Diễn tiến về công cuộc tổ chức thi cổ nhạc ở hải ngoại
Ngành Mai
Từ hơn 15 năm nay ở hải ngoại, tức từ ngày Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại ra đời, có nhiều cuộc thi cổ nhạc được tổ chức. Thành lập năm 2000, và tiếp liền năm sau (2001) hội tổ chức cuộc thi cổ nhạc lần đầu tiên thành công tương đối. Chữ “tương đối” nói ở đây vì lúc bấy giờ con số thí sinh tham dự chỉ quanh quẩn ở vùng Little Saigon, Orange County, cũng có vài thí sinh ở xa hơn nhưng cũng 1 giờ lái xe là cùng.

Từ năm 2002, ông bà Lê Quang Thế trong ngày phát giải Phụng Hoàng 2002, luôn hỗ trợ các cuộc thi cổ nhạc, và năm nay ông được ủy nhiệm làm trưởng ban tổ chức giải Phụng Hoàng kỳ 8. (Hình: Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại cung cấp)
Cũng cần nói rõ thêm năm đầu tiên tổ chức thi cổ nhạc này, giải chưa có tên chính thức mà chỉ tạm gọi là “Giải Cổ Nhạc Miền Nam.”
Sang năm sau, một phiên họp với nhiều thành phần trong cộng đồng gồm giáo sư, luật sư, bác sĩ, thương gia, chủ tịch hội đoàn, và các đại diện tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Cao Ðài, Hòa Hảo, Tin Lành, quyết định đặt tên cho giải cổ nhạc là: Giải Phụng Hoàng.
Lúc bấy giờ nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã thốt lên rằng giải được đặt tên như thế thì coi như giải Phụng Hoàng là của quốc gia dân tộc. Ông nhấn mạnh ở điểm này và nói thêm dù cho về sau Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại không còn hoạt động, thì người nào hoặc tổ chức nào nhận thấy rằng mình có khả năng thì cũng có thể đứng ra tổ chức giải Phụng Hoàng vậy.
Cũng trong năm 2002 này, giải Phụng Hoàng mở rộng lên miền Bắc California, thiết lập địa điểm thi sơ khảo lại San Jose và hội ủy nhiệm cho Giáo Sư Ngọc Dung làm trưởng ban tổ chức. Cuộc thi thành công tốt đẹp với sự cộng tác của các nhân sĩ miền Bắc California tham gia vào Hội Ðồng Giám Sát Thi Cử, gồm các vị như Ðề Ðốc Trần Văn Chơn, ông Lại Thế Hùng, Giáo Sư Lê Thị Diễn, ông Lê Văn Bá. Riêng Ban Giám Khảo thì có Giáo Sư Kim Oanh, Giáo Sư Huyền Trân, hai vị nguyên là giáo sư Trường Quốc Gia Âm Nhạc…
Sang qua năm 2003, giải Phụng Hoàng mở rộng xuống vùng San Diego. Do thí sinh ở vùng này tham dự rất đông nên ban tổ chức quyết định thi chung kết tổ chức tại đây.
Ðến năm 2004, 2005, 2006 cuộc thi cổ nhạc tiếp tục được tổ chức và cũng thành công.
Thế nhưng, đến thời điểm này thì ở miền Nam California người biết ca cổ nhạc gần như “cạn nguồn.” Có chăng phải thí sinh từ các tiểu bang về, nên việc tổ chức gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa lúc này có nhiều hội khác cũng có tên gần giống như hội cổ nhạc xuất hiện, đã thông báo tổ chức thi, nhưng giới biết ca cổ nhạc đã thờ ơ không ghi danh nên suốt cả chục năm chẳng thấy cuộc thi nào. Riêng Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại cũng tạm thời đình lại, và đến nay thì hội quyết định tổ chức thi trở lại.
Sai lầm bảo trì làm chiến hạm Mỹ ở Singapore hư nặng
SINGAPORE (NV) – Chiến hạm USS Fort Worth, chiếc thứ ba trong loại tàu chiến đấu cận duyên của Hải Quân Mỹ được đưa vào sử dụng, đã bị hư hại trầm trọng trong cuộc bảo trì hồi Tháng Giêng, khiến chiến hạm này bất khiển dụng và phải đậu ở cảng Singapore từ đó đến nay, theo tin của Bloomberg News.

Chiến hạm USS Fort Worth đậu tại Singapore. (Hình: Roslan Rahman/AFP/Getty Images)
Một toán thanh tra của Hải Quân Mỹ đã đến xem xét chiếc chiến hạm do công ty Lockheed Martin Corp. đóng từ sau sự kiện xảy ra hôm 12 Tháng Giêng, khi các cơ phận truyền lực của chiếc tàu bị hư hại, theo phụ tá bộ trưởng Hải Quân Mỹ, ông Sean Stackley, cho hay tại Washington.
Một cuộc điều tra hiện đang tiếp tục về lỗi lầm được coi là của thủy thủ đoàn chứ không phải là do thiết kế sai lầm.
“Toán thanh tra này thấy là có sự hư hại nặng nề,” với các mảnh vỡ trải đầy trong hệ thống động cơ đẩy của chiến hạm, ông Stackley cho báo chí hay sau cuộc điều trần ở Washington hôm Thứ Tư.
“Chúng tôi đang xem xét là sẽ sửa chiến hạm này tại chỗ hay mang về Mỹ,” ông Stackley nói.
Trong khi Hải Quân Mỹ tuần qua loan báo việc giải nhiệm hạm trưởng chiếc USS Fort Worth, Bộ Trưởng Quốc Phòng Ash Carter và các giới chức cao cấp Hải Quân Mỹ không đề cập gì về vụ này và chỉ chú trọng vào sự quan trọng của chương trình chế tạo các chiến hạm hoạt động cận duyên. (V.Giang)
Biển Đông: Bạch c chối việc ‘bịt miệng’ Hải Quân Mỹ trước Trung Quốc
WASHINGTON (NV) – Cả Tòa Bạch Ốc và Ðô Ðốc Harry Harris đều lên tiếng phủ nhận là Tòa Bạch Ốc ra lệnh buộc các tướng lãnh im lặng về tranh chấp Biển Ðông, khác với sự cáo buộc của tờ Navy Times.
Hôm Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016, tờ Washington Post cho hay như vậy về bản tin hai ngày trước đó của tờ Navy Times mà báo này nói rằng trong các phiên họp kín, tư lệnh lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương, mỗi khi đòi hỏi phải tiếp tục có thêm các thách thức trực diện với Trung Quốc trên Biển Ðông, thì đều bị Tòa Bạch Ốc ngăn cản.

Khu trục hạm USS Curtis Wilbur từng đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý của đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa. (Hình: AFP/Getty Images)
Tùy viên báo chí của Ngũ Giác Ðài, Peter Cook, cho hay Bộ Trưởng Quốc Phòng Ashton Carter và Ðô Ðốc Harry Harris đã “cố vấn thẳng thắn và đầy đủ thông tin cho tổng thống và Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia về một loạt các vấn đề liên quan đến khu vực Á Châu-Thái Bình Dương mà họ chịu trách nhiệm.”
Theo lời ông Cook, hoàn toàn không có chỉ thị “bịt mồm” giới quân sự như một nhân vật không được nêu tên mô tả trong bài viết của báo Navy Times.
Ðồng thời, người ta thấy Ðô Ðốc Harris gửi tới báo Washington Post một bản minh xác nói rằng “bất cứ sự khẳng định nào rằng có sự không phối hợp giữa Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương và Tòa Bạch Ốc là hoàn toàn không thật.”
Ông Harris còn cho hay trên tờ Washington Post rằng ông đã đưa nhiều đề nghị, kể cả đề nghị tái diễn các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hải hành trên Biển Ðông, đã được Tòa Bạch Ốc “lắng nghe và cứu xét.” Ông nêu ra một số lần điều trần ở Quốc Hội và tiếp xúc với báo giới ông đều nêu những quan ngại về khu vực Ðông Nam Á và mưu đồ của Trung Quốc quân sự hóa Biển Ðông. Cho nên, nếu bảo rằng Tòa Bạch Ốc muốn “bịt mồm” ông là không đúng.
Tờ báo của Hải Quân Mỹ (Navy Times, một tờ báo độc lập) hôm Thứ Tư, 6 tháng 4, 2016 có bài viết khá dài thuật lại các cuộc họp giữa tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương với các giới chức Tòa Bạch Ốc. Phía quân đội muốn gia tăng hành động trên Biển Ðông nhưng đều bị Tòa Bạch Ốc “kỳ đà cản mũi.”
Theo tờ Navy Times, Ðô Ðốc Harry Harris, tư lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, đề nghị Mỹ phải phản ứng mạnh mẽ chống lại việc Trung Quốc bồi đắp các đảo nhân tạo, kể cả việc đi vào bên trong phạm vi 12 hải lý của các nơi này. Ðó là nỗ lực cần phải làm để Trung Quốc đừng lập ra “trường thành cát” trên biển, chỉ cách thủ đô Manila của Philippines khoảng 140 dặm.
Ông Harris và các tư lệnh khác của ông đã kiên nhẫn mở chiến dịch, cả công khai lẫn trong riêng tư, những tháng vừa qua để báo động hành động của Trung Quốc là quân sự hóa Biển Ðông.
Tuy nhiên, chính phủ Obama chỉ còn có 9 tháng chót cầm quyền, nên chỉ muốn đàm phán với Bắc Kinh trên một số vấn đề, từ phi liên kết hạt nhân đến một chương trình mậu dịch đầy tham vọng với Trung Quốc. Do vậy, giới chuyên viên cho rằng chính phủ Obama không muốn làm Biển Ðông dậy sóng. Cũng vì vậy, cả ông Harris và các tư lệnh quân sự khác đều bị bịt miệng cho tới ngày Tổng Thống Obama gặp Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ở Hoa Thịnh Ðốn.
Theo Navy Times, Tòa Bạch Ốc muốn Ðô Ðốc Harris và các tướng lãnh khác tuyên bố dịu giọng hơn trong khi họ cùng một giọng tố cáo Bắc Kinh muốn nuốt trọn Biển Ðông. Thậm chí, Cố vấn An Ninh Quốc Gia Susan Rice còn ra chỉ thị “bịt mồm” họ, không cho nói gì về Biển Ðông những ngày gần đến cuộc họp thượng đỉnh của ông Obama và Tập Cận Bình tuần trước.
“Ðôi khi thì được phép nói ra các sự kiện để vạch ra những gì Bắc Kinh đang làm, nhiều lúc khác thì không được phép.” Một viên chức, không nêu tên, được nhìn thấy chỉ thị của bà Rice, nói. “Trong khi đó, Trung Quốc thì hoàn toàn trước sau như một khi đưa ra các thông điệp.”
Cái lệnh của Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia đè áp lực tới Ngũ Giác Ðài nên họ phải buộc các vị tư lệnh không được tuyên bố công khai gì về Biển Ðông, ngay cả sau khi cuộc họp thượng đỉnh đã qua đi. Sự ngăn cản của cơ quan này khiến người ta nghĩ rằng sự chập chờn không thống nhất hành động đã thúc đẩy Bắc Kinh có lập trường cứng rắn hơn.
Giới quân sự Mỹ diễn giải lệnh “bịt mồm”cho rằng họ phải im lặng trước các hành động lấn tới của Trung Quốc kiểm soát hầu hết Biển Ðông. Bởi vậy, họ ngại rằng các phản ứng yếu xìu của Mỹ lại càng kích thích cho Bắc Kinh làm tới trong khi các đồng minh và bạn bè Mỹ ở khu vực thì âu lo.
Giới phân tích thời sự cho rằng Bạch Ốc cố tìm một giải pháp đối phó với Trung Quốc mà không phải kình chống trực diện. Nhưng thái độ “chờ xem” của Mỹ đã thất bại mà bằng chứng là kế hoạch làm đảo nhân tạo và biến thành các căn cứ quân sự khống chế Biển Ðông của Trung Quốc tiến hành với tất cả sức lực của họ.
Bên cạnh việc bồi đắp 7 đảo nhân tạo ở Trường Sa, mở rộng và tăng cường võ khí tối tân ở quần đảo Hoàng Sa, đang có những bằng chứng cho thấy Bắc Kinh nhắm biến bãi đá ngầm Scarborough Shoal, chỉ cách Manila 140 dặm, thành một đảo nhân tạo khổng lồ nữa. Vùng biển này cũng hoàn toàn nằm trong phạm vi 200 hải lý đặc quyền kinh tế của Philippines.
Nếu đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng ở đây hoàn tất, các căn cứ Mỹ đặt ở Philippines sẽ hoàn toàn nằm trong tầm bắn của hỏa tiễn Trung Quốc.
Ðô Ðốc Harris và các tư lệnh khác của Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương đã áp lực với Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia, Quốc Hội cũng như Ngũ Giác Ðài là phải gửi thông điệp rõ ràng cho Trung Quốc biết rằng Hoa Kỳ không dung thứ hành vi tiếp tục hà hiếp láng giềng. Một trong những cách gửi thông điệp là phải đưa nhiều các tàu đi tuần gần các đảo nhân tạo.
Một chuyên viên tại Thượng Viện Mỹ nhìn nhận rằng nếu Trung Quốc làm xong đảo nhận tạo tại bãi Scarborough (cướp của Philippines hồi năm 2012), các căn cứ Mỹ đặt tại Subic Bay, Manila Bay và tại eo biển Luzon sẽ bị hỏa tiễn địch đe dọa.
Giới chuyên viên tin rằng không có các phản ứng mạnh mẽ thì chỉ khuyến khích Bắc Kinh tiếp tục chính sách bá quyền bành trướng trên Biển Ðông.
“Trên Biển Ðông, các hành động của Trung Quốc là làm mất ổn định ở khu vực và có thể đe dọa các hải lộ thương mại.” Tướng Joe Dunford, tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ, phát biểu trong một buổi hội thảo do Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Quốc Tế (CSIS) ở Hoa Thịnh Ðốn tổ chức ngày 29 tháng 3, 2016.
Theo ý kiến của ông Dunford, các chuyến hải hành nhằm bảo vệ tự do hải hành của lực lượng Mỹ tuy có tác dụng trấn an phần nào các đồng minh nhưng không hề ngăn cản được Bắc Kinh phát triển khả năng quân sự trên Biển Ðông kể cả những nơi đang tranh chấp chủ quyền giữa nhiều nước.
Theo ông Sean Liedman, một đại tá hải quân đã nghỉ hưu, hiện là một chuyên viên tại Hội đồng Ðối Ngoại, một tổ chức tư vấn độc lập tại Hoa Thịnh Ðốn, nếu không ngăn cản được việc Bắc Kinh làm đảo nhân tạo ở bãi cạn Scarborough sẽ dẫn tới xung đột nhiều hơn. (TN)
Tiếp tục soạn thảo Tự Ðiển Tiếng Việt cho người Việt hải ngoại
Nguyên Huy/Người Việt
Một cuốn tự điển tiếng Việt do chính người Việt hải ngoại biên soạn, không chỉ là sự mong ước của thế hệ cao niên người Việt tị nạn, mà còn là sự mơ ước của tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại khi tiếng Việt hải ngoại càng ngày càng bị “lai căng,” không chỉ từ ngôn ngữ nơi sinh sống mà từ sự tràn ngập ngô nghê từ ngôn ngữ trong nước dưới sự chỉ đạo của nhà nước Cộng Sản.

Một lớp Việt Ngữ tại Little Saigon. (Hình minh họa: Người Việt)
Ðây là nỗi trăn trở của những người làm văn học hải ngoại nên từ gần bốn năm qua Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt đã có quyết tâm lao vào công việc này.
Trong một cuộc họp của câu lạc bộ này, Giáo Sư Song Thuận nói: “Kể từ 30 Tháng Tư, 1975, văn hóa miền Nam Việt Nam bị truy bức, đốt phá, xuyên tạc, và gần đây, tại một vài thư viện Mỹ, một số sách và tự điển được biên soạn trước năm 1975 đã bị phá hoại khiến sinh viên Việt Nam không thể tra cứu được, đành phải tìm những cuốn tự điển xuất bản từ trong nước. Tất nhiên là những sách vở tài liệu này đều bị kiểm soát khắt khe, thường phải theo đúng sự chỉ đạo, theo đường lối của đảng.”
Sau khi đưa ra một số thí dụ về những từ ngữ đặc Hán như “lễ tân” (tiếp khách), tham quan (du ngoạn, thăm viếng…), đăng ký (ghi tên, ghi danh) mà người trong nước buộc phải dùng nay đã hầu như quen thuộc, đương nhiên người Việt đã bị Hán hóa ngôn ngữ rất nhiều đến độ mọi người cứ “vô tư” mà không để ý tới, thậm chí đã lan truyền cả ra hải ngoại, Giáo Sư Song Thuận kêu gọi mọi người cùng tiếp tay nhau mà soạn ra một cuốn tự điển tiếng Việt để các bạn trẻ hải ngoại dùng cho đúng thứ chữ nghĩa và ngôn ngữ truyền thống của người Việt.
Lời kêu gọi của ông được nhiều người trong đó có đủ các thành phần từ trí thức, khoa bảng cho tới người bình dân, thương mại… hưởng ứng.
Một ủy ban soạn thảo được hình thành với 24 người quan tâm đến tiếng Việt từ gần bốn năm nay.
Theo Giáo Sư Song Thuận cho biết, Ủy Ban Soạn Thảo làm việc rất say mê. Công việc được chia ra như sau, mỗi người nhận phụ trách biên soạn một chữ cái, thí dụ chữ A. Ngoài phần giải nghĩa tiếng Việt như các tự điển thông thường, nếu có thể, còn ghi thêm cách viết, chính tả, nghĩa theo địa phương hay theo tiếng lóng kể cả việc ghi chú thêm tiếng Anh, Pháp nữa.
Mỗi người khi nhận phụ trách một chữ rồi có thể qui tụ thêm bạn hữu để thành một nhóm bàn bạc, soạn thảo với nhau. Việc soạn thảo, tất cả đã đồng ý tôn trọng một số điều lệ căn bản như:
-Có tinh thần dân tộc, dân chủ và mở rộng, không Cộng Sản.
-Dùng tiếng thuần Việt, bỏ những tiếng ngô nghê như “xưởng đẻ.”
-Dùng tiếng Hán-Việt nhưng theo cách viết và nói của người Việt.
Trong việc soạn thảo sẽ có một ban tham vấn có uy tín để các soạn thảo viên tham khảo ý kiến. Ban tham vấn này cũng phụ trách phần hiệu đính khi việc soạn thảo hoàn tất.
Ðến nay, sau hơn ba năm làm việc, các soạn thảo viên mới đến chữ L và M.
Ðặc biệt công việc soạn thảo không giống như các “viện sĩ” hàn lâm, tuy làm việc riêng, nhưng công việc làm đến đâu lại đưa lên Internet để nhận được những đóng góp của mọi người. Cứ sau một thời gian không cố định mà thấy cần phải ngồi lại với nhau để thẩm định chung thì lại có một buổi họp để đúc kết.
Cho đến nay, theo Giáo Sư Song Thuận, công việc của mọi người đang tiến hành tốt đẹp, không có một trở ngại gì.
Theo dõi công việc của ủy ban mới thấy mọi người nhận lãnh công việc soạn thảo đã tỏ ra rất thận trọng trong việc giải thích nghĩa. Khi gặp khó khăn lại đưa lên Internet để tham khảo ý kiến chẳng hạn như những danh từ địa phương như “giời” (tiếng Bắc) và “trời” (tiếng Trung và Nam) thì chọn tiếng nào cho chuẩn hay để cả hai tiếng mà thích nghĩa, v.v…
Việc theo dõi ấy cho thấy có những góp ý rất thích thú, xin được trích đăng một vài đoạn góp ý với việc soạn thảo tự điển tiếng Việt như sau:
Nỗi buồn tiếng Việt
Chu Ðậu
Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xã hội. Mỗi ngày, từ những đổi mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần chuyển biến. Những chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh sinh hoạt xưa cũ đã quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc lại những áng văn thơ cách đây chừng 50 năm trở lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, vì không còn được dùng hàng ngày. Những thay đổi này thường làm cho ngôn ngữ trở nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm gần đây đã có những thay đổi rất kém cỏi. Ban đầu những thay đổi này chi giới hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ sau ngày Cộng Sản toàn chiếm Việt Nam, 30 Tháng Tư, 1975, nó đã xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam.
Rồi, đau đớn thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại. Người ta thuận theo các thay đổi xấu ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó trở thành một phần của tiếng Việt hôm nay. Nếu những thay đổi ấy hay và tốt thì là điều đáng mừng. Nhưng than ôi, hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi xấu, đã không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà còn làm tiếng nước ta trở nên tối tăm.
Thế nhưng, dựa vào đâu mà nói đó là những thay đổi xấu? Nếu sự thay đổi đưa lại một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đã quen dùng, thì đây là một thay đổi xấu, nếu dùng một chữ Hán Việt để thay một chữ Việt thì lại càng xấu hơn. Bởi vì nó sẽ làm cho câu nói tối đi, người Việt vẫn dễ nhận hiểu tiếng Việt hơn là tiếng Hán Việt. Nhất là những tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ vì người Tầu ở Trung Quốc bây giờ đang dùng chữ ấy. Nếu sự thay đổi để đưa vào tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, thì đây là một sự thay đổi xấu vô cùng. Sau đây, chúng tôi xin ghi lại một số từ ngữ (được tạm xếp theo vần abc) mà chế độ CSVN ép dân chúng dùng, đọc lên, nói lên sai với nguyên nghĩa, nghe thô tục, kỳ lạ và ảnh hưởng Tây phương rất nặng, khó có thể chấp nhận, thí dụ như
“Cải tạo” = transform, improve; re-education. Họ không phân biệt “cải tạo vật chất” với “cải tạo tư tưởng,” quan niệm chính trị. Nói: “Phải dùng cát để cải tạo đất,” khác với “trung úy miền Nam bị đi tù cải tạo.” Nếu muốn chữa cho đất có màu mỡ hơn nên dùng “cải tiến,” “cải thiện”… Khoảng 50 năm nay từ “cải tạo” cả nước đã hiểu là ở tù rồi!
“Chất lượng,” đây là chữ đang được dùng để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vụ. Người ta dùng chữ này để dịch chữ “quality” của tiếng Anh. Nhưng than ôi! Lượng không phải là phẩm tính, không phải là “quality.” Lượng là số nhiều ít, là “quantity.” Theo Hán Việt Tự Ðiển của Thiều Chửu, thì lượng là đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai và dở như thế. Không có gì bực mình hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo thương mãi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ phẩm. Bởi vì phẩm tính mới là “quality.” Mình đã có sẵn chữ “phẩm chất” rồi tại sao lại bỏ quên mà dùng chữ “chất lượng.” Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho thêm buồn tiếng nước ta.
“Ðại trà” = on a large scale = cỡ lớn, quy mô lớn. Thí dụ: “Ðồng bào trồng cây cà phê đại trà.” Tại sao không dùng như trước là “quy mô lớn?” Ngoài ra dùng “đại trà” là bắt chước Trung Quốc. Có thể gây hiểu lầm là “cây trà lớn!”
“Ðăng ký” = register = ghi tên, ghi danh. Nghĩa rất đơn giản, nhưng bắt chước Trung Quốc, cố dùng Hán-Việt. Câu nói sau đây nghe kỳ lạ: “Tôi đã đăng ký mua khoai mì ở phường…” Tại sao không dùng “ghi danh,” “ghi tên?” “Ðăng ký” là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng vì tinh thần nô lệ người Tầu của họ đến khi toàn chiếm lãnh thổ, họ đã làm cho chữ này trở nên phổ thông ở khắp nước. Trước đây, ta đã có chữ “ghi tên” (và “ghi danh”) để chỉ cùng một nghĩa. Người Tầu dùng chữ “đăng ký” để dịch chữ “register” từ tiếng Anh. Ta hãy dùng chữ “ghi tên” hay “ghi danh” cho câu nói trở nên sáng sủa, rõ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán Việt kia để cho có ý nô lệ người Tầu!
“Ðầu ra, đầu vào” = output, input = cái đưa ra, cái đưa vào, dòng điện cho vào máy; dữ kiện đưa vào máy vi tính. Họ còn dùng có nghĩa là vốn, hoặc thì giờ, công sức bỏ vào và kết quả của cuộc đầu tư đó. Nhưng dùng “đầu ra, đầu vào” nghe thô tục (giống như từ bộ phận = một phần việc, một nhóm, tổ, đã bị nhà văn nữ Kathy Trần đốp chát, hỏi: “Bộ phận gì?” bộ phận của đàn ông, đàn bà hả). Có thể dùng “vốn đầu tư” và “kết quả sản lượng.”
“Giải phóng” = liberate, emancipate/ free, relieve, release = giải tỏa, xả, thả, trả tự do. Chữ “giải phóng” chỉ nên dùng cho con người, không dùng cho loài vật, đất, vườn… Họ lạm dụng chữ giải phóng, nghe không thuận tai và sai nghĩa. Thí dụ: “Ðã giải phóng (giải tỏa) xong mặt bằng để xây dựng nhà máy,” “Anh công an lưu thông tích cực công tác để giải phóng (giải tỏa) xe cộ,” “Em X giải phóng (thả) con chó!” Những câu sau đây mới là dùng đúng cách: “Phong trào giải phóng phụ nữ,” “Công cuộc giải phóng nô lệ.”
“Hiển thị”: “Chỉ cần ấn nút thì mọi nhu cầu sẽ được hiển thị trên máy tính…” (appear on screen). Tại sao không nói “sẽ thấy hiện rõ trên máy.”
“Khả năng”: Chữ này tương đương với chữ “ability” trong tiếng Anh, và chỉ được dùng cho người, tức là với chủ từ có thể tự gây ra hành động động theo chủ ý. Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam người ta dùng chữ “khả năng” trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục. Ví dụ thay vì nói là “Trời hôm nay có thể mưa,” thì người ta lại nói: “Trời hôm nay có khả năng mưa,” nghe vừa nặng nề, vừa sai. “Có khả năng”: Ðây là cách sử dụng rất Tây, thí dụ: “Hôm nay thời tiết có khả năng mưa,” chúng ta tạm chấp nhận (sao không nói giản dị là: “Hôm nay trời có thể mưa?”). Thí dụ này khó chấp nhận: “Học sinh X có khả năng không đạt điểm tốt nghiệp.” Có khả năng là ability; aptitude; capacity và luôn luôn dùng ở trạng thái tích cực (positive), không bao giờ dùng với trạng thái tiêu cực (negative). Những câu sau đây nghe rất chướng: “Bệnh nhân có khả năng bị hôn mê.” “Ðịch có khả năng bị tiêu diệt…”
“Khả thi” = feasible, applicable; ability to carry out = có thể thực hiện được, có thể thi hành được. “Khả thi” và “bất khả thi” cũng chịu ảnh hưởng nặng của Trung
Quốc. Sao không dùng: “Không thực hiện được” hay “không thực hiện nổi.” Ngoài ra “khả thi” sẽ đưa đến sự hiểu lầm là “có thể dự thi được.”
“Khẩn trương”: Trước năm 1975 chúng ta đã cười những người lính Cộng Sản, khi họ dùng chữ này thay thế chữ “nhanh chóng.” Nhưng than ôi, ngày nay vẫn còn những người ở Việt Nam (và cả một số người sang Mỹ sau này) vẫn vô tình làm thoái hóa tiếng Việt bằng cách bỏ chữ “nhanh chóng” để dùng chữ “khẩn trương.” Ðáng lẽ phải nói là: “Làm nhanh lên” thì người ta nói là: “Làm khẩn trương lên.”
“Kích cầu” = to level the bridge/needing to sitimulate = nhu cầu để kích thích/nâng cao cái cầu lên. Cả hai nghĩa đều hàm ý là chất xúc tác, kích thích tố khiến sự việc tiến nhanh hơn. Cách dùng hơi lạ: Bên công chánh có lối dùng những con đội để nâng cao cái cầu giao thông lên. Tại sao không dùng “kích thích tố,” “chất xúc tác,” như trước?
“Liên hệ”: Cũng từ miền Bắc, chữ này lan khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại. “Liên hệ” là có chung với nhau một nguồn gốc, một đặc tính. Người Cộng Sản Việt Nam dùng chữ “liên hệ” để tỏ ý nói chuyện, đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là “nói chuyện” cho đúng và giản dị. Chữ “liên hệ” dịch sang tiếng Anh là “to relate to,” chứ không phải là “to communicate to.”
“Nghệ nhân”: Ta vốn gọi những người này là “nghệ sĩ.” Mặc dù đây cũng là tiếng Hán Việt, nhưng người Tầu không có chữ “nghệ sĩ,” họ dùng chữ “nghệ nhân.” Có những người tưởng rằng chữ “nghệ nhân” cao hơn chữ “nghệ sĩ,” họ đâu biết rằng nghĩa cũng như vậy, mà sở dĩ người Cộng Sản Việt Nam dùng chữ “nghệ nhân” là vì tinh thần nô lệ Trung Hoa.
“Quản lý” = management = quản trị, chịu trách nhiệm. Bắt chước từ Trung Quốc và bị lạm dụng. Nói: “Anh X quản lý một xí nghiệp” thì được, nhưng câu sau nhái lại khôi hài “Anh sẽ xây dựng với đồng chí gái, và đồng chí gái sẽ quản lý đời anh…” “Quản lý” chỉ dùng để trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, hành chánh. “Quản lý” không dùng cho lĩnh vực tình cảm được, tình cảm không phải là một lô hàng, không phải là một xí nghiệp.
“Sự cố”: “Sự cố kỹ thuật”: tại sao không dùng chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như “trở ngại” hay “trở ngại kỹ thuật” hay giản dị hơn là chữ “hỏng?” (Nói “xe tôi bị hỏng” rõ ràng mà giản dị hơn là nói “xe tôi có sự cố”).
Ðiều chỉnh tình trạng di trú
Darren Nguyen Ngoc Chuong, Esq.
Luật di trú Hoa Kỳ là loại luật rất phức tạp, do đó, theo yêu cầu của đa số bạn đọc cần am tường và thấu hiểu về luật này, tòa soạn nhật báo Người Việt mời Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong của Tổ Hợp Luật Sư Nguyễn & Lưu, www.NguyenLuu.com, phụ trách mục “Tìm Hiểu Luật Di Trú,” đăng hàng tuần trên Người Việt. Luật Sư Darren Nguyen Ngoc Chuong là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất tại Orange County, California được Luật Sư Ðoàn tiểu bang California công nhận chuyên môn về ngành Luật Di Trú Hoa Kỳ. Hiện nay California có trên 254,000 luật sư nhưng chỉ có 209 luật sư có bằng chuyên môn về Luật Di Trú. Ngoài ra, luật sư Darren Nguyen Ngoc Chuong từng phục vụ lâu năm tại Sở Di Trú Hoa Kỳ (INS) nên rất có kinh nghiệm trong việc thiết lập hồ sơ và thường đại diện thân chủ trước các tòa án di trú. Ông là một luật sư đầy kinh nghiệm và uy tín, chuyên trách giải quyết và phục vụ đồng hương Việt Nam về lãnh vực di trú nhiều năm tại California và khắp các tiểu bang Hoa Kỳ.
Adjustment of Status là một biệt ngữ từ bộ luật di trú mà ra và chúng tôi xin tạm dịch là điều chỉnh tình trạng di trú sang thành thường trú nhân. Adjustment of Status là thủ tục làm thẻ xanh khi đương sự có mặt tại Hoa Kỳ. Ðể được nộp đơn xin chuyển đổi tình trạng di trú, đương đơn phải có một hồ sơ bảo lãnh nào đó như hồ sơ bảo lãnh thân nhân, hồ sơ bảo lãnh nghề nghiệp, hồ sơ đầu tư v.v…
Ðiển hình là du học sinh (diện visa F-1) đi học ở Hoa Kỳ và sau một thời gian đi học người du học sinh đó gặp người vợ hoặc chồng tương lai của mình. Sau một thời gian tìm hiểu nhau, hai người đi đến hôn nhân. Người du học sinh đó có hai đường chọn lựa. 1) Một là người phối ngẫu của người du học sinh làm đơn bảo lãnh bình thường và khi có ngày phỏng vấn thị thực di dân ở Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ, người du học sinh đó quay về quốc gia của họ để được phỏng vấn. 2) Hai là người phối ngẫu làm đơn bảo lãnh và người du học sinh làm đơn Adjustment of Status để xin thẻ xanh tại Hoa Kỳ.
Một điển hình khác là đương đơn nhập cảnh Hoa Kỳ để di du lịch (diện visa B-2) hoặc đi tham quan thị trường (diện visa B-1). Và đương đơn có người thân của mình làm đơn bảo lãnh và đương đơn làm đơn Adjustment of Status để xin thẻ xanh tại Hoa Kỳ.
Một điển hình nữa là đương đơn nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện nghề nghiệp như visa H-1B, visa L-1 v.v… Sau một thời gian làm việc cho công ty ở Hoa Kỳ, công ty quyết định bảo lãnh đương đơn ở lại Hoa Kỳ để làm việc lâu dài. Công ty có thể tiến hành làm labor certification và sau đó làm đơn bảo lãnh. Sau khi đơn bảo lãnh được chấp thuận, đương đơn có thể làm đơn Adjustment of Status để xin thẻ xanh tại Hoa Kỳ. Trong trường hợp bảo lãnh theo diện nghề nghiệp, luật di trú đòi hỏi là chi phí làm labor certification và đơn bảo lãnh phải được do công ty trả. Ðương đơn không được trả bất cứ chi phí nào để làm labor certification và đơn bảo lãnh ngoại trừ mức lương của đương đơn cao hơn mức lương thị trường cộng với chi phí làm hồ sơ. Vì đơn Adjustment of Status là đơn do đương đơn làm, đương đơn được quyền trả tất cả chi phí cho hồ sơ.
Vấn đề quan trọng nhứt trong hồ sơ Adjustment of Status là giai đoạn phỏng vấn. Thủ tục phỏng vấn trong hồ sơ Adjustment of Status là để Sở Di Trú quyết định sự liên hệ gia đình (trong hồ sơ Adjustment of Status theo diện bảo lãnh thân nhân) hoặc sự liên hệ giữa người chủ và nhân viên (trong hồ sơ Adjustment of Status theo diện bảo lãnh nghề nghiệp) có chân thật hay không. Thêm vào đó Sở Di Trú phải quyết định đương đơn có lọt vào một trong những điều luật cấm nhập cảnh hay không.
Mời quí bạn đọc theo dõi tiếp theo những khó khăn trong giai đoạn phỏng vấn của hồ sơ Adjustment of Status, cũng trong mục di trú do Luật Sư Darren Nguyễn Ngọc Chương phụ trách, trên số báo Người Việt Thứ Bảy tuần tới, với đề tài “Ðiều Chỉnh Tình Trạng Di Trú – Phần II.”
Bản tin chiếu khán
Theo sự yêu cầu của quí bạn đọc, sau đây là bản thông tin chiếu khán cho tháng 4 năm 2016.
Ưu Tiên 1 – priority date là ngày 22 tháng 9 năm 2008, tức là Ưu Tiên được dành cho những người con trên 21 tuổi chưa có gia đình của công dân Hoa Kỳ.
Ưu Tiên 2A – priority date là ngày 22 tháng 10 năm 2014, tức là Ưu Tiên được dành cho Vợ, Chồng, hoặc Con độc thân dưới 21 tuổi của thường trú nhân.
Ưu Tiên 2B – priority date là ngày 15 tháng 6 năm 2009, tức là Ưu Tiên được dành cho Con độc thân trên 21 tuổi của thường trú nhân.
Ưu Tiên 3 – priority date là ngày 22 tháng 11 năm 2004, tức là Ưu Tiên được dành cho Con đã có gia đình của công dân Hoa Kỳ.
Ưu Tiên 4 – priority date là ngày 22 tháng 7 năm 2003, tức là Ưu Tiên được dành cho Anh, Chị hoặc Em của công dân Hoa Kỳ.
Quí vị có thể tự theo dõi bản thông tin chiếu khán cho hàng tháng tại website của Tổ Hợp Luật Sư Nguyen & Luu, LLP tại: http://www.nguyenluu.com/vn/vnbulletin/2016-04%20luatditru_banchieukhan_dienthannhan.html
Mọi thắc mắc xin liên lạc: Luật Sư Darren Nguyễn Ngọc Chương hoặc Luật Sư Lưu Trọng Cẩm Thương của Tổ Hợp Luật Sư Nguyễn & Lưu, LLP địa chỉ số 1120 Roosevelt, Irvine, CA 92620. Website www.NguyenLuu.com. Ðiện thoại (949) 878-9888.
Thủ đô Brussels của Bỉ (kỳ 2)
Bài và hình: Trịnh Hảo Tâm
Brussels (tiếng Pháp Bruxelles) thủ đô của vương quốc Bỉ đồng thời cũng được xem là thủ đô của Âu Châu vì các cơ quan và văn phòng của Liên Hiệp Âu Châu (EU) cũng như khối NATO đều đặt tại thành phố này. Brussels có nhiều công viên lá xanh hoa thắm, những dinh thự, hoàng cung nguy nga tráng lệ và khu phố cổ gợi lại cảnh sắc Âu Châu thời Trung Cổ. Văn hào Victor Hugo và thi sĩ Baudelaire từng đến nơi đây và ra đi với con tim còn ở lại.
Hoàng cung và công viên Brussels
Từ công viên tháp Atomium tiếp tục theo hướng Nam để về trung tâm thành phố Brussels. Không biết ngày thường như thế nào nhưng hôm nay là ngày Chủ nhật đường sá xe cộ vắng vẻ chỉ lưa thưa người đi bộ. Ðường sá không rộng lắm, dốc cao thoai thoải, hai bên đường dinh thự, nhà phố sơn màu trắng êm đềm thanh thản. Giữa thành phố có một dòng sông nhỏ chảy qua theo hướng Ðông Bắc-Tây Nam, có một khúc sông trở thành sông ngầm và người ta xây đường sá bên trên ở khu trung tâm thành phố. Thành phố có nhiều nhà thờ cổ như nhà thờ Ðức Bà (Notre Dame Church of Laeken xây năm 1872) mà chúng tôi có dừng lại bên ngoài chụp ảnh. Cuối cùng chúng tôi ghé lại ở quảng trường dài và rộng như một đại lộ ở trước Hoàng Cung Brussels (Royal Palace of Brussels). Hoàng cung là một tòa nhà có kiến trúc Neoclassical giống như những lâu đài ở Paris, tường đá, mái lợp kim loại đồng qua thời gian trổ ten màu xanh. Mặt tiền chính diện như ta thấy hiện nay được xây vào khoảng 1900 dưới triều vua Leopold II trong khi phần lớn tòa nhà có niên đại vào cuối thế kỷ 18, tuy nhiên khu đất vườn cảnh một phần còn lại từ hoàng cung thời Trung Cổ. Tòa nhà thuộc tài sản quốc gia, người cư trú là vua Bỉ và hoàng gia nhưng đây chỉ là văn phòng nơi vua làm việc, hội họp, nghi lễ còn nơi cư ngụ thật sự vẫn là lâu đài Laeken bên cạnh đài Atomium chúng tôi vừa viếng qua.

Hoàng cung Brussels của vương quốc Bỉ.
Ðối diện hoàng cung phía Bắc quảng trường là công viên Brussels là công viên lớn nhất ở ngay trung tâm thành phố. Xung quanh ngoài hoàng cung còn có tòa nhà lập pháp Belgian Parliament và tòa Ðại Sứ Mỹ. Trong công viên cây cối xanh tươi trang trí nhiều bồn phun nước, tượng đá, cổng chào rất trang nghiêm. Trong mùa Hè mỗi cuối tuần đều có tổ chức những buổi hòa nhạc, văn nghệ miễn phí cho công chúng xem. Gần đó có nhà hát hoàng gia Théâtre Royal du Parc và nhà ga xe điện ngầm Park Metro Station cũng đầy dấu tích xưa cũ. Ngày xưa nơi công viên Brussels là lâu đài Koudenberg của những lãnh chúa thời Trung Cổ được trang hoàng nguy nga nhưng lâu đài đã bị thiêu rụi trong trận hỏa hoạn năm 1731 khi Brussels được cai trị bởi đế quốc Áo Hung đang thống lĩnh phía Nam Hòa Lan. Năm 1775, lâu đài được xây lại là tòa nhà dùng làm hoàng cung hiện nay, phần đất rộng còn lại nữ hoàng Áo Hung là Maria-Theresia rất thích vườn cảnh hoa lá cho biến thành công viên hoàng gia. Năm 1780, khán đài Waux-Hall được xây dựng cho những buổi hòa nhạc và khán giả có thể ngồi ngoài trời vừa thưởng thức âm nhạc vừa ăn uống thoải mái. Năm 1803, buổi dạ tiệc được tổ chức tại đây với 1,800 quan khách nhằm chào đón vinh danh Hoàng Ðế Napoléon và Hoàng Hậu Josephine. Tháng Chín 1830, công viên trở thành chiếc nôi cho nền độc lập của Bỉ quốc, sau khi chiếm rạp hát Opera, lực lượng cách mạng đã đánh nhau với quân Hòa Lan trong công viên và vua Hòa Lan là William I phải rời Brussels ngày 27 Tháng Chín mở đầu cho một quốc gia mới được khai sinh là Bỉ quốc.
Rời công viên thành phố chúng tôi được đưa về khách sạn NH Grand Palace Arenberg cách chừng 2 km ở phía trước nhà thờ hai thánh nam nữ St. Michael và Gudula. Nhà thờ màu đen cổ kính và to lớn nên được phong là vương cung thánh đường (cathedral). Thánh đường được xây từ năm 1226 và kéo dài đến 300 năm mới xong. Hôm nay là ngày Chủ Nhật lễ buổi chiều đang cử hành bên trong nhà thờ, giống như ở Việt Nam bổn đạo đứng tràn ra bên ngoài. Mặc dù là con chiên nhưng đang bận… du lịch không đi lễ được, Chúa vốn nhân từ, lòng lành vô cùng nên chắc là tha thứ, thông cảm nổi lòng của con chiên…ghẻ!
King’s Gallery
Từ khách sạn muốn ra khu phố cổ trung tâm thành phố chúng tôi đi bộ về hướng Nam xuyên qua một thương xá cổ gọi là King’s Gallery. Thương xá có mái che kín chỉ có một con đường ở giữa dài 200 mét, hai bên là những cửa hiệu thanh lịch bày bán những món đắt tiền như kim cương, nữ trang, đồng hồ, tranh tượng nghệ thuật. Phía trên trần cao lợp bằng kính trong màu xanh để lấy ánh sáng mặt trời nên du khách tản bộ phía dưới có ánh nắng rất dịu mát và ấm áp. Nguyên thủy thương xá được xây vào năm 1836 bởi kiến trúc sư trẻ tên Jean Pierre Cluysenaer người Hòa Lan nhằm thu hút khách thượng lưu đến mua sắm. Vị trí thương xá trước đây là những con hẻm tạp nhạp nằm giữa hai chợ dược thảo và chợ rau cải, dân giàu có ít khi dám vào. Ðể xây thương xá người ta phá bỏ những hàng quán lôi thôi nhếch nhác này trong đó có ngôi nhà “Maison des Orfèvres” (nhà thợ bạc) ở đầu đường Rue du Marché aux Herbes hiện nay, bà cụ sống từ lâu trong căn nhà đã chết vì xúc động khi nghe tin ngôi nhà sẽ bị phá bỏ. Một ông thợ hớt tóc có biệt danh “Mister Paneel” không chịu dời đi và dọa sẽ dùng dao cạo râu cắt cổ còn hơn là nhìn thấy tiệm tóc của mình bị san bằng!

Bên trong thương xá cổ King’s Gallery.
Công tác xây cất được vua Leopold I đặt viên đá đầu tiên và để tỏ lòng tôn kính người ta đặt tên thương xá là King’s Gallery. Khi hoàn thành thương xá rất lộng lẫy và thành công, nổi tiếng thời ấy là khu vui chơi mua sắm thanh lịch. Văn nhân thi sĩ nổi tiếng đương thời thường tụ tập nơi đây như Baudelaire, Alexandre Dumas, Victor Hugo, Apollinaire hàng ngày ngồi ở quán “Café de la Renaissance” (nay là quán “Taverne du Passage”). Một cửa hàng nổi tiếng khác ở số 23 của người Thụy Sĩ tên Jean Neuhaus chuyên làm kẹo ho, xi rô và marshmallows (bánh cái kén màu trắng) trị bệnh bao tử. Khoảng năm 1912, cửa tiệm ông ta nổi tiếng với chocolates pha trộn đậu phộng, trái cây và rượu rum. Ngày nay khi qua thương xá này vẫn còn thấy những quán cà phê, các cửa hiệu bán chocolates là một trong những món đặc sản của Brussels cùng với món bánh kẹp tàn ong waffle. Thương xá nguyên thủy đến năm 1950 bị phá bỏ vì quá cũ không hội đủ tiêu chuẩn an toàn theo luật lệ hiện hành và đã xây lại thương xá mới theo đúng theo kiểu cũ 1836.
Giữa thương xá và quảng trường Grand Place xưa kia là khu chợ rau nhưng ngày nay không thấy rau cải mà toàn là du khách đủ mọi quốc tịch với những hàng quán cà phê, bánh ngọt nhất là món bánh kẹp waffer ăn với xi rô hay kem béo ngọt (whipped cream). Người dân Âu Châu rất thích ăn ngọt, nơi nào cũng có tiệm kem và tiệm bánh nhưng số người mập quá khổ lại không nhiều bằng người Mỹ, có lẽ nhờ đi bộ nhiều, đi đâu cũng lái xe hơi như người Mỹ.
Quảng trường Grand Place
Rẽ sang phải đi về hướng Nam là đến quảng trường Grand Place, đặt chân đến đây là trời đã tối và những dãy nhà lầu cổ xưa vây xung quanh quảng trường đã lung linh ánh đèn huyền ảo. Họ thiết kế ánh đèn vàng không quá sáng trên những trụ đèn theo kiểu cổ những thế kỷ trước lúc đèn đường còn thắp bằng dầu. Chỉ trên nóc những tòa nhà mới có những ngọn đèn pha chiếu sáng những hình tượng, phù điêu bằng đá. Xung quanh quảng trường nổi bật hơn hết là Tòa Thị Chính cao vút ngọn tháp kiểu Gothic trên chóp (318 ft. hay 97 m) là tượng Thánh St. Michael là thánh bổn mạng của thành phố Brussels. Các tòa nhà kế bên là Bread House xưa kia là tiệm bánh mì, tòa nhà vua Charles V cũng cổ xưa chi chít những hoa văn, hình tượng trang trí. Có một tòa nhà đang tu sửa lại mặt tiền với những giàn giáo, lưới che bụi nhưng phía trước cũng được phủ bằng tấm hình chính diện ngôi nhà lớn bằng kích thước thật, ở xa du khách tưởng là kiến trúc thật chứ không phải chỉ là tấm hình lớn (sau đó trong chuyến đi sang các thành phố khác như Venice, Rome cũng gặp cảnh như vậy, chứ trước kia khi tu sửa bày ra toàn là những giàn giáo trông rất loang lổ xấu xí).

Quảng trường thành phố Brussels Grand Palace.
Quảng trường thật rộng lớn lát bằng đá là nơi dân chúng hội họp mỗi khi có việc cần. Ban đêm gió thoang thoảng rất mát, du khách lưa thưa, có bà bán hoa tươi đang dọn dẹp, một anh chàng ngồi đàn ghi ta vài cô gái ngồi nghe khúc khích cười. Trước hành lang lờ mờ vài cặp tình nhân âu yếm bên nhau thật tình tứ lãng mạn.
Sách du lịch Trịnh Hảo Tâm đã xuất bản 8 quyển ký sự du lịch:
1. Trên Những Nẻo Ðường Việt Nam
2. Miền Tây Hoa Kỳ
3. Ký Sự Du Lịch Trung Quốc
4. Mùa Thu Ðông Âu
5. Tây Âu Cổ Kính
6. Miền Ðông Nước Mỹ Và Canada
7. Hành Hương Thánh Ðịa Do Thái
8. Nhật Bản, Hồng Kông-Macau, Thái Lan.
Tất cả đều dầy trên 300 trang trình bày đẹp, mỗi quyển đồng giá 15 USD (bao cước phí trong nước Mỹ) xin liên lạc Trịnh Hảo Tâm (714) 528-1413. Email: [email protected]
Về tỷ lệ phiếu bầu trúng cử đại biểu Quốc Hội Việt Nam
Nguyễn Vũ Bình, viết từ Hà Nội
(Nguồn: RFA)
Việc bầu cử của Việt Nam dân chủ đến mức độ nào?
Trong những lần bầu cử Quốc Hội Việt Nam trước đây, chúng ta thường được nghe, xem trên các phương tiện truyền thông Việt Nam tuyên truyền rằng, các đại biểu Quốc Hội được nhân dân lựa chọn, bầu vào Quốc Hội với đa số phiếu bầu 95-97%, có người 98-99%. Báo chí còn nói rằng, tỷ lệ người dân đi bầu trong độ tuổi bầu cử là từ 90-95%. Ðại khái, các số liệu đều gần như tuyệt đối, nếu người nào trúng cử dưới 90% là rất không bình thường. Người dân ai cũng hiểu, tỷ lệ đó hầu như không có ý nghĩa trong cơ chế đảng cử dân bầu, đảng quyết định tất cả. Việc bầu cử chỉ là màn trình diễn bất đắc dĩ của người dân. Tuy nhiên, dù biết rằng các con số về tỷ lệ đó là không đúng, nhưng cũng chưa có ai thử phân tích về các số liệu, và xác định thực sự các số liệu là bao nhiêu. Ðồng thời, so sánh với việc bầu cử của các quốc gia dân chủ trên thế giới, để hiểu rõ hơn việc bầu cử của Việt Nam dân chủ đến mức độ nào?
Ở các quốc gia dân chủ, ví dụ như Hoa Kỳ, chúng ta thường nghe, tỷ lệ cử tri đi bầu Quốc Hội (Hạ Viện), trong các năm không có bầu cử tổng thống không cao, chỉ từ 30-40% số cử tri tham gia bầu cử. Trong các năm có bầu cử tổng thống, số lượng cao hơn cũng chỉ xoay quanh con số 50%. Người dân Mỹ, khi đã tham gia bầu cử, bỏ phiếu là tự tay họ cầm lá phiếu để bầu cho ứng cử viên mà họ chọn lựa (không có, hoặc có nhưng vô cùng hãn hữu việc người này bầu hộ cho người khác). Người dân đi bầu cử biết chắc chắn thông tin liên quan tới ứng cử viên như họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác và chương trình hành động của ứng cử viên. Những người trúng cử, cũng chỉ có tỷ lệ phiếu bầu trung bình từ 55-65% so với tổng số cử tri tham gia bầu cử. Tóm lại, có thể khẳng định, đó là một tỷ lệ không cao, nhưng hoàn toàn thực chất, người dân biết mình lựa chọn ai, và kết quả phản ánh đúng nguyện vọng của người dân.
Ðối với người Việt Nam chúng ta, dù biết tỷ lệ cử tri đi bầu, tỷ lệ trúng cử là con số hoàn toàn ảo, vô nghĩa nhưng ít ai đi sâu vào phân tích về mặt kỹ thuật, tính chất các con số và cũng ít ai đặt câu hỏi, vậy thực chất tỷ lệ người đi bầu ở Việt Nam là bao nhiêu? Tỷ lệ phiếu bầu thực sự (theo đúng nguyên tắc, tính chất bầu cử) cho các ứng viên đại biểu Quốc Hội là bao nhiêu? Bài viết này sẽ làm sáng tỏ vấn đề đó.
Trước hết, hầu như tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, bao gồm các đảng viên đảng Cộng Sản, Ủy Ban Bầu Cử, các ứng cử viên và người dân đều có chung một suy nghĩ. Ðó là việc bầu cử Quốc Hội và hội đồng nhân dân các cấp là việc đưa một số người vào các cơ quan gọi là dân cử, để thực hiện thể chế hóa các nghị quyết của đảng, nói nôm na là hợp thức hóa các nhiệm vụ của đảng. Việc lựa chọn người do đảng Cộng Sản chuẩn bị và chỉ đạo thực hiện từ đầu tới cuối. Hoạt động của Ủy Ban Bầu Cử và người dân đi bầu chỉ là diễn trò cho vui, không ai có thể tác động vào kết quả và có giá trị gì vào việc bầu cử này ngoài đảng Cộng Sản Việt Nam. Nói tóm lại, đó là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa mà người dân bắt buộc phải thực hiện. Chính vì vậy, những năm trước đây, người dân miền Bắc thường có câu nói mỉa mai, việc đi vệ sinh (đi ỉa) là việc đi bỏ phiếu. Một lối nói hình ảnh so sánh việc bầu cử với việc loại bỏ một sự khó chịu trong con người.
Trên cơ sở nhận thức sự vô nghĩa như vậy, cả từ phía Ủy Ban Bầu Cử và người dân, tất cả những gì không cần thiết đều được loại bỏ. Nhưng người ta vẫn làm ví dụ để quay phim chụp ảnh những cảnh bầu cử ở những nơi, những hoàn cảnh đặc biệt. Ví dụ: Bến tàu bến xe ngày bầu cử, trại tạm giam, hải đảo xa xôi, các đơn vị quân đội, các trường đại học và trường nghề… đó là những ví dụ đưa ra để tuyên truyền, để nói rằng, các cử tri đều tham gia đầy đủ. Thực chất, số thẻ cử tri chỉ được phát cho những người có địa chỉ thường trú và hiện đang sinh sống tại đúng địa chỉ thường trú đó. Như vậy, những người có địa chỉ thường trú, nhưng không sống đúng địa chỉ thường trú, đi học tập, làm ăn, sinh sống nơi khác là không bao giờ có thẻ cử tri. Số lượng những người không sống đúng địa chỉ thường trú ở Việt Nam là rất lớn, ước tính 30-40%. Chính vì vậy, 30-40% số người dân không có thẻ cử tri và hoàn toàn không tham gia gì vào việc bầu cử (hầu như không có ai thắc mắc gì chuyện này, vì họ thoát khỏi một việc làm mất thời gian và vô nghĩa). Nhưng chưa hết, trong một gia đình, thường có hai vợ chồng và con cái, ví dụ có 2-3 người trong độ tuổi bầu cử, có thẻ cử tri, chúng ta khẳng định chắc chắn, gia đình đó chỉ có một người đi bầu cử, và bầu hộ cho 1-2 người, thậm chí 3 người còn lại trong nhà. Cứ tạm tính, mỗi gia đình có hai người là cử tri, chỉ có một người đi bầu. Như vậy, số lượng 60-70% người dân có thẻ cử tri trong độ tuổi bầu cử lại phải chia đôi, gọi cho 70% chia đôi, còn lại 35%.
“Dân chủ gấp vạn lần hơn”
Chúng ta thực hiện thêm một thao tác nữa, giả sử có người đứng ở phía ngoài địa điểm bầu cử (bỏ phiếu), sẽ hỏi tất cả những người vừa bầu cử xong, những câu hỏi sau đây: xin hỏi ông bà, cô chú bác, anh chị, các vị vừa bầu cử xong có thể cho biết: họ tên, tuổi, nghề nghiệp, đơn vị công tác của tất cả các ứng cử viên trong đơn vị bầu cử này được không? (chưa cần hỏi chương trình hành động, cương lĩnh tranh cử của các ứng cử viên). Tất cả chúng ta đều khẳng định, 80-90% số người vừa bầu, bỏ phiếu xong sẽ không trả lời được câu hỏi đó. Bởi vì tại sao người ta phải đọc, phải lưu vào đầu những thông tin vô nghĩa đó khi mà biết chắc chắn lá phiếu của mình không hề có tý giá trị nào?!? Như vậy, tỷ lệ 35% đó, chỉ còn lại 5-7% số cử tri đi bầu biết được họ tên, tuổi, nghề nghiệp, đơn vị công tác của các ứng cử viên. Chúng ta đã giải quyết được một vấn đề, tỷ lệ cử tri đi bầu (đúng nghĩa) thực sự ở Việt Nam là 5-7% (trên tổng số người trong độ tuổi bầu cử) so với tỷ lệ mà đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tuyên truyền 90-95% số người trong độ tuổi tham gia bầu cử.
Vẫn còn một câu hỏi được đặt ra, vậy chính xác, tỷ lệ phiếu trúng cử, được bầu đúng nghĩa của các đại biểu Quốc Hội là bao nhiêu phần trăm trong tổng số cử tri cả nước? chúng ta có thể tính được (tương đối) số phiếu bầu này không? Câu trả lời là, có thể tính được.
Ðầu tiên, đó là bản thân các ứng cử viên, ít nhất các ứng cử viên cũng biết về các ứng cử viên khác, với đầy đủ thông tin phục vụ cho bầu cử. Số đại biểu Quốc Hội được bầu trên 500 người, như vậy số ứng cử viên, tính cả khi chưa hiệp thương là khoảng 1,500-2,000 người. Chúng ta giả sử, gia đình các ứng cử viên có 4 người trong độ tuổi bầu cử, đều quan tâm và biết về các ứng cử viên khác, vậy sẽ có 6,000-8,000 cử tri có hiểu biết đầy đủ. Sau đó, là số người thuộc Ủy Ban Bầu Cử các cấp, tính theo đơn vị bầu cử khoảng 200 đơn vị bầu cử (khóa XIV, có thông tin là 184 đơn vị bầu cử), bao gồm các bộ phận đảng, và chính quyền. Những người này cũng phải biết rõ về các ứng cử viên. Một đơn vị bầu cử có nhiều bộ phận, nhưng cứ đặt giả thiết, mỗi đơn vị có 30 người liên quan trực tiếp đến hồ sơ ứng cử viên, nên hiểu rõ mọi thông tin về các ứng cử viên. Như vậy, với 200 đơn vị bầu cử, số người có hiểu biết về các ứng cử viên sẽ là 6,000 người. Tổng kết lại, bản thân các ứng cử viên và gia đình, cộng với ủy ban bầu cử là 8,000 người + 6,000 người = 14,000 người. Tiếp tục, ta đặt giả thiết, có những người về hưu, quan tâm đến vấn đề bầu cử, quan tâm đến các ứng cử viên, và số người ở các bộ phận công tác liên quan bầu cử mà chúng ta bỏ sót, tính thật rộng rãi, thêm 16,000 người nữa. Chúng ta có tổng cộng 30,000 người, có đầy đủ thông tin, chương trình hành động của các ứng cử viên sẽ tham gia bỏ phiếu trong kỳ bầu cử Quốc Hội. Ðặt giả thiết, các ứng cử viên trúng cử (hơn 500 đại biểu Quốc Hội) được tất cả 30,000 người này bầu chọn, thì tỷ lệ cử tri thực sự (đúng nghĩa) sẽ là 30,000 người trên tổng số người trong độ tuổi bầu cử, tức là trên 60 triệu người.
Tựu trung lại, chúng ta có một Quốc Hội được bầu, với một số lượng cử tri đúng nghĩa, khoảng 30,000 người, trên tổng số hơn 60 triệu người trong độ tuổi bầu cử. Ðó chính là thực chất của cái gọi là “dân chủ gấp vạn lần hơn” của chế độ Cộng Sản Việt Nam.
Lính giết chỉ huy rồi tự sát ở căn cứ Không Quân Lackland, Texas
SAN ANTONIO, Texas (NV) – Hai người thiệt mạng trong một vụ giết người rồi tự sát ở căn cứ Không Quân Lackland tại thành phố San Antonio, tiểu bang Texas, hôm Thứ Sáu khiến toàn thể căn cứ bị khóa chặt, theo văn phòng cảnh sát trưởng Bexar County.

Hai nhân viên FBI điều tra hiện trường xảy ra án mạng trong căn cứ Lackland. (Hình: John Davenport/The San Antonio Express-News via AP)
“Vụ này đã chấm dứt,” theo lời phát ngôn viên cảnh sát Bexar County, ông James Keith, cho báo chí hay, và nói thêm rằng các cảnh sát viên của họ vẫn còn ở tại hiện trường.
Chỉ huy trưởng đội huấn luyện quân khuyển 331 ở căn cứ này đã bị một quân nhân không quân bắn chết, theo tờ báo Air Force Times, dựa theo các tin tức nội bộ tại Ngũ Giác Ðài.
Danh tánh cả hai người này hiện chưa được tiết lộ.
Vụ nổ súng xảy ra ở khu Medina của căn cứ, nơi dùng để huấn luyện quân khuyển.
Ông Keith nói rằng văn phòng cảnh sát trưởng không nghĩ rằng có nạn nhân nào khác nhưng đã mở các cuộc lục soát cho chắc chắn.
Sở Ðiều Tra Liên Bang (FBI) được cảnh sát địa phương mời trợ giúp trong cuộc điều tra này.
Nhiều nơi trong căn cứ đã bị khóa chặt sau khi có báo động nổ súng, kể cả các trường học, theo văn phòng cảnh sát. (V.Giang)
Bỉ bắt Mohamed Abrini, nghi can vụ khủng bố Paris
BRUSSELS, Bỉ (NV) – Mohamed Abrini, nghi can liên quan đến vụ khủng bố Paris hồi Tháng Mười Một năm ngoái và cũng có thể có liên quan tới vụ nổ bom Brussels, vừa bị bắt ở ngoại ô thủ đô Bỉ.

Abrini mua đồ ở một cây xăng ở Ressons, Paris, hôm 11 Tháng Mười
Một, 2015. (Hình: Getty Images/AFP)
Reuters trích thuật lời xác nhận của công tố viện Bỉ, rằng cảnh sát vừa thực hiện cuộc bắt giữ nhiều người liên hệ đến vụ tấn công ở Brussels.
Vụ bắt giữ đánh dấu một sự thành công của an ninh Bỉ, cơ quan vốn gặp nhiều chỉ trích kịch liệt từ trong nước lẫn hải ngoại, sau khi được biết nhóm tấn công khủng bố Paris hồi Tháng Mười Một, 2015, khiến 130 người chết, có hoạt động đặt ở Molenbeek, Brussels.
Abrini, người Bỉ gốc Morocco, được trông thấy ngồi cùng xe với Salah Abdeslam, nghi can vụ Paris, hai ngày trước khi xảy ra cuộc tấn công.
Đương sự được cho là cùng Abdeslam qua Paris trước hai ngày để điều nghiên các địa điểm tấn công.
Abdeslam, mà người anh em ruột là Brahim, nổ bom tự sát ở Paris, bị bắt tại nhà tại Molenbeek, một quận của Brussels, hôm 18 Tháng Ba.
Đương sự cũng có dự tính nổ bom tự sát ở Paris nhưng đã đổi ý vào phút chót, rồi trốn về Bỉ.
Abdeslam đang chờ bị dẫn độ qua Pháp.
Bốn ngày sau khi Abdeslam bị bắt, anh em Brahim và Khalid El Bakraoui và một người tên Najim Laachraoui, nổ bom tự sát làm chết 32 người tại phi trường Brussels và tại trạm xe điện ngầm chạy qua bên dưới các trụ sở của tổ chức Liên Âu.
Đoạn video an ninh ở phi trường Zaventem, Brussels, cho thấy ba người đàn ông đang đẩy xe chở hành lý, hai trong số họ là Brahim Bakraoui và Laachraoui, mà sau đó cả hai cùng nổ bom tự sát.
Còn người thứ ba là người đội nón, mang kính cận dày, rời khỏi hiện trường sau vụ nổ, để lại chiếc xe đẩy, mà ngay sau đó cảnh sát phát giác trong hành lý có quả bom chưa nổ.
Đương sự hiện đang bị cảnh sát ráo riết lùng kiếm.
Hôm Thứ Năm, nhà chức trách công bố thêm nhiều đoạn video khác, trong đó cho thấy nghi can đội nón như nêu trên rời khỏi hiện trường, đi bộ nhiều dặm, bỏ lại nón và áo khoác ngoài.
Cảnh sát kêu gọi dân chúng giúp tìm chiếc áo khoác vì vật này sẽ hết sức hữu ích cho cuộc điều tra.
Hai đài VRT và RTBF nói, Abrini vừa bị bắt có thể là nghi can đội nón đang bị truy nã.
Một nghi can thứ hai cũng bị bắt hôm Thứ Sáu, được cho là người đàn ông xuất hiện cùng với nghi can Khalid Bakraoui ở trạm tàu điện, không lâu trước khi Khalid tự nổ bom ở trên tàu.
Theo VRT, nghi can thứ hai tên Osama Kraiem được trông thấy trong máy thu hình an ninh đang mua túi đựng đồ ở ngoài phố, vật mà đương sự sau đó sử dụng trong vụ nổ bom.
Abrini bị bắt ở ngoại ô Anderlecht, kế cận Molenbeek, cứ địa của nhóm khủng bố, nằm ở mạn Tây Brussels. (TP)
Ðang nhận ghi danh thi ca cổ nhạc giải Phụng Hoàng
Ban tổ chức giải Phụng Hoàng kỳ 8 đã bắt đầu nhận phiếu ghi danh của thí sinh tham dự thi ca cổ nhạc với các điều kiện tổng quát như sau:
-Nam nữ từ 18 tuổi trở lên không phân biệt quốc tịch, chủng tộc, miễn là nói rành tiếng Việt, viết và đọc được Việt ngữ.
-Thí sinh phải thuộc lòng ít nhất ba bài vọng cổ để ca cho ba vòng thi: Sơ khảo, phúc khảo, chung kết. Mỗi vòng thi thí sinh ca hai câu Vọng Cổ và một bản vắn như: Lý Con Sáo, Trăng Thu Dạ Khúc, Ngựa Ô Nam, Kim Tiền Huế, hoặc các bài Lý, v.v…
-Ba vòng thi bài ca phải khác nhau. Thí dụ ở vòng sơ khảo ca bài Lan và Ðiệp, thì khi sang qua vòng phúc khảo hoặc chung kết không được ca trở lại, mà phải ca bài khác.
-Thí sinh trúng giải sẽ được Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại cấp phát văn bằng kèm huy chương vàng và tiền thưởng (nhiều ít tùy theo khả năng vận động mạnh thường quân hỗ trợ, chi tiết sẽ có thông báo sau).
-Riêng những thí sinh đã nộp phiếu ghi danh thời gian qua thì đương nhiên có tên trong danh sách thí sinh dự thi kỳ này. Tuy nhiên thí sinh phải liên lạc về ban tổ chức để xác nhận.
Liên lạc trưởng ban tổ chức giải Phụng Hoàng kỳ 8: Ông Lê Quang Thế số điện thoại (714) 454-7851. Phiếu ghi danh gởi về P.O. Box 3073 Santa Ana, CA 92703. Email: [email protected].
HỘI CỔ NHẠC MIỀN NAM VIỆT NAM HẢI NGOẠI
PHIẾU GHI DANH
DỰ THI CỔ NHẠC GIẢI PHỤNG HOÀNG KỲ 8
Họ tên thí sinh……………………………………………………………………………………………………….
Biệt danh………………………………………………………………………………………………………………
Sinh ngày……………….tháng…………..năm……………………………………………………………………
Sinh tại Xã…………………………………..Quận………………………………Tỉnh………………………….
Ðịa chỉ………………………………………………………………………………………………………………….
Số điện thoại………………………………………………………………………………………………………….
Tôi đã đọc và hiểu rõ tinh thần Thông Báo Thể Lệ Dự Thi Cổ Nhạc Giải Phụng Hoàng Kỳ 8. Kính xin Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại cho tôi được ghi tên vào danh sách thí sinh dự thi.
Tôi đồng ý để cho Ban Tổ Chức phổ biến tên tuổi, biệt danh, hình ảnh lên báo chí, và hoàn toàn tôn trọng kết quả của Ban Giám Khảo.
………………., ngày………… tháng………… năm 2016
Thí sinh ký tên
*Thí sinh có thể cắt phiếu ghi danh trên tờ báo này, điền tên, chi tiết và kèm một tấm hình gởi về Ban Tổ Chức Giải Phụng Hoàng, P.O. Box 3073 Santa Ana, CA 92703. Liên lạc số điện thoại: Võ sư Lê Quang Thế (714) 454-7851.
Màu thời gian (?)
Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng
(714) 531-7930
[email protected]
Hỏi:
- Tôi năm nay mới hơn 40 mà tóc đã bạc rất nhiều. Xin cho biết nguyên nhân, và có cách nào chữa trị để nhìn trẻ trung hơn không?
- Có những người rất trẻ, chỉ hơn hai mươi, đã thấy tóc bạc rất nhiều. Có phải vì lo lắng quá nhiều không? Uống “thuốc lo,” có thể giúp bớt bệnh không?
Ðáp:
Tuổi tác, tình trạng sức khỏe, di truyền và các yếu tố môi trường tất cả đều là những yếu tố ảnh hưởng đến việc tóc bị bạc đi. Trong đó tuổi tác có vẻ là yếu tố quan trọng và thường gặp nhất.
Có người cho rằng tóc bạc là khởi đầu của sự già cỗi. Có người coi nó như là một dấu hiệu của sự từng trải.
Nhiều người tin rằng bạc tóc là hậu quả của sự lo âu căng thẳng.
Nếu quan niệm rằng “trẻ” là khả năng có thể hấp thụ được chất bổ, những điều hữu ích, để thay đổi, vươn lên, thì dù bao nhiêu tuổi, tóc xanh hay bạc, đều vẫn “trẻ.”
Còn nếu không biết rút tỉa kinh nghiệm từ cuộc sống, cố chấp, sai bao nhiêu lần vẫn cứ hoàn sai không học được gì, thì dù đầu bạc đến đâu, có “lên voi xuống chó” đến đâu. Có lẽ, cũng không thể gọi là “từng trải.”
Dù có nhiều truyền thuyết về một số nhân vật chỉ quá lo lắng trong một đêm mà tóc chuyển sang bạc trắng, cho đến nay vẫn chưa có chứng cớ khoa học nào cho thấy rằng sự lo lắng có thể làm thay đổi các tế bào sắc tố khiến cho tóc chuyển màu qua đêm.
Tại sao tóc bạc?
Tóc bạc bắt đầu khi cơ thể chúng ta ngưng sản xuất một chất tạo ra màu gọi là sắc tố (melanin). Cả mái tóc của chúng ta bao gồm nhiều dải tóc (strands of hair). Mỗi dải tóc mọc ra từ một nang tóc (follicle) trong đó có chứa các tế bào chứa sắc tố gọi là các tế bào sắc tố (melanocytes). Các tế bào sắc tố chuyển sắc tố sang các tế bào tạo ra lớp bọc ngoài của tóc (keratinocytes) làm cho tóc có màu và sáng mượt. Có hai loại sắc tố:
-Eumelanin có màu nâu đậm hay đen.
-Pheomelanin có màu vàng hoe (reddish yellow).
Theo thời gian, số lượng sắc tố trong keratinocytes giảm đi. Tóc bạc đi, đơn giản chỉ là tóc đã bị giảm sắc tố. Khi không còn chút xíu sắc tố nào cả thì tóc bạc trắng. Sự suy giảm sắc tố cũng làm cho tóc bớt mượt đi. Do đó, khi tóc bạc đi, nó cũng trở nên khô và thô hơn.
Tóc bạc đi như thế nào?
Trong quá trình bạc tóc, các nang tóc tạo ra các dải tóc bạc một cách ngẫu nhiên. Các dải tóc bạc đầu tiên thường xuất hiện ở vùng màng tang (thái dương) và đỉnh đầu. Người ta vẫn chưa rõ tại sao tóc bạc thường bắt đầu ở các khu vực này trước tiên.
Thật ra, mỗi sợi tóc không chuyển từ đen sang bạc. Mỗi ngày, một cách bình thường, bao giờ cũng có một số tóc rụng đi và được thay thế bằng tóc mới. Vào bất cứ lúc nào cũng vậy, khoảng 85 đến 90 phần trăm số lượng tóc của cả mái tóc ở trong tình trạng hoạt động, trong khi phần còn lại trong tình trạng nghỉ ngơi.
Bình thường, mỗi dải tóc phát triển trong vòng hai tới bốn năm. Sau đó, nó sẽ bước vào giai đoạn nghỉ ngơi khoảng hai tới bốn tháng. Cuối cùng, nó sẽ rụng đi và được thay thế bằng tóc mới. Trung bình, mỗi người chúng ta rụng khoảng 50 đến 100 dải tóc mỗi ngày. Tóc đen thường che phủ tóc bạc, khi tóc rụng nhiều trong một thời gian ngắn, như khi bị quá căng thẳng, bệnh nặng, sau khi mổ, số tóc đen bên ngoài rụng đi nhiều làm cho mớ tóc bạc “lòi” ra, khiến cho người ta có cảm giác như là tóc bạc đi chỉ sau một đêm. Các tình trạng bị stress như kể trên có thể làm rụng đi đến 300 dải tóc mỗi ngày.
Khi nào tóc bắt đầu bạc?
Trong giai đoạn đầu của quá trình bạc tóc, các tế bào sắc tố vẫn hiện diện nhưng không hoạt động. Dần dần, chúng bắt đầu giảm đi. Quá trình bạc tóc tự nhiên này có thể bắt đầu ngay từ lúc mười mấy tuổi. Tuy nhiên, tóc bạc thường bắt đầu được ghi nhận vào lứa tuổi ba mươi ở đại đa số. Một số nghiên cứu cho thấy rằng đàn ông thường bắt đầu có tóc bạc vào khoảng tuổi ba mươi, trong khi ở phái đẹp, tóc thường bắt đầu bớt xanh vào khoảng tuổi băm lăm.
Di truyền cũng là một yếu tố. Ở một số gia đình, nhiều người bắt đầu có tóc bạc vào tuổi hai mươi.
Tuy nhiên, việc khi nào tóc bắt đầu bạc rất khác nhau giữa người này với người khác, sắc dân này với sắc dân khác. Và do đó các chuyên gia về da và tóc cũng như các nhà nghiên cứu về di truyền đã kết luận rằng tuổi tác không phải là yếu tố chính xác nhất để biết được khi nào tóc bắt đầu bạc.
Một số tình trạng có thể là nguyên nhân bạc tóc
Vì thiếu tài trợ cho việc nghiên cứu về vấn đề bạc tóc (chẳng làm chết ai) này, người ta vẫn không có nhiều chứng cớ khoa học về chuyện này. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lẻ tẻ cho thấy một số yếu tố có thể góp phần vào việc làm cho tóc bạc:
-Thuốc lá: Một nghiên cứu cho thấy rằng những người hút thuốc dễ bị bạc tóc sớm gấp bốn lần so với những người không hút.
-Ðôi khi, tóc bạc đi bất thường có thể là dấu hiệu của một số bệnh như:
*Bệnh thiếu máu ác tính (pernicious anemia): thường do thiếu sinh tố B12. Ðôi khi liên quan đến việc giảm việc sản xuất các sắc tố.
*Hội chứng Werner (một hội chứng bao gồm các triệu chứng lão hóa vào tuổi hai mươi).
*Bất cứ bệnh nào làm rụng tóc đều làm cho tóc bạc bị “lòi” ra (như đã trình bày bên trên).
*Một số thuốc gây ra rụng tóc cũng làm cho mái tóc nhìn có vẻ bạc đi. Ví dụ như thuốc lithium thường dùng trị bệnh hưng trầm cảm (bipolar disorder), methotrexate thường dùng trị ung thư và viêm khớp dạng thấp.
Tuy nhiên, có một hiện tượng người ta vẫn chưa giải thích được là ở một số bệnh nhân bị rụng tóc bạc do hóa trị liệu (chemotherapy – thường dùng để trị ung thư), khi tóc mọc trở lại, nó có thể lại đen trở lại. Hiện tượng này gợi ý rằng các tế bào sắc tố tạo ra ít sắc tố có thể được kích thích để tạo ra nhiều sắc tố hơn. (Hy vọng hiện tượng này sẽ được nghiên cứu kỹ hơn để chế ra thuốc trị bạc tóc sau này).
Có cách nào trị bạc tóc không?
Nếu bị bạc tóc một cách bất thường do rụng quá nhiều tóc, cách điều trị là trị hoặc tránh các nguyên nhân (nếu có thể được) như đã kể trên.
Trên thị trường, có một số sản phẩm hứa hẹn sẽ làm cho tóc bạc trở lại màu như lúc còn trẻ. Tuy nhiên, cho tới nay chưa có chứng cớ khoa học nào về sự hiệu quả của các loại thuốc này.
Cho tới nay, cách trị bạc tóc duy nhất là… nhuộm tóc thường xuyên. (Tuy nhiên nếu lông mũi cũng bị bạc thì rất khó… che giấu).
Nếu có triệu chứng gì khác bênh cạnh việc có vài sợi tóc bạc, ta nên đến bác sĩ để được thăm khám xem có bị bệnh gì (ví dụ như là thiếu máu ác tính) hay không.
***
Bạc tóc có thể là một dấu hiệu (đáng tự hào) của sự từng trải (thật sự).
Bạc tóc chưa hẳn là già.
Già (cỗi) hay trẻ (trung) thường được quyết định bằng những gì nằm bên dưới mái tóc.
Thân mến
Bác Sĩ Nguyễn Trần Hoàng
www.nguyentranhoang.com
(714) 531-7930
Bernie Sanders sẽ đi tới cùng
Nguyễn Văn Khanh
“Tôi sinh trưởng ở vùng này,” ứng cử viên Dân Chủ Bernie Sanders hãnh diện nói với các ứng cừ viên ở khu vực Brooklyn, New York. “Tôi cũng muốn nói cho các bạn biết bà Hillary Clinton không xứng đáng để lãnh đạo quốc gia,” ông nói tại Philadelphia. “Khí thế thành công đang nằm trong tay của chúng ta,” ông nói với cử tri Wyoming ngay sau chiến thắng ở Wisconsin, và giữa tiếng reo hò của hàng ngàn người ủng hộ, ông cam kết “chúng ta sẽ cùng nhau đi đến cùng, chúng ta sẽ không bao giờ bỏ cuộc.”

Ứng cử viên Bernie Sanders. (Hình: William Thomas Cain/Getty Images)
Ông Sanders có những lý do thật vững vàng để nói những điều vừa kể trên. Trong 8 cuộc bầu cử sơ bộ diễn ra trong 2 tuần lễ vừa qua, ông thắng 7 và sẽ thắng thêm ở Wyoming vào ngày Thứ Bảy tới đây, trước khi chạm trán với bà Clinton ở tiểu bang New York. Ðây là tiểu bang ông chào đời, đồng thời cũng là tiểu bang có số người Do Thái cư ngụ rất đông – đông nhất là tại thành phố New York – trong số đó, “những người mong muốn thấy nước Mỹ có vị tổng thống gốc Do Thái đầu tiên không phải là ít,” theo nhận xét của bà Martha Johnston, một chiến lược gia của đảng bộ Dân Chủ cư ngụ tại thành phố Syracuse thuộc mạn Bắc của tiểu bang New York.
Mặc dù các cuộc thăm dò giữa tuần này đều cho thấy bà Clinton đang dẫn trước ở New York, nhưng “nếu nhìn vào kết quả ở những tiểu bang ông Sanders đã thành công, tôi nghĩ ông cũng có cơ hội thành công vào ngày 19 tới đây khi cử tri New York bỏ phiếu bầu sơ bộ,” bà Johnston nói tiếp. “Với giới trẻ và thành phần cử tri độc lập chủ trương cấp tiến, ông Sanders được sự ủng hộ tối đa. New York là nơi có rất nhiều thành phố đại học, có rất nhiều người trẻ, tư tưởng của họ rất thoáng, nên tôi có thể dự đoán tập thể này sẽ bỏ phiếu ủng hộ ông Sanders.” Một yếu tố khác cũng được nói tới “đừng quên ông Sanders sinh trưởng ở New York làm việc ở Vermont,” nên ông “vừa là người nhà vừa là hàng xóm, một lợi thế chính trị mà tất cả các ứng cử viên Dân Chủ lẫn Cộng Hòa đều muốn có.”
Những lợi thế chính trị đó “là con đường giúp chúng tôi thành công,” ông Jeff Weaver, trưởng Ban Vận Ðộng Tranh Cử của ông Sanders, nói với báo chí hồi giữa tuần này. “Sau ngày bầu cử sơ bộ Wisconsin, tất cả các cuộc thăm dò đều nghiêng về phía chúng tôi, không còn nghiêng về phía bà Clinton như trước nữa.” Ông đưa thí dụ: 81% cử tri trẻ tuổi ủng hộ ông Sanders, 77% cử tri độc lập ủng hộ ông Sanders, nếu được đảng đưa ra tranh chức tổng thống “Thượng Nghị Sĩ Sanders thắng ông Trump của đảng Cộng Hòa dễ dàng hơn bà Clinton.” Ngay cả chuyện quyên góp tiền vận động “chúng tôi cũng hơn bà Clinton,” dẫn chứng là “trong 3 tháng đầu năm 2016 chúng tôi quyên được 109 triệu, trong khi bà Clinton quyên được có 75 triệu,” nhắc lại lời Thượng Nghị Sĩ Sanders thường nói trong những cuộc vận động tranh cử: bà Clinton chỉ có 1 triệu người góp tiền ủng hộ, “chúng tôi có tới 2 triệu người cho tiền để vận động. Tiền của bà Clinton phần lớn là tiền của các đại công ty, tiền của chúng tôi là tiền của cử tri đóng góp.”
Những yếu tố quan trọng đó “cũng là lý do thúc đẩy ông Sanders mạnh miệng hơn khi tấn công bà Clinton,” là nhận xét của nhà báo Chris Cillizza chuyên viết tin bầu cử cho nhật báo The Washington Post. Với những thành công đạt được hồi Tháng Ba và đầu Tháng Tư 2016, “ông Sanders và dàn tham mưu của ông đều hiểu rằng cục diện cuộc đua sẽ thay đổi hoàn toàn nếu họ thắng bà Clitnon ở tiểu bang New York, đẩy thành phần bề thế trong đảng, lực lượng siêu đại biểu, các nhà tài trợ và giới truyền thông phải suy tính lại, tự đặt câu hỏi liệu bà Clinton có đủ sức để giúp đảng giữ Tòa Bạch Ốc hay không.” Với cử tri Dân Chủ, “nếu ông Sanders thắng ở New York, điều đó có nghĩa là cử tri nhìn thấy một khuôn mặt sáng giá hơn, họ muốn trao quyền đại diện đảng ra tranh cử cho ông Sanders.”
Phản ứng từ phía bà Clinton là phát biểu của chính bà cựu ngoại trưởng Mỹ, nói rằng “tôi không hiểu tại sao ông Sanders lại nói rằng tôi không xứng đáng làm tổng thống.” Nói với báo chí khi đi vận động tại thành phố New York, bà Clinton cho biết thêm “sẽ tiếp tục nhấn mạnh những khác biệt về chính sách giữa tôi và ông Sanders,” để cho cử tri biết ai là người “có kế hoạch hành động và ai là người chỉ nói để câu phiếu.” Bà cũng nhắc lại câu “đừng nói những điều không thể làm,” để nhắc mọi người chính sách mà ông Bernie Sanders đưa ra khi vận động tranh cử “toàn là những lời hứa hẹn chính ông ta biết không thể nào thực hiện được.”
Cho đến chiều Thứ Năm, phát ngôn viên Ủy Ban Vận Ðộng Tranh Cử Hillary Clinton là bà Christina Reynolds gửi email cho những người ủng hộ, viết rằng “thật là lố bịch và thiếu trách nhiệm khi (ông Sanders) tấn công một người gần như chắc chắn sẽ đại diện cho đảng, trong khi người bị tấn công (là bà Clinton) lại là người xứng đáng nhất để tranh cử tổng thống TRONG LỊCH SỬ HOA KỲ.”
Email này cũng kêu gọi những người ủng hộ “giúp từ 1 đồng hoặc nhiều hơn” để Ủy Ban Vận Ðộng cho bà Clinton có phương tiện “chống lại lời bêu xấu” của ông Sanders.









