Phó chủ tịch Sài Gòn tố Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư phá hoại

 

SÀI GÒN (NV)Một phó chủ tịch thành phố Sài Gòn vừa lên tiếng tố cáo, Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư đã phá sập “hệ thống đăng ký kinh doanh qua mạng” của thành phố này.

Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images

Tại một cuộc hội thảo về “Chính phủ điện tử,” diễn ra hồi cuối tuần vừa qua ở Hà Nội, ông Lê Mạnh Hà, phó chủ tịch của thành phố Sài Gòn, đã phê phán Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư hết sức gay gắt.

Theo ông, kể từ khi Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư buộc thành phố phải ngưng sử dụng “hệ thống đăng ký kinh doanh qua mạng,” do chính quyền thành phố này xây dựng cách nay hàng chục năm, để dùng hệ thống do Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư thực hiện cho toàn quốc, số lượng doanh nghiệp ở Sài Gòn làm các thủ tục ghi tên kinh doanh qua Internet đã tụt xuống bằng… 0.

Ông Hà kể thêm, Sài Gòn là nơi đầu tiên ở Việt Nam xây dựng và vận hành “hệ thống đăng ký kinh doanh qua Internet” từ đầu thập niên 2000. Tính đến khi bị Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư buộc phải phá sập hệ thống này để dùng hệ thống do họ tạo ra, đã có từ 50% đến 60% doanh nghiệp ở Sài Gòn làm các thủ tục có liên quan đến đăng ký kinh doanh qua Internet.

Ông phó chủ tịch thành phố nói rằng, hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của chính quyền thành phố đã “thụt lùi một bước” khi phải làm theo lệnh của Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư. Hệ thống do Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư tạo ra và “áp dụng thống nhất trên toàn quốc” đã đem tới kết quả là không còn doanh nghiệp nào có thể làm các thủ tục liên quan tới đăng ký kinh doanh qua Internet. Ông Hà khẳng định: Ðây là một dạng phá hoại!

Theo ICT News, khó có thể tính hết được thiệt hại từ vụ “hệ thống đăng ký kinh doanh qua mạng” của Sài Gòn ngừng hoạt động. Từ đó tới nay, mỗi ngày, có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn đại diện doanh nghiệp tại Sài Gòn phải trực tiếp đến Sở Kế Hoạch Ðầu Tư Sài Gòn để làm các thủ tục liên quan tới đăng ký kinh doanh, gây khó khăn cho cả Sở Kế Hoạch Ðầu Tư thành phố lẫn doanh nghiệp.

Do hệ thống mà Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư thực hiện trên toàn Việt Nam, chưa thể đáp ứng nhu cầu tiếp nhận đăng ký kinh doanh qua Internet và không rõ trong tương lai có thể đáp ứng được hay không, chính quyền thành phố Sài Gòn tuyên bố, họ sẽ khôi phục lại hệ thống cũ để phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Thật ra Sài Gòn không phải là địa phương duy nhất trở thành nạn nhân của các cơ quan trung ương, khi các cơ quan này buộc các địa phương bỏ hệ thống riêng để thực hiện các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin chung cho toàn quốc.

Giám đốc Sở Thông Tin Truyền Thông thành phố Ðà Nẵng cũng vừa lên tiếng than phiền về sự áp đặt vừa vô lý, vừa thiếu hiệu quả như vậy. Theo đó, năm 2003, Ðà Nẵng đã từng thực hiện việc tiếp nhận đăng ký kinh doanh qua Internet. Do năm ngoái, Bộ Kế Hoạch Ðầu Tư buộc sử dụng hệ thống do bộ thực hiện trên toàn quốc, Ðà Nẵng phải tự hủy bỏ hệ thống cũ để dùng hệ thống mới mà thực tế cho thấy là kém hiệu quả hơn.

Trong hội thảo về “Chính phủ điện tử,” ông Lê Mạnh Hà khuyến cáo, khi quyết định thực hiện những hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin, các cơ quan trung ương cần tôn trọng dân chúng và tôn trọng các địa phương. Nếu dân đang được hưởng những dịch vụ tốt thì không nên áp đặt cái mới, lấy dân ra làm thí nghiệm mà chưa biết tốt, xấu ra sao. (G.Ð.)

 

 

Luật Thuế (Tiếp Theo)

Luật Thuế (Tiếp Theo)

Luật Sư LyLy Nguyễn

LTS: Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Ðịnh Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo Di Chúc và Tín Mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang cũng như đã nhiều lần diễn thuyết về các vấn đề giao dịch thương mại, ngân hàng, thuế và điều hành tài sản tại nước ngoài. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 930 W. 17th Street, Suite F, Santa Ana, CA 92706. Ðiện thoại: (714) 531-7080

Tuần trước chúng tôi tiếp tục mục tìm hiểu về Luật Thuế với các cách thức khiếu nại IRS trường hợp bị điều chỉnh thuế quá nặng. Tuần này chúng tôi sẽ trình bày chi tiết về trường hợp phải ra trước tòa án thuế vụ. Sau một lần bị kiểm thuế nếu quí vị bị thua và không thể thỏa hiệp được với IRS khi đã khiếu nại vậy phải làm sao? Chấp nhận số phận hẩm hiu hay kiện lên ra tòa án thuế? Mỗi năm theo thống kê của IRS thì có khoảng 30,000 người nộp đơn kiện ra Tòa án Thuế sau khi bị thua vòng khiếu nại ở IRS. Kể ra việc xin đưa ra tòa không mấy khó khăn, trái lại còn có hy vọng được trả bớt đi vì khi thấy găng có thể IRS ngại ra tòa như đã đề cập trong số báo trước nên chấp nhận cho giảm số tiền điều chỉnh. Trên thực tế có hơn 80% vụ nộp đơn kiện được IRS dàn xếp trước khi ra tòa và 50% các vụ kiện trước Tòa án Thuế được giảm bớt phần nào tiền điều chỉnh, tuy nhiên xác suất thực sự các vụ thắng IRS ở tòa chỉ có 5%. Ðiều cần tránh không nên đem ra tòa những vụ không có nguyên cớ theo đó người nộp đơn thưa không có lý do chính đáng có thể bị phạt vạ vì bị coi là câu giờ không chịu nộp thuế. Dĩ nhiên khi thưa ra tòa quí vị có lợi điểm là trì hoãn được khoản nợ thuế điều chỉnh ít nhất là một năm để thu xếp chạy đủ tiền nộp mà không sợ bị IRS đụng đến tài sản dù rằng trong thời gian này IRS vẫn tính lãi trên khoản tiền đó.

Tại các tiểu bang đông dân các tòa án thuế xử mỗi tháng một lần trong suốt năm ở các thành phố lớn trừ mùa Hè. Nơi các tiểu bang nhỏ tòa xử ít hơn, có khi khoảng một đôi lần trong năm ở thành phố nào lớn nhất trong tiểu bang đó. Các chánh án tòa thuế do tổng thống chỉ định mỗi nhiệm kỳ 15 năm. Các vị chánh án này thường là những luật gia kinh nghiệm hoặc xuất thân từ cựu công chức của IRS hay đôi khi từ các văn phòng luật sư tư. Thường thường phải mất ít nhất sáu tháng sau khi nộp đơn xin mới được gọi ra tòa. Có hai trường hợp, nếu vụ xử một món tiền thuế dưới $50,000 thì sẽ ra Tòa Thuế Xử Vụ Nhỏ – còn được gọi là Tòa Thuế Nhân Dân (Small Tax Cases), trong khi những vụ lớn trên $50,000 sẽ ra Tòa Thuế Xử Vụ Thông Thường (Regular Tax Court Cases). Thí dụ nếu một người bị kiểm thuế ba năm liền và bị điều chỉnh $50,000 một năm thì người ấy sẽ được tòa xếp vào loại S (S case) thẩm định ở tòa xử vụ nhỏ dù rằng tổng số thuế phải nộp thêm là $150,000 (lớn hơn $50,000). Các vụ S được xử giống như tòa án nhân dân trên truyền hình theo đó nguyên đơn trình bày trường hợp mình trước chánh án và đưa ra những bằng chứng mà không phải theo các thủ tục lẫn nghi thức trịnh trọng như ở tòa lớn.

Người thua vụ khiếu nại chỉ có quyền nộp đơn xin ra tòa án thuế sau khi nhận được thư Thông Báo Trễ Hạn (Notice of Deficiency) của ủy viên IRS, trong thư đó có ghi năm thuế cùng số tiền thuế điều chỉnh, đồng thời thư đó có nói rõ rằng IRS sẽ bắt đầu tính tình trạng trễ hạn từ 90 ngày sau ngày lá thư được gởi đi, trừ phi người nhận có nộp đơn ra tòa án thuế trong thời gian 90 ngày đó. Vụ kiện được coi như khởi sự khi người thưa gởi đơn xin có kèm lệ phí tới Tòa án Thuế ở Washington D.C. Ðơn xin phải gởi tới tòa ở số 400 Second Street, N.W., Washington D.C. 20217 trong vòng 90 ngày (thứ bẩy, chủ nhật và các ngày lễ không kể) có dấu bưu điện xác nhận. Nhiều khi đơn chỉ đến chậm một ngày thôi cũng bị tòa bác bỏ. Mẫu đơn kiện xin được miễn phí ở văn phòng Biện Lý Tòa án Thuế cũng ở cùng địa chỉ trên và phải được điền cho đầy đủ các chi tiết trả lời theo các câu hỏi trong mẫu. Nếu hội đủ điều kiện dưới $50,000 tiền thuế thì sẽ được xử ở tòa nhỏ với lệ phí là $60 trả trước ngay khi nộp đơn. Tòa có danh sách các chi nhánh địa điểm xử tại nhiều thành phố, người nộp đơn có quyền xin xử ở nơi gần chỗ cư trú của mình. Khi được yêu cầu phòng Biện Lý Tòa án Thuế ở Washington D.C. sẽ gởi một xấp mẫu trong đó có bốn mẫu từ số 1 tới số 4. Dùng mẫu số 4 – Chỉ Ðịnh Ðịa Ðiểm Xử (Designation of Place of Trial) – điền tên vào phía góc trên nơi có chữ Ðương Ðơn (Petitioner) rồi viết địa điểm xin xử thích hợp phía dưới, sau đó điền mẫu số 2 là phần đơn xin.

Hãy gởi tất cả bốn mẫu trên đã điền xong với chi phiếu hay ngân phiếu tiền lệ phí trả cho Biện Lý tòa án thuế. Sau khi nhận được hồ sơ của người xin tòa án sẽ gởi một bản sao hồ sơ đó cho luật sư của IRS. Tiếp đó vụ xử được đăng ký và chỉ định phiên xử gần tới tại chi nhánh tòa ở nơi được lựa chọn và tòa sẽ ra thông cáo báo cho biết trong vòng 60 ngày trước khi xử. Tới ngày xử người xin kiện có thể đích thân ra tòa hoặc ủy nhiệm cho một luật sư thay mặt. Ðừng quên mang theo đầy đủ hồ sơ cùng bằng chứng vì tòa sẽ dựa vào lời khai của các nhân chứng và xét theo những dữ kiện trong các biên lai hay giấy tờ mà đương đơn trình ra trước tòa. Nên nhớ rằng tòa không nắm giữ các giấy tờ biên lai đã nộp trước đây cho IRS, do đó phải thiết lập lại hết cho thật đầy đủ. Tất cả các lời khai của đương sự và nhân chứng đều được ghi lại ở tòa sau đó nếu muốn có thể xin được bản sao có trả lệ phí. Theo điều khoản 7436 của IRS, phán quyết của tòa nhỏ sẽ trở thành chung thẩm có nghĩa là không kháng cáo được nữa, như vậy cả đôi bên đương đơn lẫn chính phủ đều phải thi hành quyết định của tòa nhỏ dù phần thắng ngả về bất cứ bên nào.

Nếu số tiền thuế trên $50,000 trong một năm bị kiểm thì tòa sẽ xử ở Tòa Thuế Xử Vụ Thông Thường. Tòa này có khác biệt là nguyên đơn có quyền kháng cáo lên tòa trên nếu bị thua. Những người xin ra tòa này thường phải mướn luật sư vì có nhiều thủ tục chính thức và phức tạp hơn. Trong vòng vài tháng sau ngày xử ở tòa này thì luật sư đôi bên (kể cả IRS) đều phải nộp một bản Báo Cáo theo Luật Ðịnh (legal briefs). Ðây là một hồ sơ có tính cách chuyên môn về luật theo đó đôi bên đều phải kể lại phần mình những gì đã khai trước tòa cùng ý kiến về những bằng cớ đã đưa ra và những điều khoản luật đã áp dụng để tham chiếu. Ðiều nên nhớ là không bao giờ dùng luật sư miễn phí được chỉ định nếu có yêu cầu. Những luật sư này ăn lương nhà nước để thay mặt cho nguyên đơn theo đúng thủ tục luật pháp đòi hỏi, nhưng dĩ nhiên chẳng bao giờ họ tận tình đứng về phía người đối nghịch với chính phủ. Ngoài các tòa án thuế vụ nhỏ hay vụ thông thường, quí vị còn có thể xin đem nội vụ xử ở các Tòa Án Liên Bang Quận Hạt (U.S. Circuit Court) ở khắp nơi trên đất Mỹ hoặc Tòa Khiếu Nại Liên Bang (U.S. Court of Federal Claims) ở Washington D.C. Cả hai tòa này bắt buộc nguyên đơn phải có luật sư biện hộ theo luật định. Nếu bị thua kiện nữa có thể kháng cáo lên Tòa Kháng Cáo Quận Hạt Liên Bang (U.S. Circuit Court of Appeals). Nếu lên tòa này mà vẫn thua thì còn có thể kháng án lên Tối Cao Pháp Viện, nhưng đeo đuổi lên tới các tòa này sẽ rất tốn kém vì án phí nặng lên tới $50,000 thêm vào đó xác suất thắng kiện rất nhỏ chỉ vào khoảng 10%.

Tuần tới chúng tôi sẽ trình bày cách đối phó với các chuyên viên truy thu của IRS trường hợp bị mắc nợ IRS mà không có tiền trả ngay. Cũng như thường lệ, người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ hoàn toàn được sử dụng với tính cách thông tin (information) để giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi, và không thể coi như sự cố vấn của một luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên hệ đến luật, quí độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.

Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc vớI Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 930 W. 17th Street, Suite F. Santa Ana, CA 92706, ÐT: (714) 531-7080.

 

Hiến máu

 

Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức

Mỗi ngày, có hàng triệu người trên thế giới cần tiếp nhận máu để được cứu chữa trong các trường hợp chấn thương tai nạn, trong giải phẫu cũng như điều trị ung thư. Tiếp hồng huyết cầu, bạch cầu, tiểu cầu hoặc huyết tương là điều thiết yếu để mang sức khỏe trở lại cho người bệnh.

Một người:

-Bị tai nạn xe hơi có thể cần từ 4-40 đơn vị máu;

-Mổ tim hở cần từ 2-6 đơn vị hồng cầu, 2-4 đơn vị huyết tương, 1-10 đơn vị tiểu cầu;

-Ung thư bạch cầu cần 2-6 đơn vị hồng cầu và 6-8 đơn vị tiểu cầu mỗi ngày trong 2-4 tuần lễ.

Nhu cầu máu trên thế giới ngày một gia tăng mà số người hiến máu lại giảm, vì:

-Các bạn trẻ chưa có thói quen hiến máu.

-Một số người tuổi cao không còn cho máu được nữa nhưng lại cần tiếp máu nhiều hơn.

-Quy luật lấy máu nghiêm ngặt hơn để bảo đảm an toàn cho người bệnh. Như là khi có bệnh, khi uống thuốc chữa bệnh, khi làm đẹp với xâm da, đeo khuyên, khi từng du lịch tới một vài vùng có dịch bệnh đều có thể không được hiến máu.

Bên Mỹ, một nửa dân số có đủ điều kiện để hiến máu mà chỉ có 5% những người này cho máu. Và họ cho máu tự nguyện, không vì tiền.

Vì thiếu máu an toàn là vấn đề toàn cầu, nên vào tháng 5 năm 2005, bộ trưởng y tế các quốc gia trên thế giới đã đồng thanh quyết định lấy ngày 14 tháng 6 mỗi năm làm ngày “World Blood Day.”

Ðây là ngày để nhắc nhở mọi người về nhu cầu máu an toàn, để cảm ơn và vinh danh những người tự nguyện bất vụ lợi hiến máu và để khích lệ mọi người tình nguyện hiến máu mà không lấy tiền. Những người này thường có sức khỏe tốt, không che dấu về sức khỏe của mình, không bị các bệnh truyền nhiễm, không chích thuốc cấm và họ hiến máu rất đều đặn.

Bệnh nhân cần máu hầu hết không bao giờ nhận máu toàn khối, mà chỉ từng thành phần riêng rẽ, như hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu hoặc huyết tương. Vì thế sau khi lấy máu, các thành phần được phân tách ra:
-Hồng cầu chiếm từ 40-50% tổng số khối lượng máu, có thể cất giữ trong tủ lạnh được 42 ngày. Nếu không dùng trong vòng 6 tuần lễ, hồng cầu bị hủy bỏ. Hồng cầu giữ đông lạnh còn tốt trong 10 năm.
-Tiểu cầu có rất ít trong máu (150,000-450,000/ml máu) và được dùng để kiểm soát sự băng huyết. Tiều cầu cần được cất giữ ở nhiệt độ bình thường trong phòng. Sau năm ngày mà chưa dùng tới, tiểu cầu bị loại bỏ vì có thể bị nhiễm vi khuẩn.
-Huyết tương có thể giữ trong đông lạnh khoảng một năm và được truyền trực tiếp cho người bệnh có nhu cầu nhưng đa số được dùng trong chế biến dược phẩm.
-Máu toàn khối thường được dùng cho trẻ sơ sinh hoặc bệnh nhân giải phẫu lớn như mổ tim hở.
-Hồng cầu cho thiếu máu, chấn thương, giải phẫu.
-Tiểu cầu cho bệnh nhân ung thư đang nhận hóa trị.
-Huyết tương cho các trường hợp phỏng nặng.

Cho máu có cần điều kiện gì không?

Không có điều kiện lớn lao gì, ngoài vài đòi hỏi tối thiểu như:
-Phải trên 17 tuổi,
-Nặng ít nhất 55 kg,
-Có sức khỏe tốt,
-Hoàn tất mỹ mãn một khám bệnh tổng quát và
-Trả lời thỏa đáng các câu hỏi về y sử, nếp sống.
Trước khi hiến máu, nên ăn uống đầy đủ và uống nhiều chất lỏng (nhớ đừng uống rượu nghe, bị từ chối đấy!)
Bệnh thường thấy như cao huyết áp hoặc đang uống thuốc hạ huyết áp đều cho máu được.

Những ai không được hiến máu?

Có thể bị từ chối nếu:
-Ðã từng nghiện ngập, chích thuốc cấm như bạch phiến. Những người này thường có tỷ lệ bị nhiễm HIV/AIDS khá cao, 23%.
-Ðàn ông giao hợp với đàn ông từ năm 1977. Ðây là lúc mà bệnh AIDS được khám phá ở một người đồng tính luyến ái. Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mắc HIV/AIDS ở người đồng tính luyến ái trong năm 1996-1997 là 38%. Lây lan virus viêm gan B và C cũng rất cao ở lớp người này.
-Có thử nghiệm dương tính với HIV.
-Nam nữ giao hợp để lấy tiền hoặc để trao đổi tình dục lấy thuốc cấm từ năm 1977, vì họ có thể nhiễm HIV.
-Bị viêm gan virus B từ khi 7 tuổi.
-Ðang uống thuốc Tegison để chữa bệnh vẩy nến (Psoriasis).
-Có bệnh ưa chẩy máu (hemophilia) vì thiếu các yếu tố đông máu.

Liệu tôi có đủ máu để cho, phải cho bao nhiêu mỗi lần và bao nhiêu lần mỗi năm?

Mỗi người có từ 5 tới 6 lít máu mà mỗi lần chỉ cho có gần nửa lít. Huyết tương được phục hồi trong vài giờ, hồng cầu được tái tạo trong vài tuần lễ.
Với toàn khối máu, có thể cho mỗi 8 tuần lễ.

Huyết tương được tái tạo sau vài ngày, do đó có thể cho huyết tương hai lần một tuần, cách nhau vài ngày.
Hiến máu rất an toàn.

Kim chích đều là mới tinh, vô trùng, dùng một lần rồi vứt bỏ cho nên không có rủi ro nhiễm sinh vật gây bệnh do máu chuyên chở như HIV, viêm gan mãn tính với virus B và C… Virus viêm gan cấp tính A và E ít khi truyền qua máu.

Lấy máu như thế nào?

Ngồi hoặc nằm trên ghế dựa êm ái, cánh tay đặt trên chỗ tựa tay. Một vòng bao cao su máy đo huyết áp cột trên cánh tay để máu dồn nhiều vào tĩnh mạch. Da trên khuỷu tay được lau sạch khử trùng. Một chiếc kim mới tinh, sạch sẽ được cắm vào tĩnh mạch. Máu được hút vào một bịch chứa.

Sau khi cho khoảng 1/2 lít máu, kim được rút ra, chỗ chích được dán một miếng băng keo để tránh vi khuẩn xâm nhập. Máu sẽ được đưa vào phòng thí nghiệm để kiểm tra an toàn rồi phân tách riêng các thành phần như hồng cầu, bạch cầu, tiểu bào và huyết tương. Rồi cất giữ trong tủ lạnh, dùng dần cho nhu cầu.

Sau khi cho máu, nên ngồi nghỉ chừng mươi phút để coi có khó khăn gì không, ăn một chút thực phẩm, uống vài ly nước, rồi thoải mái ra về.
Trong 24 giờ sau khi hiến máu, nên:
-Uống nhiều nước.
-Tránh nâng vật quá nặng phía tay mới cho máu.
-Tránh vận động quá mạnh.
-Tránh uống thuốc chống đau aspirin hoặc ibuprofen.
Sau khi cho máu, có thể bị hơi khó chịu bao tử hoặc hơi chóng mặt. Các dấu hiệu này chỉ thoảng qua, hết đi sau khi ăn uống.
Nên cho trung tâm hiến máu hoặc tham khảo ý kiến bác sĩ nếu:
-Tiếp tục buồn nôn, chóng mặt dù đã ăn uống và nằm nghỉ.
-Nơi cắm kim sưng, chảy máu hoặc đau.
-Cảm thấy tê đau lan xuống bàn tay, ngón tay.
-Bị bệnh với các dấu hiệu triệu chứng như nóng sốt, đau cuống họng sau khi cho máu 4 ngày, vì có thể bị bệnh nhiễm vi khuẩn. Cần cho trung tâm lấy máu hay là mình bị bệnh để không sử dụng máu của mình vừa cho, bảo đảm an toàn cho người nhận máu.

Kết luận

Mỗi khi nghe tiếng kèn xe hồng thập xé không gian trên đường phố hoặc nhìn thấy một người gặp nạn đang xối xả chẩy máu, liệu chúng ta có tự hỏi số phận người bệnh sẽ ra sao?
Liệu họ có cần tiếp máu không? Liệu bệnh viện có dự trữ đủ máu cho nhu cầu? Liệu ta có sẵn sàng cho máu chưa?

Có khi chính bản thân ta, con cái ta, người thân của ta một lúc nào đó cũng ở trong những hoàn cảnh tương tự và cũng cần đến một bịch máu nho nhỏ, hồng hồng. Bịch máu cứu sống một nhân mạng.

Hiến máu là việc làm rất giản dị mà chẳng đau đớn gì. Chỉ lim dim nằm nghỉ thoải mái khoảng 15 phút mơ màng, tưởng nghĩ tới những giọt của máu mình cứu sống được một người là thấy vui vui hạnh phúc trong lòng.

Hạnh phúc qua hành động nhân đạo của mọi người.

Vì, những giọt nước mắt của người mẹ không cứu sống được đứa con, nhưng máu ta cho có thể cứu sống cháu bé đó.

Bác Sĩ Nguyễn Ý-Ðức
bsnguyenyduc.com
Youtube: drNguyenyduc

 

 

Số phận của những kẻ phản tỉnh!


 


Tạp ghi Huy Phương


 


Trong hồi ký “Ðời” của Hồ Ngọc Nhuận, tác giả có nói đến gia thế, tổ tiên ông gốc dòng Hồ Ðắc ở Huế, lưu lạc vào tới ấp Tân Hội Tây, Tiền Giang đã bảy đời nay. Ông cho biết chuyện nhà, “cái sợ lớn nhất của cha” trong câu nói của ông cụ nói với ông:

“Ðời cha sợ nhất là mất con! Có ba cách mất: một là con theo gánh hát, hai là theo cộng sản, ba là theo Công Giáo!” (Chương I- trang 8 – xb 2010)







Ông Lê Hiếu Ðằng, đảng viên hơn 45 tuổi đảng, lên tiếng kêu gọi bỏ đảng và hô hào lập đảng đối lập với đảng CSVN. (Hình: Tài liệu trên báo Thể Thao-Văn Hóa)


Theo gánh hát thì chắc nếu có, cũng là chuyện đàn đúm thuở nhỏ; chơi với các thứ linh mục thân Cộng như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Huỳnh Công Minh, Trần Thế Luân… chưa phải là theo Công Giáo vì tiểu sử không nói ông đã rửa tội chưa; chỉ có chuyện rõ ràng Hồ Ngọc Nhuận đúng là đứa con đại bất hiếu là bất chấp lời cha mà đi theo cộng sản.


Trước năm 1975, Hồ Ngọc Nhuận là dân biểu “đối lập” thời VNCH, giám đốc chính trị báo Tin Sáng của Ngô Công Ðức, tòa soạn cũng là nơi lui tới của Việt Cộng. Hồ Ngọc Nhuận thú nhận: “Tôi chỉ thiếu đi vô khu như anh Nguyễn Ngọc Lan hay anh Châu Tâm Luân mà thôi. Hay chính xác hơn là vô hụt…” (trang17.) Sau 1975, Hồ Ngọc Nhuận là cộng sản thứ thiệt: Ủy viên Ủy Ban TƯMT Tổ Quốc Việt Nam, phó chủ tịch UBMT Tổ Quốc Việt Nam TP HCM.


Sau khi hy vọng “phá xiềng” để theo Lê Hiếu Ðằng, trong bài viết mới đây “Ðàng hoàng hơn!” ông Nhuận lên án cộng sản không tiếc lời, chỉ tiếc là quá muộn màng, sau một thời gian dài, tạm thời giả định là 38 năm, từ khi ông theo cộng sản.


-Ông cho rằng cộng sản không có luật pháp (…đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo ở đây tự vẽ ra Hiến Pháp, ngồi xổm trên luật pháp – những bản án đã được định sẵn.)


-Ông cũng nói cộng sản không có tự do báo chí: “Như về báo chí, miệng thì nói tự do báo chí, luật thì viết báo chí tự do, nhưng đốt đuốc cũng không tìm đâu ra một tờ báo tư nhân, mà toàn là báo của các ban ngành đoàn thể của Ðảng và Nhà nước, từ trung ương đến các địa phương.”


-Ông tố cộng sản cho lập hội theo Hiến Pháp, nhưng dù là Hội Ðá Banh, Hội Nuôi Chim, hay mỉa mai hơn là Hội Người Mù “cũng phải do một đảng viên Cộng sản đứng đầu làm hội trưởng.”


-Ông viết Quốc Hội chỉ là ổ đảng: có “thiên la địa võng” để chận bất cứ ai không là người của Ðảng, không do Ðảng cắt cử, để Ðảng tha hồ một mình một chợ ở Quốc Hội.
Ông cũng than phiền cái mặt trận mà ông cúc cung tận tụy từ bao nhiêu năm nay, không có thực quyền (!)


Theo luật bầu cử thì Mặt Trận Tổ Quốc của ông có quyền chọn người trước khi đưa ra cho cử tri bầu cử, nhưng nay ông Hồ Ngọc Nhuận, ủy viên Mặt Trận Trung Ương này lại tố cáo chính tổ chức của ông ‘100% thường trực lãnh đạo, từ cấp trên đến cấp dưới là đảng viên cộng sản. Kèm bên là một đảng đoàn mặt trận. Kèm trên là một Ban Dân Vận Mặt Trận. Rồi đảng ủy khối, đảng ủy cơ quan… cho tới đảng ủy thành, đảng ủy tỉnh, đảng ủy trung ương…” Mặt khác nhiệm vụ ghê gớm nhất của Mặt Trận là “giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước,” mà ông đã thú nhận “cũng không ai thấy tổ chức Mặt Trận giám sát được gì từ mấy chục năm nay.” Nghĩa là cái tổ chức Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam chỉ là cái vật trang trí cho đảng, như con công, con phụng người ta vẽ trước cổng chùa, hoàn toàn không có thực quyền.


Nhưng không lẽ đến nay gần nửa đời người ông mới thấy ra! Ông thú nhận là từ năm 1975 ông đã là thành viên của MTTQ, vậy 38 năm nay, ông “nín thở qua sông,” “ngậm miệng ăn tiền” hay là giả mù, giả điếc!


Chuyện tự do báo chí, vào tháng 8, 1975, khi tờ Tin Sáng của ông và Ngô Công Ðức, và Ðứng Dậy của LM Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan được Trần Bạch Ðằng, trưởng Ban Tuyên Huấn Miền cho sống lại, thì cũng không ai trách các ông, những người không hiểu gì về cộng sản, ngỡ là mình có công trạng được CS tin dùng. Nhưng không lẽ, sau đó đến năm 1981, những tờ báo này bị đóng cửa với lý do đã “hoàn thành nhiệm vụ,” như ý Lê Ðức Thọ: “dù có công, tồn tại là sai lầm “hữu khuynh” nên dẹp bỏ!” các ông lại chưa chịu mở mắt hay sao? Công đó là công gì? – Công phá nát VNCH. “Nhiệm vụ” đã hoàn thành là nhiệm vụ gì? Phải chăng là nhiệm vụ lót đường hay nhiệm vụ của những tên hề trong gánh hát mua vui cho khán giả trong khi chờ màn chính khai diễn?


Cả cái tổ hợp sơn mài Lam Sơn của nhân viên Tin Sáng cũng bị bóp mũi.


Tuần trăng mật kéo dài như vậy cũng đã quá lâu rồi. Cái ngày mà “Trung Ương Ðảng và chính phủ dành chiêu đãi các đoàn đại biểu miền Nam” như Lê Hiếu Ðằng đã kể lại trên Tin Sáng: “…Những cái hôn thắm thiết, những bàn tay siết chặt tưởng chừng như không muốn rời ra, những tràng cười thoải mái, cởi mở… Tất cả tạo nên một bầu không khí thắm đượm tình nghĩa đồng bào, đồng chí. Ðúng như Bác Tôn đã nói:’Ðây là cuộc Bắc Nam sum họp một nhà cảm động và đông đủ nhất.’


“Nhưng một trong những điều đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc là hình ảnh các linh mục Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Nguyễn Huy Lịch ngồi bên đồng chí Lê Duẩn, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thủy nói cười vui vẻ và cùng nhau nâng cốc mừng thắng lợi; hình ảnh của Giáo Sư Lý Chánh Trung, người trí thức ‘tìm về dân tộc,’ miệng vẫn ngậm tẩu, thú vị đứng nghe anh Xuân Thủy đọc thơ; hình ảnh của một Kim Cương mà phong cách vẫn rất là ‘Sài Gòn’ ngồi nghe Ðại Tướng Võ Nguyên Giáp nói về vở kịch ‘Lá Sầu Riêng’ của mình; hình ảnh một Hồ-Ngọc-Nhuận-nhà-báo xông xáo chạy đi chạy lại để chụp những tấm hình ‘ăn ý’ nhất cho những số báo Tin Sáng tới…”


Vậy mà bây giờ, câu kết luận của Hồ Ngọc Nhuận là: “Ở đây, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, trên mọi lãnh vực, là ‘nói một đường làm một nẻo.’ Câu nói này hình như ông dân biểu phản chiến, thân Cộng cũng đã nghe quen quen hồi còn ngồi ở Brodard hay La Pagode Saigon rồi!


LM Nguyễn Ngọc Lan của tạp chí Ðối Diện (1970,) “đồng chí” với Hồ Ngọc Nhuận là cây bút với các bài viết thiên Cộng rõ rệt. Từ năm 1966, Nguyễn Ngọc Lan đã chọn đứng hẳn về phía MTGP, viết lách và hành động dưới sự chỉ đạo từ mật khu và sau Tết Mậu Thân 1968, đã bí mật ra “bưng” để ra mắt và nhận lệnh của Trần Bạch Ðằng. Chính Phạm Hùng, bí thư Trung Ương Cục Miền Nam đã chỉ thị cán bộ CS phải bảo vệ cho Nguyễn Ngọc Lan vì ông linh mục “thờ ma cộng sản” này thường“đi lại bằng một chiếc xe gắn máy cũ kỹ, rất dễ bị ám hại.” (Trần Bạch Ðằng. Tiễn biệt anh, anh Nguyễn Ngọc Lan. vietbao.vn).


Không ngờ nỗi lo của Phạm Hùng đã trở thành sự thật. 30 năm sau, ngày 4 tháng 5, 1998, Cựu Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan (1) và LM Chân Tín đã bị “kẻ lạ” đạp vào xe Honda, trên đường đi đám tang một người phản tỉnh khác vừa từ trần là Nguyễn Văn Trấn (Bảy Trấn,) nhưng lần này không phải do công an VNCH mà do “ngưu đầu mã diện” của chế độ mới. Theo tờ Tin Nhà số 34, tháng 7, 1998, Pháp, trang 20, thì “Giáo Sư Nguyễn Ngọc Lan bị bất tỉnh ngay tại chỗ, mất nhiều máu, đưa vào bệnh viện khâu năm mũi ở đầu và bị nứt xương vai. Chụp scanner thấy trong đầu có máu bầm… Chân Tín bị xây xát.”


Một khi đã phản tỉnh và lên tiếng phê phán chống lại đảng cộng sản, LM Chân Tín và GS Nguyễn Ngọc Lan phải chấp nhận đòn thù. Vì ba tập nhật ký, ngày 5 tháng 8, 1990, công an tới khám xét nhà của Nguyễn Ngọc Lan và tuyên lệnh quản thúc ông 3 năm tại gia vì “vi phạm luật pháp, xâm phạm đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.” Vì ba “Bài Giảng Sám Hối,” LM Chân Tín bị trục xuất khỏi thành phố, biệt xứ tại Cần Thạnh, một họ đạo nhỏ ở huyện Duyên Hải. Ðặc biệt nghiêm trọng là việc GS Nguyễn Ngọc Lan và LM Chân Tín bị mưu sát ngay trên đường phố Sài Gòn như đã thuật ở trên. (Về Nhân Vật Nguyễn Ngọc Lan – Bạch Diện Thư Sinh)


Sau khi Lê Hiếu Ðằng đòi lập đảng “đối lập” và Hồ Ngọc Nhuận liên tiếp trong ba bài viết, lên tiếng ủng hộ chuyện này cũng như đã không tiếc lời lên án đảng cộng sản, nhiều nguồn dư luận cho rằng hai nhân vật này hiện đang là “cò mồi,” được chỉ thị của đảng cầm quyền, “lập đảng để cứu đảng.” Nhưng nếu đây chỉ là thái độ của kẻ đi lầm đường biết dừng chân lại, nhìn lại vũng bùn, máu mình đã lội qua, và nếu đảng còn mang não trạng lo sợ có những “tổ chức chống Ðảng, chống Nhà nước, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài” thì số phận những kẻ phản tỉnh phải được xử lý như những chuyện đã xẩy ra trong bất cứ một chế độ cộng sản độc tài nào, từ Liên Xô, Trung Cộng, Bắc Hàn cho đến Việt Nam.


Một lúc nào đó, ông Hồ Ngọc Nhuận phải nhớ lại “lời cha dặn” là một trong ba cách mất con là con đi theo cộng sản. Ông là đứa con bất hiếu, đã phản bội đồng bào, phản bội tổ quốc, nhưng nếu là một người biết phản tỉnh, xin ông “bảo trọng,” và nhớ khi ra đường đừng dùng xe gắn máy, và cũng đừng đi xe ôm để vô tình có thể làm oan mạng người tử tế!


(1) Ðã cởi áo dòng và lập gia đình năm 1976.


 

Nỗi sợ bấm máy

 

VietTuSaiGon
(Nguồn: RFA)

Theo một số báo trong nước đưa tin: “Cục CSGT đường bộ, đường sắt (Bộ Công An) đã ra văn bản gửi Trưởng phòng CSGT các tỉnh, TP chỉ đạo về việc “Giả danh nhà báo ghi hình CSGT.”

Nữ công an Việt Nam đưa tay không cho người dân chụp hình, trước tòa án Hải Phòng. (Hình minh họa: Cat Barton/AFP/Getty Images)

Nội dung văn bản này đang khiến bất kỳ ai đọc cũng có thể hiểu là từ sau khi có chỉ đạo này thì công dân, nhà báo sẽ không được ghi hình CSGT đang làm nhiệm vụ?
Ngày 26 tháng 4, Ðại Tá Trần Sơn Hà, phó cục trưởng Cục CSGT Ðường Bộ, Ðường Sắt (Bộ Công An) đã ký văn bản số 1042/C67-P3 gửi trưởng phòng CSGT công an các tỉnh, TP trực thuộc trung ương về việc “Giả danh nhà báo ghi hình CSGT.” Trong văn bản này có đoạn: “Luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm rõ với những đối tượng có lời nói đe dọa, lăng mạ hoặc có hành vi chống đối CSGT đang thực thi công vụ hoặc quay phim chụp ảnh hoạt động TTKS, XLVP khi chưa được sự đồng ý của CSGT đang làm nhiệm vụ. Nếu đúng là nhà báo thì tập hợp thông báo cho cơ quan chủ quản, nếu giả danh nhà báo thì tạm giữ, lập hồ sơ chuyển cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật.”

Trong nội dung trên, cho ra hai hướng suy luận và hai câu hỏi nổi cộm: Ðây là một kiểu văn bản của một loại quan lại dốt nát, không hiểu biết pháp luật đã cố tình che giấu sự tham lam của bản thân và đội ngũ dưới quyền? Hoặc là đây là một thứ văn bản của người hiểu luật nhưng cố tình che đậy sự sai trái vốn gây nhức nhối trong nhân dân lâu nay của ngành công an giao thông?

Có thể nói, cả hai câu hỏi đều có chung một đáp án, đó là: Tham lam và ngu dốt. Chuyện tham lam của giới quan chức Việt Nam thì miễn bàn rồi, nó càng lúc càng tàn bạo, cộm cán và quyết liệt, thậm chí liều lĩnh. Chuyện ngành công an giao thông ra đứng đường để đón khách, bắt khách bất kỳ, làm tiền bất kỳ bằng nhiều kiểu vừa vô văn hóa vừa vô luật pháp lại vừa vô nhân tính thì đầy rẫy ngoài đường.

Trước đây, nhân dân còn ngại, sợ, không dám quay phim, chụp ảnh để ghi lại bằng chứng mặc dù không có luật nào cấm họ làm điều này. Còn bây giờ, người dân sẵn sàng đối mặt, sẵn sàng bấm máy để lấy bằng chứng, tố giác tội của ngành công an nói chung và công an giao thông nói riêng. Ðã có quá nhiều video trên Youtube, trên facebook, trên twitter và nhiều trang mạng xã hội khác phơi bày bộ mặt tham lam của ngành này. Và cũng có không ít các phóng sự, tin ngắn đăng trên các báo trong và ngoài nước phản ánh hiện tượng tiêu cực, thối nát này.

Chính vì sự dũng cảm của nhân dân, trong nhiều tháng qua, lực lượng đứng đường của ngành công an giao thông giảm hẳn, thu nhập mỗi ngày của ngành này thông qua việc chặn xe, hù dọa và móc túi dân cũng giảm tỉ lệ. Ðiều đó khiến ngành công an giao thông đứng trước nguy cơ sập tiệm vì lượng nhân viên quá đông nhưng ngân quĩ thiếu hụt, và nếu để kéo dài “tình trạng” này, sẽ dẫn đến nguy cơ bắt buộc phải chấn chỉnh lại đội ngũ cũng như phương cách làm việc nhằm mang lại hiệu quả đích thực cho ngành công an giao thông.

Mà một khi chấn chỉnh theo xu hướng này, sẽ có hàng ngàn công an giao thông bị thất nghiệp và khoản thu nhập mỗi ngày bị eo hẹp, đời sống thiếu thốn (vì vốn quen tiêu xài xả láng bằng đồng tiền bất chính trước đây). Và kinh khủng hơn nữa là sẽ có rất nhiều lá đơn tố giác cấp trên của ngành này.

Lý do tố giác sẽ là cấp trên đã hứa để họ ra đứng trạm A, B, C, Z… nào đó để lấy lại khoản mà trước đây họ đã chung chi cho cấp trên. Nhưng cấp trên đã không giữ lời hứa, không cho họ ra đứng đường, số tiền vài trăm triệu đồng để mua trạm của họ xem như mất trắng, buộc cấp trên phải rớt chức để hả giận mà cũng rất có thể là để bản thân họ thăng tiến theo diện thi đua, khen thưởng, trong sạch…

Không còn cách nào khác, ông Trần Sơn Hà buộc phải đưa ra quyết định vừa ngu ngốc, vừa trái luật, vừa đi ngược với văn minh như thế. Cái văn bản số 1042/C67-P3 của ông Trần Sơn Hà có ngu ngốc không? Có thể nói là đứng trên góc độ nhân dân hay đứng trên cương vị của đảng Cộng sản Việt Nam vẫn thấy cái văn bản này chứa đầy sự ngu ngốc.
Về chuyện nó ngu ngốc cỡ nào thì chỉ cần nhìn vào mức độ trái luật của nó và tính tham lam ẩn chứa bên trong cũng đủ hiểu. Vấn đề cần phân tích ở đây là tính phản phé hoặc phản động của nó. Ðứng trên phương diện nhân dân mà nói, nó cực kỳ phản động, bởi nó đã thẳng tay che mắt nhân dân, tiếp tay cho tội ác, phủ nhận sự tố giác cũng như bịt mắt công tâm của dân tộc.

Nó mang mục đích bịt tất cả mọi khả năng tố giác cái xấu có thể có trong nhân dân để mặc cho lực lượng công an giao thông tác oai tác quái, cướp trắng giữa ban ngày. Nhưng, khi nó phản động trước nhân dân, những tưởng nó trung thành với đảng Cộng sản, rất tiếc là không phải thế. Nó một lần nữa chơi trò phản phé trước nhà cầm quyền Cộng sản. Nó thẳng thừng phơi bày bộ mặt tham lam của chế độ cũng như nó vạch lá cho công luận xem bầy sâu đang núp bóng cái gọi là công an nhân dân ngay trong giai đoạn mà nhân dân hết sức phẫn nộ nhà cầm quyền, nhân dân đang đứng dậy đấu tranh chống tham nhũng, chống áp bức trong chính sách đất đai, chống bành trướng Trung Cộng.

Một bước khác, nhân dân đang kêu gọi dân chủ, nhân quyền… thì cái văn bản này ra đời, chỉ đóng vai trò chọc giận nhân dân, khiến cho con thuyền “lãnh đạo đảng” càng mau bị dòng cuồng lưu nhân dân lật đổ. Như vậy, không gọi là phản phé thì gọi là gì?

Và đến đây, có thể dễ dàng nhận ra rằng vì tham lam và ngu lâu, dốt bền, thỉnh thoảng vẫn có vài lãnh đạo ngành của chế độ Cộng sản xã hội chủ nghĩa đưa ra một quyết định vừa có tính chất phơi bày sự ngu dốt, phản động lại vừa phản phé ngay vào kẻ đã sinh ra và nuôi lớn nó. Thế mới là khó! Không chừng, sau cái văn bản này, phó cục lại lên làm trưởng cục, vì sao? Vì công an bất cứ ở khâu nào cũng là quả đấm thép của Bộ Chính Trị.

Ai Cập đuổi nhà dọc biên giới Gaza, lập vùng trái độn

 

CAIRO (AP)Quân đội Ai Cập dùng xe ủi đất ủi sập 13 căn nhà dọc theo biên giới giáp dải Gaza, phá hủy nhiều địa đạo, chuẩn bị cho kế hoạch tạo một vùng trái độn nhằm giảm lưu lượng chuyển lậu vũ khí cùng tránh sự xâm nhập bất hợp pháp của dân quân.

Ảnh chụp từ trạm biên giới Rafah, giữa Gaza và Ai Cập, cho thấy phía bên kia xe ủi đất Ai Cập đang tìm kiếm để phá hủy các địa đạo. (AP/Hatem Moussa)

Kế hoạch của quân đội Ai Cập là tạo một vùng trái độn rộng 500 mét, dài 10 cây số, trên đó không có nhà cửa hay cây cối. Vùng này chạy dài từ cổng biên giới Rafah xuống đến Địa Trung Hải.

Hành động này được thực hiện vào lúc chính quyền chuyển tiếp và quân đội Ai Cập đang tìm cách thắt chặt quyền kiểm soát vùng phía Bắc Bán Đảo Sinai, nơi phần lớn hoàn toàn vô luật pháp.

Dân quân Hồi Giáo biến vùng đất mênh mông này thành nhiều cứ điểm, từ đó tung ra các cuộc tấn công liên tục vào lực lượng an ninh chính phủ, người theo Cơ Đốc giáo, cùng lãnh đạo các bộ tộc. Sự quấy rối này gây thêm bất ổn an ninh từ khi xảy ra vụ truất phế Tổng Thống Hồi Giáo Mohammed Morsi hồi Tháng Bảy.

Nhà cửa và cây cối dọc theo biên giới với dãi Gaza từng được sử dụng làm nơi ẩn náu của dân quân để từ đó bắn vào lính canh biên phòng.

Ông Ehab Ghussein, phát ngôn viên chính quyền Hamas ở Gaza, nói ông e việc tạo vùng trái độn sẽ là bước tiến tới hành động “phong tỏa mới đối với Gaza, gây thêm đau khổ cho người dân tại đây.” (TP)

Kỷ niệm từ một chuyến đi dài ngày

 

Ðoàn Thanh Liêm

Tôi vừa hoàn thành một chuyến đi trải dài suốt ba tháng vào Mùa Xuân Quý Tỵ 2013 và trở về nhà ở miền Nam California vào ngày 18 tháng 6. Trong cuộc viễn du này, tôi đã sử dụng đến 3 chuyến bay và hàng chục chuyến xe lửa, xe hơi qua rất nhiều thành phố trong các tiểu bang ờ miền Ðông và miền Trung Tây nước Mỹ. Và đặc biệt là đến thăm viếng và cư ngụ tại nhà của khá đông bà con cũng như bạn hữu khắp nơi – mỗi nhà tôi ở trong dăm ba ngày, gọi là những cuộc “vãng gia” (home visit).

Nói chung, thì ở đâu tôi cũng đều được bà con đón tiếp và chăm sóc thật ân cần chu đáo. Qua những cuộc vãng gia như thế, tôi có nhiều thời gian chuyện trò tâm sự thân mật với bà con – nhờ vậy mà có thêm được sự hiểu biết cụ thể hơn, chính xác hơn về sự việc cũng như về con người. Và nhất là siết chặt hơn nữa cái mối tình cảm gắn bó giữa chúng tôi với nhau. Dưới đây, tôi xin được lần lượt ghi lại một ít kỷ niệm khó quên từ chuyến đi này.

Trước hết là chuyện về những người bạn mà cùng có họ Ðoàn như tôi.

Trong dịp thăm viếng bạn hữu ở tiểu bang Pennsylvania và Texas, tôi đã gặp được hai bạn đều có cùng một họ Ðoàn như tôi. Ðó là các anh Ðoàn Hữu Phương ở thành phố Pittsburgh và Ðoàn Văn Bằng ở thành phố Houston. Gia đình mỗi anh đều gây cho tôi một ấn tượng khó quên.

1. Anh Phương là một dược sĩ ở Việt Nam từ trước năm 1975, anh đã vượt biên qua đến Mỹ từ năm 1980. Anh đi học lại và tiếp tục hành nghề về Dược khoa trên đất Mỹ và hiện đã nghỉ hưu – trong khi bà xã là chị Bạch Liên còn trẻ tuổi hơn, thì vẫn còn làm bác sĩ tại một bệnh viện ở Pittsburgh. Anh chị Phương Liên có hai cháu là Phương Bảo và Kim Chi đều đã trưởng thành và đi làm ở xa. Anh Phương và tôi đều là những cựu lưu trú sinh tại cư xá sinh viên có tên là Câu Lạc Bộ Phục Hưng ở đường Nguyễn Thông Saigon từ thời những thập niên 1950-1960.

Họ Ðoàn của anh Phương đã lập nghiệp từ nhiều đời tại vùng Mỹ Tho Bến Tre, anh cho biết các cụ xưa xuất phát từ miền Trung vào định cư ở miệt đồng bằng sông Cửu Long. Anh thúc giục tôi nên xúc tiến việc nghiên cứu về mối liên hệ giữa các chi tộc họ Ðoàn theo cái đà Nam Tiến của đất nước qua bao nhiêu thế hệ trong các gia đình người Việt – thoạt tiên từ miền Bắc, rồi di chuyển tới miền Trung và vào miền Nam để lập nghiệp sau này. Lý do anh Phương nêu ra khiến tôi khó mà chối từ công việc này, anh nói: “Anh Liêm có mối liên hệ quen biết với nhiều người ở khắp nơi (connections) – thì anh dễ có điều kiện để thực hiện việc nghiên cứu này. Vậy, tôi xin anh lưu tâm đến chuyện này giùm nha…” Tôi trả lời anh Phương: “Kể ra công việc này cũng đòi hỏi nhiều thời gian và công phu đi sưu tầm tìm hiểu đấy – và tôi hy vọng sẽ kiếm thêm được người phụ giúp với mình.”

Anh Phương còn nói: “Họ Ðoàn chúng ta xưa nay chưa bao giờ có ai làm vua cả. Mà chỉ có một số nhân vật có tên tuổi về văn học như Ðoàn Như Hài, Ðoàn Thị Ðiểm, v.v… Hoặc giả làm giặc như anh em Ðoàn Trưng với cuộc làm loạn gọi là “Giặc Chày Vôi” dưới triều Tự Ðức ấy. Và mới đây, thì có vụ Ðoàn Văn Vươn chống đối việc giải tỏa đất đai ở Hải phòng – vụ này hiện còn đang gây xôn xao dư luận…”

Tìm hiểu thêm về cuộc nổi lọan “Giặc Chày Vôi” này, ta thấy người chủ mưu chính yếu là Ðoàn Hữu Trưng (thường gọi là Ðoàn Trưng), ông là con rể của Tùng Thiện Vương. Vì không chấp nhận việc triều đình Huế phế lập Hồng Bảo là con trưởng mà lại phong Hồng Nhậm là con thứ lên làm vua với danh hiệu Tự Ðức, nên Ðoàn Trưng đã đứng ra tổ chức móc nối với nhiều bạn hữu cùng thân nhân – lôi kéo được số đông công nhân bị áp chế khắc nghiệt trong công trình xây lăng mộ gọi là “Vạn Niên” dưới triều Tự Ðức – để khởi loạn. Vào năm 1866, Trưng và hai người em là Ðoàn Tư Trực, Ðoàn Hữu Ái cùng với nhiều đồng bạn đã nổi dậy, kéo quân xông vào cung điện nhà vua nhằm đưa Ðinh Ðạo là con trưởng của Hồng Bảo lên thay thế vua Tự Ðức. Nhưng việc bất thành và bị đàn áp thẳng tay tàn bạo.

Vào năm 1866, thì đất Nam kỳ đã ở trong tay người Pháp, nên có thể suy đoán rằng có thể có một số bà con họ Ðoàn sợ bị liên lụy trong vụ vua Tự Ðức trả thù “Loạn Chày Vôi” này đã chạy trốn từ miền Trung vào miền Nam – trong đó có một số là tổ tiên của anh Ðoàn Hữu Phương chăng?

2. Anh Bằng là người tôi mới gặp gỡ quen biết tại Houston vào giữa tháng 6 năm 2013 qua sự giới thiệu của một người bạn khác là anh Phạm Văn Tuynh cũng mới từ Florida di chuyển về thành phố có rất đông bà con người Việt trong tiểu bang Texas. Ở vào tuổi 60, anh Ðoàn Văn Bằng vẫn còn đi làm cho cơ quan chính quyền của Houston – nhưng anh đã dành ra cả một ngày để chở tôi đi thăm người này, người nọ ở cái thành phố rộng mênh mông này.

Ðiểm đáng ghi ở đây là trong gia đình họ Ðoàn của anh Bằng, thì có nhiều anh chị kinh doanh về ngành trồng các giống cây cảnh, cây ăn trái và cả rau thơm mà người Mỹ gọi là “Nursery.” Từ lâu, tôi đã được nghe đến một cơ sở có tên là Ðoàn Nursery ở thành phố Dallas, thì nay qua anh Bằng, tôi mới được biết rõ ràng hơn về cả một hệ thống những Nursery do anh chị em trong gia đình họ Ðoàn của anh đứng ra kinh doanh tại vùng Dallas – Houston từ mấy chục năm nay. Người anh cả là Ðoàn Thanh Hùng đã đi tiên phong trong việc gây dựng cơ sở lấy tên là Ðoàn’s Nursery ở Dallas. Ông Hùng là một trong số những người Việt có cơ sở kinh doanh đầu tiên ở Texas – cơ sở trồng cây này rất thành công đến nỗi vào năm 1987, ông Hùng được Tổng thống Reagan cấp bằng Tưởng thưởng công nhận là một doanh gia xuất sắc trong ngành Small Business (Kinh Doanh Nhỏ). Vào ngày Chủ Nhật, 16 tháng 6, anh Bằng đã chở tôi từ Houston lên Dallas để thăm viếng cơ sở giao dịch cung ứng cây trồng được đặt tại thành phố Irving gần kề với phi trường quốc tế Dallas/Fort Worth. Bữa đó, ông Hùng đi vắng xa, nên rất tiếc tôi đã không được gặp gỡ con người có danh tiếng này.

Nhưng tại Houston, thì tôi lại được anh Bằng dẫn đi thăm Joseph’s Nursery do gia đình của người chị điều hành. Cơ sở này có diện tích trên 30 acres và sản xuất đủ mọi thứ cây cảnh cũng như rau thơm – với nhiều dãy nhà kiếng “Greenhouses” và đủ loại thiết bị về nông nghiệp do một số khá đông nhân công người Việt cũng như người Mễ phụ trách chăm lo việc vun trồng thường ngày. Trang trại có lối đi khá ngăn nắp mà phải dùng loại xe riêng mới có thể đi hết vào các ngõ ngách được. Tôi thật choáng ngợp trước quy mô hoạt động rộng lớn, hiệu quả và thật là ngăn nắp của cơ sở nông nghiệp này.

Tiếp theo anh Bằng còn dẫn tôi đến thăm nhà riêng của anh chị Phúc là chủ nhân của cơ sở Joseph’s Nursery nói trên. Khu nhà anh chị Phúc cũng rộng mênh mông – dễ đến 30 acres – anh chị có ý dành cho các con mỗi gia đình đều xây cất nhà liền với nhau trong khu này. Nhưng cho đến nay, thì mới chỉ có hai gia đình người con xây nhà liền sát với nhà của anh chị. Anh Phúc cho biết là các con khác đi làm ở xa – mà cũng không có ý định xây cất nhà riêng trong khu vực này, vì lý do giá cả của mỗi căn nhà xây cất riêng như vậy lại đắt gấp bội so với căn nhà xây cất trong nội ô thành phố. Nhưng anh chị lại có sự an ủi là hằng ngày các con đều gửi lũ cháu khá đông cho ông bà coi sóc – và buổi chiều đều đến ăn cơm chung cả đại gia đình trước khi đón các cháu về lại nhà riêng mỗi gia đình. Thành ra chị Phúc luôn luôn bận rộn với chuyện là “babysitting” cho cả một đạo quân lũ cháu hiện có đến 10 em lớn nhỏ dưới 8 tuổi.

Và điều đáng ghi nhận hơn cả nơi các gia đình kinh doanh loại Nursery này, đó chính là tất cả đều tham gia đóng góp rất nhiều cho công cuộc xây dựng các cơ sở tôn giáo như nhà thờ, chủng viện… của giáo hội Công Giáo ở Việt Nam. Anh Bằng cho biết mỗi năm sự đóng góp này có thể lên đến con số tổng cộng đến hàng chục vạn Mỹ kim. Thật ít có gia đình người Việt nào mà có sự đóng góp đều đặn liên tục mà to lớn như thế cho sinh hoạt tôn giáo ở Việt nam trong thời gian gần đây vậy.

Ðược biết gia đình họ Ðoàn này xuất thân từ vùng Quỹ Nhất thuộc huyện Nghĩa Hưng trong cùng tỉnh Nam Ðịnh với tôi ở miền Bắc nơi đồng bằng sông Hồng. Vùng này có số đông dân là người công giáo thuộc các giáo khu nổi tiếng là giáo phận Bùi chu và giáo phận Phát diệm. Vì thế mà ta có thể hiểu được sự gắn bó của các thành viên trong gia đình này đối với Giáo Hội Công Giáo – đặc biệt là vì họ thông cảm sâu sắc đối với những bà con đồng đạo, đồng hương của mình là những nạn nhân khốn khổ của chính sách đàn áp thâm độc đối với tôn giáo ròng rã suốt bao nhiêu năm nay của chính quyền cộng sản ở miền Bắc sau năm 1954.

3. Gia đình bác Ðoàn Thanh Tịnh ở Rạch Cát Phú Ðịnh thuộc Quận 8, Sài Gòn

Nhân tiện, tôi xin ghi lại sự quen biết của tôi với một gia đình họ Ðoàn khác từ năm 1968-69, hồi tôi đang làm việc thiện nguyện trong khuôn khổ Chương trình Phát triển Cộng đồng ở các quận 6, 7 và 8 Saigon. Lúc đó, chúng tôi có giúp bà con ở địa phương sửa chữa lại một vài ngôi đình bị hư hại vì chiến tranh. Do vậy, mà được sự tin tưởng tín nhiệm của các bô lão vốn còn gắn bó nhiều với nền nếp cổ xưa tại các làng xã ở nông thôn. Chúng tôi thường hay được mời tham dự những buổi lễ cúng đình được tổ chức vào ngày Rằm tháng Giêng hoặc tháng Hai theo Âm lịch – và lại được mời ăn cỗ và được cho một vài món ăn như xôi, thịt heo quay mang về nhà nữa.

Riêng tôi lại được bác Ðoàn Thanh Tịnh ở bến Phú Ðịnh mời về nhà bác chơi nữa. Bác Tịnh lúc đó đã ngoài tuổi 60 rồi, bác có dáng dấp của người nông dân mà vì chiến tranh nên phải dọn gia đình về miệt ngoại ô thành phố ở đây. Bác tâm sự là bác có người em cũng có tên là Ðoàn Thanh Liêm y như tôi vậy. Nhưng người em của bác đã qua đời từ lâu, nay gặp lại tôi cũng cùng mang tên như thế, nên bác lại càng nhớ đến người em đã khuất của mình. Và đó là mối duyên quen biết gắn bó của tôi với gia đình bác Tịnh.

Lâu lâu, tôi lại đến thăm gia đình bác. Có lần sau năm 1975, tôi đến thăm và biếu bác vài tấm bánh bao hiệu Cả Cần mua ở Chợ Lớn. Bác Tịnh nhận bánh và đem ngay lên bàn thờ có di ảnh của bác gái cũng vừa mất cách đó không lâu – mà vì lúc đó còn lộn xộn tôi chẳng được ai báo cho biết tin buồn này của gia đình bác. Mà lúc ấy, coi bộ bác cũng già yếu đi nhiều, nét mặt đăm chiêu u buồn vì gia cảnh cũng có – mà cũng ngán ngẩm cho tình thế ngoài xã hội nữa.

Ít lâu sau, tôi lại đến thăm bác nữa, thì người cháu nội lại cho tôi biết là: “Ông cháu đã qua đời được mấy tháng rồi!” Tôi lẳng lặng đến trước bàn thờ và lấy vài tấm nhang đốt lên và lẩm nhẩm khấn vái hai bác trước tấm di ảnh. Hồi đó, tôi cũng chưa có ý thức về chuyện tìm hiểu về các chi tộc họ Ðoàn như anh Ðoàn Hữu Phương mới đề xuất với tôi, nên đã không có hỏi bác Tịnh về gia thế họ Ðoàn của bác ở miền Nam. Nay thì tôi xin ghi lại sự quen biết gắn bó với gia đình của bác Ðoàn Thanh Tịnh – như là một kỷ niệm thật đáng nhớ giữa cái thời chiến tranh khói lửa trước năm 1975 – và cả cái thời bất an xáo trộn sau đó ở miệt ngoại ô thành phố Saigon.

4. Về sự liên hệ gắn bó giữa các chi tộc họ Ðoàn

Theo chỗ tôi được biết, thì họ Ðoàn không phải là một họ có đông người như các họ Nguyễn, Lê, Trần, Lý v.v… Tuy vậy, ở khắp các miền Trung, Nam, Bắc, thì đều có các người mang họ Ðoàn như các anh Ðoàn Hữu Phương, Ðoàn Văn Bằng – và cả bác Ðoàn Thanh Tịnh tôi vừa ghi ở trên.

Nhưng tôi chưa được biết đến có một sự liên lạc gắn bó nào giữa các chi tộc họ Ðoàn hiện sinh sống rải rác khắp nơi trong nước – tương tự như có một tổ chức giữa các chi tộc họ Phạm được thành hình sau năm 1975 lấy tên là “Liên Hiệp Các Gia Ðình Họ Phạm” – mà một trong những người hoạt động năng nổ nhất là nhà sử học Phạm Quế Dương, vị Ðại tá được nhiều bà con biết đến và khâm phục sự dũng cảm của ông trước áp lực chuyên chế của đảng cộng sản. Chính ông Dương đã giúp gia đình họ Phạm Phú tìm hài cốt của phi công Phạm Phú Quốc bị mất tích trong một phi vụ chiến đấu từ miền Nam bay ra miền Bắc vào năm 1965-66 .Và kết cục đã tìm được thi hài của người phi công nổi danh này.
Vì thế, nhân có sự thúc đẩy của anh Ðoàn Hữu Phương hiện ở Pittsburgh, tiểu bang Pennsylvania, tôi cũng xin kêu gọi các bà con cùng họ Ðoàn như chúng tôi, thì cũng cho biết thêm tin tức về những cố gắng mở rộng mối liên hệ gắn bó giữa các chi tộc họ Ðoàn hiện đang sinh sống khắp nơi – trong nước cũng như ngoài nước. Chúng tôi rất vui mừng được đón nhận sự đáp ứng thuận lợi của bất kỳ thành viên nào mà cùng thuộc về một chi tộc họ Ðoàn như mình vậy. Xin được cảm ơn trước nhã ý của quý bà con.

 

 

Istanbul, giữa 2 bờ Âu – Á

 

Trịnh Hội (Nguồn: VOA)

Mặc dù trong hai thập niên vừa qua tôi đã đến nhiều nước, đến Phi Châu tôi cũng đã đi từ Bắc xuống Nam nhưng Istanbul, thành phố lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ thì tôi lại chưa bao giờ ghé qua. Mặc dù tôi cũng biết Istanbul, hay trước đây được gọi là Constantinople, là một trong những thành phố huy hoàng và tráng lệ nhất thời cổ đại.

Không những nó được chọn làm thủ đô của đế chế Ðông Roman trước đây mà sau này trong suốt mười mấy thế kỷ qua, lúc nào nó cũng được chọn làm thủ đô của các đế chế như Byzantine thời trung cổ và sau này là triều đại Ottoman lấy Hồi Giáo làm quốc giáo.

Cũng vì vậy mà cảm nhận đầu tiên và ấn tượng nhất khi tôi đặt chân đến thành phố này là tiếng cầu kinh (prayer call) vang vọng, phủ trùm mọi đầu đường, góc hẻm mỗi khi đến giờ cầu nguyện. Từ những nóc đền thờ Mosque nằm ở những vị trí đẹp nhất, quan trọng nhất của thành phố, tiếng kinh cầu được phát ra, hay nói chính xác hơn là được ngân lên và phát “live,” khi nhỏ, khi to, lúc dồn dập, sau lại nỉ non, kêu gọi mọi người thành tâm xá lễ và cầu nguyện trước đấng Allah.

Thành thật mà nói mặc dù không hiểu gì nhưng chính tôi đây lúc ấy cũng cảm thấy bỗng nhiên cả thành phố trông có vẻ như chậm lại, mọi người có vẻ như trầm tư hơn, riêng tôi thì lại có thêm cảm giác ngờ ngợ là hình như mình đang được xem một cuộn phim sống mà chính mình đây cũng đang được sống trong phim.

Hay cũng có thể là tôi đang nằm mơ và được quay về quá khứ, về một thời vàng son với những lâu đài tráng lệ, những vườn thượng uyển mà trước đây tôi chỉ được đọc qua sách báo như quyển truyện Một nghìn lẻ một đêm tôi hằng mê mẩn đọc hồi nhỏ.

À. Thì ra đây là dòng sông thần thoại, eo biển phân chia Âu và Á. Ðến giờ nó vẫn nằm đây, vẫn phân chia Istanbul ra hai bờ Âu, Á khác biệt. Bờ Ðông vẫn cổ kính với những hẻm phố chật hẹp đặc tính chất Châu Á. Và bên bờ Tây vẫn là nơi giao dịch, mua bán đầy phát triển như nhiều thành phố ở Châu Âu.

Sẽ có ít nơi trên thế giới mà bạn có thể thấy được sự khác biệt rất rõ nét giữa Âu và Á, ngay trong lòng thành phố, như ở nơi này. Sự khác biệt đó hiện rõ ở từng ngôi đền, kể cả đền thờ cổ nhất, lớn nhất thế giới trước khi nhà thờ chính tòa St. Peter ở Rome được xây dựng, trước tiên là để làm nhà thờ Thiên Chúa Giáo chính tòa của thủ đô. Nhưng đến khi thủ đô đổi chủ thì nhà thờ lại được cải biến thành Mosque chỉ tôn thờ đấng Allah bên Hồi giáo.

Vì vậy bước vào ngôi đền này tôi có cảm giác như mình vừa được đi vào lịch sử! Từng viên gạch, từng nét chạm trổ, kể cả bàn thờ trước mặt nói lên sự hưng vong của một thời, những va chạm giữa các văn hóa, vùng miền khác nhau. Giữa các triều đại với từng ấy tiền tài, nhân lực nhưng cuối cùng chẳng có gì là mãi mãi. Thấy đó rồi mất đó. Ðiều mà mình cho là linh thiêng nhất chưa hẳn người khác đã tin.

Ngược lại những tranh chấp, được hay mất, đúng hay sai, cuối cùng chẳng một ai có thể phán quyết.

Nếu bạn là một người thích lịch sử, thích tìm đến những gì mình không cảm thấy quen thuộc, thích khám phá hơn là hưởng thụ mỗi khi có dịp đi holiday thì nhất định bạn phải đến nơi này. Ngoài thời tiết mát mẻ không giống như ở Dubai mặc dù giữa mùa Hè, Istanbul còn là nơi bạn có thể từ đó đi đến những vùng đất mà người Việt Nam ít có dịp đặt chân đến. Như Iraq, Bulgaria và những hoang đảo đẹp nhất của vùng biển Ðịa Trung Hải mà chúng ta thường gọi là Greek Isles.

Rất tiếc là lần này tôi đi vì công việc nên tôi đã không thể ở lâu hơn. Ðể tìm hiểu thêm về thế giới huyền bí của những đại đế Ottoman và tiếp cận những gì được cho là thiêng liêng, vĩnh cửu nhất của thời cổ đại. Vì biết đâu khi đi ngược về quá khứ, chúng ta sẽ tìm được giải pháp cho tương lai?

Mỹ tuyên bố có chứng cứ Syria dùng hơi độc sarin

 


DAMASCUS, Syria (AP)Trong một loạt phỏng vấn hôm Chủ Nhật trên các chương trình truyền hình, Ngoại Trưởng John Kerry nói rằng Washington có đủ chứng cớ Syria sử dụng hơi độc sarin, và rằng khả năng tấn công bằng quân sự vào nước này đang “ngày mỗi mạnh thêm.”








Ngoại Trưởng John Kerry phát biểu về Syria tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Washington, DC. (Hình: AP/Charles Dharapak)


Phát biểu của ông Kerry được đưa ra chỉ một ngày sau khi Tổng Thống Barack Obama bất ngờ loan báo ông sẽ tìm sự chấp thuận của Quốc Hội trước khi có hành động quân sự chống lại chế độ Tổng Thống Bashar Assad về vụ tấn công vào khu vực do quân nổi dậy chiếm giữ gần Damascus hôm 21 Tháng Tám. Vụ tấn công này bị nghi là có sử dụng vũ khí hóa học.


Thứ Trưởng Syria, ông Faysal Mikdad, hôm Chủ Nhật tuyên bố rằng sở dĩ ông Obama dịu lại sự đe dọa vì chính phủ ông không có đủ chứng cớ cho rằng chính quyền Syria có dính líu đến vụ tấn công có chủ ý bằng hơi độc.


Ông Mikdad nói: “Trù trừ và nản chí biểu hiện rõ trong lời nói của Tổng Thống Obama phát biểu ngày hôm qua. Sự lúng túng cũng thấy rõ không kém.”


Nhật báo Al-Thawra của chính phủ Syria, với giọng hả hê, viết rằng quyết định của Tổng Thống Obama tỏ cho thấy ông có dấu hiệu thua cuộc.


Chế độ Assad tố cáo vụ tấn công hôm 21 Tháng Tám do bàn tay của phe nổi dậy, tuy nhiên, họ không đưa ra chứng cớ.


Tại Vatican, Đức Giáo Hoàng Francis lên án việc sử dụng vũ khí hóa học và kêu gọi mọi phía trong cuộc nội chiến ở Syria hãy từ bỏ vũ khí. Ngài cho hay, ngài sẽ hướng dẫn một cuộc cầu nguyện toàn thế giới cho hòa bình của Syria vào ngày 7 Tháng Chín. (TP)

Vietnam prisoner amnesty list ignores political detainees


Vietnam has scheduled a mass amnesty for this coming week, but fewer than 10 of the estimated 15,000 Vietnamese prisoners to be released are believed to be political prisoners. The prisoners are set to walk out of detention on Monday, but the government appears hesitant to release dissidents.

Read the full story from Radio Free Asia.

Inmates from Binh Phuoc province sign papers as they are freed under a prisoner amnesty, Aug. 30, 2011. AFP Photo/ Vietnam News Agency

McDonald’s wages retail premises war in Vietnam


 McDonald’s announcement that it will enter the Vietnamese fast-food market has led to a big question: Where will it be located? Rumors abound about where it will be located, and real estate experts are speculating just what neighborhood will host the first Golden Arches.

Read more from Vietnam.net.

The place where people believe the first McDonald’s shop would be located. Photo from Vietnam.net

Jeremy Lin proves that Asians can be ballers, too


Jeffrey Lin has been called Jeremy Lin more times than he knows, and it is a bit annoying. But the fact that Jeremy Lin – a basketball player who sparked the “Linsanity” craze in the 2011-12 NBA season – is on people’s minds is groundbreaking.

Read Jeremy Lin’s take on the situation from The Georgetown Voice.

Jeremy Lin. Photo from Sports Illustrated

All too often, society fails to toe the line between comedy and racism


 Robert Hsu thought the movie playing on his recent flight would be kind of stupid but would help to pass the time. Instead, it got him thinking – about just how Asian stereotyping isn’t funny. He speaks out against it in his column, ‘The Casual Observer,’ in The Daily Pennsylvanian.









Robert Hsu

Chỉ khen, không được chê

 

Song Chi (RFA)

Nhảy nhổm lên khi bị chê

Nhà văn Phan Thị Vàng Anh trong tập tản văn “Nhân trường hợp chị Thỏ Bông” với bút danh Thảo Hảo, có viết một bài “Ai cho mầy chê con tao xấu?” rất thú vị. Hình như nếu tôi nhớ không lầm, bài tản văn đó ra đời nhân dịp một bộ phim bị báo chí chê và nhà đạo diễn của bộ phim đó nhảy nhổm lên thì phải.

Ấy vậy mà nhiều năm sau, cái tính nhảy nhổm lên khi bị chê ấy, vẫn cứ diễn ra, mới đây nhất là trường hợp một ca sĩ tự xưng là Mít-tơ gì đó, và nghe đâu còn được phong (chả biết ai phong) là “ông hoàng nhạc Việt”, khi bị một nhạc sĩ lớn tuổi nhận xét thẳng thừng về giọng ca của mình.

Tôi không muốn bàn nhiều về câu chuyện đang làm nóng một số trang báo và trên mạng về văn hóa ứng xử của một thiểu số trong giới nghệ sĩ, showbiz Việt này, cũng không muốn lạm bàn về ca khúc, giọng hát, phong cách hát của ngày xưa trước 1975 (chủ yếu nói đến ca khúc, nhạc sĩ, ca sĩ ở miền Nam) và bây giờ.

Ðiều tôi muốn nói đến ở đây là cái tính không thích nghe chê ấy hình như không chỉ ở một vài cá nhân, cho dù không phải ai khi bị chê cũng phản ứng theo kiểu như ca sĩ Mít-tơ gì đó. Mà cái tính không thích nghe chê bai ấy dường như có ở rất nhiều người Việt mình.

Còn nhớ câu chuyện về một blogger Mỹ có tên Matt Kepnes đi du lịch sang VN, sau đó viết bài chê “Why I’ll never return to Vietnam?” đăng trên tờ Huffingtonpost vào ngày 30 tháng 1, 2012. Sau khi một số tờ báo VN đăng tải lại bài viết này, với cái tựa tiếng Việt là “Cho tiền cũng không quay lại VN” thì bên dưới bài báo lẫn trên các trang mạng xuất hiện làn sóng phản pháo.

Ða số là người VN, cảm thấy tự ái đùng đùng vì những lời chê bai, liền không tiếc lời phản bác, thậm chí “mắng mỏ” anh chàng Matt Kepnes, mà không chịu suy ngẫm xem những điều người ta nhận xét về ngành du lịch, về con người VN có đúng không.

Một ví dụ khác, ông Joel Brinkley, giáo sư chuyên ngành báo chí tại Ðại Học Stanford, Hoa Kỳ, viết một bài bình luận đăng trên tờ Chicago Tribune ngày 29 tháng 1, 2013, trong đó ông phê phán thói quen ẩm thực (ăn thịt chó, thịt thú rừng…) cùng tính cách của người VN. Giáo sư này cho rằng thói quen ăn thịt nhiều khiến người Việt trở nên hung hăng (aggressive) và trong quá khứ VN luôn luôn là một quốc gia hung hăng so với các nước láng giềng.

Bài bình luận đã nhận được phản ứng rất mạnh từ người Việt trong và ngoài nước, đến nỗi vào đầu tháng 2, 2013, ban biên tập của Chicago Tribune đã phải đăng đính chính, xin lỗi vì đã đăng bài của ông Brinkey. Người Việt còn gửi thỉnh nguyện thư với hàng ngàn chữ ký yêu cầu trường Stanford đuổi việc Giáo Sư Brinkey.

Tất nhiên, bài bình luận của ông Brinkey đáng để người VN giận dữ vì mang tính kỳ thị và được viết một cách hoàn toàn cảm tính, không có cơ sở khoa học, lại không chính xác về lịch sử. Nhưng trong vô số ý kiến phản hồi gửi vào trang mạng của tờ Chicago Tribune hay trên những trang báo, mạng trong nước, nếu chúng ta không kềm chế và có những lời nóng giận, mạt sát ông Giáo sư kia thì chẳng phải chúng ta đang vô tình chứng minh nhận xét “người VN hung hăng” của ông ta là đúng hay sao.

“Ở đâu mà chả vậy”

Nếu bạn là người VN, bạn nói đến những cái xấu, tệ hại của xã hội, của chế độ cũng vậy, sẽ có những người nhảy vào với những luận điệu quen thuộc như: Tham nhũng à, ở đâu mà chả có tham nhũng, tình trạng tội phạm ngày càng tăng ư, nói cho mà nghe nhé, VN mình còn ổn định hơn khối nước, không có khủng bố, không có chiến tranh, không có nã súng giết người hàng loạt, cứ thử nhìn sang Mỹ xem… Hoặc, bạn là ai, có phải là người VN không, sao lại dám mở mồm chê bai, xúc phạm đến đất nước, dân tộc VN? Thật khó mà tranh luận với những luận điểm đánh đồng “ở đâu mà chả vậy”, hoặc đánh đồng giữa đảng, nhà nước với dân tộc, tổ quốc!

Tuy nhiên, nếu nói đến những cái xấu của chế độ hay xã hội, dù sao bây giờ cũng ngày càng có nhiều người đồng tình với bạn. Nhưng nếu cứ thử viết bài mà nói đến những thói hư tật xấu, nhược điểm của đồng bào là dễ bị mọi người ném đá lắm.

Còn trong lĩnh vực văn học nghệ thuật càng phiền hơn. Từ văn học, thơ ca, âm nhạc cho đến hội họa, phim ảnh… ở VN bây giờ dường như đều thiếu vắng những cây bút phê bình có uy tín, có trình độ chuyên môn, sắc sảo, thẳng thắn chỉ ra những cái dở, cái tệ của tác phẩm, của người sáng tác, người biểu diễn.

Trên mặt báo, những nhà báo đi viết về những lĩnh vực này không phải ai cũng có hiểu biết về chuyên môn, ví dụ như nhà báo đi viết về điện ảnh không phải ai cũng học/làm về điện ảnh nên khi viết về một bộ phim chẳng hạn, hầu hết chỉ là giới thiệu nội dung, khen một tí, chê nhẹ nhẹ một tí, thế là xong. Chê mạnh, thể nào cái đám làm phim cũng sừng sộ lên bảo sao không giỏi làm phim đi, hoặc anh/chị không hiểu gì về phim của tôi, rồi nhà sản xuất, đạo diễn cạch mặt không chơi, không mời đi xem phim mới nữa, lấy gì mà viết?

Âm nhạc cũng thế. Nhà báo nếu không phải là nhạc sĩ, không học chuyên môn về âm nhạc, dù có thể có tai nghe, thẩm thấu tốt về âm nhạc, nhưng đố dám bảo đụng vào những ổ kiến lửa tự xưng là “ông hoàng, bà chúa” nhạc Việt với lại di-va di-viếc kia, cùng hàng lũ fan hùng hậu của họ. Nên cứ viết những gỉ vui vui hiếu hỉ, khen nhau cho nó lành. Thế là người ta càng quen được nghe khen, càng tưởng mình tài năng lớn, cộng với bao nhiêu sự hâm mộ của quần chúng… đến khi một ai đó chê thẳng một cái là có chuyện.

Nhìn rộng ra, cái nước mình bây giờ trong mọi lĩnh vực đều cần có những “nhà phê bình” có uy tín, có trình độ, dũng cảm, từ văn hóa nghệ thuật, y tế, giáo dục, kinh tế và cả cái chính phủ này. Chính vì không có ai giám sát, phản biện, chất vấn, chê bai nên mọi thứ mới thành ra hỗn loạn đến vậy.

Và cũng chẳng khác gì cái anh ca sĩ kia, nhà nước VN khi bị nghe những lời phản biện thẳng thừng là “chạm nọc” ngay, khi có ai đó lên tiếng đề nghị thành lập đảng phái, tổ chức chính trị đối lập để giám sát những chính sách, việc làm sai lầm của nhà cầm quyền, tất cả vì lợi ích chung của đất nước, dân tộc… là lập tức cho truyền thông báo đảng xúm vào đánh hội đồng, tiếp theo là còng số 8, là nhà tù, là bịt miệng… ngay.

Một con người dù có một ít tài năng đi nữa mà chỉ thích nghe khen, không thích bị chê thì rất khó tránh sai lầm, khó tiến xa. Một nhà nước, một dân tộc cũng vậy thôi.

Biên bản hữu thệ của FBI (tiếp theo)

 


LTSDưới đây là biên bản hữu thệ do FBI cung cấp cho nhật báo Người Việt liên quan đến vụ một doanh gia gốc Việt cho một người gốc Việt khác vay tiền, rồi dùng một cảnh sát viên gốc Việt ở Westminster đi đòi nợ. Nội dung biên bản nói rằng doanh gia và cảnh sát viên này dùng các hình thức hăm dọa và sách nhiễu công việc kinh doanh của con nợ. Nhật báo Người Việt đăng lại nguyên văn biên bản này. Bài được đăng làm nhiều kỳ.


***


8. Vào ngày 6 Tháng Năm 2013, chính phủ xin được trát tòa cho phép nghe và xem các liên lạc qua đường dây và điện tử của máy điện thoại do DO sử dụng. Các cú điện thoại và text message đọc được cho thấy: DO tiếp tục tìm cách đòi lại tiền từ H.L.; và có thể một số nạn nhân khác của DO. Những gì thu thập được cho thấy DO dùng các nhân viên công lực địa phương, kể cả DONNER, để hăm dọa đòi H.L. trả tiền.

9. Vào khoảng ngày 2 Tháng Bảy 2013, FBI thẩm vấn H.L. H.L. xác nhận có nợ DO một số tiền lớn và mức lời DO đưa ra. (note #2) H.L. khai rằng DO nói với H.L. là anh ta cũng như một nhân viên công lực và anh ta có mối quan hệ với giới chức công lực cũng như các cơ quan thanh tra để có thể gây cản trở cho việc làm ăn của H.L. nếu H.L. không chịu trả tiền lời đúng kỳ hạn. H.L. cũng nói rằng DONNER, cũng như các nhân viên công lực khác, đã gây cản trở cho việc làm ăn của bà, kể cả chiếu đèn xe tuần tiễu vào quán của bà, chặn xe của nhân viên sau giờ làm việc, và bước vào quán để dọa nạt khách hàng. Một cuộc duyệt xét dữ kiện ghi nhận vị trí của máy định vị trên các xe tuần tiễu của sở cảnh sát WPD cho thấy DONNER và một số cảnh sát viên khác có mặt ở cơ sở làm ăn của H.L. vào ngày giờ bà ta than phiền bị truy bức.

Note 2: Trong cuộc gặp đầu tiên với FBI, H.L. chối không trả mức lời hàng tháng là 5% cho DO, nhưng nói rằng bà ta “sợ DO” và không muốn có hành động chống lại DO (mess with). Trong cuộc thẩm vấn ít ngày sau đó với FBI, H.L. xác nhận các điều kiện mượn nợ, cách thức DO thu tiền lời từ H.L., cũng như sự sợ hãi nếu không trả được tiền cho DO.

10. Vào ngày 21 Tháng Tám 2013, FBI thẩm vấn DONNER về một số vấn đề, kể cả các hoạt động của anh ta với DO.

DONNER xác nhận anh có đi thu tiền của H.L. một số lần theo lời yêu cầu của DO, kể cả trong giờ làm việc và mặc sắc phục. DONNER cũng thú nhận rằng DO ra lệnh cho DONNER phải tìm ra các vi phạm luật lệ CUP của H.L. tại cơ sở thương mại của bà, và DONNER có viết các giấy phạt liên quan đến giấy phép CUP.


Probable Cause


11. Vào ngày 25 Tháng Mười Một 2012, FBI nghe được một số cuộc điện thoại và đọc được text messages qua điện thoại của H.L khi nói chuyện với DO và DONNER. Trong các lần điện thoại này, và trong những lần theo dõi sau đó, DO đòi H.L. phải trả số tiền còn thiếu và gửi DONNER tới để đòi tiền. (note 3).

a) Vào khoảng 2:38 chiều, DO gửi text message cho H.L. về số tiền bà ta còn thiếu. DO bày tỏ sự không hài lòng với H.L. nói rằng (bằng tiếng Việt) “Cô có tới hay không. Tôi chán những lời hứa hẹn của cô lắm rồi.” Sau đó trong bản text khác (bằng tiếng Anh) “Mình cần phải nói chuyện, (H.L.)” H.L. trả lời bằng text (bằng tiếng Việt), “Em nói sẽ đến tối nay, em sẽ tới lúc chừng 8 giờ tối.” Căn cứ vào cuộc điều tra cho tới nay, tôi tin rằng khi DO nói rằng ông ta đã “chán những lời hứa hẹn” của H.L. ông muốn nói rằng đã chán việc H.L. không trả tiền số tiền lời đúng hẹn.

Note 3: Khi tôi nói rằng một cú điện thoại hay text message được DO gửi ra hay nhận vào, thông tin này được gửi hay nhận từ một số điện thoại chấm dứt bằng 8888. Khi tôi nói rằng khi cú điện thoại hay text message được DONNER gửi đi hay nhận lại, thông tin này được gửi hay nhận ở số điện thoại chấm dứt bằng 5221, một số điện thoại của AT&T Wireless với người thuê là DONNER. Các cú điện thoại và các text message nghe hay đọc được là cả bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Khi tôi nói rằng một cú điện thoại nói bằng tiếng Việt và đưa ra bản dịch tiếng Anh, tôi nhờ vào các tin tức cung cấp cho tôi từ các nhà ngữ học thông thạo tiếng Việt của FBI. Khi tôi để một chữ giữa hai dấu ngoặc, tôi đưa ra điều tôi nghĩ là người nói muốn đề cập tới, căn cứ trên cuộc điều tra, những gì tôi được huấn luyện và kinh nghiệm của tôi. Các văn bản hoàn chỉnh ghi lại những gì phát biểu trong các cú điện thoại hay text messages này hiện chưa có, nhưng tôi tin rằng các bản dịch là chính xác, và tôi tin rằng bản dịch sau cùng về các cú điện thoại này sẽ không thay đổi về ý nghĩa. Các cuộc nói chuyện bằng tiếng Việt đề cập tới trong bản chứng nhận này cũng được một nhân viên đặc biệt FBI Trung Dang (“SA Dang”), một người có tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, duyệt lại. Ông ta đồng ý rằng bản dịch của các cú điện thoại được đề cập tới trong bản chứng nhận này là chính xác về ý nghĩa.

b) Vào lúc 2 giờ 47 chiều, H.L. gọi DO và kêu anh ta bằng “Anh Hai.” Tôi biết sau khi nói chuyện với SA Dang, rằng từ ngữ này khi sử dụng trong văn hóa Việt Nam thường là để đề cập đến người có vai vế cao hơn, và cũng giống như từ ngữ “Big Brother” trong tiếng Anh. DO nói với H.L một cách lớn tiếng, vốn theo các kinh nghiệm và sự huấn luyện mà SA Dang có được thì có vẻ bực bội và giận dữ, nói rằng (bằng tiếng Việt), “Tôi không muốn phí thì giờ với cô. Tôi bận lắm và đó là lý do tại sao tôi gọi Anthony (DONNER) lo chuyện này cho tôi. Tôi rất bận.”

H.L. trả lời (bằng tiếng Việt) “khi nào anh rảnh để em ghé qua?” Dựa theo sự huấn luyện và kinh nghiệm của tôi, trong cú điện thoại này tôi tin rằng DO tìm cách sắp xếp giờ hẹn để DONNER tới nhận tiền thiếu từ H.L.

c) Vào lúc 4 giờ 08 chiều, DONNER gửi một text messag cho H.L., bằng tiếng Việt “[H.L.], chị có cái đó tối nay không?”
Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm mà tôi có được, tôi tin rằng text message của DONNER muốn hỏi rằng liệu H.L. có số tiền thiếu DO để DONNER đến lấy cho DO trong đêm đó hay không.

d) Vào lúc 4 giờ 16 chiều, H.L. trả lời cho DONNER bằng cách text lại (bằng tiếng Việt), “8 giờ tối, tiệm ok.” DONNER trả lời ít phút sau đó (bằng tiếng Việt) như sau “Ok [H.L.]”. Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm của tôi, tôi tin rằng DONNER đang xác nhận thời giờ và địa điểm gặp để nhận tiền cho DO từ H.L., vốn ở nhà hàng/quán rượu của H.L. ở Westminster.

e) Vào lúc 7 giờ 11 phút tối, H.L. gửi cho DONNER một text message hỏi (bằng tiếng Anh), “Chị sắp tới quán chưa?” DONNER replied, [”H.L”] come n pick it up.” Rồi sau đó gửi một message thứ nhì (bằng tiếng Anh), “20 phút.”

[Ðoạn này của Tòa Soạn: Ðoạn e. bên trên có vẻ không chính xác. Có thể, DONNER hỏi H.L. “Chị sắp tới quán chưa?” và sau đó H.L trả lời là “đến lấy đi.”]

f) Vào lúc 7 giờ 33 phút tối, H.L. gọi cho DONNER để xem như thế nào. DONNER trả lời (bằng tiếng Anh), “Hello. Hello… Bây giờ em đang ở nhà. Em sẽ đến đó [nhà hàng của H.L.] sau khi thay quần áo xong.” Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm mà tôi có được cũng như sau khi thẩm vấn H.L., tôi tin rằng H.L. và DONNER đang phối hợp giờ gặp tại cửa tiệm của H.L. để H.L. đưa cho DONNER số tiền lời trả cho DO.

g) Vào lúc 7 giờ 46 phút tối, các nhân viên an ninh theo dõi thấy H.L cùng với một người đàn ông Á Châu rời khỏi quán bằng xe hơi. (Note 4)

h) Vào lúc 7 giờ 48 phút tối, H.L. gửi cho DONNER một text message (bằng tiếng Anh), “Chị phải giao đồ ăn cho khách. be sẽ đưa tiền cho em, nửa bây giờ ok, nửa còn lại ngày mai ok.” Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm mà tôi có được tôi tin rằng H.L. nói với DONNER rằng sẽ đưa nửa số tiền thiếu vào tối đó và nửa còn lại vào ngày hôm sau.

Note 4: Lúc 7 giờ 46 phút tối, H.L. gọi cho một người nữ, sau đó H.L. cho biết là một nhân viên tại nhà hàng của H.L. Trong cuộc nói chuyện, H.L. nói với người nữ nhân viên, “khi nào Anthony đến, đưa cho nó tiền.” H.L. xác nhận cú điện thoại này là do cô gọi để nói người nhân viên đưa cho DONNER số tiền đã đồng ý.

(còn tiếp)

Công an Việt Nam sang Úc thẩm tra người vượt biên


AUSTRALIA (NV)
Bản tin của tờ báo Úc, The West Australian, ra ngày 29 Tháng Tám, 2013 cho biết giới hữu trách về di trú của Úc cho một nhóm công an từ Việt Nam sang, đi vào tận trại tạm giam ở Northam, để “làm việc” với những người Việt Nam vừa vượt biên đến đây.

Bài báo viết, đó có thể là lý do khiến 5 thuyền nhân Việt Nam đang bị giam tại đây, trại Yongah Hill, quyết định trốn trại.

Thông tin về việc chính phủ Úc cho phép công an Việt Nam truy cập tên tuổi và chi tiết của thân nhân hiện đang sống tại Việt Nam của các thuyền nhân này bị dư luận biết đến sau khi 5 thuyền nhân trốn trại ngày 17 Tháng Tám.

TV Úc chiếu hình một chiếc thuyền của thuyền nhân Việt Nam đến Úc trước đây. (Hình: STR/AFP/Getty Images)

Bài báo cho biết thêm, 4 trong số 5 thuyền nhân trốn trại bị bắt lại sau 4 ngày lẩn trốn. Người còn lại bị bắt sau 8 ngày.

Bài báo viết rằng, nguồn tin bên trong trại Yongah Hill tiết lộ, công an di trú Việt Nam đã gặp và làm việc với các thuyền nhân, và nói với họ rằng họ phải ký vào giấy chấp nhận hồi hương.

Một thuyền nhân nói với phóng viên tờ The West Australian: “Chúng tôi đến đây để tìm sự an toàn.”

“Vậy thì tại sao chính phủ [Úc], tại sao Sở Di Trú lại trao hồ sơ cá nhân cho công an Việt Nam? Ðiều này có tạo nguy hiểm cho thân nhân của họ không?” Một người nói với phóng viên, và yêu cầu không nêu tên.

“Ðiều mà chúng tôi lo nhất là phải đối diện với các vấn đề chính trị… sự bất đồng về quyền tự do tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam,” một thuyền nhân khác bày tỏ với phóng viên.

Bà Victoria Martin-Iverson, đại diện Mạng Lưới Hành Ðộng Vì Quyền Người Tỵ Nạn (Refugee Rights Action Network) cho biết bà nghe nói có ít nhất 3 trại tạm giam người tỵ nạn đã cho thực hiện các cuộc phỏng vấn, làm việc với thuyền nhân trong vài tuần qua.

“Hành động này [để công an gặp thuyền nhân] là không đúng.” Bà Martin- Iverson phân tích. “Hành động này là rất sai trái; và đây chính là điều mà công ước tỵ nạn cấm tiệt.”

Trong khi đó, đại diện Sở Di Trú Úc Châu, ông Sandi Logan, nói rằng cơ quan này không bình phẩm về “các chi tiết cụ thể về mối quan hệ với giới chức chính quyền nước ngoài.”

“Tuy nhiên, qua nhiều đời chính phủ và qua nhiều thập niên, cơ quan này, nếu được yêu cầu, cũng sẽ cho phép quan chức chính quyền ngoại quốc thẩm tra những người không có căn bản luật pháp để lưu lại Úc. Ðiều này là để giúp xác định danh tánh, quốc tịch và quyền đi vào một quốc gia khác.” Ông Logan giải thích.

Giám đốc cơ quan tư vấn cho Trung Tâm Nhân Quyền, ông Daniel Webb, nói với tờ báo rằng một trong những cam kết của chính phủ Úc đối với người nước ngoài tìm đến đây để được bảo vệ là chính phủ Úc sẽ không trả họ về nơi nguy hiểm.

“Ðiều này có nghĩa là chúng ta phải cân nhắc một cách công bằng và cẩn trọng các nhu cầu được bảo vệ của họ. Chúng ta không được làm bất cứ điều gì có thể làm gia tăng rủi ro bị hại cho họ một khi họ quay về.” Ông Webb phát biểu.

Trong bản tin đăng hồi trung tuần Tháng Bảy vừa qua trên nhật báo Người Việt, chúng tôi có đề cập đến việc 84 người Việt Nam vượt biên đến Úc, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng và hành trình dài trên một chiếc tàu gỗ nhỏ.

Báo chí Úc cho hay chiếc tàu gỗ nói trên đã bị máy bay của lực lượng Biên Phòng phát hiện trên biển từ khoảng 10 giờ đêm hôm trước. Nhưng họ chỉ theo dõi và chỉ cho tàu tuần chận giữ khi cách khu vực Bắc Tây Bắc thành phố Broome thuộc bán đảo Dampier 28 hải lý.

Bốn năm trở lại đây, người ta thấy số người Việt Nam vượt biên đến Úc năm nào cũng có sau một thời gian dài lắng xuống.

Năm nay, con số tăng vọt. Dù vậy, các con số này không nhiều đến hàng ngàn hàng vạn người tìm cách vượt biên trốn Cộng Sản như từ sau 1975 VNCH sụp đổ cho đến thập niên 1980 và đến cả giữa thập niên 1990.

Chính phủ Úc cho hay từ đầu năm đến nay, có tới 759 người Việt Nam vượt biên bằng tàu đến nước này xin tị nạn. Tháng Tư, 2013, một chiếc tàu chở 72 người Việt Nam vượt biên cũng đã bị chận giữ tại cùng một địa điểm như những người mới đến đợt Tháng Bảy. Khoảng thời gian này, một chiếc tàu khác chở 60 người Việt Nam chạy vào cảng Geraldton trước sự ngạc nhiên của người địa phương.

Con số 759 người Việt Nam vượt biển đến Úc năm nay là con số cao nhất kể từ năm 1994 có 796 thuyền nhân đến xin tị nạn. Năm 2012 thấy nói có 46 người. Năm 2011 tổng cộng chỉ có 101 người và năm 2010 có 31 người Việt vượt biên đến Úc bằng đường biển. (Ð.B.)

Cụ Bà Đỗ Thị Vân Anh

Bà Maria Hoàng Thị Hiên

Bà Phạm Thị Thu Hương

Y viện châm cứu Maum Clinic Acupuncture

Tận tụy hết lòng vì bệnh nhân

Bài: Thái Lâm

Khác với phương pháp chữa bệnh Tây y, phương pháp trị liệu Đông y gồm Châm cứu, Bấm huyệt, Massage kết hợp với thuốc uống bào chế từ dược thảo là một phương pháp được thời gian chứng minh là vô cùng kỳ diệu, lại hạn chế can thiệp quá nhiều lên cơ thể người bệnh, như mổ xẻ, v.v… Ngoài khả năng chữa bệnh như đã biết, phương pháp này còn phù hợp với khả năng chi trả của người bệnh vì ít tốn kém, đồng thời tiết kiệm thời gian điều trị.

Bác sĩ Choi (ngồi) và các cộng sự. (Hình: Thái Lâm)

Phòng khám Đông y Maum Clinic Acupuncture, đứng đầu là Bác sĩ Jake Chin Choi – dành được trọn vẹn lòng tin yêu của bệnh nhân nhờ sự tận tâm, chu đáo và sự mát tay của Bác sĩ Choi. Theo Đông y, cơ thể con người được vận hành bởi một hệ thống huyệt đạo phức tạp nằm dưới da. Hệ thống này được liên thông, cùng nhau vận hành các chức năng trong cơ thể. Vì lý do nào đó, nếu sự liên thông này bị tắt nghẽn, người bệnh phải chịu đựng những cơn đau từ nhẹ tới ngặt nghèo.

Bác sĩ điều trị bằng Acupressure (Hình: Maum Clinic cung cấp)

Để nối lại sự lưu thông giữa các huyệt đạo đó, Bác sĩ Choi dùng cách Châm – tức dùng kim châm, kích thích các huyệt đạo, kết hợp với Cứu – tức đốt nóng một loại dược thảo đặc biệt, hơ lên vùng huyệt đạo đó. Ngoài Châm Cứu, Bác sĩ còn kết hợp bấm huyệt để nối lại ‘kinh mạch’, chữa bệnh một cách nhẹ nhàng, không gây đau đớn cho bệnh nhân. Bên cạnh đó, điều trị còn được hỗ trợ bởi thuốc uống, được chế tạo từ những nguyên vật liệu cao cấp, nhập cảng trực tiếp từ Hàn Quốc.

Bệnh nhân qua các phương pháp điều trị khác nhau. (Hình: Maum Clinic cung cấp)

Hành nghề từ năm 1993 đến nay, Bác sĩ Choi đã chữa dứt chứng đau nhức, thấp khớp, đau lưng, đau gối, chấn thương cơ/xương, hen suyễn, viêm xoang, viêm phổi, tim mạch, rối loạn tiêu hóa, suy nhược, mất ngủ, chán ăn, méo mặt, mắt mờ, cao áp, phù thũng, điều hòa kinh nguyệt, rối loạn mãn kinh, kiệt lực, tắt dục, an thai, tay chân tê mỏi, v. v…
 
Đặc biệt đối với phương pháp Cứu (moxibustion) – Bác sĩ Choi chỉ sử dụng loại dược thảo cao cấp,  không sinh nhiều khói, không mùi, không gây khó chịu cho người bệnh trong khi trị liệu.

Bác sĩ điều trị bằng châm cứu (Acupuncture). (Hình: Maum Clinic cung cấp)

Ngoài các chứng bệnh vừa kể, phòng mạch Maum Clinic Acupunture còn cung cấp một chương trình điều trị thẩm mỹ có tên là “Kiểm soát cân nặng” – Đây là một chương trình điều trị thông minh và hiệu quả, kết hợp giữa ăn kiêng, luyện tập và giảm stress giúp làm đẹp da, tẩy sạch những vết hằn năm tháng để lấy lại tuổi thanh xuân đã mất.
 
Ngoài khu vực bào chế thuốc bằng những máy móc hiện đại, hợp vệ sinh, phòng mạch còn được trang bị những phòng điều trị hiện đại, bảo đảm không gian yên tĩnh, ánh sáng dịu, tạo thư thái cho bệnh nhân trong suốt thời gian điều trị.

Mọi chi tiết, xin liên lạc (714) 590-3211.

MAUM CLINIC JW ACUPUNCTURE
8762 Garden Grove #105
Garden Grove, CA 92844
Tel: (714) 590-3211
Website: maumacu.com

Tin mới cập nhật