí mật được tiết lộ ra.

“Theo một ý nghĩa căn bản hơn chúng ta không thể trở lại được nữa, vì theo tôi sẽ không có khả năng chiến thắng Cộng sản với một chính phủ Diệm hay bất cứ người nào khác trong gia đình họ Ngô…

“Cơ hội về một cuộc đảo chánh của các tướng lãnh tùy thuộc vào họ tới một mức độ nào, nhưng cũng tùy thuộc phần lớn vào chúng ta… chúng ta nên xúc tiến các nỗ lực toàn diện để các tướng lãnh hành động cho mau lẹ…




Ðể khích lệ tướng lãnh, ông Lodge còn yêu cầu Washington chỉ thị để chính “Tướng Harkins (người chống đảo chính) phải đích thân lập lại với các tướng lãnh những điều mà các nhân viên CAS (CIA) đã nói với họ trước đây để chứng tỏ tính cách đích thực của các thông điệp ấy. Tướng Harkins phải có lệnh để làm việc này.” Lodge lý luận là vì các tướng lãnh đã “bị ám ảnh bởi cái tư tưởng là chúng ta sẽ bỏ rơi họ, mặc dầu theo chỉ thị chúng tôi đã nói với họ là cuộc chơi thực sự đã mở màn.” Cùng ngày 29 Tháng Tám, ông Lodge lại nhận được công điện nữa từ Ngoại Trưởng Rusk, trong đó có câu: “Tôi sẽ vui mừng đón nhận… quan điểm của ông về việc ông có tính đến chuyện hội đàm thêm với ông Diệm để tiếp tục đàm luận với ông ta nữa hay không…” Không, ông Lodge không muốn hội đàm thêm với ông Diệm nữa. Ông trả lời ngay: “Nếu tôi đến thăm ông Diệm để yêu cầu loại vợ chồng ông Nhu, chắc chắn là ông Diệm sẽ không đồng ý và điều này sẽ làm cho các tướng lãnh hoài nghi về ý đồ của chúng ta và tình trạng bất động sẽ kéo dài thêm nữa.” Ngoài ra, “một cuộc đến thăm như vậy sẽ khiến cho vợ chồng ông Nhu coi như một tối hậu thư,” và có thể sẽ hành động “phá tan bất cứ kế hoạch nào để chống đối ông ta.” Bởi vậy, Lodge kết luận:






“Cơ hội tốt đẹp nhất để thực hiện điều này là để các tướng lãnh nắm lấy toàn bộ chính phủ (nắm lấy chìa khóa, kho đạn và nòng súng)




Ông Nhu đã sẵn sàng nhượng bộ


Tướng Harkins thực sự đã muốn cho Washington ngừng thông đồng với nhóm đảo chính, và rất quan trọng, ông còn gửi báo cáo về Washington nói đến việc ông Nhu đã sẵn sàng nhượng bộ. Ông viết: “Trong một cuộc gặp gỡ hôm qua, ông Nhu nói là ông ta hiện nay sẵn sàng làm những gì mà Hoa Kỳ muốn làm nếu có sự ủng hộ của Tổng Thống Kennedy. Tôi nói với ông ta ‘đây là điều mới mẻ đối với tôi.’”

Tuy người thủ lãnh giới quân sự Mỹ ở Saigon có lập trường như vậy nhưng mật điện ngày 24 Tháng Tám đã được đao phủ Henry I sử dụng tối đa để thúc đẩy tướng lãnh đi tới cùng để bức tử người đã gắn lon cho họ và là người sáng lập ra nền Cộng Hòa Việt Nam.


 

‘Ta phải lao vào Việt Nam’


Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)


Hawaii là một hải đảo thần tiên. Trời xanh, nước trong, cát trắng. Ðây là thiên đàng của du khách, của các cặp tình nhân, và những tuần trăng mật. Xa xa, có những chiếc du thuyền bồng bềnh. Gần bờ, từng lớp thanh niên nhịp nhàng lướt sóng.

Một nơi như vậy mà tại sao tình báo Hoa Kỳ lại nói là có Cộng Sản nằm vùng! Quốc Hội Mỹ phải quan tâm ngay. Thám tử ‘Big Jim’ vừa to con vừa nhiều tài được gửi tới để truy nã. Ðó là cốt truyện của cuốn phim “Big Jim McLain” do Hollywood dựng lên, và tài tử chính là John Wayne. Cuốn phim được chiếu vào thời điểm phong trào chống cộng ở nước Mỹ lên tới tột điểm vào đầu thập niên 1950. Lúc ấy ở Âu Châu, Nga Xô đang tung hoành, ở Á Châu thì Cộng Sản đang thắng thế. Sau khi Mao Trạch Ðông chiếm trọn lục địa Trung Quốc, Bắc Hàn liền tấn công Nam Hàn, rồi quân đội của ông Mao nhảy vào tiếp sức. Lực lượng Liên Hiệp Quốc chới với, dẫn tới việc Tướng Mỹ McArthur quyết định phản công mạnh. Ông còn muốn đánh thẳng luôn Trung Quốc, nhưng không được phép và còn bị thay thế. Mãi tới năm 1953, chiến tranh Triều Tiên mới được kết thúc, nhưng chỉ bằng một hiệp định đình chiến, không phân thắng bại. Khi nào không có chiến thắng rõ ràng thì nhân dân Hoa Kỳ rất bất mãn. Làm sao mà một nước đại cường đã thắng trận vẻ vang trong Thế Chiến II, bây giờ lại bị lép vế như vậy đối với Trung Quốc, một nước nghèo đói, lạc hậu ở bên Á Châu?


“Cộng Sản nằm ngay trong nhà chúng ta”


Thượng Nghị Sĩ Joseph McCarthy đã có câu trả lời. Chẳng phải vì Cộng Sản mạnh mẽ gì đâu, ông biện luận, nhưng chính vì có những kẻ phản quốc ở ngay trong chính phủ Mỹ đã giúp cộng sản thắng thế. “Từ những cuộc bán đứng ở Yalta cho tới sự thất bại của Mỹ ở Triều Tiên,” là do có những kẻ làm ô nhiễm chính sách ngoại giao và an ninh của Hoa kỳ.” McCarthy đã khởi xướng một phong trào chống Cộng hết sức rộng rãi. “Kẻ thù đang nằm ngay trong nhà chúng ta,” ông cứ nhất quyết, và phải đưa chúng ra ngay để trừng trị nếu ta muốn ngủ cho yên. McCarthy không chỉ nói miệng, ông đã đưa ra ngay một “danh sách những người Cộng Sản hoặc thân Cộng” gồm tới 57 nhân viên trong Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Sau đó, danh sách này còn tăng lên tới 200. Nổi tiếng nhất là vụ khởi tố một nhân viên Bộ Ngoại Giao tên là Alger Hiss. Vụ này rất sôi nổi và Hiss đã bị kết án.

Trong bầu không khí ấy, người anh hùng Thế Chiến II, Tướng Dwight Eisenhower đã đại thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1952. Tuy tiền nhiệm của ông là hai tổng thống Roosevelt và Truman có tính cách thế thủ: lo ngại về sự lớn mạnh của Cộng Sản. Còn lập trường của TT Eisenhower lại có tính cách thế công: phải ngăn chận sự bành trướng ấy một cách rõ ràng và vững chãi.


Con cờ Ðôminô


Trong Chương 3, khi phân tích Huấn Lệnh NSC 64, chúng tôi có bàn tới nguồn gốc Thuyết Ðôminô, nhưng người dùng hai chữ này chính là TT Eisenhower: “Nếu để một nước mất đi thì tất cả những nước khác sẽ nằm xuống như một hàng con cờ đôminô,” Tổng Thống Eisenhower tuyên bố năm 1954 khi ông nói về sự cần thiết phải bảo vệ Miền Nam Việt Nam. Câu tuyên bố nổi tiếng này từ đó trở thành “Thuyết Ðôminô.”

Sau thất bại Ðiện Biên Phủ, Ngoại Trưởng Dulles cố nhìn vào một khía cạnh tích cực.

“Bây giờ chúng ta lại có được một căn cứ sạch sẽ ở đó (Việt Nam), không còn bị hoen ố vì mầu sắc thực dân nữa: Ðiện Biên Phủ là một sự may mắn trá hình.” (Now we have a clean base there (Vietnam), without the taint of coloniasm. Dien Bien Phu is a blessing in disguise).

Hiệp Ðịnh Geneva vừa ký xong Tháng Bảy, 1954 thì các hoạt động của Hoa Kỳ tại Miền Nam đã bắt đầu trở nên mạnh mẽ ngay trong Tháng Tám, 1954. Cùng một ngày Tòa Ðại Sứ thông báo cho chính phủ Việt Nam về việc Hoa Kỳ yểm trợ chuyển vận đoàn người di cư từ Bắc vào Nam, cơ quan Cố Vấn Quân sự Mỹ tại Saigon hoàn thành một báo cáo dài ghi “Công điện 3024 – Ngày 8 Tháng Tám, 1954” gửi về Bộ Ngoại Giao để tường trình cho chính phủ kết quả của một cuộc nghiên cứu về vai trò của Hoa Kỳ đối với tương lai của miền Nam Việt Nam. Mục đích của báo cáo là: “Hoạch định toàn bộ những hoạt động, gồm cả chính trị, tâm lý, quân sự, và kinh tế để Hoa Kỳ có thể áp dụng nhằm bảo đảm cho Miền Nam được tồn tại là một quốc gia tự do, đồng thời giúp củng cố đất nước này thành một hàng rào vững chắc để ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản.” Sở dĩ có thể tiến hành như vậy là vì “Hoa Kỳ sẽ tự giải thích Hiệp Ðịnh Geneva theo ý mình để được được hoàn toàn tự do liên lạc với quốc gia Việt Nam.”


Thất bại Ðiện Biên Phủ đe dọa trầm trọng an ninh Hoa Kỳ


Gần hai tuần sau báo cáo này, Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia lại có một huấn thị để “Duyệt lại chính sách của Hoa Kỳ ở Ðông Nam Á.” Phân tích những hậu quả của việc Pháp bại trận tại Ðiện Biên Phủ, huấn thị nhận xét rằng “thắng lợi của Cộng Sản tại Hội Nghị Geneva đã đưa tới những hậu quả trầm trọng đe dọa nền an ninh của Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á và làm tăng sức mạnh của Cộng Sản tại đó.” Theo sự nhận xét của tài liệu rất dài này, những lý do đưa tới tình trạng như trên đây được tóm tắt như sau:


Huấn thị NSC 5429/2
Ngày 20 tháng 8, 1954


Những lợi ích cho Cộng Sản:

• Sau Geneva, lực lượng Cộng Sản đã chiếm được một chỗ đứng quan trọng tại Việt Nam để từ đó làm áp lực vào những khu vực khác;
• Do việc áp dụng một thái độ có vẻ hòa nhã tại Geneva, lại được tiếng là đã ngưng chiến ở Ðông Dương, Cộng sản sẽ khai thác luận điệu cho rằng Hoa Kỳ là kẻ quá khích, là kẻ hiếu chiến; và
• Vì vậy Cộng Sản đã có được một căn bản để làm nổi bật chiêu bài “quảng bá về hòa bình,” vừa trấn an vừa giao hảo với các quốc gia ở Á Châu.


Những bất lợi cho Hoa Kỳ:

• Là một hậu thuẫn của Pháp và Bảo Ðại, Hoa Kỳ đã mất đi uy tín của mình tại Á Châu, một sự việc làm cho các chính phủ nơi đây nghi ngờ thêm nữa về sự lãnh đạo cũng như khả năng của Hoa Kỳ trong công cuộc ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản tại Á Châu;
• Rồi đây, uy tín của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ còn lệ thuộc thêm vào những việc gì sẽ xảy ra cho Ðông Nam Á trong tương lai;
• Vì uy tín của Cộng Sản về quân sự cũng như chính trị đã tăng, nên họ chỉ cần khai thác những yếu kém của các quốc gia tự do ở Á Châu là có thể tăng thêm ảnh hưởng mà không cần phải dùng tới những biện pháp quân sự;
• Ngoài ra, nếu để Ðông Nam Á sụp đổ thì sẽ khó mà giữ được nước Nhật tiếp tục đóng vai trò then chốt tại các quốc gia hải đảo.

Bởi vậy, huấn lệnh cho rằng Hoa Kỳ phải có ngay những biện pháp thích ứng và tổng thể để đối phó với thực trạng này.


Viện trợ thẳng cho Miền Nam dù Pháp phản đối


Như vậy là đã đến lúc Hoa Kỳ phải ra tay làm mọi biện pháp cần thiết để củng cố một Miền Nam Tự Do vì nó dính liền với quyền lợi của Hoa Kỳ. Việc quan trọng cần làm ngay là phải tăng cường sự có mặt của Hoa Kỳ, và liên lạc ngoại giao trực tiếp với chính phủ Saigon mà không còn phải đi qua trung gian chính phủ Pháp nữa.

Sự việc này được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thông báo cho bộ trưởng Quốc Phòng ngay. Ngày 26 Tháng Tám, 1954, Thứ Trưởng Bedell Smith viết cho Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Charles E. Wilson: “Như ngài biết, tổng thống đã chấp thuận một văn bản gửi thủ tướng Pháp thông báo rằng từ nay Hoa Kỳ sẽ cung cấp viện trợ cần thiết cho ba quốc gia Ðông Dương một cách trực tiếp thay vì qua ngả trung gian của Pháp.”

Ðược tin Hoa Kỳ sắp viện trợ thẳng cho chính phủ Saigon, Pháp rất bất mãn, nhưng vì còn cần viện trợ nên cũng phải điều đình để khỏi làm phật lòng Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Pháp rút từ Bắc vào vẫn tiếp tục đóng tại Miền Nam, viện cớ là Pháp còn phải bảo đảm cho việc thi hành Hiệp Ðịnh Ðình Chiến và tổ chức tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ vào hè 1956.

Tại cuộc họp quan trọng hậu Geneva giữa Pháp và Mỹ tại Washington từ ngày 27 tới 29 Tháng Chín, 1954, Pháp cố thuyết phục chính quyền Eisenhower cứ tiếp tục tài trợ cho Quân đội Viễn chinh Pháp, và nhất định phản đối việc Mỹ viện trợ thẳng cho chính phủ Việt Nam. Pháp đưa bốn lý do ra để thuyết phục Mỹ:

• Nếu Mỹ viện trợ thẳng cho Miền Nam là vi phạm Hiệp Ðịnh Geneva;
• Làm như vậy là khiêu khích Trung Quốc;
• Viện trợ là đưa cơ hội tham nhũng cho người Việt Nam; và
• Những hy sinh của Pháp giúp cho chính phủ Miền Nam cũng như những ràng buộc của Miền Nam là một thành viên trong Liên Hiệp Pháp đòi hỏi việc phải để cho Pháp quản trị viện trợ.

Trước sự chống đối của Pháp, Mỹ tìm kế hoãn binh, tránh né. Mỹ còn cho Pháp cái cảm tưởng là sẽ có thể chấp nhận những lý do mà Pháp đưa ra. Làm như vậy là để cho Pháp vui lòng và đồng ý ủng hộ và trao trả hoàn toàn thẩm quyền về dân sự cho chính phủ Miền Nam. Pháp yên tâm rằng mình sẽ tiếp tục nhận được viện trợ Mỹ. Có ngờ đâu, chỉ một tháng sau cuộc họp Washington, ngày 29 Tháng Mười, Ngoại trưởng Dulles bất chợt nói thẳng với Thủ Tướng Pháp Mendès-France rằng: “Chỉ một mình chính phủ Hoa Kỳ quản lý viện trợ cho Miền Nam.”


Bước ngoặt của bang giao Việt-Mỹ


Ngoại Trưởng Dulles nói như vậy vì trước đó, ngày 1 Tháng Mười, 1954, Tổng Thống Eisenhower đã gửi cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm một bức thư thông báo lập trường hoàn toàn mới của Hoa Kỳ. Thư này là một bước ngoặt, đánh dấu gần 20 năm Hoa Kỳ trực tiếp hỗ trợ cho Miền Nam:


White House

Ngày 1 Tháng Mười, 1954

Kính gửi Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm

Kính thưa Thủ Tướng,

“Tôi đã theo dõi hết sức chăm chú những tiến triển tại Việt Nam, đặc biệt là từ sau khi kết thúc hội nghị Geneva… Và chúng tôi đã khảo sát những phương thức để viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam được hữu hiệu hơn và có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho thịnh vượng và ổn định của Việt Nam.

“Bởi vậy, tôi đã chỉ thị cho đại sứ Mỹ ở Việt Nam để xem xét với ngài, với tư cách ngài là lãnh đạo của Chính phủ, làm sao để một chương trình của Hoa Kỳ viện trợ thẳng cho chính phủ của ngài để có thể yểm trợ được Việt Nam trong giờ phút thử thách này.

“Mục đích của chương trình này là để hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam trong công cuộc phát triển và duy trì một quốc gia hùng mạnh, vững bền, đủ khả năng chống lại những phá hoại và tấn công bằng võ lực.

“Chính phủ Hoa Kỳ mong đợi cho chương trình này được chính phủ Việt Nam đáp ứng lại bằng việc áp dụng những biện pháp cải thiện cần thiết. Hoa Kỳ hy vọng rằng viện trợ này sẽ được kết hợp với những cố gắng tiếp tục của Ngài để đóng góp đắc lực vào việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập và một chính phủ mạnh mẽ…

Trân trọng

Dwight D. Eisenhower


Ðây là văn kiện lịch sử được liệt vào hàng quan trọng nhất vì về sau này các chính phủ TT Kennedy và TT Johnson đều trích dẫn văn thư này làm nền tảng cho chính sách viện trợ cho Miền Nam: nó đã được bắt đầu ngay từ thời TT Eisenhower.


“Ta phải lao vào”


Kết thúc năm 1954, ngày 24 Tháng Mười Hai, sau khi TT Eisenhower đã có lập trường dứt khoát, Ngoại Trưởng Dulles gửi một thông điệp cho cả Ðại Sứ Collins ở Saigon và Ðại Sứ Dillon ở Paris. Tóm tắt về tình hình nội bộ, ông Dulles khẳng định rằng, “Tuy Việt Nam Tự Do phải đương đầu với nhiếu vấn đề phức tạp và khó khăn, nhưng không có lý do nào ta phải chấp nhận sự thất bại.” Tại sao lạc quan ? Ông đưa ra năm lý do:

-Trong thời gian là năm tháng kể từ Hiệp định Geneva, tình hình tại Miền Nam đã không tới chỗ tan rã;
-Dân chúng căn bản là chống Cộng;
-Miền Nam có những tài nguyên lớn lao;
-Vấn đề Tướng Hinh đã được giải quyết ổn thỏa;
-Công cuộc định cư tiến hành khá tốt đẹp; và
-Trên một số phương diện, tình hình còn tiến triển tốt đẹp hơn là tiên đoán.

Ông kết luận rằng:

“Ðầu tư vào Việt Nam là đúng lý, dù chỉ là để mua thêm thời gian giúp xây dựng sức mạnh ở những nơi khác trong vùng, trừ phi nước Việt Nam Tự do rõ ràng không còn hy vọng gì và tan rã mau chóng, chúng ta không có lựa chọn nào khác hơn là tiếp tục viện trợ và ủng hộ ông Diệm, vì không có nhà lãnh đạo nào khác xứng hợp hơn.”


Chọn ngày để nhảy vào: 1 Tháng Giêng, 1955


Phân tích như vậy xong, vào ngày 29 Tháng Mười Hai, trong một buổi họp cao cấp tại Bộ Ngoại Giao, ông ngoại trưởng đã đi tới kết luận là Mỹ phải can thiệp trực tiếp. Ông còn chọn ngày để bắt đầu:

“Chúng ta phải tiến tới như đã dự định, và ta phải lao vào (take the plunge), bắt đầu từ ngày 1 Tháng Giêng, 1955.”
Như vậy là đồng minh Hoa Kỳ đã thực sự sát cánh kề vai với Miền Nam Tự Do. Ngoài vấn đề chính trị, kinh tế, vấn đề quân sự là quan trọng nhất trong thời điểm mới.

Vào đúng ngày ấy (1 Tháng Giêng, 1955), Pháp thỏa thuận là Mỹ sẽ chính thức đảm trách công tác huấn luyện quân đội Việt Nam.

Ngày 12 Tháng Hai, Tướng O’Daniel được chính thức trao cho trách nhiệm huấn luyện quân đội Việt Nam và một “Phái Ðoàn Huấn Luyện và Ðào Tạo” có tên là “TRIM” (Training Relations and Instruction Mission) được thiết lập và hoạt động ngay. Từ cuối 1954, ngoài trung tâm của các cố vấn quân sự nằm trên đường Gallieni (Trần Hưng Ðạo), các cơ sở của những cơ quan USOM (Viện trợ Kinh Tế) USIS (Sở Thông Tin Hoa Kỳ) được xây dựng rải rác khắp nơi từ Saigon tới các đô thị lớn. Hoạt động ở những địa điểm này hết sức nhộn nhịp. Phòng Thông Tin Hoa Kỳ là một địa điểm được các anh em học sinh, sinh viên chúng tôi lui tới thường xuyên, lúc nào cũng đông đúc, vui vẻ. Nơi đây, không những có máy lạnh mát rượi, địa điểm rất hiếm hoi thời đó, lại còn đầy đủ sách báo để người đọc làm quen với nền văn hóa và lịch sử của Hoa Kỳ. Ðặc biệt có báo “Thế Giới Tự Do” với nhiều hình ảnh hấp dẫn về những phong cảnh ở Mỹ cũng như tại các quốc gia tự do ở Á Châu. Những hình ảnh này thường được lồng vào những bài bình luận hấp dẫn về vai trò của miền Nam Việt Nam.

Khi xem hình ảnh về Saigon, ít khi ta thấy nói tới cái tên cũ của nó là “Hòn Ngọc của Á Châu.” Bây giờ nó đã trở thành thủ đô của một nước mới và kèm theo một tên mới, đó là: “Tiền Ðồn Của Thế Giới tự Do.”


 



 

Suýt nữa không có Việt Nam Cộng Hòa


Lệnh tối mật thay thế Thủ Tướng Diệm





 Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)


Ngay trước khi kim đồng hồ chỉ nửa đêm ngày 28 tháng 4, 1955 (ở Saigon là trưa), Tổng Thống Eisenhower và Ngoại Trưởng Dulles nhận được báo cáo là “giao tranh đã bắt đầu giữa quân đội Quốc Gia và Bình Xuyên.” Hai ông giật mình, quyết định hủy bỏ “Kế hoạch Collins” nhằm thay thế Thủ Tướng Diệm, vội vàng ra lệnh cho Tòa Ðại Sứ ở Saigon và Paris ngừng ngay việc sửa soạn thay đổi chính phủ và phải đốt hết các mật điện nói về việc này.” Trước đó chỉ mấy giờ, Washington đã gửi chỉ thị cho xúc tiến việc sắp xếp một chính phủ mới thay chính phủ Diệm.

Năm 1975, nếu những diễn biến trong Tháng Ba đã dẫn tới một Tháng Tư Ðen thì đúng 20 năm trước đó, những biến cố trong Tháng Ba 1955 cũng đã dẫn tới một tình huống hết sức đen tối vào Tháng Tư. Cái khác là năm 1955 thì đối với chính phủ Diệm: Tháng Tư đã bắt đầu thật khó khăn nhưng lại kết thúc thật sáng sủa. Nếu không thì có thể là đã không có Việt Nam Cộng Hòa. Ðó là vì Tướng Paul Ély, tư lệnh quân đội Pháp đã mạnh tay với ông Diệm để yểm trợ đảo chính cho thành công, giúp Bình Xuyên thắng thế và thành lập chính phủ.


Tháng Ba, 1955 dầu sôi lửa bỏng


Vào thời điểm này, về phía Thủ Tướng Diệm thì ngoài những vấn đề khó khăn đối với Pháp, còn có vấn đề lớn lao nữa là việc định cư gần một triệu dân di cư từ ngoài Bắc vào Nam, bất chợt làm tăng dân số Miền Nam lên 7%.

Khi một số dân được đưa lên khai khẩn các khu dinh điền trên cao nguyên, ông Diệm còn bị chỉ trích là mang người Kinh lên chiếm đất của người Thượng. Nhiều người dị nghị là chính quyền Ngô Ðình Diệm kỳ thị Bắc Nam và thiên vị người Công Giáo. Như vậy không những tình hình chính trị mà cà tôn giáo tại Miền Nam thật rối ren. Vào Tháng Ba, các giáo phái thành lập “Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia.” Quốc Trưởng Bảo Ðại ủng hộ Mặt Trận và thông báo cho Mỹ là ông Diệm không còn hữu hiệu nữa. Ngày 21 Tháng Ba, 1950, Mặt Trận tống đạt một tối hậu thư, đòi ông Diệm trong vòng năm ngày phải thành lập chính phủ mới, gồm đại diện của các lực lượng dân chủ đối lập nếu không họ sẽ biểu tình.

Thành lập xong, đại diện Mặt Trận liên lạc ngay với phía Mỹ để yêu cầu ủng hộ việc đòi ông Diệm phải thành lập chính phủ mới. Tại Saigon, Ðại Sứ Collins tuy là chống biểu tình nhưng khuyên ông Diệm phải thương thuyết để dung hòa với Mặt Trận, như vậy “có thể đổi thù thành bạn.” Thoạt đầu ông Diệm đồng ý, nhưng khi các giáo phái nói là không thể điều đình về những yêu sách của họ, ông Diệm cho ông Collins biết là sẽ dùng vũ lực để giải quyết. Collins không đồng ý, trả lời rằng quân đội sẽ không ủng hộ việc dùng vũ lực và tiếp tục khuyên ông Diệm phải tìm giải pháp ôn hòa.


Một quyết định táo bạo


Cuối Tháng Ba 1955, bầu không khí Saigon trở nên ngột ngạt sau khi ông Diệm ban hành sắc lệnh tách Cảnh Sát Biệt Khu Thủ Ðô ra khỏi hệ thống chỉ huy của Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát Quốc Gia Lại Văn Sang. Không thông báo cho đại sứ Mỹ, ông Diệm bắt đầu xúc tiến kế hoạch truất chức ông Sang và tấn chiếm Trung Tâm Cảnh Sát, dự định cả hai việc sẽ được thi hành vào ngày 29 Tháng Ba. Thế nhưng chỉ mấy giờ trước khi kế hoạch bắt đầu, Pháp biết được nên gấp rút can ngăn ông Diệm, hứa sẽ tìm cách đưa quân đội Bình Xuyên ra khỏi lực luợng cảnh sát. Ðại Sứ Collins cũng đến gặp ông Diệm để phản đối việc dùng vũ lực. “Nếu Ngài giải quyết vấn đề bằng cách này,” Collins cảnh cáo, “Ngài sẽ làm một sự sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp của ngài.” Và sự sai lầm đó sẽ mang tới hậu quả trầm trọng vì “chúng tôi sẽ bị áp lực mạnh mẽ phải ủng hộ việc thay đổi chính phủ ngài.”

Ðêm 29 rạng 30 Tháng Ba, giao tranh giữa Bình Xuyên và quân đội quốc gia đã xảy ra, nhưng vào lúc 3:15 sáng, Tướng Ely áp đặt ngay lệnh ngưng chiến. Ðể biểu dương lực lượng, ông cho xe thiết giáp quần trên đường phố Saigon. Vì đã có giao tranh đem đến đổ máu và chết chóc, Pháp nhân cơ hội này sắp xếp một kế hoạch toàn bộ để dẹp ông Diệm. Một mặt thì thuyết phục Ðại Sứ Collins (cũng là cựu chiến hữu với ông trong Thế Chiến II) để ông này yêu cầu Washington gạt bỏ ông Diệm, mặt khác thì đề nghị Quốc Trưởng Bảo Ðại ở Cannes phải có hành động quyết liệt như cất chức ông Diệm, đồng thời ngấm ngầm yểm trợ lực lượng Bình Xuyên.


Tháng Tư 1955, Ðại Sứ Mỹ Collins đề nghị năm bước để loại bỏ Thủ Tướng Diệm


Pháp đã thành công trong việc thuyết phục Ðại Sứ Mỹ Collins chống Thủ Tướng Diệm. Ngày 9 Tháng Tư, 1955 ông Collins gửi Ngoại Trưởng Dulles một điện văn dài, đề nghị toàn bộ cách giải quyết cuộc khủng hoảng tại Saigon.

Ðề nghị này gồm hai phần: sắp xếp việc ông Diệm “từ chức,” và thẩm định hậu quả của việc từ chức. Tóm tắt phần một như sau:


Ðiện văn số 4448
Ngày 9 tháng 4, 1955


Việc sắp xếp cho ông Diệm từ chức gồm 5 bước đi:

1. Giải quyết vấn đề rút cảnh sát và công an ra khỏi tay Bình Xuyên;
2. Thuyết phục ông Diệm từ chức;
3. Tìm người thay thế ông Diệm làm thủ tướng;
4. Ði tới một thỏa thuận về giải pháp đối với các giáo phái; và
5. Vận động để các giáo phái chấp nhận giải pháp trên.


Washington chờ xem quân đội có ủng hộ ông Diệm hay không?


Khuyến cáo của đại sứ rõ ràng, mạch lạc là như vậy, nhưng tại Washington phản ứng về vụ Bình Xuyên nổ súng thì lại khác. Vào lúc nửa đêm ở Saigon tức là trưa ở Washington, Ngoại Trưởng Dulles nhận được tin này khi ông đang ăn trưa với một số dân biểu lưỡng đảng tại Tòa Bạch Ốc: “Ðây là cơ hội chúng ta đã chờ đợi để tìm hiểu xem ông Diệm có đủ can đảm và quyết tâm hành động không, và cũng để biết được quân đội Việt Nam có trung thành với ông ta hay không,” ông Dulles nói với các dân biểu, “Nếu chứng tỏ được hai điều này thì ta hết lo (we are over the hump); còn nếu như ông thất bại về một trong hai điểm thì bắt buộc ông ta phải từ chức. Dù sao chúng ta cũng sẽ có câu trả lời.”

TT Eisenhower chỉ thị, “Nếu như ông ta thất bại thì thật là bết bát, nhưng ta cần phải tìm hiểu ngay bây giờ hơn là để muộn về sau, xem quân đội Quốc Gia mà ta tốn phí quá nhiều để phát triển liệu có trung thành với ông ta hay không.”

Trong hoàn cảnh xáo trộn và trước sự chống đối ông Diệm của Ðại Sứ Collins, TT Eisenhower gọi ông Collins về Washington để tham khảo. Trước khi đi, ông Collins còn gửi đề nghị cho TT Eisenhower (ngày 19 Tháng Tư, 1955) là vẫn phải thay thế ông Diệm. Rồi Collins còn đến gặp ông Diệm một lần nữa. Collins báo cáo về Washington là ông đã nói thẳng với ông Diệm rằng chính phủ của ông ta sẽ không thể tồn tại nổi được ba tháng nữa, và nếu cứ tiếp tục như thế này thì loạn lạc là điều trông thấy. Và vì vậy, “Tôi thêm rằng bắt buộc tôi phải báo cáo cho chính phủ tôi rằng hành động của ông Diệm sẽ dẫn tới một cuộc nội chiến.” Theo Collins, ông Diệm đã trả lời rằng mỗi khi ông nhân nhượng và thỏa hiệp thì vấn đề lại trở nên khó khăn hơn.

Vì sợ ông Diệm lợi dụng lúc Collins không có mặt ở Saigon để tấn công Bình Xuyên và đặt Mỹ vào một việc đã rồi nên Collins còn căn dặn ông Diệm là “Ngài nên làm bất cứ điều gì có thể để tránh xảy ra một cuộc xung đột trong khi tôi đi vắng.” Ông Diệm nói lảng đi, phàn nàn rằng nếu như ông đã cất chức Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát Lại Văn
Sang ngay từ đầu thì bây giờ tình hình tại Saigon đã có thể kiểm soát được rồi.

Chào tạm biệt, ông Collins cho ông Diệm hay là chính Quốc Trưởng Bảo Ðại sẽ giải nhiệm ông nếu tình hình này cứ kéo dài. Kết thúc bản báo cáo gửi Washington, Collins đề nghị:

“Tôi không thấy, nhắc lại là không thấy, một giải pháp nào khác ngoài việc thay thế ông Diệm cho sớm.”


Những giờ phút cam go


Ðại Sứ Collins về tới Washington ngày Thứ Năm, 21 Tháng Tư. Ngày 22 Tháng Tư, ông dùng bữa ăn trưa với TT Eisenhower, và sau đó gặp Ngoại Trưởng Dulles cùng với các đại diện Bộ Quốc Phòng và Trung Ương Tình Báo để ‘lobby’ chống ông Diệm. Ông nhắc lại quan điểm của ông một cách mãnh liệt và cứng rắn hơn trước là Mỹ phải thay thế ông Diệm và có kế hoạch hành động ngay tức khắc. Trước áp lực mạnh mẽ của Collins, vừa là đặc ủy của Tổng Thống, vừa là đại sứ, lại là chứng nhân có mặt tại chỗ để nhận xét, nên sau cùng ông ta đã thắng thế. Ngày 27 Tháng Tư, ông Dulles đã đồng ý một cách lưỡng lự. Ông chấp thuận một mật điện do Bộ Ngoại Giao soạn thảo ra lệnh thay thế Thủ Tướng Diệm. Ông Young viết lại rằng: “Chẳng một ai trong chúng tôi thật sự tin tưởng vào bức điện đó, nhưng chúng tôi phải đối diện với những đề nghị mạnh mẽ của Collins và ưu thế của ông là ông ta đã đến tòa Bạch Ốc ngay hôm sau ngày ông từ Sàigon về tới Washington.”


Mật điện lịch sử ngày 27 Tháng Tư, 1955: thay thế Thủ Tướng Diệm


Bức điện ngày 27 Tháng Tư, 1955 cho phép sắp xếp thay thế Thủ Tướng Diệm trích dẫn ở phần Phụ Lục là một văn kiện lịch sử hết sức quan trọng. Nó giống như mật điện ngày 24 tháng 8, 1963 vào lúc sắp xếp việc đảo chánh. Sau đây là tóm tắt:






Bộ Ngoại Giao

Ngày 27 tháng 4, 1955

“Tướng Collins và Ely phải thông báo cho Thủ Tướng Diệm biết rằng vì lý do ông không thành lập được một chính phủ liên hiệp có cơ sở rộng rãi và ông bị người Việt chống đối, chính phủ Hoa kỳ và Pháp không còn đủ tư thế để ngăn ngừa việc ông phải từ chức. Những đức tính yêu nước của ông vẫn có giá trị tiềm năng lớn đối với Việt Nam, và chúng ta hy vọng rằng ông sẽ hợp tác với bất kỳ chinh phủ mới nào được chỉ định…
“Chúng tôi tạm đề nghị một tân chính phủ như sau:

1) Nội các: quyền hành pháp đầy đủ trao cho [Trần Văn] Ðỗ hoặc [Phan Huy] Quát làm thủ tướng và phó thủ tướng…

2) Một Hội Ðồng Tư Vấn khoảng từ 25 đến 35 đại diện các phe nhóm, gồm cả các giáo phái… và
Một Quốc Hội Lâm Thời: một cơ chế gần như một Quốc Hội Lập Pháp, gồm những người đã trù liệu được bầu ra hay chỉ định theo lịch trình…”


Dulles




Bộ Ngoại Giao gửi mật điện đi vào lúc 6 giờ chiều ngày 27 tháng 4 (giờ Washington). Thế nhưng khi chỉ thị vừa được gửi đi là tin tức này đã lọt ra ngoài nên ông Diệm biết được nên đã hành động kịp thời.


Những giờ phút quyết liệt cuối Tháng Tư, 1955


Theo tác giả Mark Moyar trong cuốn Triumph Foresaken (xuất bản năm 2006) thì: “Trong mấy giờ đồng hồ hết sức cam go sau khi gửi mật điện này, Washington nhận được rất nhiều điện văn dồn dập do Landsdale gửi. Trong điện văn đầu, Landsdale khẳng định rằng nếu bỏ ông Diệm, uy tín Hoa Kỳ sẽ bị tổn thương ở Việt Nam tới mức không chính phủ mới nào có thể tồn tại được nữa. Rồi ngay trước khi kim đồng hồ chỉ nửa đêm giờ Washington (Saigon là trưa) Landsdale báo cáo là “giao tranh đã bắt đầu giữa quân đội Quốc Gia và Bình Xuyên.” TT Eisenhower và Ngoại Trưởng Dulles nghe vậy giật mình, quyết định đình chỉ kế hoạch Collins, vội vàng ra lệnh cho Saigon và Paris ngừng ngay việc sửa soạn thay đổi chính phủ và phải đốt hết các mật điện nói về việc này.”

Về thời điểm này, tác giả Joseph Buttinger trong cuốn “Vietnam, A Dragon Embattled” nhận xét:

“Trong sự tranh đấu để thu hồi và bảo vệ được quyền bính, ông Diệm đã trải qua nhiều giai đoạn bất trắc và khổ cực. Tuy nhiên, cho dù cả trong những tuần lễ trước cuộc đảo chánh và ám sát ông năm 1963, ông Diệm cũng đã không bị gian lao, cay đắng bằng trong tháng 4, 1955.”


May mắn cho Thủ Tướng Diệm trong ngày 30 Tháng Tư, 1955


Trước khi rời Saigon về Washington (ngày 20 Tháng Tư), theo tác giả Mark Mayar trong sách đã viện dẫn, Ðại Sứ Collins có nói với Cao Ủy Pháp Ely rằng: Hoa Kỳ đã quyết định ông Diệm phải từ chức. Theo sự thỏa thuận này, ngày 30 Tháng Tư, Ely tới gặp Quyền Ðại Sứ Randolph Kidder để yêu cầu Hoa Kỳ cộng tác với Pháp trong việc dẹp ông Diệm. Lúc ấy, Kidder không biết chính sách của Washington diễn biến ra sao vì trước khi rời Saigon, Collins chỉ nói với Kidder là “thượng cấp còn đang bàn định về những kế hoạch mới của Hoa Kỳ tại Việt Nam,” và lúc này Collins còn đang bàn bạc, vận động tại Washington. Thế nhưng, vì đã tận mắt thấy ông Diệm đang thành công, Kidder trả lời thẳng thừng cho Ely là “Không, Hoa Kỳ sẽ không cộng tác trong việc dẹp ông Diệm.” Về sau, Kidder kể lại, “Lúc ấy tôi thực không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tự quyết định lấy về chính sách của Hoa Kỳ, vì nếu trả lời là ‘tôi không biết’ thì thật là buồn cười.” Ely vô cùng giận dữ và phản đối, cho rằng Hoa Kỳ đã bội ước, vì chính ông đã nhận được sự đồng ý của Tướng Collins về việc thay thế ông Diệm. Thái độ phẫn nộ của Ely cũng giống như lúc ông đã hết sức bất mãn về sự hứa hẹn của tướng Radford là sẽ can thiệp vào Ðiện Biên Phủ, rồi không làm như vậy. Dù Ely phản kháng, Kidder vẫn giữ nguyên lập trường là Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm chứ không bắt tay với Pháp để dẹp ông đi.

Rất may cho Thủ Tướng Diệm và còn may hơn nữa cho triển vọng thành lập VNCH: cũng theo Mayar, nếu như trong buổi họp ngày 30 Tháng Tư, Kidder đã nói thật với Ely rằng: Tòa Ðại Sứ thực sự chưa nhận được những hướng dẫn về chính sách của Hoa kỳ đối với ông Diệm vào lúc ấy (ngoài lệnh hủy công điện ngày 27 Tháng Tư) thì rất có thể ông Ely đã có những biện pháp mạnh mẽ để dẹp ông Diệm hơn là đã nhân nhượng ông ta. Ngoài ra, giả như Ðại Sứ Collins không về Washington và có mặt tại buổi họp với Ely hôm ấy thì rất có thể là Collins đã đồng ý với Ely rồi. (Sự việc này cho ta một bài học: hành động của đại sứ Mỹ có mặt tại chỗ là hết sức quan trọng).

Năm năm sau, trong một bức thư gửi TT Diệm (1960), TT Eisenhower còn nhắc tới sự cương quyết và thành công của Thủ Tướng Diệm năm 1955:

“Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ thật nhanh chóng.”

Xưa và Nay: Quyền lợi của Mỹ ở Biển Ðông là gì? (Kỳ 2)


 Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)


Nay

“Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thực hiện những hoạt động tự do hàng hải… Phần tôi chỉ có thể nói rằng Ðệ Thất Hạm Ðội đã sẵn sàng. Chúng tôi có sức mạnh lớn lao và sẵn sàng để thực sự hành động nội trong khoảnh khắc, bất cứ lúc nào khi được thông báo.”

Ðây là tuyên bố của tư lệnh Hạm Ðội Thái Bình Dương, Ðô Ðốc Scott Swift vào ngày 19 tháng 2, 2016 (sau Tết Bính Thân) khi Trung Quốc lên án Hoa Kỳ có hành động khiêu khích vì đã cho chiến hạm tên lửa USS Lassen vào sát bãi ngầm Subi và những đảo khác trong nhóm Trường Sa, rồi chiến hạm Curtis Wilbur tiến tới dưới 12 dặm cách Hoàng Sa. Năm 2014 khi Trung Quốc có những hành động khiêu khích ở Hoàng sa, Scarborough, Kinsaku thì Hoa Kỳ chỉ kêu gọi, hô hào các bên tranh chấp nên giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Nhưng từ đó, Mỹ đã có những tuyên bố ngày càng rõ ràng hơn về Biển Ðông, nhất là về tự do hàng hải, hàng không. Tới 2016 thì Mỹ bắt đầu có những hành động cụ thể.

Tại sao như vậy? Ðó là vì Trung Quốc đã bắt đầu đe dọa quyền lợi của Mỹ một cách trực tiếp. Trong bài trước chúng tôi có đề cập sơ qua tới Huấn Lệnh NSC 124, một tài liệu tái xác định Huấn Lệnh NSC 64. Nơi đây chúng tôi tóm tắt vắn gọn tài liệu ấy để bình luận về chiến lược ngày nay của Hoa Kỳ.


Huấn Lệnh NSC 124
Ngày 13 tháng 2, 1952


Phân tích:

1. Hậu quả của việc Cộng Sản Trung Hoa (ngày trước gọi là “Red China”) thôn tính Ðông Nam Á là điều đe dọa cho chính nền an ninh của Hoa Kỳ…

2. Tình huống này sẽ làm cho các quốc gia khác càng tin rằng sự bành trướng của Cộng sản là điều không thể ngăn chận được nữa…

3. Sự sụp đổ của Ðông Nam Á về lâu về dài sẽ rất khó cho Hoa Kỳ ngăn chận được Nhật Bản khỏi đi theo khối Cộng Sản.

4. Ðông Nam Á, đặc biệt là Malaysia và Indonesia là nguồn tiếp liệu chính của thế giới về cao su và thiếc. Việc các quốc gia phương Tây được sử dụng cũng như việc ngăn chận khối Liên Sô không được sử dụng những nguyên liệu này luôn luôn là vấn đề quan trọng, đặc biệt là khi chiến tranh xảy ra.

5. Việc Cộng Sản kiểm soát được số gạo thặng dư ở miền này sẽ làm cho Liên Xô có được một khí giới kinh tế mạnh mẽ để áp lực đối với các nước khác.

6. Indonesia là nguồn dầu hỏa thứ hai và càng trở nên quan trọng khi các cường quốc Âu Châu không sử dụng được nguồn dầu tại Trung Ðông.

7. Việc Cộng Sản cai trị Ðông Nam Á sẽ làm cho các lực lượng thù địch kiểm soát được những hệ thống hải vận và không vận trực tiếp giữa miền Tây Thái Bình Dương, Ấn Ðộ và miền Cận Ðông. Khi có chiến tranh xảy ra, và khi Trung Quốc có tầu ngầm và những căn cứ không quân ở vùng này thì bắt buộc các đường chuyển vận hàng hải và hàng không của Hoa Kỳ và đồng minh phải đi vòng thật xa…

Như vậy, ta thấy có bốn khía cạnh của quyền lợi Hoa Kỳ. Nó bao gồm – theo thứ tự quan trọng:

• An ninh quốc phòng của Hoa Kỳ (điểm 1);
• Bảo vệ tuyến giao thông quan trong nhất (điểm 7);
• Vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng của Hoa Kỳ (điểm 2 và 3); và
• Tài nguyên chiến lược ở vùng Biển Ðông (điểm 4, 5 và 6).


Thứ nhất, an ninh quốc phòng

Biên giới lãnh thổ của Hoa Kỳ ở Miền Tây là Thái Bình Dương. Bởi vậy chắc chắn Mỹ sẽ can thiệp bằng quân sự nếu Trung Quốc có bất cứ hành động nào trực tiếp đe dọa (hay Washington coi là đe dọa) lãnh thổ của mình (dù là lục địa hay hải đảo như Honolulu, Guam, Wake) hay tài sản của Hoa Kỳ, thí dụ như bắn vào chiến hạm hay máy bay của Mỹ. Thêm vào đó là đe dọa những nơi có sự hiện diện của Lục-Không-Hải Quân Hoa Kỳ như biên giới Bắc và Nam Hàn, Okinawa, Subic Bay, Clark Airfield, và mới đây là Darwin (Úc) hay một ngày nào cũng có thể là cả Cam Ranh. Còn nếu như TQ xung đột quân sự với những quốc gia có Hiệp Ðịnh Quốc Phòng Song Phương với Hoa Kỳ (có thể gồm cả Ðài Loan vì “Taiwan Act 1979”) thì đó là đe dọa an ninh Hoa Kỳ một cách gián tiếp. Cả trực tiếp, cả gián tiếp đều đòi hỏi Mỹ phải hành động, nhưng tầm vóc của hành động sẽ khác nhau.


Thứ hai, bảo vệ trục giao thông quan trọng nhất

Những tuyến lưu thông ở trên biển hay trên không ở vùng Biển Ðông được liệt vào quyền lợi quan trọng nhất của Hoa Kỳ. Như đề cập trong bài trước, ngay từ năm 1950 Tổng Tham Mưu Mỹ đã xác định tầm quan trọng chiến lược của Ðông Nam Á vì “Về vị trí, nó nằm ngay giữa những trục giao thông quan trọng nhất.” Cho nên: “Việc Cộng Sản chiếm phần lục địa Ðông Nam Á sẽ làm cho các lực lượng thù địch kiểm soát được những hệ thống hải vận và không vận giữa miền Tây Thái Bình Dương, Ấn Ðộ và Cận Ðông.”

Ngày nay những tuyến giao thông hải vận và không vận còn quan trọng hơn trước nhiều, vì thứ nhất, khối lượng buôn bán quốc tế đã quá lớn trong khung cảnh toàn cầu hóa, tới hai phần ba của thương mại hải vận là qua những tuyến giao thông của vùng này; thứ hai, sự có mặt của hải lực mạnh mẽ của Trung Quốc ngày càng gia tăng, sẽ đe dọa sự vận chuyển hàng hóa thương mại sắp phát triển qua Hiệp Ðịnh Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ khởi xướng (không bao gồm Trung Quốc). Ngày 17 tháng 7, 2015, Ðô Ðốc Scott Swift (lúc đó chỉ mới nhậm chức được hai tháng) đã khẳng định: “Tuy tôi không đứng về phe nào, nhưng sẽ đẩy mạnh các hoạt động để đảm bảo tự do hàng hải trong vùng tranh chấp và các nơi khác.”


Thứ ba, khía cạnh chính trị: vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ luôn quan tâm tới vai trò lãnh đạo của mình. Ngày 2 tháng 5, 1950 (sau bản Ghi Nhớ ngày 10 tháng 4, 1950 đề cập trong chướng trước) Bộ Tổng Tham Mưu còn trình bày thêm về điểm thứ 7: “Vai trò lãnh đạo Thế Giới Tự
Do của Hoa Kỳ đã đặt trách nhiệm lớn lao cho chúng ta phải huy động được sức mạnh của thế giới tự do để ngăn chận cộng sản bá chủ thế giới.” Trong chiến tranh Việt Nam, các văn bản về chính sách thường nhắc tới điểm chiến lược quan trọng này. Ngày nay vai trò ấy đang bị Trung Quốc quyết tâm thay thế, như cuốn sách “Cuộc Chạy Ðua 100 Năm” (The Hundred – Year Marathon) do chuyên gia nổi tiếng về Trung Quốc Michael Pillsbury vừa xuất bản năm 2015 đã tiết lộ:

“Trung Quốc có kế hoạch 100 năm để thay thế Mỹ trong vai trò siêu cường của thế giới vào năm 2049 (năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa NDTQ). Và từ 40 năm qua (từ khi Nixon-Kissinger mở cửa Bắc Kinh) Trung Quốc đã ru ngủ giới lãnh đạo Mỹ.”

Vì vậy, bây giờ Mỹ bắt buộc phải thay đổi chiến lược để ‘xoay trục về Á Châu,” một chủ để chúng tôi sẽ đề cập sau.


Thứ tư, tài nguyên chiến lược ở vùng Biển Ðông

Qua sự tiến bộ khoa học để sử dụng và khai thác tài nguyên cũng như nhờ thương mại toàn cầu hóa, Hoa Kỳ không còn quan tâm nhiều tới nguồn tiếp liệu tài nguyên (như cao su, thiếc, dầu hỏa) ở Ðông Nam Á. Tuy nhiên một trong những mục tiêu chính của Trung Quốc hiện nay là nắm được tiềm năng dầu hỏa ở Hoàng Sa và Trường Sa, cho nên Hoa Kỳ cũng không muốn cho Trung Quốc lấy được nguồn dầu lửa lớn lao ở vùng này. Tuy nhiên chắc chắn rằng dầu lửa sẽ không phải là lý do để Mỹ can thiệp quân sự với Trung Quốc.


Kết luận

Năm 1949 quân đội ông Mao chiếm trọn lục địa, Washington báo động và Huấn lệnh NSC 48/1 ra đời. Trong bối cảnh ở Biển Ðông ngày nay, rất có thể là một huấn lệnh mới, tương tự như NSC #48/1 cũng đã được chấp thuận. Nơi đây chúng tôi nhắc lại tài liệu này cùng với những nhận xét để bình luận vì sao như vậy?


Huấn Lệnh NSC 48/1 (30/12/1949)


1. Mục tiêu căn bản để bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ gồm ba yếu tố:

– “Phát triển sức mạnh quân sự cho đầy đủ ở một số quốc gia chọn lọc.”

Nhận xét: từ vài năm nay Mỹ bắt đầu tập trung phát triển sức mạnh quân sự ở một số quốc gia chọn lọc: Nhật Bản, Phi Luật Tân, Úc, Singapore, Ðại Hàn (Nam Triều tiên); để

– “Dần dần giảm đi thế lực đang lớn mạnh và ảnh hưởng của Trung Cộng… làm sao để nó không còn khả năng đe dọa an ninh của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa kỳ tại khu vực này.”

Nhận xét: tuy không tuyên bố rõ ràng nhưng đây chính là mục tiêu quan trọng nhất của Hoa Kỳ tại Á Châu.

– “Ðồng thời ngăn chận bất cứ liên minh quyền lực nào (Liên Xô-Trung Quốc) có thể đưa tới sự đe dọa an ninh Hoa Kỳ phát xuất từ khu vực này, hoặc đe dọa hòa bình, độc lập và ổn định của những nước khác ở Á Châu.”

Nhận xét: ngày nay, không những Hoa Kỳ mà cả thế giới rất lo ngại về sự nguy hiểm của trục quyền lực Trung-Xô đang phát triển mạnh. Về kinh tế thì Nga đã ký kết những hiệp ước thương mại với Trung Quốc (thí dụ như bán $456 tỷ dầu khí – ký tháng 5, 2014). Về quân sự thì Nga đã bán cho Trung Quốc những giàn hỏa tiễn tối tân S-400, máy bay khu trục Su-35 và sẽ có cả loại tầu ngầm mới nhất “The Amur 1650.” Năm 2014, Chủ Tịch Tập Cận Bình và Tổng Thống Vladimir Putin đã gặp nhau 5 lần. Năm 2015 thì có thể là cũng khoảng đó. Cho nên, chắc chắn rằng Mỹ đã có nhiều chuẩn bị về chiến lược để “ngăn chận liên minh quyền lực Trung-Xô” thí dụ như Mỹ cộng tác quân sự với các quốc gia sở tại (như nhận xét ở điểm 3 dưới đây), và tăng cường liên minh Mỹ-Ấn Ðộ.

2. Những hành động cần thiết gồm:

– “Yểm trợ những lực lượng Không Cộng Sản ở Á Châu để họ lấy thế chủ động.”

Nhận xét: Hoa Kỳ đang yểm trợ và viện trợ quân sự cũng như kỹ thuật quốc phòng cho nhiều nước Á Châu kể cả Việt Nam.

– “Sử dụng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy quyền lợi riêng của Hoa Kỳ.”

Nhận xét: yểm trợ, viện trợ không bao giờ là cho không, nó luôn được dùng để thúc đẩy quyền lợi của quốc gia cấp viện trợ, (thí dụ như khi Mỹ-Trung bắt tay nhau vào năm 1972 thì quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam không còn nữa, cho nên toàn bộ viện trợ quân sự và phần lớn viện trợ kinh tế cho VNCH đã bị cúp hết chứ không phải chỉ vì Watergate làm mất quyền hạn của tổng thống nên Quốc Hội Mỹ chấm dứt viện trợ như ông Kissinger biện luận). Ngày nay, vì Trung Quốc đã thu vén về cho mình quá nhiều quyền lợi cả về kinh tế, tài chính, chính trị lẫn quân sự, Mỹ bắt buộc phải có những hành động hiệu quả để thúc đẩy quyền lợi riêng của mình.

– “Khởi xướng những hành động như thế nào để cho nhân dân Á Châu thấy những hành động ấy hấp dẫn và phù hợp với quyền lợi của chính mình, và sẽ ủng hộ.”

Nhận xét: đứng trước sự đe dọa của Trung Quốc khổng lồ, nhân dân Á Châu chỉ còn trong nhờ vào Mỹ vì chỉ có nước này mới đủ sức đối đầu với Trung Quốc (như chính Thủ Tướng Anh David Cameron đã nhận xét). Cuộc tập trận đổ bộ giữa Mỹ và Ðại Hàn lớn nhất từ trước tới nay đã diễn ra từ ngày 12 tháng 3, 2016 tại hải cảng Pohang với 17,200 binh sĩ, 55 máy bay và 30 chiến hạm. Sáng ngày 13 tháng 2, hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis tới hải cảng Busan dẫn đầu 3 khu trục hạm tên lửa USS Stockdale, USS Chung-hoon và USS William P. Lawrence, và tuần dương hạm USS Mobile Bay. Tư lệnh lực lượng Mỹ nhấn mạnh: hành động này thể hiện cam kết “vững chắc” của Hải Quân Mỹ đối với Ðại Hàn. Cùng với những cuộc tập trận cỡ lớn sắp diễn ra từ tháng 5, 2016 giữa Mỹ-Nhật, Mỹ-Ấn, nhân dân Á Châu sẽ thấy rõ hơn những hành động của Mỹ là hấp dẫn và phù hợp với quyền lợi của chính mình, và sẽ ủng hộ.

3. Thiết lập một chính sách của Hoa Kỳ về Á Châu:

– “Hoa Kỳ phải tỏ rõ sự tán thành đối với những cố gắng của lãnh đạo các nước Á Châu để họ thành lập liên minh cho từng vùng giữa những quốc gia Không Cộng Sản tại Á Châu. Hoa Kỳ sẽ chuẩn bị để khi cần đến và được yêu cầu thì sẽ sẵn sàng yểm trợ những liên minh này theo điều kiện về quyền lợi của Hoa Kỳ… nhưng không quá vội vàng lộ liễu trong giai đoạn đầu để khỏi mang tiếng là dùng các nước Á Châu để phục vụ quyền lợi của mình.”

Nhận xét: trong những năm vừa qua, Hoa Kỳ luôn tán thành và một cách tế nhị, khích lệ các liên minh như Nhật Bản-Phi Luật Tân; Nhật Bản-Ðại Hàn; Nhật Bản-Việt Nam; Phi Luật Tân-Việt Nam, v.v… và cộng tác về quân sự với các quốc gia trong những liên minh ấy. Không những Hoa Kỳ đã tăng cường yểm trợ quân sự với một số quốc gia Á Châu như Nhật, Ðại Hàn, Phi Luật Tân, Indonesia, Singapore, Việt Nam, mà còn cả với Úc và Ấn Ðộ. Gần đây nhất, ngày 23 tháng 2, 2016, có tin Trung Quốc lên án việc Mỹ sắp thiết lập một hệ thống Phòng Không ở ngay Ðại Hàn.

– “Về chính sách kinh tế, phải cổ võ những yếu tố đóng góp vào ổn định chính trị của các quốc gia không cộng sản bằng… một chính sách ngoại thương tự do với Á Châu và khích lệ nhập cảng hàng hóa Á Châu.”

Nhận xét: từ việc Mỹ tham gia vào tổ chức APEC (Asia-Pacific Economic Community) chỉ như một thành viên tới việc Mỹ phát triển ngoại thương mại thật nhanh với các nước ASEAN (Association of Southeeast Asian Nations) và ngày nay Mỹ mất nhiều công phu để đứng ra thành lập TPP, (một khuôn khổ kinh tế, thương mại rất rộng lớn), tất cả là để phát triển ngoại thương tự do với Á Châu (qua mặt TQ).

Tiếng Pháp có câu: “Plus ca change, plus ca revient au même” – “càng thay đổi nhiều thì lại càng giống nhau.” Nhìn xa hơn, rất có thể là trước hay sau năm 2019 (20 năm trước hạn chót 2049: kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và là thời điểm Trung Quốc dự tính thay thế Mỹ trong vai cường quốc số một) rất có thể là Bắc Kinh cũng sẽ có những hành động quân sự mạnh mẽ với tầm cỡ như như năm 1949. Cho nên ta mới hiểu tại sao trong hai năm qua, lãnh đạo quân sự Mỹ luôn nhấn mạnh một điều: “Tới năm 2020 thì 60% hải lực của Mỹ đã được điều động về Thái Bình Dương rồi?”

Xưa và Nay: Quyền lợi của Mỹ ở Biển Ðông là gì? (Kỳ 1)

 Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)


Xưa

Mùa Hè năm 1958, khi chúng tôi tới Mỹ du học, nhiều người hỏi, “Anh có phải người An Nam không?” Cho tới đầu thập niên 1960 thì Việt Nam ta nói riêng và Ðông Nam Á nói chung là rất xa lạ đối với đa số nhân dân Hoa Kỳ.
Nhưng rồi từng bước, Mỹ đã mang tới trên nửa triệu quân vào để chiến đấu. Nghiên cứu những tính toán của các nhà làm chính sách thì thấy thật rõ là Mỹ đã nhảy vào Việt Nam chủ yếu là để bảo vệ quyền lợi của chính mình tại vùng Biển Ðông. Câu hỏi đặt ra là: chiến lược Mỹ coi những quyền lợi nào là quan trọng ở nơi đây? Trả lời câu hỏi này giúp ta có thể tiên đoán được khi nào Mỹ sẽ thực sự khai hỏa với Trung Quốc. Trong cuốn Khi Ðồng Minh Nhảy Vào, chúng tôi mời độc giả đi thẳng vào phòng họp của các nhà làm chính sách ở Washington để theo dõi những bàn bạc, tính toán về cuộc chiến Việt Nam. Trong hai bài vắn gọn này, chúng tôi trích dịch 4 văn bản nòng cốt để bình luận.


1. Huấn Lệnh NSC 48/1


Bối cảnh: ngày 10 tháng 6, 1949, vào lúc quân đội Mao Trạch Ðông đang chiến thắng ở Hunan, Hupeh và Manchuria, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Louis Johnson đệ trình Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ (National Security Council – NSC) yêu cầu cho nghiên cứu về tình hình khẩn trương và tái thẩm định chính sách của Hoa Kỳ “để ngăn chận và làm giảm sự đe dọa của cộng sản đối với nền an ninh của Hoa Kỳ.” Chỉ ba tháng sau đó quân đội ông Mao tiến vào Bắc Kinh, Washington báo động. Ngày 30 tháng 12, 1949, NSC nhóm họp dưới quyền chủ tọa của chính Tổng Thống Harry Truman để duyệt xét một phân tích rất dài về ‘Lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ đối với Á Châu trước sự đe dọa của Cộng Sản. Ðó là Huấn Lệnh NSC số 48/1 (một tài liệu rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu về chính sách của Hoa Kỳ). Văn bản này được in lại một phần ở Phụ Lục và tóm tắt như sau:


Huấn Lệnh NSC 48/1
Ngày 30 tháng 12, 1949

1. Mục tiêu căn bản để bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ gồm ba yếu tố:
• Phát triển sức mạnh quân sự cho đầy đủ ở một số quốc gia chọn lọc;
• Dần dần giảm đi thế lực đang lớn mạnh và ảnh hưởng của Trung Cộng để nó không còn khả năng đe dọa nền an ninh của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa kỳ tại khu vực này;
• Ngăn chận bất cứ liên minh quyền lực nào (Liên Xô-Trung Quốc) có thể đưa tới sự đe dọa an ninh Hoa Kỳ phát xuất từ khu vực này…

2. Những hành động cần thiết gồm:
• Yểm trợ những lực lượng không cộng sản ở Á Châu để họ lấy thế chủ động;
• Sử dụng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy quyền lợi riêng của Hoa Kỳ;
• Khởi xướng những hành động như thế nào để cho nhân dân Á châu thấy những hành động ấy hấp dẫn và phù hợp với quyền lợi của chính mình, và sẽ ủng hộ.

3. Thiết lập một chính sách của Hoa Kỳ về Á Châu bao gồm:
• Hoa Kỳ phải tỏ rõ sự tán thành đối với những cố gắng của lãnh đạo các nước Á Châu để họ thành lập liên minh cho từng vùng giữa những quốc gia không cộng sản tại Á Châu; Hoa Kỳ sẽ chuẩn bị để khi cần đến và được yêu cầu thì sẽ sẵn sàng yểm trợ những liên minh này theo điều kiện về quyền lợi của Hoa Kỳ… nhưng không quá vội vàng lộ liễu trong giai đoạn đầu để khỏi mang tiếng là dùng các nước Á Châu để phục vụ quyền lợi của mình;
• Hành động để phát triển và củng cố an ninh của khu vực này chống lại xâm lược của cộng sản từ ngoài vào hay những phá hoại từ bên trong;
• Về chính sách kinh tế, phải cổ võ những yếu tố đóng góp vào ổn định chính trị của các quốc gia không cộng sản bằng… chính sách ngoại thương tự do với Á Châu và khích lệ nhập cảng hàng hóa Á Châu.


2. Huấn Lệnh NSC 64


Bối cảnh: Huấn Lệnh NSC 48/1 vừa bắt đầu có hiệu lực vào ngày chót của năm 1949 thì tới tháng 1 năm 1950, Mỹ càng lo ngại khi Mao Trạch Ðông đôn quân xuống phía Nam. Ðồng thời Trung Quốc và Liên Xô công nhận chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia liền nhóm họp để phân tích về vị trí của Ðông Nam Á đối với Hoa Kỳ. Phân tích này trở thành Huấn Lệnh NSC 64, một tài liệu được nhiều tác giả viện dẫn để phân tích nguồn gốc của chính sách Hoa Kỳ tại Việt Nam vì nó đã dẫn tới học thuyết Ðôminô: “nếu để một nước ở Ðông Nam Á mất đi thì tất cả các nước còn lại sẽ sụp đổ theo sau giống như những con cờ Ðôminô xếp hàng.” Văn bản về huấn lệnh này được tóm tắt như sau:
 
Huấn Lệnh NSC 64
Ngày 27 tháng 2, 1950


Nhận xét rằng:

• Hiểm họa Cộng Sản xâm chiếm Ðông Dương (căn bản là Việt Nam) chỉ là bước đầu tiên của kế hoạch nhằm thôn tính toàn thể Ðông Nam Á.
• Ngày 18 tháng 1, 1950, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố phong trào Hồ Chí Minh là chính phủ hợp pháp tại Việt Nam và ngày 30 tháng 1, 1950, chính phủ Liên Xô, dù có liên lạc ngoại giao với Pháp, cũng đã công nhận tiếp theo…


Kết luận

• Áp dụng tất cả những biện pháp thực tế để ngăn chận sự tiếp tục bành trướng của Cộng Sản tại Ðông Nam Á là việc quan trọng đối với nền an ninh Hoa Kỳ;
• Những nước láng giềng như Thái Lan và Miến Ðiện cũng sẽ rơi vào vòng kiểm soát của Cộng sản nếu Ðông Dương bị kiểm soát bởi một chính phủ Cộng sản. Và cán cân lực lượng ở Ðông Nam Á sẽ bị đe dọa trầm trọng;
• Bởi vậy Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng phải chuẩn bị một kế hoạch ưu tiên gồm những biện pháp thực tế nhằm bảo vệ quyền lợi an ninh của Hoa Kỳ tại Ðông Dương.


3. Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ phân tích bảy quyền lợi của Hoa Kỳ tại vùng Biển Ðông


Ðể thi hành Huấn Lệnh NSC 64, Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ (Bộ TTM) gửi ngay cho Bộ Trưởng Quốc Phòng Johnson một bản ghi nhớ để trình bày quan điểm của mình về bảy quyền lợi của Hoa Kỳ ở khu vực Biển Ðông.

Về pương diện chiến lược, lãnh đạo quân sự Mỹ chia ra hai Á Châu:

-Á Châu Hải Ðảo; và

-Á Châu Lục Ðịa.

Trước đây, các nhà lãnh đạo quân sự chỉ coi những quốc gia hải đảo (Nhật, Ðài Loan, Phi Luật Tân, Indonesia, Malaysia) mới là quan trọng vì Mỹ có quan hệ chặt chẽ với những quốc gia này, còn vai trò của vùng Ðông Nam Á thuộc Á Châu lục địa thì chỉ là phụ thuộc. Nhưng trước sự bành trướng của Trung Quốc, bây giờ thì Bộ Tổng Tham Mưu coi cả khu vực Ðông Nam Á tự nó đã có tầm quan trọng về chiến lược. Vì sao như vậy?


Bộ Tổng Tham Mưu (JCS) gửi Bộ Trưởng Quốc Phòng

Bản Ghi Nhớ ngày 10 tháng 4, 1950


Bộ TTM nhận định thế nào là quyền lợi của Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á:


1. Khu vực Ðông Nam Á là nguồn tiếp liệu một số tài nguyên chiến lược cần thiết để hoàn thành dự án về dự trữ tiếp liệu của Hoa Kỳ.

2. Về địa lý, nó nằm trên đường băng ngang của những trục giao thông quan trọng nhất.

3. Ðông Nam Á nằm ngay trên cái tuyến ngăn chận Cộng Sản để khỏi tràn sang Nhật, xuống phía Nam, rồi vòng quanh vùng Bán Ðảo Ấn độ, và như vậy, an ninh của cả ba căn cứ không Cộng Sản ở một phần tư thế giới – Nhật, Ấn Ðộ, và Úc châu – tùy thuộc một phần lớn vào việc không để cho Cộng Sản chiếm được Ðông Nam Á. Nếu mất Ðông Nam Á, ba nước này sẽ bị cô lập với nhau.

4. Nếu Ðông Dương (căn bản là Việt Nam) sụp đổ thì sẽ dẫn tới sự sụp đổ của những nước khác còn lại ở lục địa Ðông Nam Á và tất nhiên là sẽ dẫn tới nhiều nguy hiểm an ninh cho các quốc gia Á Châu hải đảo là Phi Luật Tân, Indonesia, Malaysia, như vậy nó chính là bước đầu của sự sụp đổ của các quốc gia này.

5. Sự sụp đổ của Ðông Nam Á sẽ làm cho Hoa Kỳ mất hẳn đi vùng duyên hải Á Châu (littoral of Asia). Còn phần lục địa Ðông Nam Á thì lại quan trọng cho những hoạt động của chúng ta để kìm hãm sự bành trướng của Cộng Sản.

6. Nếu Trung Quốc kiểm soát được vùng này thì sẽ giúp cho họ bớt căng thẳng về vấn đề lương thực, và sẽ giúp cho Liên Xô có được những nguyên liệu chiến lược quan trọng.

7. Nếu Cộng Sản có được một ưu thế nổi trội ở Ðông Nam Á thì địa vị của Hoa Kỳ tại Nhật Bản sẽ bị đe dọa, Nhật Bản sẽ mất đi thị trường Á Châu, và mất luôn nguồn tiếp liệu thực phẩm và những nguyên liệu thô từ vùng này.


Ngoài quyền lợi riêng lại còn vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ


Trong một bản ghi nhớ ba tuần sau đó, vào ngày 2 tháng 5, 1950, Bộ Tổng Tham Mưu còn gửi bản ghi nhớ bình luận thêm về điểm thứ 7 nói tới địa vị của Hoa Kỳ, khẳng định rằng: “Vai trò lãnh đạo thế giới tự do của Hoa Kỳ đã đặt trách nhiệm lớn lao cho nước này phải huy động được sức mạnh của thế giới tự do để ngăn chận cộng sản bá chủ thế giới. Tổng Tham Mưu tin rằng Hoa Kỳ và những cường quốc Tây Phương phải có những hành động tức khắc và tích cực trong cuộc xung đột hiện nay, vì nếu Hoa Kỳ thành công ở Ðông Nam Á thì sẽ giúp cho những thành công ở những nơi khác.”


Những diễn biến tiếp theo


Vừa có những tính toán như trên thì ngày 25 tháng 6, 1950, quân đội Bắc Hàn tràn qua vỹ tuyến 38, tấn công Nam Hàn. Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ.

Ðang khi chiến tranh Triều Tiên tiên còn tiếp diễn, Bắc Kinh lại công bố “Tuyến 9 Vạch” ở Biển Ðông. Ngày 8 tháng 9, 1951, một “Hiệp Ước Hòa Bình với Nhật” gọi là “Hiệp Ước San Francisco” (vì ký ở Memorial Opera House tại thành phố này) được 48 quốc gia tham dự và ký kết (kể cả VNCH). Vì Hiệp ước này không đả động gì tới hai nhóm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho nên ngày 15 tháng 8, và 18 tháng 9 (trước và sau khi ký kết Hiệp ước), Thủ tướng TQ Chu Ân Lai tuyên bố: “Hiệp Ước San Francisco là bất hợp pháp” và khẳng định chủ quyền ở các đảo này. Bản đồ mới của Trung Quốc gồm thêm một “tuyến 9 vạch” khoanh lại một khu vực giống như hình lưỡi con bò. Chỉ 5 tháng sau Hoa Kỳ phản ứng: Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia đi tới Huấn Lệnh NSC 124 chính thức chấp nhận lập trường do Bộ Tổng Tham Mưu đưa ra vào ngày 10 tháng 4, 1950 (như trên đây).

Ðó là những tính toán thuở xưa. Ngày nay, với bối cảnh mới ở Biển Ðông, liệu những tính toán này còn đúng hay không? Mời độc giả đọc bài tiếp theo.


 

Chính phủ Mỹ chuẩn bị kiểm soát thuốc điện tử

WASHINGTON ,DC (NV)Cơ Quan Quản Trị Dược và Thực Phẩm (FDA) lần đầu tiên xét đến biện pháp kiểm soát đối với e-cigarette, xì gà và các sản phẩm thuốc lá khác.

   Một người nhả khói thuốc điện tử e-cigarette. (Hình: Getty Images/Justin Sullivan)

Theo báo Washington Post, biện pháp được đề nghị gồm việc cấm bán các sản phẩm này cho người dưới 18 tuổi, đồng thời đòi hỏi nhà sản xuất phải trình sản phẩm cho chính phủ xét trước khi đem bán trên thị trường.

Giới chức y tế liên bang nói, luật mới là cần thiết để bảo vệ người trẻ ở Mỹ khỏi rơi vào vòng nghiện ngập với nicotine, cũng như thông tin cho người lớn hiểu chính xác những gì họ muốn hít vào cơ thể.

Bà Sylvia Mathews Burwell, giới chức cao cấp Bộ Y Tế, nói: “Trong khi việc hút thuốc đối với người trẻ dưới 18 tuổi đang giảm dần, thì việc sử dụng các sản phẩm nicotine khác, trong đó có thuốc lá điện tử lại đang tăng hết sức mạnh, khiến cho một thế hệ người Mỹ mới đứng trước nguy cơ nghiện ngập.”

Theo bà, luật mới là “bước quan trọng nhằm tranh đấu cho một thế hệ không hút thuốc.”

Luật cấm người trẻ dùng sản phẩm thuốc lá có hiệu lực trong 90 ngày, bắt buộc các tiệm bán lẻ phải hỏi giấy người mua, dán nhãn khuyến cáo về sức khỏe lên bao bì sản phẩm và cấm bày bán tại các máy tự động mà thiếu niên có thể tự mua được.

Ngoài ra, không được phân phối hàng mẫu miễn phí, cũng như không được thêm hương vị vào xì gà. Tuy nhiên, hương vị có thể được thêm vào trong e-cigarette.

Ông Chris Hansen, chủ tịch Mạng Lưới Hành Động Chống Ung Thư Hoa Kỳ, ca ngợi hành động của FDA.

Tuy nhiên, kỹ nghệ e-cigarette nhanh chóng chỉ trích biện pháp được đề nghị, cho rằng làm vậy gây hại đến thị trường của sản phẩm vốn có thể giúp người ta tránh xa được thuốc lá truyền thống. (TP)

RHEE & ASSOCIATES: Môi giới và tư vấn địa ốc


Môi giới và tư vấn địa ốc về nhà ở – Ðầu tư sinh lợi





Bài và hình: Thái Lâm


Ðối với những đôi uyên ương trẻ, được sở hữu một căn nhà là một trong những “giấc mơ Mỹ.” Lập gia đình với người mình yêu thương, sanh những em bé kháu khỉnh, và dệt những giấc mơ thành đời thật là một trong những lý do để người ta mua nhà. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở yếu tố tình cảm, người ta còn mua nhà để đầu tư sinh lợi. Tại sao không? Nhất là sau khi làm một vài phép toán so sánh đơn giản giữa đầu tư địa ốc và đầu tư chứng khoán, chẳng hạn. Rõ ràng trong hoàn cảnh hiện tại và hướng phát triển trong tương lai, đầu tư địa ốc luôn luôn là một chọn lựa khôn ngoan.


Sự hồi sinh kinh tế trong những năm gần đây, cộng với khuynh hướng ưa chuộng địa ốc của thị trường khiến cho giá nhà gia tăng đều đặn. Theo dự báo của các nhà kinh tế thì giá nhà sẽ còn lên, giá thuê nhà do đó cũng sẽ tăng hơn so với những năm trước. Cộng thêm tất cả những ưu đãi của chính phủ nhằm vực dậy thị trường đầy hứa hẹn này thì đây chính là thời điểm đầu tư vào địa ốc tốt nhất.

Là một nhà môi giới địa ốc dày dạn kinh nghiệm, ông Joseph Rhee của công ty Rhee & Associates cho biết: “Dựa trên nguyên tắc đòn bẩy trong địa ốc, chúng tôi chuyên giúp các khách hàng của mình xây dựng một ‘real estate portforlio’, nói rõ hơn chúng tôi sẽ sát cánh bên quý vị trong việc đầu tư địa ốc và đi lên từ số vốn ban đầu của mình. Căn cứ vào những chương trình của chính phủ giúp đỡ người mua nhà lần đầu, hoặc căn cứ vào nhiều yếu tố kinh tế khác, chúng tôi sẽ giúp quý vị trong việc lựa chọn một hướng đầu tư lâu dài, đầu tiên là đi lên từ một căn nhà vừa với số tiền quý vị đang có. Theo thời gian và với sự tư vấn tận tâm của chúng tôi, chắc chắn quý vị sẽ đạt đến nấc thang cao nhất trong giấc mơ của mình: đó là có một căn nhà tuyệt đẹp, giá trị cao, và nếu muốn, quý vị sẽ không dừng lại một căn nhà, mà là hai hoặc ba để đầu tư sinh lợi!”








Ông Joseph Rhee.








Bà Alexis C. Nunez


Giải thích về điều này, ông Joseph cho biết: “Thông thường, chúng tôi sẽ tư vấn khách hàng nên đầu tư sao cho vừa với túi tiền của mình nhất, an toàn nhất, thông minh nhất. Chúng tôi luôn tránh cho khách hàng phải gánh một món nợ quá sức của họ. Hãy bắt đầu với một căn nhà nhỏ – nếu quý vị chỉ có một số tiền vừa đủ với nó. Ðiều này không hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới kế hoạch lâu dài của quý vị, bởi đối với chúng tôi, mỗi căn nhà đều có giá trị của riêng nó. Trong từng thời điểm thích hợp, quý vị sẽ gia tăng số vốn ban đầu của mình lên bằng cách đổi căn nhà hiện tại để lên một căn nhà khác tốt hơn. Như đã nói ở trên: Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là giúp quý vị xây dựng một ‘real estate porfolio’. Giúp quý vị tham gia vào địa ốc và sinh lợi từ số vốn ban đầu là mục tiêu cuối cùng của chúng tôi.”

Cũng giống như mọi người, người Mỹ đặc biệt là giới trung lưu, xem việc mua nhà là một loại đầu tư lâu dài, ít rủi ro hơn hẳn so với đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó, chính phủ không ngừng đưa ra những chính sách thuế và chương trình ưu đãi nhằm giúp người mua nhà đạt được ước muốn của mình. Chính vì vậy, việc các đôi vợ chồng trẻ lần lượt mua và đổi nhà cho đến khi toại ý, là chuyện hoàn toàn có thể.








Ông Joseph Rhee và một căn nhà đang được rao bán tại Garden Grove.


Với 16 năm hoạt động trong ngành địa ốc, ông Joseph Rhee là một nhà môi giới đầy nhiệt tâm và lòng yêu nghề.

Cùng với một đội ngũ địa ốc gồm các ngân hàng (lender), văn phòng làm giấy tờ (escrow), định giá (appraisal), nhà thầu xây dựng (constructors), v.v… Công ty địa ốc của ông Joseph Rhee không chỉ giúp quý vị mua được căn nhà mơ ước, mà còn giúp quý vị đầu tư sinh lợi trong ngành địa ốc.

Mọi thắc mắc xin gọi số điện thoại miễn phí: 866-739-9733 hay vào trang web: www.josephrhee.com.





Keller Williams Realty
17822 E. 17th Street, Suite 101
Tustin, CA 92780
Toll Free: 866-739-9733
Fax: 213-226-4643
Email:
[email protected]
Website:
www.josephrhee.com






Farmers digging dangerous holes


Mitt Romney và nhiều nhân vật nòng cốt Cộng Hòa không dự đại hội

WASHINGTON, DC (NV)Ông Mitt Romney, cựu thống đốc Massachusetts và cựu ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa năm 2012, sẽ không tham dự Đại Hội Đảng Cộng Hòa Toàn Quốc (RNC) ở Cleveland, Ohio, vào mùa Hè này.

   Hai ông Mitt Romney (trái) và Paul Ryan tại một nhà hàng Wendy ở Richmond Heights, Ohio. (Hình: Getty Images/Justin Sullivan)

Theo CNN, việc ông Romney không đến dự, tương tự bốn người từng được đề cử trước đây, đánh dấu sự phân hóa trầm trọng ngay trong nội bộ đảng Cộng Hòa, trước viễn ảnh gần như chắc chắn nhà tỷ phú địa ốc Donald Trump có thể được đảng đề cử ra tranh ghế tổng thống.

Một phụ tá của ông Romney hôm Thứ Năm cho biết, ông sẽ không có mặt tại đại hội, mặc dù ông đã từng nhận sự đề cử tại đại hội cách đây bốn năm.

Vấn đề tham dự đại hội hay không nay trở thành một mặt trận mới trong nội bộ đảng Cộng Hòa, trước việc phải xử trí như thế nào đối với vai trò của ông Trump trong đảng.

Các phát ngôn viên của hai cựu Tổng Thống George W Bush và George HW Bush cho hay, cả hai sẽ không tham dự đại hội.

Ông Jeb Bush, người bỏ cuộc đua vào Tòa Bạch Ốc hồi đầu năm cũng đã từng tuyên bố sẽ không có mặt tại đại hội.

Thượng Nghị Sĩ John McCain, ứng cử viên tổng thống đảng Cộng Hòa năm 2008, tháng trước loan báo không dự đại hội.

Tuy nhiên, ông Bob Dole, cựu ứng cử viên Cộng Hòa còn sống duy nhất sẽ đến dự. Ông Dole từng được đảng Cộng Hòa đề cử năm 1996.

Chủ Tịch Hạ Viện Paul Ryan, người phục vụ với tính cách chủ tịch tại đại hội đảng Cộng Hòa, khuyến khích các thành viên trong đảng nên đến tham dự, nhưng hôm Thứ Năm tuyên bố: “Cho đến giờ phút này, tôi chưa thể ủng hộ ông Trump.”

Vài giờ sau, theo AP, ông Donald Trump cho biết: “Cho đến nay, tôi chưa ủng hộ chương trình nghị sự của Chủ Tịch Hạ Viện Paul Ryan.” (TP)

Thuyết trình về dinh dưỡng và sức khỏe tâm lý


Nguyên Huy/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV)Hôm Thứ Bảy, 23 Tháng Tư, Hội Cộng Ðồng Người Việt Orange County (VNCOC) đã mở cuộc thuyết trình với chủ đề “Dinh Dưỡng và Sức Khỏe Lâm lý” tại trụ sở ở Westminster.

Ðại diện cho hội tại chi nhánh này, cô Ngọc Khanh Bành chào các vị cao niên và đồng hương đến tham dự.


Cô Ngọc Khanh Bành giới thiệu “My Plate” trong chủ đề dinh dưỡng và sức khỏe. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Cô cho biết: “Ðây là lần đầu tiên hội tổ chức thuyết trình về đề tài này do được một tổ chức dinh dưỡng của Hoa Kỳ cung cấp cho những tài liệu rất phong phú và hữu ích. Hội đã dịch sang tiếng Việt để phổ biến đến bà con trong cộng đồng chúng ta ở Orange County.”

Cô Ngọc Khanh cũng cho biết kể từ nay, tại địa điểm này, cứ Thứ Bảy của tuần lễ thứ hai trong tháng là lại có một buổi thuyết trình về dinh dưỡng và sức khỏe, mỗi lần là một đề tài khác nhau về dinh dưỡng.

Tiếp đó, cô đề cập đến sự quan trọng của dinh dưỡng. Nó không chỉ giúp cho sự sống của chúng ta, nó giúp cho chúng ta sống khỏe mạnh không bệnh tật nếu như chúng ta biết chọn các thức ăn cho thích hợp với thể trạng. Nó cũng giúp cho chúng ta ngăn ngừa được bệnh tật hoặc chặn đứng được sự phát triển của bệnh tật. Các thầy thuốc thường nói phòng bệnh hơn chữa bệnh và ai cũng biết như thế nhưng phòng như thế nào thì hầu như mọi người đều không biết được rõ rệt.

Dinh dưỡng giữ một vai trò hết sức quan trọng cho sức khỏe, đó là sự phòng bệnh và ngăn ngừa bệnh cho chúng ta. Một cơ quan dinh dưỡng Hoa Kỳ đã nghiên cứu về sự dinh dưỡng, phân tích các loại thực phẩm, trái cây để chúng ta có được sự hòa trộn bổ ích. Cơ quan này đã khuyên chúng ta qua hình thức một dĩa đựng thức ăn có ba ngăn và một ngăn phụ được đặt tên là “My Plate.” Trong các ngăn của “My Plate” là những thức ăn như trái cây, rau củ, ngũ cốc, thực phẩm chất đạm được sắp xếp vào để ấn định thực đơn hàng ngày của mình.

Ði vào chi tiết, Bác Sĩ Nguyễn Thùy Anh phân tích cặn kẽ về các loại thức ăn từ trái cây, rau, củ, cho đến các chất đạm, thịt cá… Bác sĩ cho biết, về trái cây nên dùng trái cây làm đồ ăn vặt hay đồ tráng miệng. Bữa ăn sáng nên ăn ngũ cốc kèm với chuối hay dâu, có thể thêm trái blueberry vào bánh pancake. Nên chọn trái cây tươi hay khô (nước ép 100%).


Bác Sĩ Nguyễn Thùy Anh thuyết trình về dinh dưỡng. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Về rau củ thì nên ăn nhiều các loại rau củ đỏ, da cam và xanh đậm trong các món chính. Rau củ tươi hay đóng hộp đều tốt. Rau củ đóng hộp nên chọn các loại ít muối hoặc không thêm muối có ghi trên nhãn của hộp.

Với ngũ cốc thì nên dùng những loại ngũ cốc nguyên hạt, chưa tinh chế có ghi rõ trên nhãn các hộp đựng hay bao đựng.

Những thực phẩm chứa đạm cần nên được thay đổi mỗi tuần. Chỉ nên ăn hải sản hai lần một tuần và thịt heo, bò nên cắt bỏ phần mỡ và da để phần nạc đạt tới 90% miếng thịt.

Với bơ sữa thì nên chọn loại ít béo hoặc không béo (nên chọn khoảng 1% thôi).

Bác Sĩ Thùy Anh mô tả: “’My Plate’ là cái vật nhắc nhở chúng ta sự điều hòa cho bữa ăn của chúng ta hàng ngày. Nếu tính từ trái, từ trên xuống rồi qua phải cũng từ trên xuống, thì mỗi bữa ăn nên có đủ trái cây, rau củ, ngũ cốc, chất đạm đựng trong đó. Tùy theo thể trạng số lượng được đong bằng ‘cup’ trung bình do mình lựa cho hợp sức khỏe của mình.”

VNCOC là một tổ chức xã hội tư nhân được thành lập ngay sau khi người Việt định cư ở Orange County. Dưới sự điều động khéo léo của bà Mai Công trong nhiều năm, hội đã nhận được sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ để thực hiện những công tác giúp người tị nạn Việt Nam mau chóng hòa nhập vào xã hội mới. Hiện nay, hội do một thế hệ trẻ điều hành, làm việc với cung cách Hoa Kỳ nhưng với cái tâm Việt Nam nên đã tích cực góp phần vào sự lớn mạnh của cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản.

Trong buổi thuyết trình này, cô Ngọc Khanh đã vui vẻ trả lời tất cả những câu hỏi, những thắc mắc của các vị cao niên về quyền lợi y tế cũng như về an sinh xã hội của mình. Cô còn cho biết: “Quý vị nếu có bất cứ một thắc mắc hay cần chỉ dẫn gì về quyền lợi y tế Medicare, xin cứ gọi cho gọi cho tôi ở số (714) 660-8539, hoặc email [email protected].”

Tin mới cập nhật