DeAndre Yedlin sẽ đầu quân cho Tottenham?

TỔNG HỢP – DeAndre Yedlin, ngôi sao 21 tuổi của đội bóng câu lạc bộ Seattle Sounders đã vắng mặt trong buổi tập luyện ngày Thứ Sáu vừa qua, với những tin đồn chuyển nhượng liên quan đến hậu vệ tấn công này kể từ khi thi đấu rất ấn tượng tại World Cup 2014 mặc dù chỉ được Huấn Luyện Viên Klinsmann tung vào sân từ băng ghế dự bị.

Hậu vệ DeAndre Yedlin của đội tuyển Hoa Kỳ tranh bóng cùng với Eden Hazard của đội tuyển Bỉ trong trận đấu vòng 16 World Cup 2014 giữa Hoa Kỳ và Bỉ diễn ra trên sân Arena Fonte Nova, Salvador, Brazil ngày 1 tháng 7, 2014. (Hình: Kevin C. Cox/Getty Images)

Giám đốc điều hành Seattle Sounders, Adrian Hanaeur cũng như Huấn Luyện Viên Sigi Schmid, sau đó đều lên tiếng xác nhận với giới truyền thông báo chí. điều được chờ đợi nhất là Yedlin hiện ở Châu Âu để hoàn tất những giai đoạn cuối cùng cho về thi đấu cho đội bóng lớn tại Anh quốc.

Hanauer cho biết, “DeAndre đang ở nước ngoài. Chúng tôi không thể cho biết thêm những chi tiết nào khác hơn…nhưng chúng tôi hiện đang thương thảo vấn đề liên quan đến việc chuyển nhượng cầu thủ này.”

Hanauer không tiết lội đội bóng Châu Âu nào mà Yedlin sẽ gặp gỡ, chỉ nói đây là một “đội bóng lớn” mặc dù những tin tức loan tải mấy ngày qua liên quan đến đội Tottenham Hotspurs của giải bóng tròn nhà nghề Anh quốc Premier League.

Trang mạng thể thao lớn nhất tại Hoa Kỳ Goal.com ngày Thứ Sáu vừa qua cũng loan tin là Yedlin bay đến London vào ngày Thứ Năm trước đó để kiểm tra y tế và thêm là hai bên đang tiến đến giai đoạn cuối cùng của hợp đồng chuyển nhượng.

Tuy nhiên giám đốc Hanauer nói thêm bất cứ việc chuyển nhượng nào liên quan đến Yedlin đều buộc phải để cầu thủ này tiếp tục thi đấu cho Seattle đến hết mùa giải MLS 2014.

Hanauer tuyến bố, “Ðây là cuộc thương lượng hợp đồng chuyển nhượng mà Yedlin sẽ không được đến đội bóng mới ngay lập tức trái lại sau đó được cho mượn trở lại. Ðiều này có nghĩa là Yedlin sẽ tiếp tục thi đấu cho Seattle đến hết cuối năm nay, thời điểm MLS kết thúc giải.”

Bình luận viên đài ESPN và cũng là cựu thủ môn đội tuyển Hoa Kỳ, Kasey Keller tuyên bố trên trang mạng Goal.com vào đầu tuần trước đó là đã biết về việc Yedlin có thể di chuyển đến Tottenham. Ông nói, “Tottenham Hotspurs là đội bóng giàu có, họ luôn luôn tìm cách để thương lượng mua cầu thủ nhưng đây là đội rất khó khăn để hòa nhập thi đấu.”

Keller thêm, “Tôi không chắc là Yedlin có đủ điều kiện để được phép thi đấu hay không. Cậu ta chưa bao giờ ra sân ngay từ đầu trận đấu của đội tuyển quốc gia vì Anh quốc là quốc gia rất khó khăn để có được giấy phép thi đấu. Theo ước đoán của tôi là nếu Tottenham có được cầu thủ này, họ sẽ ký kết hợp đồng và sẽ đưa Yedlin về thi đấu cho một đội khác dưới hình thức cho mượn.”

Trước đây, việc cấp giấy phép thi đấu (work permit) rất chậm chạp đối với các cầu thủ của MLS, điển hình nhất là cầu thủ trẻ Juan Agudelo, từng bị từ chối cấp phép khi cầu thủ này ký kết với Stoke City năm 2013.
Những cầu thủ ngoài Nghiệp Ðoàn Châu Âu đều được yêu cầu phải thi đấu 75% các trận tranh tài của đội tuyển quốc gia họ trong hai năm qua, và đội tuyển của họ phải nằm trong 70 hạng đầu của bảng xếp hạng FIFA.

Yedlin chỉ có bảy lần ra sân đội tuyển Mỹ, mặc dù có những ngoại lệ có thể có xuyên qua tiến trình kháng cáo. Cả hai Geoff Cameron và Brek Shea đều được cấp phép thi đấu qua tiến trình kháng cáo khi gia nhập Stoke City.

Sau World Cup 2014, với việc thi đấu rất bắt mắt người xem, lại trẻ tuổi chỉ vừa mới 21 tuổi, nên Yedlin được nhiều đội bóng nước ngoài dòm ngó đến bao gồm AS Roma, Liverpool…Nhưng Tottenham dường như xuất hiện trước những ngày qua và giới lãnh đạo Spurs đã có cơ hội dò xem phong độ cũng như tài năng thi đấu của cầu thủ này khi Tottenham đấu giao hữu với Sounders tại Seattle vào ngày 19 tháng 7 vừa qua.

Theo giám đốc Hanauer, Yedlin sẽ trở lại Seattle và có mặt trên sân nhà trong trận đấu Chủ Nhật này với đội Houston Dynamo vào lúc 7:30 PM giờ California được đài ESPN2 truyền hình trực tiếp. (TTC)

Chùa

Bùi Bảo Trúc


Tại sao Việt Nam không nhiều chùa như ở Miến Ðiện, Tây Tạng hay Sri Lanka thì hơi lạ. Người Việt Nam ai cũng thích chùa cả vậy mà lại … ít chùa hơn các nước Phật Giáo vừa kể thì quả là có kỳ cục thật.

Nhưng vài ba chuyện mới xảy ra gần đây lại khiến cho người ta tin là chuyện chùa miếu của người Việt Nam sẽ lại càng ít thấy hơn nữa.

Chả là vì các nhạc sĩ viết nhạc không thích chùa nữa. Ôm cây đàn đau khổ bao nhiêu đêm ngày, có người ho hen bệnh hoạn chết yểu như Nguyễn Mỹ Ca, có người sống trong nghèo túng đến khi chết như Canh Thân, Lê Thương… có người chết đau đớn theo tình yêu, cảm hứng cho những tác phẩm của mình như Ðỗ Lễ… mới viết xong được bản nhạc. Tác phẩm của họ viết xong được các giọng hát cất lên nhưng họ thì không bao giờ nhận được một sự đãi ngộ, bù đắp nào. Nếu có thì cũng chỉ là tượng trưng, rất ít. Ngoại trừ một số rất nhỏ dám đứng lên đặt vấn đề tác quyền, đa số thì chỉ thấy tác phẩm tim óc, gan ruột của mình bị lôi ra chùa hết. Cứ nghe tác phẩm của mình là lại thấy mùi hương ngào ngạt như các văn nhân ngày xưa trước khi đọc thơ thì lại đốt trầm lên cho thơm ngát chốn thư phòng.

Trịnh Công Sơn trước khi chết có dặn dò gia đình phải đòi tác quyền những ca khúc ông viết mà các giọng hát đem ra hát đầy mùi nhang suốt mấy chục năm nay, và gia đình của ông đã làm đúng theo lời ông dặn dò. Vì thế, chuyện hát nhạc của ông không còn chùa miếu nữa. Hát nhạc của ông để kiếm tiền thì phải trả tác quyền. Ca sĩ không thể nói có quen biết thân tình với tác giả nên … chùa các ca khúc của ông.

Một buổi trình diễn nhạc ở trong nước mới đây đã làm đúng câu “đầu tiên là tiền đâu” cái đã. Thế là hết chùa.

Một số ý kiến cho rằng làm vậy, đòi tiền, là không văn học nghệ thuật chút nào. Nhưng thử hỏi những ý kiến ấy là nếu họ có tác phẩm thì họ có muốn chùa miễu cho có nét văn học không nào?

Không thì tại sao lại chỉ muốn người khác chùa còn mình thì không?

Tại sao lại “của người bồ tát, của mình lạt buộc”?

Nói đến đây tôi lại nhớ có một anh ca sĩ nọ. Anh làm mấy cái CD thu giọng của anh. Ở bìa lưng của đĩa CD, có in danh sách những ca khúc anh hát. Người ta chỉ thấy tên của bài hát và bên cạnh tên bài hát là tên của anh. Tên của các nhạc sĩ viết các ca khúc ấy không hề được ghi xuống.

Như vậy, tên nhạc sĩ sáng tác còn không được ghi xuống thì làm gì có chuyện anh ta đi tìm tác giả để trả tác quyền.

Nhưng tệ hơn nữa là anh ca sĩ này lúc ấy có một bạn gái luật sư nên anh ta nhờ cô ta viết một thông cao giọng đầy hăm dọa nói rằng bất cứ ai dùng tiếng hát của anh ta, hình ảnh của anh ta thì phải xin phép anh ta, nếu không anh sẽ nhờ pháp luật can thiệp. Như vậy, của người khác thì chùa thoải mái, còn của mình thì đừng có mà ai đụng vào!

Trở lại chuyện ca hát nói là để gặp gỡ khán thính giả cho đỡ nhớ thì người ta lại nhớ đến chuyện một ông nhạc sĩ nọ cũng than là nhớ khán giả muốn gặp khán giả để cám ơn. Trước đó, ông than nghèo kể khổ ốm đau sầu não rất Việt Nam bi thảm Ðông Dương nhưng nay khỏe lại nên muốn gặp những khán giả ái mộ ông.

Chuyện đó nghe hay lắm nếu ông đến một chỗ nào đó, hát một buổi cho khán giả vào cửa tự do cho cả hai bên đỡ nhớ nhau. Chuyện ấy quá dễ. Ở California thiếu gì mấy phòng sinh hoạt của các tòa báo lấy giá nhẹ nhàng, nhiều người đã làm như thế. Nhưng ông nhờ người tổ chức ở một hý viện sang trong, giá vé cao gấp năm lần giá vé đi nghe Tony Bennett ($75/vé hạng nhất) cũng hát trong dịp ấy. Kiếm tiền thì cứ kiếm nhưng … vừa phải thôi chứ. Nhớ khán thính thì nhẹ tay một chút.

Bản án Khmer Ðỏ

Lê Phan


Ðối với nhân dân Cambodia, cuộc chờ đợi quả đã quá lâu. Gần 35 năm sau khi chế độ Khmer Ðỏ bị lật đổ bởi cuộc xâm lăng của Hà Nội, những lãnh đạo cuối cùng của chế độ đã bị kết tội đối với nhân loại và kết án tù chung thân. Hay đúng hơn phần còn lại của cuộc đời họ.

Nuon Chea, anh Hai sau anh Cả Pol Pot, năm nay 88 tuổi, vốn là lý thuyết gia của chế độ. Khieu Samphan, chủ tịch nước của Kampuchia Dân Chủ, năm nay 83 tuổi, là hai người duy nhất của chế độ còn sống sót, bị đưa ra xét xử.

Ðối với những ai đã từng đến thăm Cambodia, không phải Cambodia của du khách ở Siemrep mà là Cambodia của những cánh đồng chết, của nhưng ngôi mộ tập thể, của một dân tộc đã bị mất đi đến một phần tư dân số, bản án này thật chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Dân tộc Khmer đã hơn một lần bị thế giới bỏ quên, đã hơn một lần bị đánh lừa trong ước mơ dân chủ, nay tuy vậy có lẽ vẫn có cảm tưởng là “có còn hơn không.”

Khi Chánh Án Nil Nonn yêu cầu họ đứng lên nghe tuyên án, Nuon Chea nói là quá yếu để có thể đứng và ngồi yên trong chiếc xe lăn. Cả hai, theo tờ Financial Times, đã không bày tỏ một phản ứng nào trước bản án có tội với nhân loại qua việc cưỡng bách di chuyển, cưỡng bách thủ tiêu, và tấn công vào tư cách của con người.

Sở dĩ bản án chỉ nhấn mạnh đến vấn đề cưỡng bách di tản là vì trong lo ngại một vụ án quá kéo dài, tòa đã chia vụ xử làm nhiều vụ nhỏ. Vụ xử này, vụ 002/01, tập trung vào việc cưỡng bách di tản ra khỏi Phnôm Pênh, một cuộc cưỡng bách dân chúng di chuyển cho đến cuối năm 1977, và vụ tàn sát các cựu quân nhân, công chức và gia đình của chế độ Lon Nol, chế độ quốc gia được Hoa Kỳ ủng hộ cầm quyền trước khi Khmer Ðỏ lên nắm quyền.

Chánh Án Nil Nonn nói là hai người này đã tước bỏ những quyền căn bản của người dân Cambodia trong việc theo đuổi một công trình tội ác để “ đàn áp và chế ngự một dân tộc.” Họ đã bị buộc tội đã tấn công có hệ thống vào thường dân. Ông Nonn nói, “Cuộc tấn công này có nhiều hình thức, kể cả buộc di chuyển, sát nhân, thủ tiêu, cưỡng bách mất tích, tấn công vào tư cách của một con người và đàn áp chính trị.” Ông cũng khẳng định, “Cuộc tấn công này đã biến nhiều triệu người dân Cambodia thành nạn nhân.” Ông nhắc đến một lời của một nhân chứng kể lại là đã thấy “một binh sĩ Khmer Ðỏ xé xác một em bé đang khóc và bò trên thi thể của bà mẹ đã bị giết trước đó.”

Nhưng những lời của ông chánh án có vẻ như không đụng được đến hai bị cáo. Nuôn Chea, mặt lúc nào cũng hầm hầm, đeo kính đen, ngồi lầm lì trong xe lăn, trong khi Khieu Samphan đứng nhưng cả hai đều không bày tỏ một chút phản ứng nào cả. Một nhà báo của tờ The Economist kể lại là khi ông chánh án tuyên án xong, hai người này được giắt ra khỏi phòng xử đặc biệt, mọi người có vẻ nhẹ nhõm hẳn ra. Thực không thể tưởng tượng được nhưng gần ba thập niên rưỡi sau mà những lãnh tụ Khmer Ðỏ vẫn còn có thể tạo nên một bầu không khí như thế.

Cả hai đều cả quyết là họ vô tội đối với những tội mà họ bị cáo buộc. Căn bản họ biện minh là việc di tản dân chúng ra khỏi Phnôm Pênh đã được coi là cần thiết để “cứu” nhân dân, bởi họ có lý do để tin là người Mỹ đang có ý định bỏ bom thủ đô. Chánh Án Nil Nonn nói là ban thẩm phán quốc tế và Khmer đều đã quyết định là biện minh của họ vô căn cứ.

Nuôn Chea còn nói là những bằng cớ chống lại ông “đầy những nghi ngờ và đầy những lời nói láo,” đặc biệt lời khai của nhân chứng Kaing Guek Eav, biệt danh “Duch,” vốn đang bị tù chung thân, cho vai trò của ông trong việc tàn sát nhiều ngàn người bị bắt ở nhà tù mà hắn chỉ huy, nhà tù S-21. Lời buộc tội cho Khieu Samphan nhẹ hơn. Tòa nói là ông ta chưa bao giờ có đủ uy quyền để ra lệnh thực hiện những tội ác này. Tuy nhiên, ông ta đã “biện minh, bảo vệ và ca ngợi những chính sách và mục tiêu chung” của chế độ Khmer Ðỏ mà hậu quả là sự thảm sát.

Tòa án, mà tên chính thức là Extraordinary Chambers in the Courts of Cambodia (ECCC-Tòa đặc biệt trong các tòa của Cambodia), được sự ủng hộ của Liên Hiệp Quốc, đã bị chỉ trích nhiều trong suốt chín năm hoạt động. Những người chỉ trích đã chê trách việc trì hoãn kéo dài, việc dễ bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp của chính quyền của đương kim Thủ Tướng Hun Sen, và cho những tham nhũng trong các viên chức địa phương làm việc cho tòa.

Ðây cũng là một vụ xử án vô cùng tốn kém. Với hơn 200 triệu đô la đã được chi ra cho công cuộc xét xử mà vẫn chưa kết thúc, bởi đợt tới, trong Vụ 002/02, tòa mới xử đến vụ thảm sát tập thể. Những người ủng hộ tòa đã biện minh cho chi phí tốn kém này lý luận là tổng số như vậy chỉ bằng 100 đô la cho mỗi người đã chết dưới chế độ Khmer Ðỏ. Quả là một lý luận ma quỷ nhưng ở một khía cạnh nào đó, nó thích hợp cho một thống kê về một chế độ của những người Maoist không tưởng ước mơ biến Cambodia thành một thiên đường nông thôn.

Nhưng tất cả những gì được đưa ra ở tòa, biết bao giấy mực và nhân chứng, cũng không thể nói lên được sự điên cuồng của chế độ. Những thanh niên miền Nam sau năm 1975 bị kêu lính đi đánh ở Cambodia về kể lại chế độ tịch thu hết bất cứ một món đồ gì có thể dính đến cuộc sống ở thế kỷ thứ 20, rồi sau đó phân loại và đem chất vào đầu tiên là những nhà kho, sau hết nhà kho, vào trong những căn nhà của dân chúng mà họ đã đuổi khỏi thành phố. Họ kể có những căn nhà nhét kín toàn là máy chữ. Những căn nhà khác là xe gắn máy, tủ lạnh, tivi… Cứ như vậy, chế độ đem cất giữ những vật mà họ cho là vô dụng.

Khi những nhà trí thức Khmer Ðỏ, bởi họ đa số có học, một số đã đi du học ở Pháp, ngồi ở các quán cà phê ở Paris, họ đã mơ tưởng một thiên đường trong đó mọi di tích của thời hiện đại phải được hủy bỏ, và con người uốn nắn lại để cho xứng đáng với thiên đường đó, ai không xứng đáng thì phải tiêu diệt.
Ở một khía cạnh nào đó, ông Youk Chhang, giám đốc điều hành của một tổ chức phi chính phủ ở Cambodia có tên là Trung tâm tài liệu của Cambodia, một tổ chức đã dành hết khả năng thu lượm những bằng có của giai đoạn Khmer Ðỏ, đã có lý. Ông là trong số những người nghĩ là cố gắng của tòa là “có còn hơn không,” ngay cả khi tiến trình xét xử có nhiều vấn đề.

Ông Youk Chhang tin là thành quả của càng thêm ý nghĩa trước sự việc là thế giới đã không làm gì bao nhiêu để thay đổi trong những thập niên kể từ khi có cơn ác mộng Khmer Ðỏ. Thực vậy, ông nói, “Kể từ khi Liên Hiệp Quốc công bố công ước về thảm sát năm 1948, không một vụ thảm sát nào đã được ngăn cản. Một tòa án chỉ được dựng lên sau khi nhiều triệu người đã mất mạng. Chúng ta cần phải tìm cho ra những phương tiện để ngăn ngừa những tội ác đó đừng xảy ra lần nữa.”

Ông Sorya Sim, giám đốc của Viện Nghiên Cứu Dân Chủ Khmer, cũng đồng ý là bản án này là một thông điệp cho cộng đồng quốc tế phải có những bước để ngăn ngừa những tội ác như vậy tái diễn. Tuy vậy ông cũng than, “Dù cho có chuyện gì xảy ra và chúng ta có một bản án, nhưng không làm sao đem lại được sự sống cho những người đã quá cố, và cái đau khổ vô hình, không làm sao kể nổi của những gì xảy ra sau đó, làm sao có thể lấy lại được cơ chứ.”

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về vùng, đã chỉ trích là các vụ xử lúc được lúc không đã làm hai đến kết quả. Ông Thayer nhắc, “Nhiều lãnh tụ khác của Khmer Ðỏ đã chịu trách nhiệm cho những tội ác này; những người đã thực hiện những lệnh này, và tòa đã trễ nải trong việc nhận diện và mở rộng danh sách nghi phạm.”

Giáo Sư Thayer cũng bảo là chính sự can thiệp của Chính Quyền Hun Sen đã tạo nên những trì hoãn. Ðiều đó hẳn là đúng vì nếu tòa thực sự nới rộng danh sách thì rất nhiều những nhân vật cao cấp trong chính quyền Hun Sen cũng có thể là nghi phạm. Giáo Sư Thayer bảo có lẽ chẳng đáng tiếp tục vụ xử thêm nữa.

Nhưng đối với số gần 4,000 nạn nhân đã nộp đơn kiện và đã có mặt ở phòng xử hôm thứ năm, kể cả ông Norng Chan Phal, đã chỉ là một cậu bé khi bị nhốt ở nhà tù S-21 và cũng là nơi mà cha mẹ đã bị tra tấn rồi xử tử, thì bản án có ý nghĩa. Bên ngoài tòa án, ông bảo với phóng viên của tờ New York Times, “Chúng tôi đã chờ bản án này hơn 30 năm nay.” Ông cũng nói là phải từ chối chôn cất hai lãnh tụ Khmer Ðỏ này. Ông bảo, “Sau khi họ chết, thi thể của họ phải được giữ trong ngục.”

Dù sao chăng nữa nhân dân Cambodia còn được chứng kiến những kẻ gây nên tội ác bị đem ra xử. Nhân dân Việt Nam vẫn còn chờ ngày những kẻ gây nên vụ thảm sát Mậu Thân bị đưa ra tòa. Và nhân dân Trung Hoa thì còn chờ lâu hơn nữa mới được thấy công lý cho vô số những nạn nhân của Cách Mạng Văn Hóa, thảm sát Thiên An Môn. Ở khía cạnh đó, Cambodia ít nhất cũng làm được một cữ chỉ.

Bạch hóa Hội Nghị Thành Ðô?

Lê Diễn Ðức
(Blog RFA)


Hoang mang, lúng túng trước sự tan rã nhanh chóng của khối cộng sản ở Châu Âu, lo sợ khả năng mất kiểm soát và độc quyền lãnh đạo, vào đầu tháng 9 năm 1990, lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam (ÐCSVN) do Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu đã xúc tiến cuộc gặp gỡ với lãnh đạo Trung Nam Hải tại Thành Ðô, để bình thường hóa quan hệ sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979.

Hội Nghị Thành Ðô ngày 3 tháng 9, 1990 tại Tứ Xuyên, Trung Quốc.

Những thỏa thuận của cuộc hội nghị này là nền móng cho mọi mối quan hệ hợp tác giữa CHXHCN Việt Nam và Trung Quốc. Mối quan hệ hết sức bất bình đẳng, thể hiện chính sách hèn mạt, nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam.

Trên đất liền, được ưu đãi đặc biệt, Trung Quốc thực hiện cuộc xâm thực khống chế Việt Nam, không mất một viên đạn nào. Ngoài biển, Trung Quốc băt đầu từ việc xua đuổi bắt giữ ngư dân, cấm bắt cá, đến cắt cáp tàu của Việt Nam và cuối cùng là đưa giàn khoan vào khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Hiện đang phổ biến lá thư ngỏ của ông Lê Văn Mật, thiếu tướng, cựu phó tư lệnh, tham mưu trưởng Quân Khu 2 và tư lệnh Mặt Trận 1979-1984 (Hà Giang), nêu thắc mắc và kiến nghị Ðảng Cộng Sản Việt Nam công khai nội dung thỏa thuận của Hội Nghị Thành Ðô ngày 3-4 tháng 9 năm 1990.

Lấy nguồn từ báo chí Trung Quốc, bức thư có đoạn viết:

“Chúng tôi cho rằng nguyên nhân sâu xa là ở Thỏa Hiệp Thành Ðô ngày 4 tháng 9, 1990 của một số vị lãnh đạo. Chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào mà chỉ biết sau này những hiện tượng tiêu cực xảy ra đã thể hiện nội dung của bản thỏa hiệp đó.

“Xin trích một đoạn Thỏa Hiệp Thành Ðô: “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản, Ðảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố gắng hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị vốn lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ Tịch Mao Trạch Ðông và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây….

“Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Ðảng Cộng Sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.”

Ông Nguyễn Trung, một chuyên viên nghiên cứu, cựu đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, viết:

“Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau Hội Nghị Thành Ðô cũng đã trở thành một mối quan hệ vượt mức bình thường với những mỹ từ kèm theo như “tình hữu nghị giữa hai nước xã hội chủ nghĩa anh em,” rồi lại còn “16 chữ vàng”… Những yếu tố bất bình thường này cũng đang là những nhân tố lấn át và có nguy cơ làm cho những nguyên tắc bình thường giữa hai quốc gia trở thành thứ yếu và phần thua thiệt tất nhiên bao giờ cũng thuộc về “đàn em” mà điều xấu nhất nếu xảy ra rất có thể sẽ là “Hoa Quân Nhập Việt.”

Vì vậy, với một sự kiện sẽ đi vào lịch sử dân tộc như Hội Nghị Thành Ðô, thay vì nói đó là hội nghị bình thường hóa quan hệ Việt – Trung như cách nói từ trước đến nay thì phải nói rằng đó là sự kiện mở ra một sự bất bình thường trong quan hệ giữa hai nước thì đúng hơn.”

Vào cùng thời gian với Thiếu Tướng Lê Duy Mật, có một lá thư khác của Cựu Ðại Tá An Ninh Nguyễn Ðăng Quang, được đăng trên Blog Nguyễn Tường Thụy.

Ðưa ra một số hiện tượng xâm thực mềm nguy hiểm, đẩy nền kinh tế Việt Nam vào sự phụ thuộc Bắc Kinh nghiêm trọng, như cho thuê hàng trăm ngàn rừng đầu nguồn 50 năm, khai thác bauxite Tây Nguyên, hơn 90% các dự án EPC lọt vào tay thầu Trung Quốc, v.v…, bức thư nhấn mạnh:

“Xung quanh hội nghị thượng đỉnh và các thỏa thuận mà Việt Nam đã ký với Trung Quốc ở Thành Ðô có nhiều phân tích, đánh giá, nhận định, thông tin trái chiều, thậm chí cả những đồn thổi nguy hiểm, bất lợi về mặt dư luận… làm người dân hoang mang, bán tín bán nghi, không biết đâu là hư, đâu là thực! Mọi hiện tượng trên sẽ chấm dứt một khi đảng và nhà nước báo cáo cho toàn dân biết sự thật về mối quan hệ Việt – Trung, đặc biệt là các thỏa thuận mà lãnh đạo ta đã ký với Trung Quốc ở Thành Ðô.”

Cho rằng, “Việt Nam gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc” như là một khu vực tự trị giống như Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… theo tôi chỉ là tin đồn đoán, nếu có trích từ nguồn báo chí Trung Quốc thì cũng là những ngôn ngữ điêu ngoa, phóng đại.

Trung Quốc thực tâm muốn biến Việt Nam thành một nước chư hầu, hoàn toàn lệ thuộc về kinh tế và cả chính trị, chứ không thể nào biến Việt Nam thành một Tây Tạng hay Nội Mông được.

Cho dù triều đại cộng sản có bán nước cầu vinh, thì tinh thần chống ngoại xâm phương Bắc từ ngàn đời nay của dân tộc Việt Nam, vẫn nung nấu. Họ sẽ dễ dàng thao túng, điều khiển hơn khi có một tập đoàn thái thú ngoan ngoãn. Trung Quốc chẳng dại dột đối diện với sự chống đối quyết liệt nếu biến mình thành kẻ cai trị trực tiếp. Lịch sử hai nước đã chứng minh điều này. Qua một ngàn năm Bắc thuộc, Trung Quốc đã không đồng hóa nổi dân tộc Việt và cuộc chiến đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Ðằng nổi tiếng của Ngô Quyền, chính thức kết thúc ách đô hộ hơn một thiên niên kỉ, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam.

Song song, dù ÐCSVN áp dụng chính sách phò Trung Quốc để duy trì độc quyền cai trị, nhưng trong giới lãnh đạo không phải không có mâu thuẫn, chia rẽ. Vẫn tồn tại xu hướng hợp tác với Mỹ, Nhật Bản và các nước khác trong khu vực để kiềm chế Trung Quốc, cho dù ảnh hưởng của phe thân Trung Quốc đang mạnh hơn nhiều.

Mang giàn khoan HD 981 vào vùng kinh tế Việt Nam là một bước đi quan trọng của Trung Quốc trong việc thăm dò phản ứng của Việt Nam và quốc tế, nhưng cuối cùng Bắc Kinh đã cho rút sớm hơn dự định một tháng, là do trong lúc này chưa thể vì một giàn khoan mà có thể mất đứt cả nước CHXHCN Việt Nam.

Không thể bỗng dưng đánh mất một tập đoàn lãnh đạo dường như đang ngả hẳn về Trung Quốc. Không thể có được ở bất cứ nơi nào những gì đang nắm trong tay như trên lãnh thổ Việt Nam. Không thể đánh mất một thị trường 100 triệu dân dễ dãi và thực dụng để tống khứ hàng hóa độc hại.

“Dục tất bất đạt,” Trung Nam Hải không thể vì mộng bành trướng mà quá vội vã. Họ cần có thêm thời gian. Trước mắt vẫn tiếp tục tiến hành mạnh mẽ cuộc xâm thực trên đất liền. Việc Nguyễn Tấn Dũng đồng ý để Trung Quốc tiếp tục xây dựng sân bay quốc tế Quảng Ninh hay thi công đường cao tốc Ðà Nẵng – Quảng Ngãi, chưa nói tới khu Formosa năm ở Hà Tĩnh cho thuê 70 năm, chứng tỏ chính sách xâm lược mềm và khuynh loát Việt Nam bằng kinh tế rất hiệu quả.

Thiết nghĩ chẳng bao giờ ÐCSVN bạch hóa nội dung Hội Nghị Thành Ðô, bởi vì chế độ cộng sản luôn đồng nghĩa với dối trá, bưng bít thông tin. Nhưng, dù có bạch hóa hay không cũng chẳng mấy quan trọng.

Quan sát những gì mà họ làm với Trung Quốc và thẳng tay đàn áp mọi tư tưởng yêu nước chống Trung Quốc trong hơn hai thập niên qua, ta đã đủ hiểu được thực chất của những thỏa thuận như thế nào.

Không đến nỗi trở thành Tây Tạng, Nội Mông, nhưng Việt Nam đang và sẽ trở thành một cứ điểm quan trọng trong chính sách bành trướng của Trung Quốc. ÐCSVN thực sự nối giáo cho giặc, đã và đang giẫm đạp lên lợi ích lâu dài và chủ quyền của dân tộc.

Người ‘nước ngoài’ ở chợ đêm Little Saigon


Thiên An/Người Việt


WESTMINSTER (NV) – Xen lẫn giữa đám đông thực khách hít hà món bánh kẹp nóng hổi thơm phức mùi lá dứa hay nhâm nhi miếng mực chấm tương ớt của chợ đêm Little Saigon là những mái tóc, gương mặt chẳng có nét gì của người Việt Nam. Họ, những người thuộc sắc dân khác, cứ mỗi cuối tuần lại đến góp một phần không nhỏ vào không khí đông vui tại đây.

Xếp hàng mua bột chiên. (Hình: Thiên An/Người Việt)

Chợ đêm Little Saigon trước cổng khu thương mại Phước Lộc Thọ, nằm giữa Little Saigon, giữa lòng cộng đồng người Việt hải ngoại tại Quận Cam. Từ 2011, chợ đêm cứ đến Hè lại đều đặn mở vào ba tối cuối tuần cho du khách tha hồ ăn, chơi, thưởng ngoạn.

Với các gian hàng đủ loại, từ những món quà vặt cho trẻ nhỏ đến vô vàn món ăn, nước uống đậm hương vị Việt, cộng thêm một sân khấu ngoài trời cho các “ca sĩ” cất lên những giai điệu lúc xưa cũ lúc tân thời, hầu hết khách ghé chân đến chợ đêm Little Saigon là người Việt, dân địa phương hoặc từ các tiểu bang khác đổ về.

Những vị khách “nước ngoài” của các quán xá trong chợ đêm Little Saigon. (Hình: Thiên An/Người Việt)

Bên cạnh số đông người Việt là các vị khách thuộc sắc dân khác. Những người gốc Âu, Á, Phi, hay Hispanic… cũng thường xuyên tìm đến chợ đêm Little Saigon. Cũng xếp hàng mua nước mía, ăn tàu hũ đường, cút chiên bơ, nghe cải lương…, họ dần trở thành một phần quan trọng của hội chợ này từ khi nào không biết.

Cơ duyên nào đưa các sắc dân bạn đến nét sinh hoạt khá mới mẻ này Little Saigon?

Xếp hàng mua thịt nướng. (Hình: Thiên An/Người Việt)

Một Thứ Sáu cuối tuần ghé chợ đêm, vào lúc trời còn sáng và khách chợ còn chưa đông lắm, phóng viên lân la hỏi chuyện một vài người nhìn có vẻ không phải người Việt.

Người thì cho biết có bạn bè hay người quen là người Việt dẫn đến, cũng có người thì chỉ vì hiếu kỳ. Già, trẻ, nam, nữ, những vị khách mà các người bán hàng mô tả là “nước ngoài, hổng phải Việt Nam” này thuộc đủ mọi thành phần, lứa tuổi, và sắc dân.

“Bạn mình rủ tới. Ở đây thấy rất vui. Thích nhất là có nhiều loại đồ ăn.” Hugh Oneil, một thanh niên “tóc vàng mắt xanh,” và Giselle Divara, một cô gái trẻ gốc Á, cùng đến từ San Diego, cho biết. Họ là hai người bạn cùng đi với một bạn nam gốc Việt được cho là “biết rành đường sá Little Saigon.”

Một cặp du khách khác, ở xa hơn, thì tiếc rẻ nói về các hàng quán ẩm thực như sau: “Chúng tôi đi ăn rồi mới tới đây. Chúng tôi chỉ gọi có món mực nướng thôi. Nếu biết có nhiều đồ ăn thế này chúng tôi sẽ để bụng đói để có thể thử nhiều món hơn…” Ông Shawn Horup và vợ Coral Horup cho biết họ và những đứa con từ Oklahoma đến nghỉ Hè tại California. Được một cô bạn Việt Nam ở Garden Grove giới thiệu một số địa điểm vui chơi ở Quận Cam, họ ghé ngang chợ đêm Little Saigon. “Lần sau đến chúng tôi sẽ để bụng thật đói,” bà Coral cười, nói.

Một cô gái trẻ, tên Vicky Braselle, tuy vẫn đang thưởng thức chiếc bánh kẹp mùi dừa xanh màu lá dứa còn nóng hổi trên tay, cũng có chia sẻ tương tự ông Shawn và bà Coral: “Tôi ở xa nên chưa bao giờ ăn đồ ăn Việt Nam. Tôi và cô bạn Việt Nam mới ghé một tiệm phở rồi mới tới đây. Biết bao nhiêu món Việt Nam của chợ, bụng no rồi, làm sao để thử cho hết?”

Cách xa các gian hàng, cô Rosa G. và chồng Javier G. đã ăn xong hai dĩa thịt nướng từ lâu, ngồi vào hàng ghế trong góc sát tường, tay trong tay cùng ngắm dòng người tấp nập qua lại. “Tôi tự đi thôi, không có ai giới thiệu hết. Tôi làm việc ở ngôi chợ phía bên kia đường nên thấy người ta mở hội chợ bên này. Tới cuối tuần thì vợ chồng tôi đến đây chơi,” người đàn ông gốc Hispanic cho biết.

Tuy cũng có một vài lời góp ý nhẹ nhàng như “ước gì có thêm ghế ngồi” hay “cảnh quang sẽ sạch hơn nếu không ai xả rác”, tất cả những người khách trên khi nghe phóng viên hỏi đều trả lời: “chắc chắn sẽ trở lại chợ đêm Little Saigon.”

Chẳng rõ những sắc dân bạn sẽ giúp giới thiệu, quảng bá văn hóa Việt như thế nào, hay góp phần vào sự đa dạng, phồn thịnh cho khu vực này qua những phiên chợ đêm Little Saigon ra sao, chỉ biết, các chủ quán tại đây đều vui vẻ khi có thêm người mua ủng hộ.

 “Người ta cũng ăn tàu hũ đường. Tôi bán mấy năm rồi, mỗi năm mỗi món, thấy món nào người ta cũng ăn được,” bà Phương Mai, bán tàu hũ nước đường ở gian hàng ngay trước sân khấu, cho biết. Theo bà,  “người ‘nước ngoài’ cũng đông lắm” trong tổng số thực khách.

Cô Hiếu Nguyễn, năm đầu tiên ra phụ người nhà bán nước mía, có chia sẻ hơi khác: “Đa số người mua là Việt Nam, người ‘nước ngoài’ ít thôi, những cũng kha khá.” Cô cũng kể là “họ thích uống nước mía, họ khen nước mía là ‘natural’, ‘fresh’ nữa.”

Một anh đang bận tay trên bếp nướng của Đêm Sao Quán thì “khoe”: “Có ông kia người Phi Thứ Sáu, Thứ Bảy nào cũng tới mua hai phần mực nướng, tụi mình nhớ mặt luôn.”

Cô Lisa Phạm của gian hàng Tân Mai Food To Go lại nói: “Lạ lắm, có người Việt ở San Jose lại rủ những người ‘nước ngoài’ ở đây đi, người ở xa biết chứ người ở đây mà không biết.” Cô cười, cũng nói thêm là có một số khách “nước ngoài” đến từ khu vực địa phương, đi ngang qua và ghé vào.

Cứ thế, người bán, kẻ mua, người Việt xen lẫn các sắc dân bạn, tiếng nói cười qua đủ các loại ngôn ngữ quyện cùng những tiếng rao mời lảnh lót của người bán hàng và một giọng ca “nghiệp dư” nào đó đang hát say sưa trên sân khấu, không khí đậm chất Việt của chợ đêm Little Saigon có cái gì đó rất riêng, rất lạ…

Liên lạc tác giả: [email protected]

***

Chợ đêm Little Saigon mở cửa từ 7 giờ đến khuya vào mỗi Thứ Sáu, Thứ Bảy và Chủ Nhật, chỉ từ 13 Tháng Sáu đến 31 Tháng Tám.

Bác Phan Trình (Mười Trinh)

 

Doanh nghiệp nhà nước chần chừ rút vốn đầu tư


HÀ NỘI (NV)
Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) của Việt Nam vẫn lần chần trong việc rút vốn đầu tư ngoài ngành. Có 22,000 tỉ cần được rút nhưng đến nay, các DNNN chỉ mới rút 1,800 tỉ.


Tại Việt Nam, trước nay, chính quyền vẫn rút công quỹ giao cho các DNNN làm vốn. Những DNNN này độc quyền khai thác, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu (xăng dầu, điện, nước, viễn thông,…) đối với nền kinh tế và sinh hoạt xã hội.









Tuy phủ nhận trách nhiệm đối với chuyện nợ nần của các doanh nghiệp nhà nước nhưng những khoản nợ này vẫn tồn tại như các trái bom có thể nổ bất kỳ lúc nào. (Hình: VNEconomy)


Thay vì dùng vốn được giao để khai thác, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu, giúp kinh tế-xã hội hoạt động ổn định và phát triển, các DNNN lấy vốn do ngân sách cấp đầu tư vào những lĩnh vực khác (chứng khoán, bất động sản, rượu bia, nước giải khát…) để kiếm lợi, bất kể điều đó khiến kinh tế-xã hội mất ổn định, góp phần làm kinh tế liên tục suy thoái.


Ðây là lý do khiến chính quyền Việt Nam buộc các DNNN phải sớm rút vốn đầu tư ngoài ngành (ngoài lĩnh vực thuộc phạm vi trách nhiệm). Hạn chót để rút vốn đầu tư ngoài ngành là cuối năm 2015.


Tổng vốn đầu tư ngoài ngành cần phải rút lại được ước đoán chừng 22,000 tỉ. Ðể sớm thu hồi được vốn, dùng chúng đúng mục đích cho kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, chính quyền Việt Nam chấp nhận cho các DNNN đã đầu tư ngoài ngành bán cổ phần, cổ phiếu dưới mệnh giá.


Tuy nhiên đến nay, số vốn đầu tư ngoài ngành được rút về chỉ có 1,800 tỉ. Bộ Tài Chính Việt Nam vừa mới đưa ra nhận định, bất chấp sự cấp bách của việc rút vốn đầu tư ngoài ngành, các DNNN chần chừ là vì lãnh đạo của chúng sợ mất chức.


Trong một cuộc trò chuyện với tờ Tiền Phong, ông Ðặng Quyết Tiến, cục phó Cục Tài Chính Doanh Nghiệp của Bộ Tài Chính, cho rằng, việc rút vốn đầu tư ngoài ngành có thể sẽ dẫn tới thua lỗ, nếu thua lỗ trong hai năm liền, lãnh đạo DNNN sẽ bị cách chức nên đó là lý do khiến việc rút vốn đầu tư ngoài ngành của các DNNN trở thành chậm chạp.


Lãnh đạo các DNNN thì biện bạch rằng rút vốn đầu tư ngoài ngành không phải là chuyện dễ dàng. Cách nay vài tháng, ông Nguyễn Ðình Hải – Chủ tịch Hội Ðồng Thành Viên tổng công ty lắp máy Việt Nam (Lilama) công khai than rằng, bối cảnh thị trường như hiện nay không thuận lợi trong việc rút vốn. Lilama đã rao bán cổ phần nhưng không ai muốn mua.


Ông Phùng Ðình Thực, chủ tịch Hội Ðồng Thành Viên Tập Ðoàn Dầu Khí Việt Nam (PVN) cũng thừa nhận, với thực tế thị trường như hiện nay bán cổ phần đã khó, bán mà phải bảo toàn vốn còn khó hơn.


Một số chuyên gia kinh tế nhận định, chuyện rút vốn đầu tư ngoài ngành của các DNNN chậm chạp còn vì nhiều DNNN thua lỗ trong hoạt động ở lĩnh vực chính và tồn tại được nhờ vốn đầu tư ngoài ngành.


Ðã có rất nhiều dấu hiệu cho thấy, lợi ích của các DNNN mâu thuẫn với lợi ích quốc gia. Theo ước đoán của nhiều chuyên gia kinh tế, nếu tính cả các khoản vay ngoại quốc và các khoản vay trong nước, nợ nần của các DNNN hiện chiếm khoảng 45% đến 47% GDP.


Tuy chính quyền Việt Nam tuyên bố nợ của các DNNN chỉ từ 4.2% đến 6.9% tổng nợ quốc gia, hiện tương đương 53.4% GDP nhưng nhiều chuyên gia kinh tế khẳng định, lối tính toán này thiếu minh bạch bởi nó không phản ánh đúng thực chất nợ nần và thực tế vay-trả.


Họ cho rằng phải tính cả những khoản các DNNN đã vay mà không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh. Theo đó, tổng nợ quốc gia hiện đã xấp xỉ 98.2% GDP, vượt xa khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế, đừng để nợ nần vượt quá mức 65% GDP vì qua mức này thì an ninh tài chính quốc gia không còn an toàn.


Tháng trước, hai chuyên gia kinh tế là Phạm Thế Anh và Ðinh Tuấn Minh khẳng định, các khoản vay ngoại quốc, vay các ngân hàng trong nước, vay lẫn nhau của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, dù không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh vẫn đe dọa an ninh tài chính quốc gia. Nếu không muốn những quả bom này phát nổ, việc cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này phải “triệt để,” không thể “hình thức” nhưng thực tế cho thấy, đến nay, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này vẫn như trò đùa. (G.Ð)

Món cũ và món mới trong mùa chay Vu Lan


Phùng Thức/Người Việt


SÀI GÒN (NV)Tháng Bảy Âm Lịch hàng năm, người Sài Gòn còn gọi là tháng ăn chay. Việc chọn ăn chay trong mùa Vu Lan ngoài ý nghĩa tôn giáo còn được mọi người hưởng ứng mùa thanh lọc cơ thể.









Những người làm công quả đang chuẩn bị dọn mâm cơm chùa cho khác thập phương trong mùa chay. (Hình: Phùng Thức/Người Việt)


Nhiều người miền Nam xưa, cứ tới Tháng Bảy Vu Lan là để dành bụng đi ăn cơm chùa. Như xứ Bà Rịa mà chúng tôi tới mấy ngày trước. Nhiều người dân ở đây có trong túi mình miếng giấy photocopy ghi lịch từng nhà chùa thí thực. Có người còn cả quyết rằng cả Tháng Bảy không ăn cơm nhà cũng không sợ đói.

Ở các đô thị lớn Việt Nam ngày nay, các món chay được chia ra thành ba kiểu ăn. Ăn chay truyền thống, món chay tên mặn, ăn chay mốt Tây.

Ăn chay truyền thống thì ai cũng rành với hình mẫu là các bữa cơm mà các nhà chùa ở miền Nam thí thực trong mùa chay Vu Lan. Món ăn chủ yếu ở nhà chùa không đua đòi chạy theo mốt Tàu, mốt Tây là món cơm chay chao, tương hột, canh rau, nấm rơm, đậu hũ… với bánh ít, bánh tét, chè kiểm tráng miệng.

Bữa ăn tuy đơn giản nhưng ngon miệng vì đáp ứng được tánh thanh đạm của khẩu vị người miền Nam. Có người còn khám phá bữa cơm chay nhà chùa, thường là chùa nghèo, với gạo loại dở nhất, với rau củ tầm thường nhất nhưng lại an toàn, bởi trong hàng loạt vụ ngộ độc thực phẩm được báo chí la làng um sùm chưa có sự cố ngộ độc thực phẩm nào từ bữa cơm chùa cả.

Tuy nhiên bữa cơm chùa, thường là chùa nhà giàu, đã thay đổi theo thời thượng. Có những chùa danh tiếng thí thực mùa Vu Lan bằng món bún bò chay, phở chay, hủ tíu chay, có chùa đãi cơm sườn chay, lẩu chay, có chùa làm cả một tiệc puffet với hàng chục món. Hẳn nhiên tất cả các loại nguyên liệu thịt chay, cá chay, hải sản chay… đều có gốc Hoa, hàng cao cấp thì là hoa Ðài Loan, thứ cấp là Hoa Tàu cộng, còn thường là Hoa Chợ Lớn.

Chúng tôi vào một siêu thị thực phẩm chay trên đường Trần Quí, quận 11. Vô siêu thị đồ chay này mới biết giới ăn chay thời thượng có cả một vương quốc riêng, các nguyên liệu làm món chay ở đây đáp ứng đủ loại cho giới chay nhà giàu. Ðơn cử như ăn chay mà còn thèm lẩu dê hay lẩu cá… là có ngay.

Nhưng đóng góp cho việc sáng chế món chay thời hiện đại chính là giới trẻ. Nhu cầu tạo mốt chay kiểu tuổi teen của họ đã giúp cho mùa chay Sài Gòn ít bảo thủ đơn điệu. Tuổi trẻ Việt ở các đô thị lớn ngày càng thần phục trào lưu fastfood; họ vui fastfood, buồn cũng fastfood, ngày ba bữa mài quần ở cửa hàng fastfood và vào mùa chay họ cũng theo “đạo” ăn chay fastfood.









Vu Lan, các nhà chùa ở đô thị chật chội bày ra lề đường mở tiệc chay mời Phật Tử. (Hình: Phùng Thức/Người Việt)


Mốt ăn chay kiểu Tây, chay fastfood là hamburger chay, pizza chay, gà rán chay… Ở một quán cà phê kiêm thêm vụ món fastfood chay, thuộc quận 1. Người bán cho biết, “Cứ lấy tàu hủ ky, tàu hủ tươi, làm nhưng kèm với phô mai và đặc biệt là lá rau thơm có gốc Tây chế thành hamburger, pizza, bittet… là có món chay đa dạng hơn cả các hệ thống KFC, Lotteria….”

Với những nguyên liệu có gốc Tây như trái ôliu, phômai, ớt chuông, bông cải, nấm… phải nói là các món fastfood chay Sài Gòn thật ngon và tạo cảm giác an toàn hơn ăn một món chay kiểu Tàu với hương liệu hóa học bậy bạ.

Bên cạnh những món chay thuộc trào lưu fastfood, vài năm gần đây người Sài Gòn nhà giàu còn rủ nhau đi ăn sushi chay của Nhật, cơm trộn chay của Hàn… chỉ có điều dân nhập cư cao cấp Ðông Bắc Á giới thiệu các món chay tuy có lạ miệng, nhưng giá trên trời. Thử hỏi một phần sushi chay hoặc cái lẩu đậu hũ kim chi chay mà có giá vài trăm ngàn thì người đi ăn hủ tíu chay, mì xào chay ở Xóm Giá quận 11 đâu ai thèm ngó tới.

Người Sài Gòn vốn dễ tánh trong việc du nhập các món ăn lạ, nhưng lại khó tánh trong việc cho vô thực đơn để ăn lâu dài. Trên hết là trào lưu ăn chay kiểu thanh tịnh của người xưa đang được người Sài Gòn ưa chuộng. Chọn lọc nguồn thực phẩm an toàn cho một bữa cơm với canh chua chay, rau muống xào chay, đậu hũ chiên sả, nấm rơm kho tiêu là bữa ăn thượng hạng đối với tâm linh và sức khỏe trong thời buổi mạt pháp đầy vấn nạn.

Họp ASEAN căng thẳng vì tranh chấp Biển Ðông


NAY PYI TAW (NV)
Cuộc họp cấp ngoại trưởng của ASEAN và các đối tác khu vực sẽ căng thẳng vì tranh chấp Biển Ðông, hậu quả của tham vọng bá quyền bành trướng của Bắc Kinh.


Tại thủ đô Nay Pyi Taw của Miến Ðiện, mười nước ASEAN họp riêng trong ngày 8 tháng 8, 2014, rồi sau đó họp chung với các đối tác gồm Úc, Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Nam Hàn, Nga, Hoa Kỳ và Liên Âu trong Diễn Ðàn khu vực Ðông Nam Á ( ASEAN Regional Forum) gọi tắt là ARF diễn ra hàng năm.









Ngoại Trưởng Phạm Bình Minh (phải) của Việt Nam tại hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN ở Miến Ðiện hôm 8 tháng 8, 2014. (Hình: Getty Images)


Dự trù trong các cuộc họp này, Việt Nam, Philippines và Hoa Kỳ sẽ hô hào giảm đối đầu hay gây căng thẳng ở các khu vực tranh chấp trên Biển Ðông. Ðể đạt được mục đích, cần phải dừng ngay các hoạt động xây dựng từ xây cơ sở dinh thự, bến tàu, hay quy mô hơn, hút cát làm đảo nhân tạo mà Bắc Kinh đang làm.


Một bên là những nước tranh chấp như Việt Nam, Philippines, Malaysia với sự ủng hộ của các đối tác, đặc biệt là Hoa Kỳ, một bên là Trung Quốc với sự theo đuôi của Cambodia và một hai nước khác sợ mất lợi lộc kinh tế từ Bắc Kinh. Ðề tài được chú trọng đặc biệt ở kỳ họp này là thúc đẩy giảm căng thảng Biển Ðông, vì thế, sẽ trở thành đề tài nóng giữa những quan điểm đối chọi, theo giới phân tích thời sự quốc tế.


Những hành động ngang ngược gần đây của Bắc Kinh như mang giàn khoan khổng lồ tới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần Hoàng Sa, hút cát xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa, và mới một ngày trước, báo chí Bắc Kinh loan tin nước này sắp xây dựng hải đăng tại 5 đảo và bãi đá ngầm ở quần đảo Hoàng Sa.


“Hoa Kỳ đang vận động các nước tham dự ARF tuân thủ luật lệ quốc tế để giữ cho tình hình ở Biển Ðông được yên bình.” Ông Carl Thayer, chuyên viên về Việt Nam và Á Châu của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc đưa nhận xét với thông tấn AFP. “Họ ủng hộ việc dừng lại các hoạt động khiêu khích.”


Tuy nhiên, theo ông Bắc Kinh nhiều phần sẽ giữ lập trường cứng rắn, chống lại sự can dự của Hoa Kỳ.


Phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ Daniel Russel nói với báo chí ở Hoa Thịnh Ðốn hôm Thứ Năm trước khi Ngoại Trưởng John Kerry tới thủ đô Miến Ðiện rằng trong khi chính sách đối với khu vực Ðông Á của Hoa Kỳ là “không đối địch hay kềm chế Trung Quốc,” các cuộc thảo luận sẽ thẳng thắn nhằm giảm căng thẳng.


Giới phân tích thời sự tin rằng Trung Quốc sẽ bác bỏ các lời kêu gọi dừng các hoạt động xây dựng trên Biển Ðông và cũng chống chế rằng các hoạt động đó không phải là khiêu khích. Bắc Kinh vẫn lập luận là họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với gần hết khu vực Biển Ðông dù họ chỉ năm ở hướng bắc, bao gồm tất cả các bãi đá ngầm, nhóm đảo nhỏ gần với các nước khác hơn.


Mối quan hệ gihữa hai nước cộng sản láng giềng Việt Nam và Trung Quốc chùng xuống hẳn sau nhiều năm khăng khít vì Bắc Kinh đưa giàn khoan khổng lồ HD981 tới vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam mò tìm dầu khí, phía Nam quần đảo Hoàng Sa. Hành động ngang ngược của Bắc Kinh đã tạo ra cuộc đối đầu ngày đêm từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 7 vừa qua giữa hai nước.


Rất nhiều chuyên gia quốc tế cũng như không ít người ở Việt Nam tin rằng việc Bắc Kinh rút giàn khoan HD981 không phải là mọi chuyện trở lại bình thường mà chỉ là rút lui chiến thuật của Trung Quốc trước phản ứng bất lợi của dự luận quốc tế và phản ứng của Việt Nam.


Philippines đã kiện Trung Quốc ra tòa án trọng tài quốc tế và chế độ Hà Nội cũng đã bắn tiếng chuẩn bị tài liệu để kiện nhưng đến nay, người ta vẫn không thấy gì xảy ra từ phía Việt Nam.


Cuối tháng trước, hơn 60 đảng viên đảng CSVN, phần lớn đều là những người có nhiều tuổi đảng và từng nắm nhiều chức vụ quan trọng ký tên chung trong một bức thư kêu gọi nhà nước kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế nhưng không thấy nhà cầm quyền ra một tín hiệu gì. (TN)

Vì vàng, sở thuế đấu khẩu với Tập Ðoàn Bersa


QUẢNG NAM (NV) – Cuộc đối thoại giữa đại diện Cục Thuế Quảng Nam với đại diện Tập Ðoàn Bersa đã chuyển thành đấu khẩu. Hai bên chỉ trích lẫn nhau quanh sự kiện hai nhà máy vàng ở Quảng Nam đóng cửa.








Cục Thuế Quảng Nam cho biết, tuy đã khai thác khoảng 7 tấn vàng nhưng cả hai nhà máy vàng của Tập Ðoàn Besra vừa thiếu thuế, vừa nợ nhiều doanh nghiệp, cá nhân hàng trăm tỉ đồng. (Hình: Thanh Niên)


Bersa là tên một tập đoàn của Úc, đầu tư 100 triệu Mỹ kim để xây dựng và khai thác hai nhà máy vàng Bồng Miêu và Ðắk Sa.

Nhà máy vàng Bồng Miêu, tọa lạc tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam và nhà máy vàng Ðắk Sa, tọa lại tại huyện Phước Sơn, Quảng Nam.

Hồi hạ tuần tháng 7, Tập Ðoàn Bersa tuyên bố đóng cửa hai nhà máy vàng Bồng Miêu và Ðắk Sa. Ðiều này làm cho 1.000 công nhân thất nghiệp.

Bersa tố cáo, từ tháng 4 đến nay, chính quyền tỉnh Quảng Nam đã gây nhiều khó khăn cho họ, chẳng hạn như: phong tỏa tài khoản ngân hàng, vô hiệu hóa các hóa đơn do hai nhà máy vàng Bồng Miêu và Ðắk Sa phát hành,… khiến tập đoàn này không còn lựa chọn nào khác.

Cục Thuế Quảng Nam thì cáo buộc Tập Ðoàn Bersa đang nợ ngân sách Việt Nam khoảng 297 tỉ bao gồm cả tiền thuế tài nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền phạt do chậm nộp thuế. Các biện pháp mà chính quyền tỉnh Quảng Nam đã áp dụng chỉ nhằm buộc Tập Ðoàn Bersa phải nộp thuế.

Trong cuộc họp vừa kể, ông David Seton, chủ tịch Tập Ðoàn Bersa, cho biết, tập đoàn này bất ngờ gặp khó khăn về tài chính khi giá vàng xuống thấp, hai mỏ vàng bị thiên tai. Tập đoàn này buộc phải đóng cửa hai nhà máy vàng vì Cục Thuế Quảng Nam thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế. Theo ông Seton, sở dĩ Bersa nợ thuế là vì chính sách thuế bất hợp lý.

Ông David Seton còn cáo buộc báo chí Việt Nam đã thông tin sai lạc, chỉ đưa ý kiến của Cục Thuế Quảng Nam, không kiểm chứng những thông tin này từ phía Bersa. Theo ông Bersa, việc đưa tin Bersa chỉ khai thác vàng không trả thuế, không chịu cam kết trả các khoản nợ trước đây về thuế, thiếu lương công nhân,… là không chính xác.

Ông Seton đề nghị cho Bersa trả khoản nợ thuế trong 24 tháng thay vì phải trả trong 12 tháng theo qui định của luật Việt Nam. Theo ông Seton thì có nhiều tổ chức, cá nhân đang muốn lấy mỏ mà Bersa đã đầu tư để khai thác tiếp, song ông khẳng định những cá nhân và tổ chức đó sẽ hoạt động không hiệu quả như Bersa.

Bersa dự tính mở cửa để hai nhà máy vàng Bồng Miêu và Ðắk Sa hoạt động trở lại trong tháng tới. Ông Seton bày tỏ hy vọng chính sách tài chính, chính sách thuế và thủ tục hành chính sẽ tốt hơn. Bersa sẽ trình bày kế hoạch trả nợ khi tái hoạt động.

Ðáp lại, ông Lương Ðình Ðường, cục phó Cục Thuế Quảng Nam, khẳng định, cơ quan này đã nhiều lần gia hạn việc nộp thuế nhưng hai nhà máy vàng của Bersa vẫn không trả thuế. Khoản nợ thuế càng ngày càng lớn. Chuyện nợ thuế vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là chính đáng, không thể lấy lý do bị cưỡng chế thuế làm nguyên nhân đóng cửa, ngưng hoạt động. Ông Ðường còn khẳng định, Cục Thuế Quảng Nam có đủ thông tin, tài liệu để khẳng định hai nhà máy vàng cố tình không thực hiện nghĩa vụ thuế.

Cuộc đối thoại giữa Bersa và Cục Thuế Quảng Nam trước báo giới vốn đã căng thẳng lại thêm căng thẳng khi ông Lê Ðình Thục, giám đốc Công Ty Trường Xuân – một doanh nghiệp chuyên kinh doanh xăng dầu, tại thành phố Tam Kỳ, đột nhiên đứng dậy, đòi ông Seton trả nợ. Ông Thục cho biết, cả hai nhà máy vàng của Bersa đang nợ công ty của ông 6,5 tỉ đồng. Ông Thục yêu cầu cho biết, nếu hai nhà máy vàng này đóng cửa thì khoản nợ vừa kể sẽ thế nào. Ông Seton trả lời, đó sẽ là chuyện do tòa phân xử, đồng thời cáo buộc Công Ty Trường Xuân gian lận trong buôn bán. Nhân viên của Besra đã yêu cầu ông Thục rời khỏi phòng họp. Còn ông Thục thì tuyên bố ý kiến của ông Berson là vu cáo và ông sẽ kiện.

Cuối cuộc đối thoại, ông Seton thừa nhận, việc hai nhà máy vàng “có doanh thu nhưng không trả nợ thuế” là đúng. Ông Seton cũng rút lại những cáo buộc về việc báo giới thông tin sai.

Cũng cần nhắc thêm, ngoài việc nợ thuế, hai nhà máy vàng của Tập Ðoàn Bersa còn nợ nhiều doanh nghiệp, cá nhân. Hồi cuối năm ngoái, sau khi có tin, Bersa dự định đóng cửa nhà máy vàng Ðắk Sa, hàng trăm người cư ngụ tại thị trấn Khâm Ðức, huyện Phước Sơn, đã đổ tới nhà máy, vây kín cổng để yêu cầu thanh toán ngay các khoản nợ mà nhà máy này đang thiếu họ. (G.Ð)

Dịch bệnh ở Việt Nam gia tăng là vì ô nhiễm


HÀ NỘI (NV) – Nguồn nước ô nhiễm, môi trường sống ô nhiễm, thực phẩm không hợp vệ sinh là lý do chính khiến đủ loại dịch bệnh liên tục bùng phát tại Việt Nam trong thời gian vừa qua.








Một bệnh nhi nhiễm virus gây chứng tay chân miệng đang được điều trị tại Bệnh Viện Nhi Ðồng 1 ở Sài Gòn. (Hình: Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn)


Ðó là nhận định của bộ trưởng Y Tế Việt Nam khi đến khảo sát tình hình dịch bệnh tại Sài Gòn.

Trong vòng bảy tháng vừa qua, tại Việt Nam đã có hàng chục đợt dịch khác nhau, bùng phát khắp nơi.

Chẳng hạn, các đợt dịch tiêu chảy cấp tính diễn ra ở nhiều nơi từ trong Nam ra tới ngoài Bắc khiến 300,000 người phải vào bệnh viện cấp cứu. Năm người trong số này đã thiệt mạng.

Ðồng hành với dịch tiêu chảy cấp tính là dịch sốt xuất huyết và dịch tay chân miệng. Hai loại dịch này cũng đã xảy ra khắp nơi. Từ đầu năm 2014 đến nay, tại Việt Nam có 13,000 người mắc sốt xuất huyết, phải vào bệnh viện điều trị, 8 người trong số 13,000 bệnh nhân này đã tử vong. Tương tự, từ đầu năm 2014 đến nay, tại Việt Nam có khoảng 38,000 đứa trẻ bị bệnh tay chân miệng, 2/38,000 đứa trẻ này đã chết.

Ðáng chú ý là các viên chức y tế vừa cảnh báo, có nhiều dấu hiệu cho thấy, từ nay đến cuối năm, dịch sốt xuất huyết và dịch tay chân miệng ở Việt Nam sẽ bùng phát mạnh mẽ và hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn.

Sởi vốn là bệnh truyền nhiễm mà ngành y tế Việt Nam từng hoan hỉ loan báo đã loại trừ khỏi Việt Nam cũng đột nhiên phát triển thành dịch. Trong bảy tháng qua, sởi bùng phát thành dịch tại tất cả các tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Tính ra có 33,500 trường hợp nhiễm sởi và có đến 147 người uổng mạng vì sởi.

Viêm não Nhật Bản trước đây chỉ lây lan ở miền Bắc, nay có dấu hiệu lan rộng vào miền Nam. Dịch viêm não Nhật Bản tấn công 565 người, 22 người trong số này đã chết. Ðáng lưu ý là riêng tỉnh Sơn La, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, có đến 100 đứa trẻ bị viêm não cấp.

Bộ trưởng Y Tế Việt Nam nhấn mạnh, sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam đang bị đe dọa bởi đủ thứ dịch vừa vì nguồn nước, vừa vì môi trường bị ô nhiễm trầm trọng và thực phẩm không an toàn cho sức khỏe.

Theo bà ta, không thể chống dịch tiêu chảy cấp tính khi thực phẩm thiếu vệ sinh và đặc biệt là nguồn nước được cung cấp cho dân chúng cư trú ở các đô thị ăn uống, không đủ tinh khiết.

Sau khi thực hiện một cuộc khảo sát hồi tháng 6, Cục Quản Lý Môi Trường của Bộ Y Tế Việt Nam cho biết, mẫu nước được lấy từ 1,722 cơ sở cấp nước có công suất từ 1,000 mét khối/ngày trở lên, có 18% không đạt chỉ tiêu lý hóa và có 6% và không đạt chỉ tiêu vi sinh.

Thậm chí, ngay tại Sài Gòn đã có ba nhà máy cung cấp nước không đạt tiêu chuẩn vì hàm lượng mangan và sắt cao hơn mức cho phép. Một số nhà máy khác có hàm lượng clorua quá thấp.

Nếu dịch tiêu chảy cấp lan rộng vì thực phẩm thiếu vệ sinh và nguồn nước ăn uống bị ô nhiễm thì các loại dịch khác như sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi, viêm não bùng phát bởi ô nhiễm môi trường. Ðây lại không chỉ là chuyện thuộc phạm vi trách nhiệm của Bộ Y Tế. Cũng vì vậy, việc ngăn chặn dịch bệnh tại Việt Nam sẽ trở thành vấn đề nan giải. (G.Ð)

Dân cử tổ chức ‘Ngày gia đình sinh hoạt ngoài trời’ tại Westminster

WESTMINSTER, California (NV)“Ngày Gia Đình Sinh Hoạt Ngoài Trời” do các dân cử tổ chức, gồm Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa hợp tác với Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal, Thị Trưởng Trí Tạ, các nghị viên của Hội Đồng Thành Phố Westminster, và các tổ chức trong cộng đồng, sẽ diễn ra từ 10 giờ 30 sáng đến 1 giờ trưa, Thứ Bảy, 9 Tháng Tám, tại công viên Sigler Park,  7200 Plaza St., Westminster, CA 92683, nhằm phát huy những sinh hoạt cộng đồng bổ ích cho cư dân trong mùa Hè, theo thông cáo báo chí của văn phòng Thượng Nghị Sĩ Lou Correa.


Trẻ em và gia đình vui vẻ sinh hoạt ngoài trời tại Siegler Park do Thượng Nghị Sĩ Lou Correa tổ chức. (Hình: Linh Nguyễn/Người Việt)

 
“Trong thời gian con em nghỉ hè, phụ huynh nào cũng muốn tìm những sinh hoạt giáo dục và bổ ích cho con cái mình. Đây là một cơ hội tốt dành cho mọi gia đình trong cộng đồng Orange County, đến với nhau để học hỏi về thói quen sức khỏe lành mạnh và các biện pháp hữu hiệu chống bệnh béo phì,” Thượng Nghị Sĩ Lou Correa được trích lời nói.
 
Cũng theo bản thông cáo, chương trình bao gồm nhiều tiết mục phong phú cho mọi người trong gia đình.

“Với các trò chơi hoạt động, khám sức khoẻ miễn phí, và dịp để nhận nhiều nguồn thông tin bổ ích từ các cơ quan y tế trong cộng đồng, trẻ em có thể tham gia nhiều trò chơi vui nhộn như tập thể dục, nhảy múa, thi ăn dưa hấu,” bà Quyên Trần, phụ tá văn phòng vị dân cử địa hạt 34, vui vẻ xác nhận với phóng viên nhật báo Người Việt

Bà cho biết thêm rằng “các tổ chức cộng đồng địa phương sẽ đóng góp các tiết mục biểu diễn võ thuật, văn nghệ. Đặc biệt, có khám răng miễn phí cho trẻ em, tặng đồ chơi cho trẻ em và trái cây cho gia đình.”

“Thượng Nghị Sĩ Lou Correa và các tổ chức bảo vệ sức khoẻ cộng đồng rất mong các cư dân đưa gia đình, nhất là con em đang được nghỉ hè, đến tham dự đông đảo buổi sinh hoạt vui nhộn, lý thú này,” người phụ tá nói.

Mọi chi tiết, xin liên lạc Quyên Trần tại (714) 558-4400  hoặc email [email protected].

Việt Nam lập ‘hải đội đặc nhiệm’ bảo vệ Trường Sa


NHA TRANG (NV) – Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Biển Việt Nam hôm 7 tháng 8, 2014 đã quyết định thành lập một hải đội đặc nhiệm để bảo vệ vùng biển Trường Sa.








Tàu cảnh sát biển CSB 8001 được trang bị cho Hải Ðội Ðặc Nhiệm 302. (Hình: Người Lao Ðộng)


Hải đội mới mang số 302 thuộc vùng “Cảnh sát biển 3” sẽ đặt bản doanh tại tại vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa và được trang bị tàu cảnh sát biển 8001 Bộ Tự lệnh mô tả là “ một trong những tàu cảnh sát biển hiện đại nhất Ðông Nam Á.”

Việt Nam nói quyết định này là “để thực hiện chức năng quản lý về an ninh trật tự an toàn bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam cũng như điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, tại vùng biển Nam Trung Bộ và quần đảo Trường Sa.”

Báo chí Việt Nam trích lời Ðại Tá Ðỗ Hồng Ðó, chính ủy Vùng Cảnh Sát Biển 3 cho biết, “Vùng biển đơn vị Hải Ðội 302 được giao quản lý là vùng biển nhạy cảm, có nhiều diễn biến phức tạp như tình trạng các tàu thuyền nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam, xâm phạm chủ quyền, đánh bắt hải sản trái phép.”

Theo báo Thế Giới Mới, tàu CSB 8001 có công suất 12,000 mã lực, lượng giãn nước hơn 2,500 tấn, chiều dài 90.5 m, rộng 14 m, có sân đậu trực thăng, hai vòi rồng phun nước tốc độ cao. Khi thực hiện cứu nạn, tàu có thể chứa 120 người ăn, ngủ và kéo được tàu có lượng giãn nước 2,200 tấn.

Nhóm chữ “tàu thuyền nước ngoài” xâm phạm và đánh bắt trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, đa số là tàu cá Trung Quốc, vẫn thường xuyên vào sâu trong nhiều vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam từ Hải Phòng vào tới tận Vũng Tàu để đánh bắt mà chưa bao giờ bị Cảnh Sát Biển Việt Nam bắt tù hay tịch thu tài sản, ngư cụ.

Ngược lại, từ năm 2005, lực lượng Hải Giám Trung Quốc đã rất nhiều lần tấn công, bắn giết và tịch thu ngư cụ, tài sản của ngư dân Việt Nam, đa số từ Quảng Ngãi ra đánh bắt ở hai vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa.

Một số tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam bị tàu tuần Trung Quốc lôi về đảo Phú Lâm trong quần đảo Trường Sa rồi đòi tiền chuộc.

Trung Quốc cướp quần đảo Hoàng Sa từ năm 1974 và chiếm luôn 8 đảo và đá ngầm ở Trường Sa năm 1988, nhưng CSVN vẫn không dám đánh đuổi hay kiện ra Tòa Án Quốc Tế như Philippines đã làm, ngay cả khi Trung Quốc đặt giàn khoan Hải dương 981 vào tìm kiếm dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chỉ cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) khoảng 120 hải lý từ 2 tháng 5 đến 15 tháng 7, 2014.

Ngoài ra Trung Quốc cũng đang hút cát làm “đảo nhân tạo” trên một số khu vực chiếm đóng ở Trường Sa mà Hà Nội cũng chỉ phản đối suông. (PT)

Hoạt động của Trung Quốc ở Hoàng Sa là bất hợp pháp


HÀ NỘI (NV) – Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam vừa tuyên bố như thế, sau khi có tin Trung Quốc đưa tàu đến Hoàng Sa khảo sát dầu khí và xác định vị trí dựng năm hải đăng.








Nhân viên Trung Quốc khảo sát việc xây dựng 5 hải đăng tại năm hòn đảo trong khu vực quần đảo Hoàng Sa. (Hình: news.sina.com)


Trong cuộc họp báo mới nhất tại Hà Nội, ông Lê Hải Bình, Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Việt Nam cho biết, Việt Nam đang xác minh những thông tin có liên quan đến việc Trung Quốc sẽ đưa tàu Thạch Du 721 vào vùng biển của Việt Nam để khảo sát địa chất – thăm dò trữ lượng dầu khí và tìm địa điểm dựng năm hải đăng ở năm hòn đảo (Ðá Bắc, Ðá Hải Sâm, Duy Mộng, Cồn Cát Nam và Hòn Tháp) trong quần đảo Hoàng Sa.

Ông Bình nhấn mạnh, tất cả các hoạt động của Trung Quốc ở Hoàng Sa, vừa bất hợp pháp, vừa vô giá trị vì Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo ông Bình, tất cả hoạt động của những quốc gia đang có tranh chấp chủ quyền ở những vùng biển này phải theo đúng luật pháp quốc tế và phải tôn trọng quyền tài phán của các quốc gia ven biển.

Sau khi Trung Quốc rút giàn khoan 981 khỏi quần đảo Hoàng Sa hồi giữa tháng 7, tranh chấp chủ quyền trên Biển Ðông giữa Trung Quốc và các lân bang vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tuyên bố khảo sát địa chất – thăm dò trữ lượng dầu khí và tìm địa điểm dựng năm hải đăng ở năm hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc có vẻ như nhằm dằn mặt không chỉ Việt Nam.

Cách nay vài ngày, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Philippines loan báo, đã có ít nhất ba quốc gia là Việt Nam, Indonesia và Brunei tuyên bố ủng hộ đề nghị ngưng xây dựng các công trình trên Biển Ðông của Philippines.

Tuần trước, Philippines đưa ra đề nghị vừa kể trong bối cảnh Trung Quốc đang biến nhiều bãi đá tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành căn cứ quân sự.

Sau khi Philippines đưa ra đề nghị ngưng xây dựng các công trình trên Biển Ðông, Trung Quốc lập tức khẳng định, Trung Quốc có quyền làm bất cứ việc gì, xây dựng bất kỳ cái gì mà Trung Quốc muốn trên các hòn đảo mà Trung Quốc đã nhận chủ quyền ở Biển Ðông.

Ông Yi Xianliang, vụ phó Vụ Biên Giới và Ðại Dương của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, còn cáo buộc rằng, đề nghị của Philippines là vô ích vì chúng làm suy yếu những nỗ lực xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Ðông (COC) của Trung Quốc và ASEAN. Ông Yi còn phản đối việc Hoa Kỳ tham gia giải quyết vấn đề Biển Ðông, với đề nghị giữ nguyên hiện trạng Biển Ðông như trước ngày 1 tháng 5 (thời điểm trung Quốc đưa giàn khoan 981 đến khai thác dầu khí ở quần đảo Hoàng Sa), vì theo ông ta, Biển Ðông là vấn đề của Châu Á.

Philippines hy vọng sẽ có nhiều quốc gia lên tiếng ủng hộ đề nghị của mình tại các cuộc họp của khối ASEAN đã khai mạc hôm 5 tháng 8 và sẽ kéo dài đến hết ngày 10 tháng 8.

Mới đây, sau một cuộc họp diễn ra từ 5 tháng 8 đến 7 tháng 8, ở Miến Ðiện, nhằm chuẩn bị cho một số hội nghị của các ngoại trưởng trong khối ASEAN và giữa đại diện ASEAN với các đối tác (từ 8 tháng 8 đến 10 tháng 8), các viên chức cao cấp của ASEAN vừa nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Ðông, vừa bày tỏ sự lo ngại sâu sắc về các diễn biến gần đây trên Biển Ðông.

Nhân danh ASEAN, những viên chức này yêu cầu tất cả các bên có liên quan nghiêm túc tuân thủ luật pháp quốc tế, không tái diễn những hành động phức tạp. Ðồng thời nhận định rằng phải thúc đẩy các biện pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện đầy đủ, hiệu quả tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Ðông (DOC), sớm đạt được COC.

Tuy nhiên thực tế cho thấy, Trung Quốc không hề bận tâm đến tất cả những diễn biến này. (G.Ð)

Bước lui tạm thời và âm mưu lâu dài


Song Chi/Người Việt



Nhìn lại thời gian 75 ngày Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (2 tháng 5 đến 16 tháng 7, 2014), xã hội Việt Nam thực sự đã “nổi sóng.”

Ðứng trước nguy cơ mất biển, tiếp theo là mất nước, người Việt, dù thuộc thành phần nào, quan điểm chính trị ra sao, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, đều lo lắng, phẫn nộ.









Nghị Sĩ John McCain phát biểu ở Hà Nội là Hoa Kỳ sẽ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam trong tháng tới. (Hình: Getty Images)


Từ người lái xe ôm, bà bán quán cho đến anh trí thức, từ báo chí “lề đảng” cho tới “lề dân,” các trang mạng xã hội…chủ đề quan tâm chính là cái giàn khoan, là mưu đồ bành trướng quá rõ ràng của Trung Cộng và tương lai của đất nước.

Lòng yêu nước tưởng chừng đã ngủ quên dưới những lo toan cơm áo hàng ngày, lại bừng thức dậy.

Trong thời gian đó, rõ ràng nhà cầm quyền Việt Nam phải chịu một sức ép to lớn từ phía người dân. Dân chúng chờ xem họ sẽ hành động như thế nào để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ lãnh hải của tổ tiên để lại mà cũng là bảo vệ tính chính danh và lý do tồn tại của đảng cầm quyền. Liệu họ có dám công khai phản đối Trung Cộng, có dám kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế, mạnh hơn nữa, họ có dám “thoát Trung”?


Chưa bao giờ những lời kêu gọi xem xét lại mối quan hệ Việt-Trung, tiến tới “thoát Trung,” “thoát Cộng,” cải cách thể chế chính trị, liên minh quân sự với các nước dân chủ để cứu nước…lại công khai như vậy.

Thế nhưng, lại một lần nữa, người dân bị thất vọng nặng nề. Nhà cầm quyền Việt Nam hoàn toàn bối rối, bất lực, không thể và cũng không dám đối phó lại ngón đòn vỗ mặt của đàn anh.

Mặc dù trên mặt trận truyền thông, báo chí đã được phép lên án công khai Trung Cộng. Nhưng trên biển, những động thái của Việt Nam chỉ là đưa lực lượng tàu kiểm ngư và tàu chấp pháp, ít, nhỏ và yếu hơn hẳn lực lượng tàu bảo vệ giàn khoan các loại của Trung Cộng, chạy loanh quanh phía xa bên ngoài để kêu gọi giàn khoan phải rút đi và đẩy ngư dân ra làm “lá chắn sống.” Ngoài ra, chủ yếu là…kịch liệt phản đối mồm và kêu gọi quốc tế, nhất là Hoa Kỳ lên tiếng giúp!

Nội bộ Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam bất hòa, chia rẽ sâu sắc trong việc tìm cách chống đỡ lại trò khiêu khích của Bắc Kinh, thể hiện qua hàng loạt lời phát biểu cho tới hành động bất nhất, “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” của các quan chức, chính khách Việt.

Phép thử của Trung Cộng qua vụ giàn khoan, về nhiều mặt, đã thành công.

Bắc Kinh đã chứng tỏ với thế giới và với chính người dân Việt Nam rằng họ có thể kiểm soát được mọi động tĩnh từ phía Hà Nội, và họ hoàn toàn có thể muốn làm gì thì làm trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Phép thử đó cũng cho thấy sự cô đơn của Việt Nam. Trong tương lai nếu Việt Nam xảy ra chuyện đụng độ, kể cả chiến tranh với Trung Quốc, sẽ không có quốc gia nào, từ khối ASEAN cho tới phương Tây, Hoa Kỳ, đứng bên cạnh Việt Nam để đổi lấy sự thiệt hại trong mối quan hệ với nước lớn Trung Quốc. Bởi vì Việt Nam không phải là đồng minh của nước nào cả.

Mục đích đã đạt được, cộng thêm sức ép từ Hoa Kỳ và các nước dân chủ, đồng thời cảm thấy cũng chưa phải lúc để đi quá xa, Bắc Kinh đã cho giàn khoan rút đi chỗ khác.

Nhưng điều đáng nói hơn là Việt Nam sẽ làm gì lúc này, và trong thời gian tới?

Trước đó, ngay khi giàn khoan HD-981 còn đang sừng sững cắm sâu trong vùng biển của Việt Nam, nhà văn lão thành Nguyên Ngọc có nói một câu đại ý: Sợ nhất là giàn khoan lẳng lặng rút đi và mọi chuyện chìm, lại rơi trở lại trạng thái cũ.

Bây giờ, quả thật, khi giàn khoan của Tàu Cộng tạm thời rút đi, từ nhà cầm quyền cho đến báo chí, người dân… “xẹp” hẳn xuống, tưởng như không hề có sự cố nghiêm trọng vừa qua, tưởng như “Biển Ðông lại trở về yên tĩnh, không có gì mới.”

Và tất nhiên, chuyện của ta mà ta còn cố quên đi thì thế giới, với bao nhiêu sự kiện nóng hơn đang xảy ra, lại càng quên.

Trong khi đó thì Trung Cộng vẫn tiếp tục lẳng lặng thực hiện chiến lược của họ. Tiếp tục xây cất các công trình dân sự và quân sự trên những quần đảo đã chiếm được của Việt Nam, đặc biệt là Hoàng Sa, theo chủ thuyết “chủ quyền thực tế,” đặt các bên liên quan trước “sự đã rồi.” Tiếp tục xua hàng ngàn hàng vạn tàu cá ra chiếm lấy Biển Ðông, đầu tư càng ngày càng lớn vào quốc phòng, nhất là hải quân, đóng thêm các giàn khoan khủng khác…

Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ từ bỏ giấc mộng chiếm hữu Biển Ðông, bành trướng sức mạnh ra bên ngoài, việc rút giàn khoan của Trung Cộng chỉ là tạm lùi một bước để rồi sẽ quay trở lại bất cứ khi nào có thể.

Nói cách khác, Bắc Kinh luôn lợi dụng mọi thời gian “tạm hoãn” để củng cố sức mạnh, đồng thời sử dụng những chiêu thức khác nhau để vẫn thực hiện được âm mưu, chiến lược lâu dài của mình nhưng không gây ra phản ứng quá lớn từ quốc gia mà họ đang xâm lược cho đến dư luận quốc tế.

Ðứng trước sự thật này, điều mà nhà cầm quyền Việt Nam cần phải làm, đó là cũng tranh thủ thời gian để kịp thời sửa chữa những bước đi sai lầm trong quá khứ, tích cực thay đổi để tự cứu mình.

Bởi, ai cũng thấy, Việt Nam, vốn không thể so sánh với Trung Quốc về sức mạnh quốc phòng, nếu vẫn không tự cải cách thể chế, không thể hùng mạnh hơn về kinh tế, cũng không có những thay đổi trong đường lối ngoại giao để có thêm đồng minh thì mối nguy cơ mất biển, mất nước vẫn còn nguyên.

Và khi Trung Cộng trở lại với những giàn khoan khủng mới, những chiến lược mới, nhà cầm quyền Việt Nam chỉ còn nước bó tay đầu hàng. Mà thực tế qua vụ HD-981, như vừa nói ở trên, thì họ đã đầu hàng rồi!

Nhưng hiện tại, “hậu giàn khoan HD-981,” nhà cầm quyền Việt Nam lại chưa cho thấy bất cứ dấu hiệu gì chứng tỏ họ đang chuẩn bị để thay đổi cả.

Mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân vẫn không hề được nới lỏng, nhân quyền vẫn tiếp tục bị chà đạp.

Các cá nhân lên tiếng đòi hỏi tự do ngôn luận và cải cách chính trị vẫn bị sách nhiễu, khủng bố tinh thần cách này cách khác. Hàng trăm hàng ngàn tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị, ngoại trừ một vài người được thả ra, còn lại vẫn bị giam giữ…

Ðối với Trung Cộng, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn không có bất cứ động thái nào muốn thoát ra. Sự có mặt của Trung Cộng, vô hình hay hữu hình, vẫn hiện diện khắp nơi, trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế cho tới quốc phòng.

Ngược lại, đối với Hoa Kỳ, quốc gia duy nhất có đủ sức mạnh để hỗ trợ Việt Nam đương đầu với Trung Cộng, cũng là quốc gia lên tiếng mạnh mẽ nhất trong vụ giàn khoan vừa qua, Việt Nam tiếp tục tỏ thái độ hai mặt khi ve vãn, lúc lại thù địch. Những tờ báo đảng như Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân, Công An Nhân Dân….vẫn thường xuyên chửi Mỹ, nhắc lại những “chiến công anh hùng đánh Mỹ” năm xưa bất cứ khi nào có thể.

Ngay cả trong một chuyến đi có tính chất ngoại giao sang Hoa Kỳ của Bí Thư Thành Ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị trong những ngày cuối tháng 7 vừa qua, ông ta cũng tìm cách hạ nhục Thượng Nghị Sĩ John McCain và Mỹ qua món quà nhắc lại sự kiện máy bay ông John McCain bị bắn, bản thân ông bị bắt sống, bị tù đày năm xưa.

Ðó không phải là sự vụng về hay ngu xuẩn, đó là sự cố tình, là thông điệp của Hà Nội gửi cho Washington rằng Việt Nam vẫn chưa quên quá khứ, và đừng có mơ Việt Nam sẽ thay đổi, sẽ đi theo con đường dân chủ của Hoa Kỳ và phương Tây vv…

Một lần nữa, đảng và nhà nước Việt Nam đã tự bỏ phiếu lựa chọn đặt lợi ích của đảng, của phe nhóm lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc.

Như những con đà điểu rúc đầu vào cát, những người đang lãnh đạo Ðảng và Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam tiếp tục làm ngơ trước mọi yêu cầu đỏi hỏi phải thay đổi từ thời cuộc và từ phía nhân dân.

Họ cứ ngỡ rằng, nếu tiếp tục nhịn nhục, tiếp tục đứng một mình không bắt tay với phương Tây và để yên cho Trung Cộng muốn làm gì thì làm trên biển cũng như trên lãnh thổ Việt Nam, thì Bắc Kinh sẽ để yên cho Ðảng Cộng Sản Việt Nam tồn tại. Và cũng không đi xa quá đến mức gây chiến tranh, thôn tính Việt Nam.

Sự thật là họ đã có quá nhiều kinh nghiệm đau thương với Trung Nam Hải mà vẫn cố tự ru ngủ mình.

Như trong câu chuyện cổ tích, có con hổ đói khát nào chịu dừng lại một khi nó đã thò được hai chân, rồi cả bốn chân vào bên trong nhà con cừu?

Bạn hay thù


Ngô Nhân Dụng


Kẻ thù của kẻ thù là bạn, bạn của kẻ thù là thù, người ta thường nghĩ như vậy. Trong tương quan giữa các nước, các chính phủ, điều này không chắc đúng. Ở Iraq, thế giới Ngàn Lẻ Một Ðêm đã kể những câu chuyện bất tận đêm này qua đêm khác, và các nước chung quanh, quan hệ bạn, thù, càng rắc rối hơn.

Ngày hôm qua, phi cơ Mỹ đã ném bom xuống vị trí của quân nổi dậy chống chính phủ Iraq. Tuần trước, Mỹ gửi giúp Thủ Tướng Nuri al-Maliki 100 hỏa tiễn Hellfire, mớ hàng đầu tiên trong số 500 đã được hứa hẹn từ đầu năm 2014. Mỹ sẽ bán cho Iraq máy bay chiến đấu F-16 và trực thăng tấn công Apache. Người Mỹ dựng lên chính phủ đó tại Baghdad, sau khi đem quân sang lật đổ chế độ Saddam Hussein.

Iran và Nga là những quốc gia thù nghịch Mỹ vì đều đang bị Mỹ phong tỏa kinh tế. Nhưng cả hai nước này cũng đang giúp ông Nuri al-Maliki. Iran cho quân sang hỗ trợ đạo quân Iraq đang thua tơi tả. Còn Nga trong tuần trước gửi máy bay chiến đấu Sukhoi, sau khi Putin nói ông không thể ngồi yên coi chính phủ Baghdad sụp đổ. Các giáo sĩ lãnh đạo nước Iran thuộc phái Hồi Giáo Shi A, họ phải giúp ông Maliki, người đồng đạo. Nga liên minh với Iran, với mục đích khuyến khích họ đừng chịu theo các điều kiện do Mỹ đòi hỏi.

Nếu Iran tiếp tục nhượng bộ, như họ chứng tỏ trong nửa năm qua, Mỹ sẽ giảm bớt việc phong tỏa, thì dầu hỏa của nước này sẽ bán được ra ngoài thế giới nhiều hơn. Cũng với lý do tương tự, Nga chẳng mong cho cuộc nội chiến ở Iraq chấm dứt. Chiến tranh khiến nhiều mỏ dầu nước này ngưng hoạt động, hoặc không đưa đi bán được. Ðó là hai nước xuất cảng nhiều dầu lửa nhất, sau Á Rập Saudi và Nga. Nếu nguồn cung cấp dầu lửa của cả hai nước cùng được giải tỏa thì giá dầu trên thế giới sẽ xuống, tiền thu vào cho ngân sách chính phủ Nga sẽ xuống theo.

Iran và Iraq vốn là những nước thù nghịch, đã đánh nhau hai lần khi ông còn Saddam Hussein. Hussein cai trị độc tài, khát máu, dùng tay chân thủ hạ theo phái Sun Ni, đàn áp đa số dân Iraq theo phái Shi A. Chính phủ Mỹ giết ông ta, nước Iran bớt được một kẻ thù nguy hiểm. Khi Hussein còn sống thì nhóm khủng bố Al-Qaeda không thể xâm nhập nước Iraq, vì ông không thể chấp nhận Osama bin-Laden dám cạnh tranh vai trò lãnh tụ dân Á Rập Hồi Giáo. Bây giờ, bin Laden chết rồi, các đệ tử của ông ta đứng ra đóng vai lãnh đạo dân Sun Ni khắp miền Trung Ðông. Họ nuôi tham vọng thành lập một “siêu quốc gia, umna,” của những người đồng đạo. Trước đây họ tự xưng là ISIS, hai chữ IS đầu tiên là “Islamic State,” quốc gia Hồi Giáo, hai chữ sau là Iraq và Syria. Nay, họ chỉ còn dùng hai chữ IS đầu. Vì tham vọng của họ rộng lớn hơn Syria, Iraq, nay đã tràn sang cả Lebanon và đe dọa những nước Á Rập khác.

Từ gốc gác, đám quân nổi dậy ISIS khởi nghiệp tại Iraq, khi tiến sang Syria, cùng những nhóm khác chống nhà độc tài Assad thì họ bị Al-Qaeda khai trừ. Sau đó nhóm này đã trở thành lớn mạnh nhất ở Syria. Nhưng chính vì có nhóm cựu Al-Qaeda này mà chính phủ Mỹ, dù chống Bashar Assad, một nhà độc tài được Nga tận tình giúp đỡ, vẫn không hết sức giúp phong trào đang tìm cách lật đổ ông ta. (Có chính phủ Mỹ nào muốn giúp các môn đồ của bin Laden cướp chính quyền? Tương tự, thời 1945-50 không chính phủ Mỹ nào muốn giúp các đệ tử của Stalin!) Từ Syria, nhóm quân “hậu Al-Qaeda” này tràn qua Iraq đánh quân chính phủ. Họ được người cùng theo giáo phái Sun Ni theo rất đông; vì trong mấy năm qua ông Maliki đã củng cố địa vị cho người Shi A trong guồng máy nhà nước và quân đội; gây nhiều bất mãn trong các tín đồ Sun Ni.

Trong mấy tháng qua quân ISIS đã thành công tại Iraq hơn là ở Syria, vì quân đội của Maliki bị đánh là tan rã, cấp dưới theo phái Sun Ni không theo lệnh cấp trên thuộc phái Shi A. Họ chiếm được thành phố lớn Mosul, đe dọa cả các thánh địa của người Shi A, tấn công các mỏ dầu; họ chỉ bị ngăn lại khi đụng vào khu vực do dân Kurd kiểm soát. Người Kurd là một sắc dân thiểu số sống rải rác ở Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Iran, Nga và một số nước nhỏ trong vùng. Chiếm nơi nào, họ áp dụng một chính sách Hồi Giáo khắt khe. Các tín đồ phải tuyên thệ trung thành với lãnh tụ Abu Bakr al-Baghdadi, được suy tôn là “caliph.” Ca líp là danh xưng dành cho người đứng đầu cả thế giới Hồi Giáo (Umma), một chức vụ đã bị xóa bỏ từ khi đế quốc Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ) tan rã, và chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ cải cách, tách vai trò tôn giáo ra khỏi chính trị. Bakr al-Baghdadi đã đạt được địa vị mà trước kia Osama bin Laden ước mơ nhưng chưa bao giờ làm được!

Từ đầu tuần này, quân IS (tên mới) đạt những thắng lợi lớn. Họ chiếm được một khu đập nước gần thành phố Mosul. Cả thế giới lo ngại, vì nếu đập Mosul bể vỡ, có thể chỉ vì đám loạn quân này không biết gì về kỹ thuật quản trị, thì lũ lụt sẽ tràn xuống cả vùng châu thổ sông Tigris, ngập cả thủ đô Baghdad. Ðó là lý do chính phủ Mỹ phải hành động, bỏ bom các đoàn quân IS; trong khi vẫn làm áp lực buộc Thủ Tướng Maliki từ chức, vì ông ta theo chính sách kỳ thị người theo phái Sun Ni. Việc bỏ bom tương đối dễ dàng vì đám quân này hoạt động công khai, đóng trại giữa sa mạc và tiến quân trên các xa lộ. Chính phủ Mỹ còn nêu một lý do khác để can thiệp, là thả dù tiếp tế cho các làng xóm bị quân nổi dậy phong tỏa, nhất là những đám dân bị quân IS đàn áp phải chạy tị nạn. Trong số này có 100,000 người Iraq theo đạo Thiên Chúa, và hàng chục ngàn người Yazidis, họ theo một tín ngưỡng cổ truyền từ 4,000 năm, bị các tôn giáo khác coi là man dã. Máy bay Mỹ đã thả dù các thùng nước uống và thức ăn cho các nhóm dân tị nạn, nhưng chưa giúp được hết.

Trong cùng thời gian tiến quân tại Iraq, IS cũng thành công tại Syria. Họ đã chiếm được một căn cứ quân sự tại tỉnh Raqa. Trong cuộc nội chiến tại Syria, 170 ngàn người đã bị giết, đa số là thường dân, những lực lượng nổi lên đều thuộc giáo phái Sun Ni, chống chính quyền Bashar Assad do một nhóm thiểu số Shi A cầm đầu. Assad cũng thu hút được các nhóm quân tình nguyện theo Shi A từ Iraq qua. Và ông ta cũng được 1,000 quân của nhóm Hezbollah từ Lebanon kéo sang giúp từ Tháng Năm năm ngoái. Tại Iraq quân IS đã phá hủy các nhà thương và những cơ sở xã hội do nhóm Hezbollah lập ra, vì tổ chức này gồm những người theo phái Shi A tại Lebanon. Do đó, quân IS từ Syria tràn qua biên giới đánh sang cả Lebanon, cùng nhóm với quân “Mặt Trận Nusra” tấn công quân chính phủ.

Tổ chức Hezbollah được những người Shi A thành lập sau khi quân đội Israel xâm chiếm Lebanon năm 1982. Họ hoạt động trên nhiều mặt: tổ chức đảng chính trị tranh cử và tham dự vào chính phủ, thành lập các cơ sở xã hội giúp dân nghèo, và lập các đội dân quân vũ trang như quân đội chính quy. Họ được Iran hỗ trợ cả tiền bạc lẫn vũ khí để chống Israel, cho nên bị chính phủ Mỹ ghi vào danh sách các tổ chức khủng bố. Nhưng nay thỉ cả Hezbollah và chính phủ Mỹ đều chống đạo quân IS. Trước đây chính phủ Mỹ còn cho CIA giúp chính quyền Lebanon phá một âm mưu ám sát Chủ Tịch Quốc Hội Nabih Berri, một người do Hezbollah đề cử.

Nước Lebanon đang qua một cơn khủng hoảng chính trị vì Quốc Hội không thỏa hiệp được với nhau để bầu một vị thủ tướng mới. Chức vụ này thường được luân chuyển giữa những người Hồi Giáo theo hai phái Sun Ni và Shi A; trong khi chức quốc trưởng được dành cho một người theo Thiên Chúa Giáo (giáo phái Maronite, đông nhất), và những người theo đạo Druze cũng thường được dành các ghế bộ trưởng. Trong khi quân Lebanon bị quân IS tấn công, chết 17 người, giết được 60 quân địch, thì Tướng Samir Geagea, tư lệnh quân đội lại tuyên bố lo ngại rằng cuộc chiến này chỉ làm lợi cho chính quyền Assad ở Syria. Và ông Walid Jumblatt, lãnh tụ người Druze, đứng đầu đảng Xã Hội, còn cảnh cáo rằng giúp Assad tức là hỗ trợ cho Iran trở thành quốc gia ảnh hưởng trên cả vùng Trung Ðông. Ông nêu lên mối đe dọa một “Trục Iran-Syria” đang thành hình để giành ảnh hưởng khắp vùng Trung Ðông. Vương quốc Á Rập Saudi, một nước mà hoàng gia và đa số dân theo đạo Sun Ni, với một thiểu số theo phái Shi A đang bất mãn, xưa nay vẫn coi Iran là thù địch nguy hiểm nhất. Trong tuần qua, Saudi đã công bố viện trợ cho chính phủ Lebanon một tỷ Mỹ kim, nói là để “chống khủng bố,” mà quân khủng bố chính là quân IS, gồm những người cũng theo phái Sun Ni. Trong tuần này, một thủ lãnh đội quân IS là Sun Ni Abdullah Azzam Brigades, cũng xuất phát từ Al-Qaeda, đã lên tiếng thách thức nhóm Hezbollah, nói rằng, “Cầu mong Thượng đế đưa chúng qua Iraq! Tôi nói bằng tiếng Á Rập: Hãy cút khỏi Syria trước khi quá trễ! Nếu họ không hiểu tiếng Á Rập, tôi sẽ nói bằng tiếng Ba Tư (Iran)!” Ông ta còn tố cáo nhóm Hezbollah: “Chúng dám nói dối trá rằng chúng kháng cự người Do Thái. Người Hồi Giáo chúng tôi biết bộ mặt thật của chúng; chính chúng nó đang bảo vệ biên giới Israel!”

Chính phủ Mỹ đang quyết định quay trở lại Iraq, cung cấp hình ảnh vệ tinh về những cuộc chuyển quân của quân nổi dậy IS, thả bom, viện trợ vũ khí cho chính phủ Iraq. Ông Obama đang hy vọng một thủ tướng mới tại Baghdad vẫn tập hợp được các nhóm Shi A cũng như Sun Ni và người Kurds, và sẽ theo một chính sách không thiên vị một giáo phái nào. Chính phủ Mỹ cũng hy vọng sẽ tái áp dụng một chương trình của CIA liên kết các thủ lãnh bộ tộc người Iraq theo phái Sun Ni. Nhưng khả năng can thiệp của chính phủ Obama sẽ rất giới hạn. Hiện này chỉ còn 800 quân Mỹ ở Iraq, hơn 400 quân để bảo vệ tòa đại sứ và nhân viên. Hạ Viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết không cho chính phủ được tự ý đưa quân trở lại Iraq, nếu không được Quốc Hội cho phép; nghị quyết này còn chờ Thượng Viện phê chuẩn.

Chính phủ Mỹ cũng đang xin Quốc Hội phê chuẩn một ngân sách viện trợ gần 66 tỷ Mỹ kim; trong đó có 500 triệu giúp các nhóm quân chống Assad tại Syria, để họ có khả năng cạnh tranh với đám quân IS, mà hai bên đã từng đánh nhau trong khi cùng chống Assad. Một tỷ Mỹ kim sẽ được dùng để giúp “ổn định” tình hình ở Jordan, Lebanon, Turkey và Iraq, tất cả đều chịu ảnh hưởng của cuộc nội chiến tại Syria và Iraq; một cách gián tiếp chống ảnh hưởng của Iran. Chương trình viện trợ này cũng bao gồm một tỷ Mỹ kim để tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Trung và Ðông Âu; trước mối đe dọa từ Nga; trong khi Mỹ, Iran và Nga đều đang giúp Iraq chống lại quân Hồi Giáo Sun Ni quá khích.

Cuối cùng, trên mặt trận ngoại giao, các nước có thể vừa là bạn, vừa là thù địch; không coi nước nào là kẻ thù truyền kiếp, cũng không có ai là bạn đồng chí muôn đời. Chỉ các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam là dại. Thời Lê Duẩn có lúc nhất quyết theo Tàu, Lê Duẩn tôn xưng Mao Trạch Ðông là “Lê Nin của thời đại mới;” rồi sau đó có lúc coi Trung Quốc là nước thù địch, lại cả vào Hiến Pháp. Ðến thời Nguyễn Văn Linh, lại coi Trung Cộng là đồng chí lớn nhất phải bám vào dựa dẫm. Trước hội nghị Thành Ðô Nguyễn Văn Linh nói với đại sứ Trung Cộng: “Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay… Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin.” Sau đó, khi bị Trung Cộng đánh lừa ở Campuchia để bành trướng thế lực, Nguyễn Văn Linh còn biện hộ giùm đồng chí “dù bành trướng thế nào thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trích trong hồi ký của Trần Quang Cơ, thứ trưởng ngoại giao thời đó.)

Thống kê GDP của Việt Nam trong 50 năm là ‘giả tạo’


VIỆT NAM (NV) – Chủ tọa cuộc hội nghị của Ngành Kế Hoạch-Ðầu Tư tại thành phố Ðà Nẵng hôm 7 tháng 8, 2014, Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nói rằng, cách tính tổng sản phẩm quốc nội, viết tắt là GDP, của Việt Nam không giống bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.








Tổng giá trị hàng hoá xuất nhập cảng qua Cảng Hải Phòng được tỉnh Quảng Ninh đưa vào GDP của địa phương. (Hình:anhp.vn)


Báo Tuổi Trẻ dẫn phúc trình của ông Bùi Quang Vinh, bộ trưởng Bộ Kế Hoạch-Ðầu Tư Việt Nam thông báo tại hội nghị trên cũng nhìn nhận rằng, từ gần 40 năm nay, các tỉnh, thành của Việt Nam “tự tính, tự xây dựng và tự công bố GDP.”

Ông Bùi Quang Vinh xác nhận rằng, cách tính toán như trên đã tạo ra những con số thống kê trùng lắp, và những chỉ số tăng trưởng không có thật.

Ông Vinh đơn cử nhiều thí dụ cho thấy, tại một số tỉnh có cửa khẩu hoặc hải cảng, phi trường hoạt động rộn rịp, cán bộ của tỉnh dùng con số trị giá xuất nhập cảng qua cửa khẩu của mình làm căn cứ để tính GDP của địa phương, có khi lên tới hàng tỉ Mỹ Kim.

Vì vậy, theo ông Bùi Quang Vinh, các tỉnh, thành Việt Nam đã đua nhau vẽ lên những con số tăng trưởng ảo. Nhiều nơi lập phúc trình khẳng định tốc độ tăng trưởng 14% năm, trong khi GDP của cả nước chỉ vào khoảng từ 5 đến 7%.

Cũng tại cuộc họp trên, ông bộ trưởng Bộ Kế Hoạch-Ðầu Tư đã giới thiệu một đề án gọi là “Ðổi mới quy trình biên soạn chỉ tiêu GDP cho các địa phương,” để chấm dứt tình trạng báo cáo các con số thống kê trùng lắp, không có thật tại các tỉnh, thành ở Việt Nam.

Ông này nói, “Sẽ không còn chuyện tổng sản phẩm nội địa của các tỉnh, thành năm nào cũng lên tới 10 – 14%, trong khi GDP cả nước chỉ vào khoảng 5 – 7%.”

Thế nhưng, cũng theo ông Bùi Quang Vinh, đề án trên chỉ được bắt đầu thực hiện từ năm 2018. Như thế có nghĩa là phải thêm 4 năm nữa, thì 63 tỉnh, thành ở Việt Nam mới thôi đưa ra các con số GDP không có thật. Khi đó, đơn vị duy nhất tính GDP của Việt Nam sẽ được giao cho Tổng Cục Thống Kê. (PL)

Năm tật xấu của người Việt ở siêu thị bị nêu trên báo


VIỆT NAM (NV) – Không chỉ bị coi thường, nghi là kẻ cắp khi xuất hiện tại các siêu thị ở Nhật Bản, Thái Lan…, người Việt Nam cũng đang là đối tượng bị chỉ trích là mang nhiều thói tật xấu khi đến mua hàng tại các siêu thị ở trong nước.








Người đi siêu thị lặt sạch nhánh để chôm chôm nhẹ ký. (Hình: VTC News)


Một bài viết đăng trên báo mạng VTC News liệt kê 5 thói xấu của người Việt Nam tại các siêu thị, bao gồm: Thói ăn cắp vặt; ăn thử; bới tung hàng hóa; không chịu xếp hàng theo thứ tự, và nói cười lớn tiếng. Tác giả bài báo cho rằng, hệ thống siêu thị đã có mặt tại Việt Nam gần 20 năm qua, thay cho hệ thống các chợ lớn, nhỏ vẫn chưa tạo cho người Việt Nam nếp sống văn minh sơ đẳng.

Bài báo này nói rằng, nạn ăn cắp vặt của người Việt Nam hiện nay đang là lý do chính buộc các siêu thị đối phó để tránh lỗ lã. Có siêu thị ước tính tỉ lệ hàng hóa bị mất trộm lên tới 1% doanh thu hàng năm. Nạn xé toẹt bao bì để ăn thử trái cây, hoa quả cũng là tật xấu tệ hại của người Việt Nam tại các quầy hàng siêu thị.

Nhiều người khác thì có tật xới tung các đống trái cây để lựa thứ tốt nhất, và ném lăn lóc, lung tung. Kế đến là tật nói cười lớn tiếng, coi siêu thị như chỗ chơi đùa, chạy nhảy mặc sức và nhất là không chịu xếp hàng theo thứ tự.








Cảnh chen lấn lộn xộn ở quầy tính tiền tại siêu thị vì mọi người không chịu xếp hàng. (Hình: VTC News)


Còn theo báo Một Thế Giới, tật xấu của nhiều người Việt Nam không chỉ bộc lộ ở siêu thị. Báo này nói rằng ở đâu có người Việt Nam thì có nhiều tệ nạn khác, như hút thuốc lá; khạc nhổ, vứt rác bừa bãi.. ở nơi công cộng.

Tuy nhiên, bài báo chỉ nêu những hiện tượng đã trở thành thói quen xấu khó bỏ của không ít người Việt Nam ở siêu thị, ở nơi công cộng, từ trong nước ra đến nước ngoài. Bài báo không nêu được biện pháp khả dĩ có thể giúp chấm dứt những điều trái tai, gai mắt kể trên của người Việt Nam ở nơi công cộng. (PL)

Ông Louis Dương Xuân Long

Anh Nguyễn Phú Bình

Tin mới cập nhật