Thơ Bùi Ngọc Tô


Gửi Nguyễn Minh Diễm


“Có đến, có đi”
ông thường nói thế
lưu luyến làm chi,
nhưng sao rớm lệ


thôi ông đi trước
tôi lấy vé sau
chung một chuyến tầu
có ngày gặp lại.


thôi chẳng thà đi không trở lại,
còn hơn cố ở chịu thương đau
từ khi cất bước đời lưu lạc,
đã dành giọt lệ khóc cho nhau.

(24-7-2014)

Thơ Nguyễn Thị Thanh Dương


Thơ em


Em không sinh ra ở Nha Trang,
Không lớn lên từ Phan Thiết,
Em không phải là dân miền biển,
Nhưng khi em nghĩ về anh,
Thơ em có sóng,
Có bão giông,
Và có cả vị mặn mà.
Thơ em dịu dàngácát trắng quanh co,
Chạy dọc theo bờ biển,
Như suốt đời chạy kiếm chút tình anh.
Anh có thấy những buổi hoàng hôn?
Mặt trời lặn bên kia biển,
Thơ em chưa khép,
Thơ em vẫn là ánh hoàng hôn thoi thóp,
Lãng mạn giữa biển khơi.
Lãng mạn giữa biển đời.
Em không phải là dân miền biển,
Nhưng khi em yêu anh,
Thơ em miệt mài,
Như ngư dân giăng lưới,
Không đúng mùa nước,
Thơ em lênh đênh,
Lưới tình trống không,
Lưới tình vẫn thiếu một bóng anh.
Dù thế nào,
Thơ em vẫn ngàn đời biển xanh,
Vẫn chan chứa theo từng con sóng,
Có khi nghẹn ngào tiếng khóc,
Là lúc em tuyệt vọng,
Có khi rạt rào vui,
Là lúc em đợi chờ.
Những bài thơ em có thể là dã tràng xe cát bơ vơ,
Là những lâu đài mong manh trên cát,
Là vách đá mỏi mòn vì sóng…
Nhưng anh ơi,
Thơ em vẫn là biển rộng,
Chỉ vì một mình anh.





Ði hết một mùa Thu


Làm sao đi cho hết một mùa Thu?
Ðếm bằng thời gian mùa Thu rất ngắn,
Trong không gian mùa Thu dài và rộng,
Tôi lạc vào Thu không biết nẻo về.


Mở khung cửa sổ mùa Thu gần kề,
Những lá khô rơi nằm trên thảm cỏ,
Bước ra vườn sau trời vừa đủ gió,
Ru lá vàng ngoan nhé đừng vội bay.


Tôi đi rong chơi hàng cây che mây,
Chỉ thấy một trời lá vàng lá đỏ,
Màu lá vàng chanh mơ màng quyến rũ,
Nhan sắc này chờ đợi một tình quân.


Hàng cây im vắng tưởng bị lãng quên,
Mùa Thu hun hút đi về đâu đó,
Lên đồi dốc cho tôi theo với nhé,
Rừng phong ơi lá đỏ thiết tha tình.


Tôi theo mùa Thu vào con đường mòn,
Ðường mòn quanh co như tình đuổi bắt,
Ngọn gió nào mang lá về mặt đất?
Lá rụng về cội. Tình có về không?


Tôi đi hết chưa mùa Thu mênh mông?
Chuyến xe nào đưa tôi theo cho kịp,
Từ trên non cao xuống thung lũng hẹp,
Tôi vẫn tìm dù mùa Thu xa xôi.


Chiếc lá cuối cùng xin hãy đợi tôi,
Ðể rơi nốt vào lòng tôi trống vắng,
Tiếc mùa Thu tàn ngậm ngùi tôi khóc,
Thu đến rồi đi như một giấc mơ.

(Oct. 19- 2013)

(Nguồn: [email protected])

Nước Mỹ #1


Phượng Vũ


“Ði cho biết đó biết đây
Ở hoài một chỗ, biết ngày nào khôn.”


Ông bà ta từ ngàn xưa đã có cái “nhìn xa trông rộng” thấy được nhu cầu phát triển sự hiểu biết, sự “khôn” lên qua việc “đi” đó đây. Vì thế ngày nay du lịch là ngành “kỹ nghệ không khói” nhưng đem lại lợi nhuận lớn cho rất nhiều nước trên thế giới. Ngoài ra nhờ đi đó đây, ta mới có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh để “biết mình, biết người” hơn!

Ở Mỹ lâu năm, quen hưởng những tiện nghi đời sống căn bản của mọi người trong xã hội, (kể cả người nghèo), riết trở thành quen, thấy bình thường và xem đó là lẽ đương nhiên. Ví dụ như nhu cầu vệ sinh: ở Mỹ cầu tiêu công cộng có ở khắp nơi, giấy vệ sinh, giấy lau tay xài thoải mái, vòi nước uống cũng được thiết kế khắp nơi. Các công viên, các khu “rest area” dọc các xa lộ, thậm chí ở những buổi meeting, hội chợ… cũng có những cầu tiêu tạm cho mọi người dùng khi cần đến và chẳng bao giờ phải tốn một xu nào!









(Nguồn: Google)


Nhưng khi du lịch ra nước ngoài mới “thấm thía”! cái gì cũng phải trả tiền, kể cả nhu cầu vệ sinh (giá từ $1- $1.5/1 lần, tùy nơi, tùy nước). Không phải chỉ tốn tiền mà còn “gian nan” khi hữu sự, để tìm cho ra “nơi cần đến,” ngay cả ở những thủ đô văn minh lẫy lừng lâu đời của thế giới! Tôi nhớ có một lần khi thăm thủ đô Paris, một người trong đoàn cần toilet, bác tài chạy xuôi, chạy ngược, vòng vòng mãi mà vẫn không tìm ra! Cuối cùng một sáng kiến được nêu ra, tới một nhà hàng nào đó vô mua bất kỳ món gì đó để được đi toilet! Ðó là nỗi khổ tâm lớn của các vị cao niên khi đi du lịch Châu Âu, các vị phải nhắc nhau nhịn uống nước (điều này lại rất hại sức khỏe) để khỏi “khốn đốn” khi hữu sự! Tôi nhớ một lần ở Rome, hướng dẫn viên dẫn một bà đi mãi qua đường này, tới ngõ nọ mà vẫn không tìm ra “nơi phải đến,” “bí” quá bèn hỏi:

– Bà có chịu tốn 10 Euros để vô restaurant kia mua thứ gì đó để được đi WC không?

– Nín hết nỗi rồi, bây giờ không phải 10 Euros mà 20 Euros tôi cũng chịu luôn!

Có những WC có người ngồi thâu tiền còn đỡ, có những nơi, họ thiết kế sẵn phải bỏ đúng số tiền (cắc) quy định thì cổng mới mở cho vô. Khi đi du lịch đâu phải ai cũng có sẵn tiền cắc (Euro) trong túi, có một bà “mắc“quá nhưng không đổi được tiền cắc, nên phải mượn tứ tung trong đoàn, mỗi người thương tình móc hầu bao bỏ vô máy một ít, máy nuốt hết nhưng còn thiếu mấy xu, chưa đủ tiền, máy không mở cổng! Thật khốn đốn với máy móc vô tình!

Ở một số nước Châu Á như Trung Quốc, khách du lịch phải luôn thủ sẵn giấy vệ sinh trong bóp, vì trong toilet không có giấy vệ sinh. Tôi cứ bị ấn tượng mãi về một lần thăm Bắc Kinh (cách đây hơn 10 năm), đoàn du khách được một dàn các cô gái trẻ đẹp mặc xường xám đón chào tưng bừng ngay từ lối vào nhà hàng. Nhà hàng thiết kế rực rỡ sang trọng, đèn đuốc sáng choang… như cung đình. Sau bữa ăn khi cần đi WC, tôi ngạc nhiên khi bước vào thấy có một bàn trải khăn trắng bóc, trên bàn có một bình hoa tươi thật to, đẹp, và một cô gái xinh đẹp rực rỡ mặc xường xám ngồi đó chỉ để làm nhiệm vụ phát cho mỗi khách 1-2 miếng giấy vệ sinh nhỏ?? Ôi “cung đình” mà không có giấy vệ sinh! Ðúng là cộng sản! hình thức trình diễn thì xôm tụ, nhưng nhu cầu căn bản thì không được đáp ứng!

Trong đời sống có những nhu cầu xem ra có vẻ nhỏ nhặt, tầm thường, nhưng khi cần đến mà không có thì nó trở thành một trở ngại lớn, khiến người ta “điêu đứng” vì nó. Nghe kể có một đoàn du khách nước ngoài viếng các lăng tẩm của triều đình Huế, đi từ lăng này đến lăng kia, cảnh đẹp hùng vĩ bao la… bỗng một du khách cần đi WC, hướng dẫn viên tìm hoài không ra, bèn chỉ khách vào bụi cây xài đỡ, khách cương quyết không chịu! Vậy là cả đoàn phải ngưng tham quan, ra xe trở về khách sạn…

Phi trường ở Mỹ, ghế ngồi chờ đợi cho hành khách là ghế nệm dày và lúc nào cũng dư thừa, thậm chí lúc ít khách có thể nằm ngủ thoải mái. Toilet và vòi nước uống có khắp nơi,bây giờ lại có thêm những chỗ cho hành khách charge pin điện thoại, lap top, Ipad, Iphone… Nhưng khi tới phi trường Paris (CDG) những nhu cầu căn bản đó hình như biến mất!? Thực ra trước đây tôi đã đến phi trường Paris nhiều lần, nhưng đều (exit) đi ra luôn. Lần này chuyến bay tranfer ở Paris trước khi tới Berlin nên tôi mới có cơ hội thâm nhập CDG. Trước hết khi máy bay đáp xuống CDG, tôi ngạc nhiên khi thấy phải đi cầu thang sắt xuống, với carry-on, nếu kéo đi thì nhẹ nhàng, nhưng phải xách nó lên và leo mấy chục bậc thang xuống thì không dễ chút nào! Sau đó leo lên xe bus chở vô phi trường. Vô đây tôi lại tiếp tục chạy vòng vòng, mệt “bở hơi tai” vì phải xách carry-on lên xuống cầu thang nhiều lần đi từ khu này qua khu khác, phải qua khu X-ray (khám bằng tay là chính) rồi mới tới được cổng đổi chuyến bay! Khu nhà kiếng tương đối nhỏ nhưng có tới 12 cổng (gate), mỗi cổng chỉ vỏn vẹn có một quầy nhỏ và một computer. Có một số băng ghế sắt trong khu vực cho hành khách ngồi đợi nhưng quá ít so với nhu cầu, nên hành khách ngồi la liệt dưới đất, khắp lối đi. Một số ông thì ngồi vắt vẻo trên các lan can, bờ tường. Tôi vừa mỏi chân, vừa mệt vừa khát nước, nhưng nhìn quanh cả khu vực không thấy có vòi nước uống nào, cả WC cũng không có… chỉ thấy toàn người là người.

Khi lên được máy bay Air France, ngồi yên chỗ quan sát, tôi có cảm tưởng nó là “xe đò bay” thì đúng hơn, (khi so sánh với máy bay Mỹ mà tôi vừa đi) vì ghế ngồi và trang thiết bị cũ kỹ như từ thế kỷ trước. Lúc máy bay cất cánh tôi nghe nó gầm gừ “phành phành” rồi “ạch ạch” như đang cố sức nâng cái thân già nua bốc lên khỏi mặt đất, tôi chỉ lo nó rớt (may là tôi có mua bảo hiểm rồi nên đỡ lo!). Cuối cùng sau một hồi “lắc lư con tàu” nó cũng bay lên được. Yên tâm rồi, tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi (vì chẳng có phương tiện giải trí nào: nhạc, tivi…). Cơn khát nước làm tôi chợt tỉnh, thấy chung quanh ai cũng có ly nước, tôi bèn yêu cầu một nam tiếp viên cho xin ly nước, nhưng hắn trố mắt ra ngó tôi như tôi đang đòi hỏi một điều gì quá đáng, rồi hắn phớt lờ (đúng là tính“ga lăng” của đàn ông Pháp đã trở thành quá khứ!) Có lẽ họ cho rằng họ chỉ phát nước theo giờ của họ, hết giờ là hết phát!? Sau khi yêu cầu 2 lần không được, khát quá tôi đợi lúc bà tiếp viên trưởng đi ngang để lập lại yêu cầu, bà bảo tôi đợi một lát và mang đến cho tôi Ệ ly nước nhỏ!? Hình như nước trở thành hiếm quý và cách phục vụ lịch sự cũng hiếm quý luôn! Ôi Air France! một thuở mơ ước khi tôi còn học trung học ở Saigon, lúc nhìn những hình ảnh quảng cáo của Air France trên các tạp chí nước ngoài! Ôi mộng và thực đúng là “nghìn trùng xa cách”! Xin tạm biệt Air France và phi trường Paris (kinh đô ánh sáng một thời) mà không mong ngày gặp lại! Có lẽ từ đây nếu có du lịch Châu Âu, tôi phải lo học thuộc lòng câu của William Shakespear: “I always feel happy, you know why? Because I d’ont expect any thing from anyone.”

Tới phi trường Berlin (TXL) lại cũng phải đi cầu thang sắt xuống, rồi đi xe bus vô phi trường, xem ra phi trường này còn nhỏ và thiếu tiện nghi hơn phi trường Paris, tôi lại tiếp tục xách carry-on mệt nghỉ, chứ không kéo đi nhẹ nhàng như ở các phi trường Mỹ. May mà hai nước Pháp và Mỹ là hai nước lớn lại có nền kinh tế vững mạnh trong khối Châu Âu! Ðúng là có đi ra ngoài mới thấy nước Mỹ là #1, đó là chưa kể đến vụ so sánh giá cả hàng hóa ở Mỹ và Châu Âu, hàng hóa ở Mỹ vừa nhiều vừa rẻ… Sau này về đến phi trường LAX tôi thấy thật nhẹ nhàng, thoải mái, tất cả đều được chuẩn bị phục vụ chu đáo nhanh gọn, lịch sự. Ðúng là “sweet home” Ôi ! “My beautiful America.” Bây giờ tôi mới cảm thấy thực sự yêu mến và tự hào về quê hương thú 2 của tôi: Nước Mỹ yêu dấu! Quả là:

“Phải chờ đến xế chiều
Ta mới thấy ánh sáng ban ngày rạng rỡ biết bao”!


Nói đến niềm tự hào về nước Mỹ, tôi lại nhớ đến sự việc trên chuyến Cruise Costal vừa đi! Ngày thứ hai lên tàu thì toilet trong phòng bị nghẹt, tôi gọi DT cho họ sửa mấy lần mà tình trạng vẫn không thay đổi, tôi phải xuống chỗ “Customer service” để xếp hàng đi khiếu nại. Thật ngạc nhiên khi họ “tỉnh bơ” cho biết không phải chỉ riêng phòng tôi mà các phòng ở tầng 2, 5, 8 đều bị như vậy, họ đang sửa, khi nào xong họ sẽ thông báo. Tôi bèn hỏi:

– Trong khi chờ sửa, thì khách giải quyết vụ toilet ra sao?

– Ði kiếm mấy cái toilet công cộng mà xài

– Nhưng chúng ở đâu?

Sau một hồi thắc mắc tới lui, họ mới chịu lục sơ đồ ra để tìm và cho biết một cái ở lầu 9, một cái khác ở lầu 4. Nghĩa là khi hữu sự phải “ôm bụng” chạy vòng vòng mấy tầng lầu để đi tìm cái toilet công cộng và xếp hàng chờ tới phiên! (Chắc là dân Châu Âu quen kiểu này rồi nên không thấy phiền!?). Trở về phòng, tôi bực bội kể lại cho chị bạn cùng phòng nghe (chị là bác sĩ hưu trí ở Ðức). Sáng nay chị đã là nạn nhân “ôm bụng” chạy vòng vòng, may mà tình cờ tôi nhớ ra cái toilet công cộng ở lầu 9 cạnh bên nhà hàng, nên chỉ cho chị. Do đó tôi tưởng chị là “đồng minh” bèn nói:

– Hệ thống phục vụ trên tàu quá tệ! Ðã vậy xem ra họ còn thản nhiên cho đó là chuyện nhỏ, không hề có một lời xin lỗi khách hàng. Ở Mỹ thì họ đã xin lỗi ríu rít rồi…

Không ngờ chị phản ứng mạnh:

– Mệt quá, Mỹ cái gì cũng tốt, cũng ngon lành hết! Dân Mỹ được nuông chiều quá hóa hư ! Bởi vậy trên thế giới, Mỹ đi đâu cũng bị chúng ghét, bị khủng bố cho chết hết là đúng rồi! Lúc nào cũng đòi hỏi thứ này, thứ kia, còn đòi xin lỗi…“nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột”…

Chị mắng cho một hồi “tràng giang đại hải” mà vẫn chưa hả cơn giận. Tôi ngơ ngác vì bỗng dưng mình bị “giũa” một trận te tua chỉ vì là “dân Mỹ” mà nào tôi có đòi hỏi điều gì cao cấp đâu, chỉ là những nhu cầu căn bản thôi (phải không quý vị?). Thôi “một sự nhịn chín sự lành,” nên tôi nín nhịn vì chị lớn hơn tôi nhiều, coi như mình nhịn “chị hai” trong nhà cho mọi chuyện êm xuôi tốt đẹp trong chuyến đi chơi! Suy ra mới biết tinh thần “bài Mỹ” ở các nước Âu Châu khá mạnh! (ghé vô Nga 1 ngày tham quan cũng phải nộp tiền làm đơn xin visa). Kiểu này qua các nước Trung Ðông chắc bị “xơi tái” quá!, nhưng tôi nhớ một lần (cách đây 5, 6 năm dân Mỹ qua Ai Cập thì lại được đối xử như VIP, đi đâu cũng được ưu tiên và có xe jeep hộ tống “tiền hô, hậu ủng” rất oai!
Hôm sau tâm sự với một chị bạn khác về nỗi ấm ức bị mắng oan! Chị trả lời:

– Chắc tại chị ấy ở Ðức lâu, nên ngấm tinh thần “tự tôn dân tộc” của dân Ðức, không muốn nước nào qua mặt! mà như vậy là tự ái dân tộc dỏm, vì dù gì mình cũng là người VN! (Chị cười)

– Ai bảo Mỹ giàu hơn, mạnh hơn nên dễ bị chúng ghét!

Tôi chán ngán:

– À thì ra vậy! hèn gì em nghe người ta thường nói “ở đời mình thua chúng khinh, mình hơn chúng ganh ghét, mình bằng chúng nói xấu.”

Không biết đến bao giờ các dân tộc trên thế giới sẽ sống với nhau trong tâm trạng “để hận thù người người lắng xuống” hầu không còn ai cảm thấy:

“Ðôi khi ta muốn thoát ly
Ði thật xa khỏi cuộc đời này
Xa lìa chuyện ganh đua với chê bai”
(L.H.H.)

Dù sao nhờ có đi ra ngoài, có dịp mở rộng tầm nhìn, có dịp so sánh, tôi mới biết trân quý hơn những điều tôi đang được hưởng mỗi ngày ở xã hội này, mà đôi khi quá quen, tôi cứ xem đó là lẽ đương nhiên, là chuyện thường tình (giống như trong đời sống gia đình có nhiều người có phước có được những bà vợ, ông chồng rất tốt, rất tử tế, nhưng họ không hề biết quý và cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên và bình thường! cho đến khi không còn nữa mới hối tiếc thì đã muộn!). Khi ý thức lại những tiện nghi của đời sống ở Mỹ mà tôi vẫn xem đó là chuyện bình thường, tôi mới biết đôi khi nó là niềm ước mơ của biết bao người trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng.

Họ không chỉ cần những nhu cầu vật chất căn bản của đời sống nhưng còn cần những nhu cầu căn bản về tinh thần (quyền làm người,quyền tự do…) mà họ khát khao nhưng không hề được đáp ứng! Xin cám ơn Chúa, xin cám ơn đời đã cho tôi có một cuộc sống tương đối an lành trên xứ Mỹ này, để từ đó tôi biết yêu thương và chia sẻ nhiều hơn với những mảnh đời bất hạnh khác nơi quê nhà, vì có thể “một tình thương cho cuộc sống đang chờ đợi ta” bởi:

“Tình yêu là trái chín của mọi mùa
Nằm trong tầm với của mọi bàn tay”

(Mẹ Theresa)

Tháng 9, 2013

Nỗi đau gửi theo



Phạm Quốc Bảo


(Tưởng nhớ đến Nguyễn Minh Diễm)

Cùng một lúc, từ nhóm bạn học chung P.C.B. (1) đầu thập niên 1960, nhóm nhân viên làm việc ở R.F.A ( Ðài Á Châu Tự Do)… đến nhóm bạn cùng lớp với An Thục Ðức (bà Nguyễn Minh Diễm), niên khóa 1954-60, ở trường Phan Chu Trinh Ðà Nẵng, “tấn công” tôi liên tiếp bằng những cú phôn và email, khiến tôi người cứ bần thần mà không thể tập trung để làm bất cứ một việc gì cho ra hồn cả: Lúc thì thấy nhẹ hẫng như đang sống trên mây, lúc lại bị cảm giác nặng trĩu như chỉ muốn nằm lăn ra đất mới đỡ khó chịu đi…









Nhà báo Nguyễn Minh Diễm.


Cả ba ngày hôm nay con người tôi sống như trong một cõi mộng du nào đó… Bỗng tự tôi nhớ lại là sau khi mất Ngô Mạnh Thu (cũng vào Tháng Tám năm 2004), cơ thể tôi đã ở trong trạng thái này.Và cả trên một năm nay, mặc dù tôi vốn đã tự mường tượng rằng cái tình cảnh này rồi cũng sẽ phải diễn ra. Ấy thế mà khi thực sự chuyện phải đến thì con người tôi vẫn không sao có thể khác được. Thì ra đúng là ở vào cái tuổi trên bẩy mươi, như cá nhân tôi bây giờ, có những điều xẩy ra ngoài hẳn cái khả năng kiểm soát của chính mình. Hay nói một cách chính xác hơn, càng lớn tuổi lại càng gặp nhiều hơn những trường hợp minh chứng rằng mình bất lực hoàn toàn đối với chính mình, trong cuộc sống.Gặp một người bạn thân, thân với tôi lẫn cả Diễm, tôi thổ lộ tình huống này của tôi. Vốn là một y sĩ, anh ấy đã khuyên tôi: Nên chịu khó ngồi lại mà viết ra. May thì tâm thần có thể sẽ giảm thiểu được phần nào cái áp lực nặng nề ấy chăng. Và thế là tôi cứ làm như đang thì thầm tâm sự với Diễm, những gì tôi đang còn nhớ được, mặc dù trong thực tế thì các cú phôn và những đoạn trong emails đều cho tôi biết là Diễm đã không còn… tỉnh nữa.

Vậy phải viết bắt đầu từ đâu nhỉ? …Thôi thì cứ những gì hiển hiện ra là mình đề cập đến…

Mấy năm nay, cứ mỗi lần nhắc nhớ về những năm học dưới trung học là Phạm Gia Cổn kể ra cái thời học trường Hàn Thuyên, có cả Minh Diễm trong nhóm các anh chàng nhà ở khu tam giác Cư xá Ðô Thành, chợ Vườn Chuối và chùa Tam Tông Miếu ; nhưng hồi ấy Diễm xuất hiện trong một dáng dấp khá là ‘hiền lành’ nên sau này hầu hết anh em bạn hữu cùng hai lớp ấy ít có cơ hội nhớ ra, trừ Cổn.

Thời học ở P.C.B. cũng vậy, cũng chỉ đếm trên đầu một bàn tay những ai còn nhận dạng được Diễm từ thuở ấy. Tuy nhiên, cùng học chung một niên khóa này mà sau đó bỏ sang học Văn Khoa Sài Gòn, cùng ban Triết, thì chỉ có Diễm với tôi. Nhưng hồi đó Diễm lại la cà thường xuyên, và dĩ nhiên là thân thiết hơn, trong băng “cá vàng” Văn Khoa cùng với Phạm Quân Khanh, Trần Lam Giang,… rồi Phạm Phúc Hưng (cử nhân Vật Lý bên Khoa Học) và Bùi Ngọc Tô (bên Nha Khoa). Còn Vũ Ngự Chiêu thì đến năm 1967 gì đó (tôi nhớ mang máng như vậy, không chính xác lắm đâu) mới chịu khó trở lại học ban Sử/Văn Khoa, sau khi đã là trung úy ‘đề lô’ cho binh chủng Nhẩy Dù. Nhưng lúc tốt nghiệp cử nhân giáo khoa Triết, thì trong những anh em ra trường cùng niên khóa duy nhất có một mình Diễm được chấm đậu hạng bình cho chứng chỉ Siêu Hình (hay Triết Tây?), một thứ hạng mà vào thuở ấy rất hiếm ai đạt được. Rồi sau đó Diễm đi dạy lai rai ở Sài Gòn, trước khi lên làm giảng viên của Văn Hóa Vụ, trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt…

Cho đến khoảng giữa Tháng Mười Hai năm 1980, sau một năm rưỡi bị liệt một bên người, tôi được thả từ Trại Số 5 (Yên Ðịnh,Thanh Hóa) và đi xe lửa về lại Sài Gòn. Trước khi vượt biển thành công (vào cuối Tháng Giêng 1981), tôi được Vũ Sinh Hiên cho ăn một bữa cơm gia đình để đời, tại nhà Hiên, ngay bên cạnh đường xe lửa cổng số 6 Phú Nhuận. Gia đình Hiên hồi ấy còn để ngay trước cửa nhà cái thùng bán nước đá và nước ngọt! Lan man thăm hỏi những người bạn cũ, tôi nhớ Hiên cho biết: Ðậu vẫn đi dạy, người tạm được cho là may mắn nhất trong bọn. Còn Diễm thì đã về tù và suốt ngày đang bận chạy mối hàng bán ngoài vỉa hè, thế mà vợ con vẫn cứ đề huề cả…

Mấy năm sau, tin tức Diễm đã mưu sinh khấm khá hơn nhiều nhờ cả nhà trụ vào gánh phở. Giữa thập niên 1990, nghe nói gia đình Diễm sang định cư ở Washington D.C. Rồi Diễm vào làm cho RFA, năm 1997, để cuối cùng được giữ chức trưởng ban Việt Ngữ RFA. Năm 2007, Diễm tình cờ được đề nghị chụp hình toàn bộ để khám bệnh thường niên, như một ý định để yên lòng gia đình nhưng bất ngờ, cũng nhờ đấy mà khám phá ra là chính Diễm đang bị nhuốm bệnh. Ðúng lúc ấy, trên đường từ Phần Lan về lại San Jose (Bắc Cali), ghé qua Washington D.C., Nguyễn Bá Trạc may mắn duy nhất trong nhóm bạn hữu được vào thăm Diễm tại nhà thương. Và dù được điều trị khỏi rồi nhưng theo gợi ý của cả gia đình, Diễm xin nghỉ làm việc luôn vào năm 2010. Thế là chàng ta cứ thanh thản đủng đỉnh mãi cho tới cách đây trên một năm…

Tính ra gần hai mươi năm sinh sống ở ngoài này, cứ mỗi lần có dịp xuống Nam Cali, vì việc sở hay vì chuyện gia đình (như hồi lo tang cho anh Khâm, đám cưới con trai Cổn…), Diễm đều gặp gỡ bạn hữu ít nhất là một buổi bù khú với nhau. Ðặc biệt cách đây mấy năm, tại quán Zen của Lý Kiến Trúc, tôi may mắn gặp được gần như cả đại gia đình: Viết đến đây tôi làm như thấy rõ mồn một hiện ra trước mặt những ánh mắt nụ cười tươi vui, tràn đầy hạnh phúc của vợ chồng Minh Diễm-Thục Ðức, nhất là của mấy đứa con và mấy đứa cháu nhỏ nhà Diễm…

Tháng Ba năm ngoái, 2013, Cổn và tôi lên Washington D.C., trước tiên là đến thăm Diễm tận nhà. Anh tỏ ra rất nhẹ nhàng tươi vui mà lại thân tình tiếp đón nồng hậu, cho biết mới dứt đợt “chemo” đầu tiên. Như gián tiếp chứng tỏ là đã khỏe lại và tinh thần phấn chấn, sẵn sàng vui chơi với bạn ở xa lên, Diễm hẹn sáng mai đến sớm, ăn xôi bà xã nấu sẵn, rồi sau đó chính anh hướng dẫn hai đứa chúng tôi cùng đi thăm Lê Thiệp và Ngô Vương Toại. Gần nhất, cách đây vài tháng, nhân buổi tủ sách Tiếng Quê Hương tổ chức ra mắt cuốn “Ung Thư Ơi, Chào Mi” của Lê Thiệp, nghe kể lại là Diễm đi gậy đến dự và phát biểu đại khái rằng con người ta có sinh thì có bệnh, ngay cả sự sợ hãi cũng là bệnh, bệnh tưởng, và người nào cũng đều có phần số riêng của người đó cả…

23 Tháng Bẩy

Nhắc sơ lại cái sườn đời sống của Nguyễn Minh Diễm như trên, thực tâm tôi muốn bầy tỏ rằng Diễm và tôi hai cá nhân ít nhất là đã khá may mắn thoát được ra khỏi nước, như một trong vài điều kiện có thể tạo nên cơ hội để chúng tôi sống và làm việc một cách đường hoàng hơn ai khác, trong số những bạn học cũ còn kẹt lại sau Tháng Năm-Bẩy Lăm. Nhưng so sánh giữa hai chúng tôi thì rõ rệt Diễm đã thông minh-giỏi và nhất là nỗ lực trong đời sống hơn tôi nhiều. Cái cá nhân tôi nhỏ bé, nhìn lại cuộc đời mình, tôi tự nhận thấy mình chỉ thích hụ hợ vui chơi hơn bạn nhiều. Xưa nay tôi vẫn cho là cuộc đời của con người mới đáng kể hơn cả. Chính nhờ từng trải trong cuộc sống mà người ta mới hình tượng ra thiên đàng và địa ngục, như là mấy cái cột mốc sống còn để người ta tự dè chừng và cố gắng vươn tới trong đời. Nếu đúng như vậy thì lẽ ra cá nhân nào luôn luôn nỗ lực và cố gắng sống cho lương thiện thì cần phải được sống dai hơn so với những ai lười biếng và gian ác chứ!

Diễm và tôi bằng tuổi nhau, thế mà bây giờ tôi vẫn sống nhăn… Thì ra đúng như người ta vẫn nghiệm thấy thực tế trong cõi đời này: “Người thông minh, sống giỏi giang và luôn luôn lương thiện thì dễ bị kiệt sức, mất sớm.” Nghĩ vậy mà tôi cảm nhận được cái nỗi đau một cách đầy “trái khoáy” ấy đang dầy vò trong tâm trí tôi…

Cách đây tám năm, 2006, cũng vào Tháng Tám, mùa Hạ, Ðỗ Ngọc Yến – Ðào Mộng Nam – Nguyễn Văn Diên đồng loạt ra đi vào cõi vô cùng. Tôi nhớ lúc ấy tôi đã có viết một bài lấy tên là “Vị Cay Của Hạ.” Mùa Hạ năm nay, đối với cá nhân tôi, thì rõ rệt không chỉ có vị cay không thôi mà còn đau đớn nữa. Nỗi đau mang nặng không những của mấy bạn hữu còn ở lại cõi đời này mà của cả những người đã và vừa ra đi. Nỗi đau của cả một lớp thân hữu đã từng có một thời học chung và cùng trải qua những bước đường sống còn gập ghềnh khúc khuỷu của trên sáu mươi năm nay…

Tự nhiên tôi nhớ đến đoạn thơ chót bài “Khóc Bạn” (1902), Nguyễn Khuyến sáng tác cách đây cả trên một thế kỷ:

“…
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở
Tôi tuy thương lấy nhớ làm thương
Tuổi già hạt lệ như sương
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan.”
(04, Tháng Tám, 2014)


Ghi chú:

(1) Viết tắt của Physics-Chemistry-Biology, chứng chỉ Lý-Hóa-Sinh thuộc văn bằng cử nhân của Khoa Học, đồng thời cũng là năm dự bị để được tuyển lựa vào học năm thứ nhất phân khoa Y Khoa, Viện Ðại Học Sài Gòn.

Ông và cháu trên con đường ngược chiều



Nguyễn Thị Thêm


LTS: Bài này được trích đăng từ trang mạng của hội cựu học sinh Ngô Quyền(http://www. ngo-quyen. org/), tựa đề “Ông và Cháu” của tác giả Nguyễn Thị Thêm. Mời đọc một câu chuyện thật cảm động… Cầu xin ơn trên phò hộ cho chúng ta sống khỏe: Nhớ tập thể dục thường xuyên để tránh bệnh tật… Và hãy yêu thương, trân trọng người bạn đời của mình dù khỏe mạnh hay yếu đau. (Titan Tran: [email protected])


Cuối tháng này là sinh nhật cháu tôi. Ðứa cháu trai duy nhất trong gia đình. Ðứa cháu nội mà tôi thương nhất. Chẳng phải tôi thiên vị vì nó là con trai hay là vì nó là cháu nội. Mà vì nó ở quá xa. Nó lớn lên từng ngày không có tôi bên cạnh. Nhiều khi nhớ quá muốn ôm nó vào lòng mà hai tay trống rỗng. Muốn đi thăm nó thì ông chồng già chẳng biết bỏ cho ai. Thằng con trai cứ năn nỉ, “Má ơi! Qua đây một chuyến. Con sẽ đem má đi khắp Âu Châu cho biết với người ta.” Tôi cười cầu tài nói cho con yên lòng. Nhìn ông chồng đau yếu mà thương. Thôi đành thúc thủ.









Hình minh họa.


Tôi đã có viết một bài về “Hai Ông Cháu” khi cháu tôi mới vài tháng tuổi. Bây giờ còn một tuần nữa cháu tôi sinh nhật lần thứ hai. Tôi nhìn chồng mình càng ngày càng yếu để thấy sự đào thải của thời gian và thân phận của kiếp con người.

Ngày xưa, lúc cháu được vài tháng tuổi, mỗi lần đi đâu con dâu đem một giỏ tã, sữa cho con, còn bà nội cũng lè kè một túi cho chồng. Mỗi khi cần vào phòng vệ sinh thay tã, bà nội lại nhờ con dâu xem chừng phòng nữ có vắng hay không rồi đem chồng vào làm vệ sinh. Xong xuôi cháu cũng sạch mà ông cũng sạch.

Bây giờ cháu đã bỏ tã, nó mặc quần lót đàng hoàng. Lần đầu tiên bỏ tã, trên webcam con trai bảo nó kéo quần xuống cho nội xem. Nó mừng rỡ chỉ cái quần lót hình Superman bí bô khoe. Bà nội chẳng hiểu cháu nói gì, chỉ cười cười. Thương quá đỗi!

Còn ông nội, ngày xưa chỉ mang tã lúc đi đâu hay những lúc cần. Bây giờ ông phải mang tã cả ngày vì ông cũng không biết lúc nào mình cần giải quyết. Những ngày quan trọng cần thiết, bà nội mang khẩu trang, đeo găng tay làm y tá giải quyết những cục nợ đời hôi tanh mà ông không có sức rặn ra. Những ngày đó tã thay không biết bao nhiêu cái.

Bây giờ cháu đã biết đâu là phòng vệ sinh để vào, còn ông thì phòng vệ sinh ngay trước mặt cũng không biết mà vô, bà nội nắm tay ông lôi vào và làm từ A tới Z. Cháu bây giờ đã biết bắc ghế đứng lên tự đánh răng. Còn ông nội thì bà nội phải đưa ly vào miệng cho ông từng ngụm nước. Bỏ kem vào bàn chải và giúp ông đánh răng. Xong lau mặt, lau tay đưa ông ra khỏi phòng.

Kết luận bây giờ, hai năm sau cháu đã vượt qua mặt ông cái vù về phương diện vệ sinh cá nhân.

Vấn đề ăn thì sao? Cháu bây giờ đã biết ngồi ăn chững chạc dù mẹ phải đút, bởi không đút là cháu ham chơi ăn không no. Cháu tự múc ăn khi nào đó là ăn chơi hay cháu thật đói. Còn ông thì bây giờ hoàn toàn không chủ động. Ðút gì ông ăn đó, ăn xong thỉnh thoảng càm ràm bà nội, “Sao từ qua tới nay không cho tui ăn.”

Cháu bây giờ rất gọn gàng không cần khăn, còn ông nội thì phải một cái khăn lót ở dưới để hứng thức ăn rơi. Một cái khăn nhỏ ở trên để lau miệng. Do đó về phương diện ăn uống cháu tiến bộ hơn ông.

Ngày xưa cháu đi tắm phải có cái thau riêng, cháu nằm trong đó cho mẹ kỳ cọ. Bây giờ cháu có thể đứng trong bathtub cho cha, mẹ thoa xà bông và xịt nước ấm. Còn ông nội giờ này cũng tệ như xưa. Càng tệ hơn sau khi xong xuôi, bà nội bảo giơ chân lên để mặc tã, ông cũng đứng im. Những giọt nước miếng cứ nhểu lòng thòng rơi trên đầu bà nội. Khi bà vỗ vỗ vào chân ông, nói, “Chân này nè ông, giơ chân lên!” thì ông mới giơ chân lên. Có hôm ông giật mình kéo mạnh chân tống vào càm bà nội bầm một cục.

Ờ mà còn cái vụ nhểu nữa chứ. Cháu bi giờ ngon lành hơn ông nhiều. Cháu hết nhểu, đẹp trai ra, biết nhận diện đâu là mắt, mũi, miệng. Còn ông nội thì càng ngày tốc độ nhểu càng trầm trọng. Không có thuốc men hay phương pháp nào chận lại nổi. Bà nội dùng kim gút gài một cái khăn bên áo để bà nội chùi cho ông để khỏi chạy đi tìm. Ông không thích cái khăn lòng thòng nên giựt tét cả áo, đứt kim băng. Bà nội phải mặc ngoài một cái áo che lại. Khi cần bà lôi khăn ra lau, xong nhét lại. Thế nhưng nước miếng ông vẫn nhểu dài theo nền nhà theo mỗi bước chân đi. Bà nội lúc nào cũng chuẩn bị khăn lau nhà. Thỉnh thoảng bà lại đạp khăn dưới chân xóa đi dấu vết cho đỡ trơn trợt và cũng để mấy đứa cháu ngoại khỏi gớm.

Cháu nội hôm nay đã có bạn, biết các trò chơi và tung tăng như chim sáo. Còn ông thì càng ngày càng quên, càng lẩm cẩm. Mỗi khi đi đâu bà nội nắm tay ông tình tứ như một cặp tình nhân. Nhưng thực ra là giữ ông cho khỏi đi lạc. Ông rất thích tự do. Ờ mà tự do ai lại không thích. Nhưng tự do trong trật tự. Thế nhưng ông nội nào biết trật tự là gì. Buông tay ông ra là ông đi, không cần biết điểm đến và đi đâu. Bà nội lạc ông mấy lần nên sợ lắm. Bà giữ tay ông trong bàn tay già yếu nhăn nheo. Thế nhưng đôi khi ông gặp một người không quen, ông vẫn nhào tới miệng lắp bắp nói không ra lời và hay lôi bà nội chạy theo họ. Ông la, “Bạn tui, bạn tui.” Bà nội biết tẩy của ông nên ngọt ngào dụ dỗ, “Biết rồi! Họ ra xe đợi mình đó. Ði chợ xong mình sẽ gặp,” có vậy ông mới chịu nghe lời và đi theo bà.

Cháu nội bây giờ đã biết nghe lời cha mẹ. Mỗi khi làm điều gì sai, mẹ cháu bắt xin lỗi, nhận được từ ai cái gì cháu biết nói cám ơn. Cháu đã bắt đầu học để nhận biết đúng, sai. Còn ông nội tháng ngày trôi qua ông nội càng mù mịt đúng sai. Cái gì ông muốn là ông làm, ông không muốn thì đừng hòng ép. Khi cần đứng lại thì ông cứ đi. Khi muốn ông đi thì ông lại đứng yên một chỗ. Kéo ghì không nhúc nhích. Năn nỉ một hồi ông mới chịu cho kéo đi. Khi cần ông nói thì ông làm thinh, tiếng nói không thoát ra ngoài miệng được, chỉ lầu bầu, lịch phịch theo nước miếng.

Nhưng khi ông nói chuyện với những gì ông thích, với những bạn bè ảo tưởng của ông thì ông nói ra tiếng, mạnh mẽ và đầy sức sống.

Cho nên hai ông cháu đã đi ngược chiều với nhau, mỗi lúc càng không còn giống nhau như xưa nữa. Mỗi khi vào webcam nói chuyện, cháu chỉ trên màn ảnh, “Bà nọi, bà nọi. My bà nọi.” Còn ông chỉ nhìn cháu như nhìn một cái gì lờ mờ không quen biết. Cặp mắt lơ đãng, ánh nhìn tỉnh khô, môi xệ xuống, nước miếng lòng thòng chảy ra.

Tuy nhiên hai ông cháu cũng có điểm na ná giống nhau là dỗi hờn. Khi cháu dỗi cháu lăn xuống đất nằm đạp lòng còng. Cha, mẹ cháu kêu đứng dậy và bảo xin lỗi, nếu không sẽ phạt time out. Còn ông nội, ông hay hờn mát. Mỗi khi như vậy ông bỏ đi nằm và bỏ ăn. Cả nhà năn nỉ, dụ ngọt cả buổi trời ông mới ngồi dây ăn uống…

Chỉ hai năm thôi, hai năm trôi qua cho tôi thấy một lực hút cuốn mọi người xoay chóng mặt. Ðứa cháu ngày nào mới biết lật giờ đã là một cậu bé dễ thương tinh nghịch, ngây thơ. Cháu đang học mọi thứ để tập sự những ngày bước vào trường mầm non. Còn ông thì mòn hết mọi thứ để đi vào con số không của cuộc đời. Ông như một cây đã cạn hết nhựa. Sống trong một trạng thái mơ hồ và làm theo quán tính của mình.

Người lính của tôi giờ đây già thật rồi. Giả sử chàng không bệnh như hiện nay thì theo thời đại Internet, chàng của tui cũng quậy chẳng thua ai. Chàng sẽ có biết bao nhiêu bạn bè, đồng đội thật để mà hẹn nhau tán gẫu, bàn chuyện cà phê cà pháo, chuyện trên trời dưới đất, chuyện nước nhà, chuyện thế giới, chuyện chân dài chân ngắn, chuyện “cơm”, chuyện “phở.” Lúc đó tôi chỉ là bóng mờ bên cuộc đời đầy màu sắc của chàng.

Ông trời đã cho chàng sống sót sau bao nhiêu năm tù tội gian lao. Ðã cho chàng cùng tôi sang đây để xây lại một mái gia đình hạnh phúc. Và bây giờ đã cho chàng ở bên tôi hàng ngày, hàng giờ như tôi đã từng ước mơ, cầu nguyện.

Ông trời đã đùa với tôi. Ổng háy một bên mắt và cười, “Con ạ! Con xin gì ta đã cho con điều đó. Con ước nguyện có chồng một bên không rời xa dù cực khổ bao nhiêu con cũng chịu. Cảm thương con ta cho con toại nguyện. Ta cho nó bên con không rời xa nửa bước. Chúc con hạnh phúc!”

Và thế là tôi ôm lấy niềm hạnh phúc ơn trên ban cho tôi và giữ lấy nó bằng cả trái tim.

Trái tim của một người phụ nữ Việt Nam yêu chồng.

Thơ Trầm Vân


Tháng Bảy Nhớ Thương


Lại về Tháng Bảy mưa ngâu
Ngưu Lang Chức Nữ gặp nhau trên trời
Vỡ òa nỗi nhớ lệ rơi
Nhịp cầu Ô Thước ngậm ngùi bắc ngang


Lại về Tháng Bảy Vu Lan
Thương cha nhớ mẹ võ vàng lòng con
Võng nghiêng tiếng mẹ ru thương
Bàn tay cha dắt đến trường ấm sao


Ấu thơ, chuồn đậu bờ ao
Giờ lòng con đậu lối nào cõi xa?
Ðội đầu ơn mẹ công cha
Bên mâm cơm cúng lệ nhòa khói hương


Nước trôi lại chảy về nguồn
Ðời con phiêu bạt vui buồn về xưa
Vu Lan vọng tiếng chuông chùa
Bóng hình cha mẹ như vừa thoảng qua


Cho con được đấm lưng cha
Nép vào bên mẹ hiền hòa từ tâm
Cúi đầu tạ tội lỗi lầm
Thịt da xin nhận mấy lằn roi thương.

(Nguồn: daihocvankhoasg@yahoogroups)

Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh


Bóng Biển Bóng Sông



Biển ơi

1.
Bóng em áo màu trăng huyễn ảo
Hạt lệ ngân thành tiếng sóng
Tiếng sóng đêm đêm rợn tiếng khóc
Tiếng khóc đêm đêm vỡ giấc mơ
Cát đêm rất mặn
Những mảnh thuyền dao cắt
Những con ma nhìn em cúi mặt
Những con ma ăn thịt người tanh mùi quỉ dữ
Nhờ nhờ dưới màu nguyên sơ ánh mắt em
Tha Sala em ơi biển động về hư không*
Bóng em bản thông điệp máu thời mạt pháp
Bóng em áo màu trăng ngây thơ
Bóng em mảnh ván thuyền vĩnh quyết
Bóng em biển một thời cuồng phong
Bóng em thời gian miên viễn
Ðêm nay, em nghe, tôi nghe, người nghe
Tiếng chuông những trái tim
Bồng em từ biển người bay về cố quận
Một dải biển thơm mùi khói hương ruột thịt
Ðón em về.
Tha Sala em ơi biển động về mỗi trái tim


2.
Bóng mẹ ngồi khung xương cong
Bóng thịt bóng da
Bóng đập phập phồng trái tim mẹ
Biển vời vợi xa
Biển không theo con về với khoang cá đầy
Nuôi vợ nuôi con nuôi mẹ nuôi dân chài những đời rất nhỏ
Biển theo con đi vào hàm cá mập
Hàm cá mập thời hải lý răng cưa chiếc lưỡi bò vẽ vòi bạch tuộc
Bóng mẹ khô
Ôi con không về nữa


Bóng vợ lô xô cát mặn
Nón trắng xếp hàng như nón tang
Bóng vợ nhấp nhô đêm
Xa khơi đèn biển lập lòe mắt mộng
Biển chở về những con sóng lạnh,
Âm âm tiếng đàn ông reo tiếng cá
Trôi đi đâu những con thuyền bé miệng
Bóng vợ oằn như sâu
Máu nóng đau chờ. Biển sợ
Ôi chồng không về đâu


Biển từ thuở êm bắt đầu viết trên sóng đường đi đẫm máu
Biển từ thuở hòa lệ mẹ lệ vợ lệ con
Muối có thể mặn thêm
Lệ không thể khóc thêm
Hoàng Sa ơi biển động về mỗi trái tim


Sông ơi


Mẹ bản nghèo
Chiều nay bên bờ sông lặng lẽ
Sông dạt về những bóng xác lạnh
Nhấp nhô con đò vỡ
-Con đò làm từ giấy bạc lòng tham-**
Sinh mạng em chiếc lá rừng bay
Hồn em hóa bướm bên sông
Rừng bản dập dềnh bướm trắng
Em bay về đâu…
Chiều khách về qua sông
Ảo ảnh chiếc đò chở em đi học
Ðó là chiếc thuyền rất chắc chắn
Ðàn bướm kết trong giấc mộng
Ðưa em sang sông và lành lặn trở về


Biển cúng
Sông cúng
Oan hồn thảm tử
Ðất ngập nước mắt
Trời mờ khói hương
Biển khóc
Sông khóc
Hạt nước mắt nghìn năm
Hôm nay hóa cọc Bạch Ðằng.


Ghi chú:

* Tha Sala, Em Ơi Biển Ðộng Về Hư Không, Lê Ðại Lãng.
** Sổ Tay Thường Dân Tưởng Năng Tiến, Những Ánh Mắt Con Cuông.






Tháng Bảy và hoa Larkspur


Larkspur đầu mùa
Bật tiếng reo
Tỏa sáng đi. Tan đi.
Như nắng đang nạm bạc những con sóng đổ vào bờ Laguna
Như gió đang chở hương
Cánh én nhỏ. Gọi Phi Yến
Ðánh thức ánh sáng ngái ngủ dưới tàng cây
Mùa hè mọc lên từ những bụi hoa nơi ghềnh đá
Màu tím pha huyễn xanh vào ánh mắt những cô gái đang chạy bộ
Những bước chân bay mùi cát và muối biển
Chuông sóng. Gọi anh và em
Trên con đường sinh nhật có hàng cây cọ thắp nến
Gió thổi rạo rực
Thắp ngày cháy lên những tia nhọn đầu lá
Trong veo đồng ca
Thánh đường mùa hạ. Tháng Bảy. Và mùa hoa larkspur
Anh đính ước bằng chuỗi đàn én bay
Trên vòm tóc em. Hạ nào xưa


Những cánh hoa lao xao
Phi Yến ơi mùa xuân gieo hạt đã xa
Cọng rơm tháng 7 đang hút no nắng cánh đồng hạ
Nói với nhau về một vụ mùa
Tình yêu chín ửng
Anh hái tặng em ánh nhìn của ban mai
Hạt pha lê quý nhất em có được
Con đường óng ánh ngôn ngữ của những lời thơ tình
Hóa em thành con én trên đường bay những ý nghĩ của anh.
Ðiểm mùa xuân em nương náu


Cho em được trở về mùa thơ lãng mạn
Những thi sĩ của mặt trời mặt trăng mặt đất bình yên
Và nụ cười đôi cánh. Thả xuống
Tháng Bảy tràn tiếng ríu rít
Hãy tỏa hương đi
Những nốt nhạc bé con. Xanh. Và tím
Hãy nhảy nhót như cặp tình nhân kia
Trong vũ điệu mùa hè
Biển Laguna dồn dập nhịp tim
Và nhịp gió bàn tay anh. Trong tóc em


Trước khi Tháng Bảy rụng xuống theo bóng tối
Biển chìm vào đêm
Ánh nến trên hàng cọ lụi tàn
Những cánh hoa bay xa
Bỏ lại thánh đường cô đơn mùa hè âm vang tiễn biệt

(7.2014)
(Nguồn:
sangtao@org)


Ghi chú

Hoa Larkspur, tên việt là Phi Yến, nở vào mùa Hè, cánh hoa như những cánh én bay, màu xanh, tím, hồng.

Xe Lên Xe Xuống (Kỳ 65)


Kỳ 65


Nguyễn Bình Phương


Bản thân lái xe đã gặp hai lần. Mình hỏi những con ma đó mặc gì thì lái xe đáp không rõ lắm, chúng cứ mờ mờ ảo ảo thế thôi. Thi thoảng ma còn xin đi nhờ xe máy của mấy cô giáo xóa mù. Hôm nào trở trời thì ma kêu nhiều, tiếng kêu giống như mèo động tình, lảnh lói, rợn gáy.

Những người đàn ông đi săn đêm hay gặp ma, chúng quẩn lại thành từng đám, trôi dạt vật vờ. Cũng có những con ma hung hãn, thù hận chuyên rình cơ hội để lôi người sống xuống vực. Từ ngày chấm dứt trận chiến, người ta phát hiện ra khu vực dốc này hay xảy ra tai nạn thảm khốc. Huyện đã kín đáo mời hẳn một thầy mo khét tiếng từ Tràng Ðịnh sang làm lễ nhưng cũng chỉ giảm phần nào. Tai nạn vẫn cứ xảy ra, vài tháng lại một vụ ô tô mất phanh xé toang rào chắn bằng thép phi thẳng từ đỉnh cao nhất xuống và mất hút trong những tán cây ở dưới vực. Cách đây hơn tuần một chiếc bảy chỗ chở đoàn tham quan của sở giáo dục tỉnh lân cận cũng mất lái rời khỏi đường. Phải mấy ngày trời mới gom góp đủ các mảnh thi thể để đưa về tỉnh làm lễ truy điệu. Xác xe giờ vẫn còn ở đó. Lái xe nói chính xác tên của người lái chiếc Nissan bảy chỗ kia nhưng mình thì lại chú tâm nhớ tới chi tiết còn thiếu cái đầu của cô giáo trẻ nhất.


Một trinh nữ thực thụ vì chưa có người yêu. Tuồng như cho rằng nín nhịn thế là đủ rồi, hắn đột ngột lên tiếng chuyển chủ đề quay lại vụ cao bành trướng. Hắn bảo đã thấy nhiều chuyện lạ kỳ rùng rợn nhưng chưa bao giờ chứng kiến vụ nào kỳ quái như vụ ăn phải cao bành trướng của cái ông ở cuối thị xã. Ông này mua ba lạng cao, nghe nói là cao ngựa bạch, đem về ăn, mới chỉ được non nửa lạng, người đã nứt ra, béo đến mức không phanh kịp, cái đầu húp híp như thủ lợn mắt ngày càng khíp lại và từ hai mí biến thành một mí hơi xếch lên. Rồi thì tự dưng lại đổi sang nói tiếng quan hỏa làu làu khiến ai cũng ớn. Người đàn ông ấy phải nhịn ăn đến cả tháng trời, chỉ húp tí nước lã lót dạ. Khi đã trở lại bình thường, ông ta kể lại trong thời gian bị béo, đêm ngủ toàn mơ thấy phong cảnh lạ, không có núi non mà có bình nguyên đẹp, cỏ óng ánh trườn tới tận chân trời. Mà ở cái tỉnh này thì bói đâu ra một bình nguyên đẹp và rộng đến thế. Kết luận cuối cùng là ăn phải cao bành trướng và suýt nữa thành họ. Mình bật cười vì câu chuyện ấy, bảo tại sao lại có thể suýt nữa thành được khi mà mình với họ rất khó phân biệt. Hắn bảo, mình là mình, họ là họ, chẳng dính dáng gì tới nhau cả. Mình vặn lại, mình với họ khác nhau ở điểm nào thì hắn lúng túng nói càn đi rằng không cần quan tâm, chỉ biết là dứt khoát không thể giống nhau được. Mình phát cáu vì lý sự cùn của hắn, liền phì một tiếng như tiếng rắm.


Lái xe lắng nghe, mắt vẫn canh chừng con đường.


Trang ngó ra ngoài, lấy ngón tay út nhỏ nhắn miết lên mặt kính, miết đi miết lại như chỉ còn mỗi động tác ấy là tồn tại.


Im lặng một lúc lâu vì hình như hắn đang nghĩ ngợi. Rồi đột nhiên hắn lên tiếng. Hắn bảo bao đời nay họ cứ nhăm nhe thịt mình, mà không thịt được chỉ vì mình biết cười xòa, còn họ thì không. Vì giỏi cười xòa cho nên mình trở thành ẩn ức của họ.


– Anh có sưu tầm được tờ truyền đơn nào của bọn họ không?


Lái xe hỏi hắn nhưng lại khiến mình giật thót. Hắn không trả lời ngay mà ầm ừ trong cổ như kiểm tra lại, sau đó mới đáp:


– Hình như có mấy tờ.


– Công nhận là truyền đơn của họ đẹp hơn của mình.


Lái xe nói, hơi chút mơ màng.


Lúc nhắc tới truyền đơn ấy, trong đầu mình lại hiện lên cuộc rượu của đám cựu binh giữa đêm trăng rực sáng dưới chân núi mà cậu đưa mình tới. Bọn họ cũng đả động tới truyền đơn, nhưng không thán phục vì in đẹp hay không đẹp mà chỉ coi đó như một chi tiết phụ trang trí cho những kỷ niệm. Và mình còn nhớ khi rời khỏi cuộc rượu của đám cựu binh, những nét chữ nguệch ngoạc của anh cứ chờn vờn hiện ra trong đầu mình. Mình nhớ như thế.

Bốn người bị đâm chết ở Santa Barbara County


GOLETA, California (NV)
Một người đàn ông 46 tuổi vừa bị cảnh sát bắt sáng Thứ Ba vì bị tình nghi đâm chết bốn người trong một căn nhà ở Goleta, Santa Barbara County, miền Trung California, theo một bản tin của nhật báo The Los Angeles Times.









Cảnh sát Santa Barbara County đưa thi thể các nạn nhân ra khỏi căn nhà ở Goleta. (Hình: AP Photo/The News-Press, Steve Malone)


Sở Cảnh Sát Santa Barbara County cho biết họ bắt đầu điều tra vụ án khoảng 11 sáng Thứ Hai, tại căn nhà ở đoạn đường số 600 Walnut Park Lane.


Giới chức điều tra từ chối cho biết ai đã gọi cho họ, hoặc làm sao họ biết chính xác căn nhà xảy ra án mạng, nhưng nói rằng họ phát hiện nghi can trong căn nhà và bắt người này.


Cả tên của bốn nạn nhân lẫn nghi can đều không được tiết lộ, nhất là đối với nạn nhân, vì còn chờ báo tin cho người nhà của họ biết, cảnh sát cho biết.


Cảnh sát cũng phát hiện một con chó trong nhà bị đâm chết.


Giới chức điều tra tin rằng nghi can hành động một mình, và bắt giam nghi can với tội tình nghi giết người.


Goleta là một thành phố nhỏ tọa lạc gần đại học UC Santa Barbara và thành phố Isla Vista, một khu dân cư gần biển mà hồi năm ngoái nghi can Elliot Rodger nổ súng loạn xạ làm chết sáu người. (Ð.D.)

Cảnh sát: ‘Robin Williams treo cổ bằng dây thắt lưng’


TIBURON, California (NV)
Tài tử Robin Williams đã treo cổ bằng dây thắt lưng sau khi vợ ông đi ngủ tối Chủ Nhật.


Yahoo News trích lời ông Keith Boyd, cảnh sát trưởng của Sở Cảnh Sát Marin County, cho biết trong một cuộc họp báo sáng Thứ Ba.


Theo ông Boyd, bà Susan Schneider, vợ cố tài tử Williams, đi ngủ vào lúc 10 giờ 30 tối.









Một đài tưởng niệm dã chiến được đặt trước nhà hát Broadway, New York, để tưởng nhớ tài tử Robin Williams. (Hình: Michael Loccisano/Getty Images)


Trong khi đó, ông Williams đi vào một phòng ngủ khác trong căn nhà của họ ở Tiburon, một thị trấn nhỏ ở phía Bắc San Francisco.


Ðến sáng, bà Schneider rời nhà, nghĩ rằng chồng mình còn đang ngủ.


Sau đó, một phụ tá của ông Williams đến nhà, lo ngại cho ông, đi vào phòng ngủ, và phát hiện thi thể của tài tử kiêm danh hài từng đoạt giải Oscar nằm bất động, vào lúc khoảng 11 giờ 45 phút sáng.


Theo ông Boyd, tài tử Robin Williams bị chết vì ngạt thở. Người xấu số có mặc quần áo và thân thể bị treo trên một dây thắt lưng nhét vào giữa cánh cửa tủ quần áo và khung cửa.


Ông Robin Williams được xác định chết lúc 12 giờ 2 phút hôm Thứ Hai.


Cổ tay của ông Williams cũng có nhiều vết cắt sâu, có thể do ông sử dụng một con dao mà cảnh sát thấy nằm gần thi thể.


Kết quả giảo nghiệm tử thi được thực hiện tại Sở Cảnh Sát Napa County và được hoàn tất sáng Thứ Ba.


Tài tử Robin Williams trước đây nghiện ma túy và rượu, từ thập niên 1980.


Sau một thời gian cai nghiện, gần đây, ông cho biết uống rượu trở lại.


Cách đây vài tuần, gia đình có đưa ông đến một cơ sở cai nghiện.


Tài tử Robin Williams sinh năm 1951, nổi tiếng hài hước qua các vai diễn trong Good Morning, Vietnam (1987), Dead Poets Society (1989), Awakenings (1990), The Fisher King (1991), Good Will Hunting (1997), đặc biệt là phim Mrs. Doubtfire (1993).


Ông đạt được nhiều giải thưởng quốc tế về diễn xuất như hai giải Emmy Awards, bốn giải Golden Globes, năm giải Grammy Awards, và nhiều giải khác.


Ðại diện của tài tử Robin Williams nói với báo giới rằng: “Ðây là một mất mát đau thương và bất ngờ. Gia đình ông xin được tôn trọng sự riêng tư trong giai đoạn khó khăn này.” (Ð.D.)

Seattle food truck sampler: From vegan to Vietnamese


By Captain and Clark, USA TODAY



Seattle has almost too many food trucks to count. Like all things in the Pacific Northwest, they are built on a solid foundation of unique taste and fresh ingredients. The vast majority of the city’s food trucks are constantly traveling from location to location. To find the one you’re looking for you often need to check seattlefoodtruck.com to pin down the right truck, the right time and the right day. We delved into the gorgeous South Lake Union district to get a taste for some of the finest mobile food Seattle is dishing up.







Seattle food truck sampler: From vegan to Vietnamese




Xplosive’s spicy FUSE tacos offer up a balanced palate of corn tortillas, jalepenos, lemongrass chicken, carrots, onion and cilantro. (Photo: Captain and Clark)


One truck that really stands out for us is Plum Burgers. Plum Bistro is a popular Seattle spot known for its vegan menu. The gourmet food truck doesn’t disappoint either. With vegan burgers like the Jerk+Yam (grilled Jamaican spice tofu, yam, pickled cabbage, caramelized onions and tomato) or our favorite, the Buffalo Portobello (panko crusted portobello, ranch aioli, cucumber, caramelized onions and seasonal greens), it’s easy to see why this is a local favorite.


If you’re more of a carnivore though, don’t despair. Nosh is a hip local favorite that prides itself on classic dishes with modern twists. If fish and chips or herb basted rabbit (local and sustainable, of course) tickle your fancy, this is the truck for you. The serpentine line that wrapped around the Nosh truck was all the recommendation we needed.

Read the full article by Captain and Clark from USA TODAY.

Cụ Bác Sĩ Dương Cẩm Chương

Seniors home marks milestone for Vietnamese Canadians


By Nicholas Keung, The Star



If founding an ethnocultural-specific senior home is a reflection of an immigrant community’s coming of age, Vietnamese Canadians have just reached a milestone.







Seniors home project marks milestone for Vietnamese Canadian community




Thi Chau Vo, 91, and Van Hoa Duong, 81, enjoy the serenity of the Vaughan site where a 200-bed elderly care facility is planned for Vietnamese seniors. (NICHOLAS KEUNG / TORONTO STAR)


The 100,000-strong community in the GTA envisions, along a tree-lined side road in Vaughan, a not-for-profit elderly care facility with three wings that can meet the linguistic, cultural and dietary needs of Vietnamese-speaking seniors.


The recent purchase of a 5.6-acre, $2.8-million property on Pine Valley Dr. is a major step toward realizing that dream. It’s hoped the 200-bed Golden Age Village for the Elderly can be erected there in five years, to serve the generation that arrived here largely in the late 1970s-80s “boat people” migration, after the Communist takeover of South Vietnam.


“Most of these seniors in their 60s and 70s do not speak English. Their second language is French,” said Kien Le, vice chair of the board, whose family came to Canada as refugees in July 1975 via the Philippines.


“They don’t have much option. The food at other nursing homes is not to their taste palate. They feel cut off and depressed. It’s not good for their mental wellbeing. That affects their physical health. That’s the main reason for us to start this project.”


Dubbed Tuoi Hac in Vietnamese, meaning “long-lived like a crane,” the project was launched in 2012 by a group of volunteers who had become increasingly aware of the growing needs of the aging community in the GTA. Currently, volunteers run recreational programs such as Tai Chi classes in an existing office building.


“Our elderly sacrificed their lives to give their children, grandchildren, freedom and a better life in Canada. They worked in factories to send us to school and had no time to learn English,” said Thanh Nha Nguyen, a member of the board working on the $40 million project.


“I have volunteered to visit Vietnamese seniors in other (mainstream) nursing homes. They feel so isolated and depressed. It feels so sad. Now is our turn to take care of them,” added Nguyen, an investment banker who came here with her family in 1983.

Read the full article by Nicholas Keung from The Star.

We lost Iraq like we lost Vietnam – by abandoning it


By Seth Lipsky, Haaretz



As to the question of why the Iraqi army has been failing to stand and fight as the Islamic State advances, I have a theory. It’s not that the Iraqis are any less courageous than other soldiers around the globe. It’s not that the government is corrupt. It’s that they have read a long-ago editorial in the New York Times called “Commitment?”







We lost Iraq like we lost Vietnam - by abandoning it




Iraqi Kurdish Peshmerga fighters monitor the area from their front line position in Bashiqa, a town 13 kilometres north-east of Mosul on August 12, 2014. Photo by AFP


Not literally, of course, but they’ve divined the point. The editorial began with the sentence: “What, if anything, do the people and Government of the United States now owe to the people and government of South Vietnam?” The question, it went on to assert, “does not admit of an easy answer.” It reckoned the question was “entangled” in considerations of “ethical responsibility, political commitment, and strategic self-interest.”


Plus, it added, there were also the “ambiguities” of a “shared history between a very powerful nation and a very weak one.” It didn’t specify which — America or Vietnam — was the “weak one” (one could argue it round or argue it flat, as a wise old editor once put it). But the Times did then proceed to assert that “beyond the clear call of human fellow feeling” there “resides” the “hard and complex political question.”


Never in the history of editorial writing had there been such a plea for perfidy. But then, the Times conceded, “it is never easy to come to terms with failure and disappointment, even if it is the failure of an effort that was mistaken in its basic premises, as America’s involvement in Vietnam was.” It reckoned that America “made a fundamental miscalculation of its own national interests” in going to Vietnam.


The editorial was published on April 6, 1975. By April 15 the Khmer Rouge was in control of Phnom Penh, setting the stage for the death of millions in what became the killing fields of Cambodia. The Free Vietnamese were by then retreating — whole divisions at a time — from the Central Highlands. By the end of April, the communist conquest of South Vietnam was complete. In the subsequent years, millions fled Vietnam by boat or died in re-education camps.

Read the full article by Seth Lipsky, Haaretz.

10 reasons why Robin Williams mattered


By Bruce C. Steele, Citizen-Times



For parents trying to explain to their children why it’s such a tragic loss that Robin Williams has died — or indeed for anyone older than 40 trying to explain to someone a generation younger — the first step is to get past “Night at the Museum.”







10 reasons why Robin Williams mattered




Robin Williams earned a Best Actor Oscar nomination for playing an inspired teacher in “Dead Poets Society.” (Photo: Special to the Citizen-Times )


Children may know Williams best from those two Ben Stiller movies in which he portrayed a magically reanimated Teddy Roosevelt, and it appears the third “Museum” movie, due out at Christmas, may be his last film.


But a host of other, better — indeed, remarkable — film work remains to remind us that Williams excelled at both rich comedy and heartfelt tragedy. Sadly for a man who reportedly succumbed to severe depression, his movies frequently explore how people find joy in adversity.


Here follow just 10 movie recommendations (out of a possible two dozen or so) for remembering the man we first knew as Mork:


• Good Morning, Vietnam (1987): In the first film in which Williams was taken seriously as an actor by critics, he plays a military DJ (loosely based on a real person) whose irreverent humor and friendship with two young Vietnamese angers his superiors. With the DJ persona as a vehicle for his humor, Williams gives himself leave to be just a good guy much of the time, channeling his energy into richer emotion than he had generated before (despite the implausible fiction that structures the film), and he earned his first Academy Award nomination.


• Dead Poets Society (1989): A nearly perfect example of the “inspired teacher” genre, this film was the first to cast Williams as a mentor to the next generation (here including a teenage Ethan Hawke), and it turned out to be a perfect match. The movie’s first half, as Williams brings literature to life for his students, is a joy; melodrama takes over in the second half, but Williams weathers it well and earned a second Oscar nomination.


• Awakenings (1990): In this lyrical, bittersweet film, Williams plays passionate physician Dr. Sayer with none of his trademark comic craziness, and he’s completely credible, particularly in his relationship with Leonard (Robert De Niro), a patient Sayer is able to bring back to consciousness and the joys of life after decades of catatonia. The victory has its downside, but Williams and the film are heartfelt throughout. It provides an interesting contrast to “Patch Adams” (1998), in which Williams played a completely different kind of (almost) physician: a grinning striver whose clowning heals patients and maddens everyone else (including movie critics).


• The Fisher King (1991): Williams’ over-the-top turn as a delusional homeless man is actually overshadowed by Jeff Bridges’ more-grounded performance as the depressed radio host who befriends him, but Williams got a third Oscar for Best Actor nod nonetheless. The movie, the most straight-forward feature directed by Terry Gilliam, is unbalanced but sort of mesmerizing in its oddness. See it with friends for a good debate when it’s over.


• Aladdin (1992): No comedian has ever had an animated vehicle as perfectly suited to his schtick as Williams has with Genie, animated by Disney treasure Eric Goldberg. Every craziness Williams tosses out in the recording booth becomes a snappy visual gag, and each flows snappily and seamlessly into the next. No matter how well you think you remember this movie, a fresh viewing will surprise you. I can’t think of another Disney feature so shaped by one performer’s brilliance.

Read the full article by Bruce C. Steele from Citizen-Times.

2 sentenced in Shanghai for smuggling Vietnamese into China


From Shanghai Daily



Two men were sentenced up to eight years in prison for smuggling dozens of Vietnamese into China, Fengxian District People’s Court said on Monday.







2 sentenced in Shanghai for smuggling Vietnamese into China




Human trafficking (Detroit Free Press/MCT via Getty Images)


Vietnamese citizen Tran Dinh Hang and his local friend, surnamed Fu, were found guilty of smuggling more than 60 Vietnamese into the country. They earned about 2,000 yuan per person and made at least 120,000 yuan within a year, according to the court.


Tran had been working in Shanghai for several years when friends in Vietnam asked him to help his fellow villagers enter China and get a job. In 2012, Tran and Fu started working together. Tran contacted some Vietnamese traffickers to bring them to the border and then arranged meals and accommodation for them once they crossed into China, according to the court.

Read the full story from Shanghai Daily.

Những cách xóa tàn nhang dơn giản, hiệu quả

 

Tàn nhang trên khuôn mặt không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng lại khiến nhiều người không vui về nhan sắc của mình. Nếu cảm thấy lo lắng khi sử dụng các loại kem trị tàn nhang có thể gây tác dụng phụ, thì hãy tự mình dùng các nguyên liệu tự nhiên vừa hiệu quả lại an toàn.




1. Bột vỏ cam khô










Hình: Getty Images


Vỏ cam chứa vitamin C có tác dụng tẩy da chết, làm sáng dần các đốm tàn nhang và giúp da sáng hơn. Rửa sạch vỏ cam, phơi khô rồi xay thành bột, đựng trong hộp kín để dùng dần.


Khi dùng, trộn ít bột vỏ cam với vài giọt nước cốt chanh, rửa sạch mặt rồi bôi hỗn hợp này lên mặt, để khoảng 20 phút và rửa lại với nước.




2. Mật ong










Hình: Getty Images


Mật ong giúp làm dịu da, tái tạo các tế bào da nên có tác dụng làm sáng dần đốm tàn nhang. Rửa sạch mặt, bôi mật ong hoặc hỗn hợp mật ong và vài giọt nước cốt chanh lên các đốm tàn nhang. Sau một thời gian, bạn sẽ thấy tàn nhang giảm đáng kể.




3. Nước cốt chanh










Hình: Getty Images


Nước cốt chanh là chất tẩy trắng da tự nhiên, an toàn và làm các đốm tàn nhang sáng dần lên. Trước khi đi ngủ, bạn rửa sạch mặt, bôi nước cốt chanh lên vùng da bị tàn nhang và để qua đêm. Nước cốt chanh an toàn cho làn da, đồng thời giúp ngăn ngừa mụn trứng cá phát triển.




4. Sữa tươi










Hình: Getty Images


Axit lactic trong sữa giúp làm sáng dần vùng da bị tàn nhang, làm dịu da và trở nên mềm mại hơn. Bạn rửa sạch mặt, bôi một ít sữa tươi lên các đốm nám, để khoảng 10-15 phút rồi rửa lại bằng nước ấm.




5. Vitamin E










Hình: Getty Images


Đây là chất chống oxi hóa mạnh mẽ giúp giảm các đốm tàn nhang trên da rất hiệu quả. Bôi dầu vitamin E lên da mỗi tối trước khi đi ngủ không những giúp bạn mau chóng thoát khỏi nỗi khỗ tàn nhang mà còn có làn da thật mịn màng và săn chắc.




6. Giấm trắng










Hình: Getty Images


Giấm trắng không chỉ có tác dụng ngăn ngừa mụn trứng cá mà còn là phương thuốc trị tàn nhang tuyệt vời. Trộn một muỗng cà phê giấm trắng với một muỗng nước, dùng miếng cotton chấm hỗn hợp này và thoa lên các vết nám, để trong vòng 10-15 phút sau đó rửa lại với nước lạnh.

The great South China Sea clash: China vs. Vietnam


By Richard Javad Heydarian, National Interest



Alarmed by almost four months of intense maritime jostling between Chinese and Vietnamese naval forces, which sparked the greatest diplomatic crisis between the two Communist states since the end of Cold War, China’s recent decision to withdraw its state-of-the-art oil rig from Vietnam 200-nautical-miles Exclusive Economic Zone (EEZ) was cautiously welcomed by neighboring states—and the broader international community.







The great South China Sea clash: China vs. Vietnam




This picture taken on May 14, 2014 from a Vietnamese coast guard ship shows a Chinese coast guard vessel (L) sailing near China’s oil drilling rig in disputed waters in the South China Sea. Vietnam is experiencing its worst anti-China unrest in decades following Beijing’s deployment of an oil rig to disputed waters, with at least one Chinese worker killed and more than 100 injured. (HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)


Throughout the months-long crisis over China’s unilateral deployment of the $1 billion Haiyang Shiyou 981 oil rig into Vietnamese-claimed waters, officials in Hanoi confronted an existential dilemma: On one hand, they were deeply alarmed by the explosion of nationalist fervor on the streets of Hanoi and across the country, which led to massive destruction of foreign-owned factories and the exodus of thousands of Chinese citizens, while facing the prospect of a devastating naval showdown with a better-equipped armada of Chinese paramilitary forces defending the oil rig, on the other.


Still shocked by China’s decision to torpedo previous bilateral negotiations aimed at deescalating territorial tensions in the South China Sea, the Vietnamese government wasn’t particularly reassured by China’s announced plans to withdraw the oil rig by mid-August. As Vietnam’s Ambassador to Manila, Truong Trieu Duong, recently told me, “China’s activities violated the high-level agreements of the two countries on nonaggravation and noncomplication of the situation in the SCS.” One could notice a lingering sense of betrayal among many Vietnamese diplomats, who tirelessly sought to prevent armed confrontation and deepening territorial tensions with their powerful neighbor. The oil-rig deployment was largely seen as an opportunistic maneuver to enhance China’s territorial claims and appease nationalist interest groups at home.


There were genuine worries that China would consider a more permanent presence in the contested area, consolidating its claims by sending additional batches of oil rigs accompanied by a thicker protective flotilla of Chinese naval and coast-guard vessels. After all, during the latter decades of the Cold War, China showed little hesitation with coercively expelling (South) Vietnamese forces from the Paracels Island chain and, later, the (unified) Vietnam from strategic locations in the Spratly Island chain.


Given the widening power asymmetry between the two neighbors in recent decades, Hanoi anxiously wondered whether China could be deterred from more provocative actions. At the same time, the Vietnamese government was concerned with its domestic political legitimacy, especially amid an economic slowdown. There were also concerns with the prospect of a new wave of anti-China protests, which could irredeemably tarnish Vietnam’s attraction to foreign investors, especially the Chinese businessmen interested in the country’s affordable labor costs and favorable location.


No wonder, China’s decision to withdraw its oil rig a month ahead of schedule baffled governments and regional experts alike. To make sense out of China’s latest maneuver, analysts have mentioned a number of motivating factors, ranging from the threat of maintaining complex hydrocarbon exploration amid a stormy season in the area to speculations over a possible diplomatic bargain between Hanoi and Beijing. But a better explanation is that China might have (again) recalibrated its territorial posturing, falling back on its age-old strategy of employing temporary deescalation measures to ameliorate international pressure and regional isolation.


The Shifting Momentum


In his magisterial work, On China, Henry Kissinger brilliantly captures China’s strategic culture by emphasizing the importance of concepts such as strategic momentum and the balance of forces in the foreign-policy calculus of Beijing. While China, as any astute realist actor, prizes hard power in its pursuit of national interest, psychological variables and perceptions of the shifting momentum in international configuration of power, in turn, also play a pivotal role in shaping the mindset of Chinese leaders.


China may stand as the most powerful indigenous actor in Asia, but its leaders also know that hard power alone can’t guarantee a successful bid for regional leadership. If Chinese leaders seek to displace the United States as the preeminent power in Asia, Beijing can’t afford to look like an aggressive power bent on pushing its interests at the expense of smaller states in the neighborhood. The ongoing disputes in the Western Pacific, especially in the South China Sea, are dramatically undermining China’s image among its neighbors—and in the wider world.

Read the full article by Richard Javad Heydarian from National Interest.

Tài xế taxi trả lại $5,000 cho hành khách Việt kiều bỏ quên


Việt Nam

• Tài xế Hoàng Thanh Hùng của hãng taxi VinaSun trả lại $5,000 cùng nhiều tài sản khác cho một hành khách Việt kiều bỏ quên trên xe.
• Ông Phạm Tuấn Anh, ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh bị hai nghi can đặt mìn vào xe hơi rồi bỏ chạy, rất may mìn chưa nổ.
• Hải quan phi trường Nội Bài bắt giữ một người Việt có quốc tịch Hồng Kông mang theo 6.5 kg ma túy khi nhập cảnh vào Việt Nam.
• Kinh tế Việt Nam đã ‘khựng lại’ khi trong 5 tháng đầu năm 2014 đã có 27,867 doanh nghiệp đóng cửa.



Cộng đồng/Ðịa Phương


• Một người đàn ông ở O.C. đối diện với bản án 55 năm tù vì tội sờ mó các bé gái và lưu giữ ảnh khiêu dâm trẻ con.
• Cảnh sát Costa Mesa cho rằng đây là trò đùa khi một nhân viên bán hàng 7-Eleven nói là bà ta cướp cửa hàng và đang trên đường gửi tiền vào ngân hàng.
• Một người đàn ông 29 tuổi ở Long Beach bị bắn chết sau khi lẻn vào nhà người khác bằng cách nới rộng một bức tường sân sau và phá vỡ cửa sổ.
• Một người đàn ông bị bắt vào sau một loạt các vụ cướp và đụng độ xe diễn ra từ Pacific Palisades và kết thúc ở Malibu.



Hoa Kỳ


• Tòa án tiếp tục xét xử vụ tham nhũng của cựu thống đốc Cộng Hòa Virginia, Robert McDonnell và vợ.
• Al-Jazeera America sắp kỷ niệm một năm ngày mở chi nhánh truyền hình hoạt động ở Hoa Kỳ.
• Ðương kim Thống Ðốc Dân Chủ Pat Quinn và đối thủ Cộng Hòa Bruce Rauner, trong cuộc chạy đua bầu cử thống đốc tiểu bang Illinois tồ giác lẫn nhau về vấn đề tiền đầu tư ở Cayman Islands.



Thế Giới


• Hơn 100 tù nhân ở Donetsk trốn thoát sau khi đạn pháo của quân đội Ukraine bắn trúng một nhà tù.
• Cựu vô địch cờ quốc tế Garry Kasparov không thành công trong cuộc tranh cử Chủ Tịch Hội Cờ Quốc Tế Thế Giới ở Na Uy.
• Tiền đạo ngôi sao đội tuyển bóng đá Ðức Miroslav Klose giã từ sân cỏ sau 13 năm, đá 137 trận quốc tế, ghi 71 bàn trong đó 16 bàn ở World Cup.
• Ấn Ðộ đề nghị với Trung Quốc hoãn chuyến thăm Ấn Ðộ vào tháng 9 tới của Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Tin mới cập nhật