Bà bầu nằm “vạ” bàn chủ tịch xã


THANH HÓA (NV) – Bị còng tay giải về trụ sở nhà cầm quyền, một bà bầu đã nằm lỳ trên bàn làm việc của ông chủ tịch xã suốt hai ngày qua.








Bà bầu nằm lỳ trên bàn trong phòng làm việc của ông chủ tịch xã. (Hình: báo Pháp Luật & Xã hội)
 
Cách “biểu tình nằm” để đòi thỏa mãn yêu sách của bà bầu đã khiến trụ sở chính quyền xã Xuân Thiên, thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa hầu như tê liệt hoàn toàn.
 
Theo báo Pháp Luật & Xã Hội, phòng làm việc của ông chủ tịch xã tên Nguyễn Duy Đào hầu như bỏ trống và bỗng dưng biến thành “phòng nằm nghỉ” của bà Trịnh Thị Hưng 35 tuổi, cư dân xã Xuân Thiên, đang mang bầu 4 tháng. Ông Nguyễn Duy Đào sáng ngày 23 tháng 4 thú nhận rằng xã ông “không làm việc được suốt từ ngày 22 tháng 4.” 

Giải thích về việc này, ông Đào kể lại chuyện chính quyền xã trước đó đã đưa cán bộ đến một địa điểm thuộc xã nhà để “chia lại đất” cho người dân. Tuy nhiên, một cuộc đụng độ xảy ra giữa cán bộ xã và người dân đang sinh sống tại đây chống lại lệnh “giao đất.”  

Ông Đào nói rằng, ông chỉ là người thực hiện quyết định của chính quyền cấp trên, thu hồi đất của ông Trịnh Hữu Hải 39 tuổi đang trồng mía để cấp cho người khác. Nguyên nhân thu hồi này được chính quyền địa phương coi như là biện pháp trừng phạt việc ông Hải tự ý chia nhỏ đất cho người thân của mình trồng mía.

Đây là mảnh đất trước  đó chính quyền đã giao cho gia đình ông Hải khai thác. Cán bộ thực hiện quyết định này đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của gia đình ông Trịnh Hữu Hải. 

Sáng ngày 22 tháng 4, bất chấp phản đối của gia đình ông Hải, một số cán bộ xã đến tận nhà ông Hải để “giải phóng” vườn mía mà ông đang trồng. Trận xô xát xảy ra giữa đôi bên kịch liệt tới nổi công an được mời đến can thiệp. Bà Hưng, em ruột của ông Hải, đang mang bầu 4 tháng và con trai của ông Hải là Trịnh Hữu Sơn 13 tuổi bị công an còng tay dẫn giải về trụ sở chính quyền xã Xuân Thiên lập biên bản. 

Tức mình, bà Hưng leo luôn lên bàn ông chủ tịch nằm “vạ.” Bà Hưng cho biết, gia đình bà không hài lòng việc giải quyết tranh chấp đất đai của chính quyền, và đòi phải được phân xử thỏa đáng. (PL)

U.S. warship arrives in Viet Nam amid rising East Sea tensions


From WIRE REPORTS



 The U.S. Navy destroyer USS Chung-Hoon and the salvage ship USNS Salvor docked Sunday in the central Vietnamese port of Tien Sa, considered a strategic deep water harbor in the South China Sea, where China is rapidly expanding its military, economic and civilian presence.









USS Chung-Hoon Photo by Naval Today


 The deployment of the guided-missile USS Chung-Hoon comes at a time as China publicly flexes its naval muscle in the region.

 China and four members of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) – Viet Nam, the Philippines, Malaysia and Brunei – are embroiled in sovereignty disputes over the South China Sea, known locally as the East Sea.

 Rear Adm. Thomas Carney, Col. Paul Schilse and U.S. vice consul general Robert Ogburn attended a welcome ceremony at the Tien Sa port, where local officials greeted the American crews.

 The Vietnamese representatives expressed their hopes that the cooperation between the Vietnamese and U.S. navies would develop well.

 This is the second deployment of USS Chung-Hoon to Viet Nam. It made a port call to Tien Sa port in 2011, joined by the destroyer USS Preble and salvage ship USS Safeguard.

 The visit of the two U.S. vessels is part of the 2013 cooperation program between the two navies.

 Under the program, the two navies will focus on non-military activities;exchange expertise in controlling and maintaining equipment and vehicles; and share information and experiences relating to humanitarian aid, natural disaster relief, dive training and underwater rescue and medical aid.

 A U.S. warship designed to fight in coastal areas also arrived last week in Singapore as part of a tour of Southeast Asia, a move analysts have said underlines President Obama’s new strategic focus on Asia.

 Since President Obama announced a “pivot” toward the economically resilient Asia-Pacific region in late 2011, the U.S. has maintained it will play a neutral role in the South China Sea dispute.

 But critics say the U.S. leaning toward Asia in foreign and defense policy already has rattled the region and increased tensions between the two superpowers.

 According to a white paper on national defense issued last week, China said it was uneasy with what the United States has called the “rebalancing” of forces as Washington winds down the war in Afghanistan and renews its attention further east.

 China says the policy has emboldened Japan, the Philippines and Viet Nam in longstanding territorial disputes with Beijing, Reuters said.

 China’s Ministry of Defense said in its annual white paper that the country faces “multiple and complicated security threats,” despite its growing influence, adding that current U.S. strategy means “profound changes” for Asia.

 Analysts say China always is cautious about any enhancement of the U.S. military presence around the sea.

 “The U.S .military pivot toward Asia more generally, including for example, the deployment of combat ships to Singapore and increased U.S .military exercises with regional navies, only serves to add to China’s threat perceptions,” said Sam Bateman, a maritime security expert at the S. Rajaratnam School of International Studies in Singapore.

 “In many ways, China is faced with the classic security dilemma: its actions in response to its threat perceptions may only lead to increased threats,” Bateman said.
 

Trung Quốc bá quyền

 


Thái Bình Dương nổi sóng


Cậu Út Ân đọc sách “Quân Vương”


Việt Nguyên


LTS: Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston. Độc giả có thể xem các bài viết của Việt Nguyên trên www.ngay-nay.com 


 


Ván cờ thế giới bất ngờ chuyển qua khúc quanh mới. Ngày 8 Tháng Tư, 2013 cựu thủ tướng Anh, bà Margaret Thatcher, một trong bốn diễn viên chính cùng với cựu T T Hoa Kỳ, Ronald Reagan, Giáo Hoàng John Paul II và Tổng Bí Thư Ðảng CS Xô Viết MiKhail Gorbachev, đã qua đời.

Chiến tranh lạnh giữa Hoa kỳ và Xô Viết đã kết thúc, chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang tiếp diễn. Diễn viên phụ trong chiến tranh lạnh mới, ông Vua “nhi đồng” Cộng Sản Bắc Hàn Kim Chánh Ân, gương mặt đần độn giống như Trư Bát Giới, diễn kịch quá trớn ra ngoài sự kiểm soát của đàn anh Trung Cộng, cầm súng bắn thị oai, hăm dọa phóng hỏa tiễn tầm xa tưởng tượng qua Hoa Kỳ, đánh bom nguyên tử chưa làm. Hoa Kỳ phải đưa hỏa tiễn đến đảo Guam. Bắc Hàn đóng cửa các nhà máy vùng biên giới, tuyên bố sẽ không bảo đảm an toàn cho nhân viên các tòa Ðại Sứ và các cơ quan Quốc Tế ở Hàn Quốc. Hăm dọa lan qua đến Nhật Bản. Sự hăm dọa nguyên tử của Bắc Hàn là ván bài xì phé che lấp căn bản tranh chấp giữa Bắc Hàn và Hoa Kỳ từ sau trận chiến Triều Tiên như chủ tịch Kim Chánh Ân tuyên bố “giải quyết lần chót” nhằm đẩy 20,000 quân Hoa Kỳ ra khỏi vùng phi quân sự trong khi trận chiến với Hoa Kỳ và Nam Hàn ở vùng biên giới Bắc và Nam Hàn nếu xảy ra sẽ là một chiến bại chắc chắn cho Bắc Hàn. Với một triệu quân hiện dịch và 5 triệu quân trừ bị Bắc Hàn đối diện với 2000 xe tăng và 8000 hệ thống pháo binh phòng thủ, trận chiến sẽ kết thúc dưới ba ngày và Bắc Hàn sẽ biến mất trên bản đồ với một Triều Tiên thống nhất điều mà Trung Cộng không muốn.

Ván bài xì phé của cậu Út Ân lại có một kết quả tốt khác, Hoa Kỳ có lý do để mắt nhiều hơn vào vùng Thái Bình Dương và bá quyền Trung Quốc, sau khi Hoa Kỳ đã rút quân khỏi Iraq và A Phú Hãn


Hoa Kỳ Dân Chủ


Sở dĩ cả Bắc Hàn và Trung Cộng muốn thử thách Hoa Kỳ vì dưới cái nhìn của hai nước Hoa Kỳ đang trên đường suy thoái. Nền dân chủ trẻ trung hai trăm năm của Hoa Kỳ đang bị thách thức. Hệ thống dân chủ của Hoa Kỳ hỗn loạn sau kỳ bầu cử tổng thống Tháng Mười Một năm 2012, Hoa Kỳ đang mang món nợ khổng lồ hàng ngàn triệu Mỹ kim, ngân quỹ thâm thủng, chính khách được dân bầu không hiểu đứng về phía nào, dân chúng hay đảng? Cộng Hòa không hợp tác với tổng thống đảng Dân Chủ, ngay cả trong đảng Cộng Hòa cũng chia rẽ và hầu như không ông đại diện dân nào chú ý đến ngân sách. Trong vòng thập niên qua Hoa Kỳ, nhìn từ bên ngoài, kém hùng cường, kém phồn thịnh từ sau hai trận chiến Iraq và A Phú Hãn. Số thất nghiệp cao ở mức 7.6% không xuống dưới 6% như T T Obama đã hứa năm tranh cử 2008. Nhưng, nền dân chủ Hoa Kỳ trong hai trăm năm qua không bao giờ bằng phẳng.

Trong vòng 6 tháng qua, kinh tế có vẻ như đã ổn định, dân chúng có vẻ tin năm 2013 là năm kinh tế hồi phục như định luật kinh tế Vernon, trong đó theo chu kỳ trồi sụt mỗi hai mươi năm , năm 2013 là năm bắt đầu của chu kỳ mới bắt đầu lên và vì vậy quỹ đầu tư đổ vào thị trường chứng khoán Wall St.

Nhưng những dấu hiệu xấu và tốt hầu như ngang nhau. Những dấu hiệu tốt đang diễn ra trong sáu tháng qua có thể chỉ là một cái “nhảy mũi” của thập niên xấu. Không ai có thể đoán được tương lai của một Hoa Kỳ có lịch sử trẻ trung. Những người yêu nước Mỹ, khác với Trung Cộng và Bắc Hàn, thì nhận thấy nước Mỹ mỗi ngày một phồn thịnh và hùng cường hơn sau những “bước vấp” nhờ hệ thống chính quyền dân chủ hữu hiệu. Dân các nước như Trung Hoa, Việt Nam vẫn muốn đến Hoa Kỳ và chưa có ngọn sóng di dân nào qua Trung Hoa. Nền dân chủ Hoa Kỳ trong hai trăm năm vẫn đứng vững qua những biến động như trận nội chiến Nam Bắc, thập niên 1960 với nạn kỳ thị da màu, ám sát TT John F. Kennedy và Martin Luther King. Tổng cộng gia tài quốc gia và tài sản tính trung bình trên đầu người Hoa Kỳ vẫn giàu nhất thế giới (Na Uy là nước giàu nhất thế giới tính theo đầu người.)

Không ai biết rõ lịch sử sẽ đi về đâu nhưng Hoa Kỳ vẫn là một nước giàu, năng động, quân lực hùng mạnh nhất thế giới với sức mạnh quân sự không có đối thủ, các trường đại học đứng đầu thế giới vẫn là mơ ước của những sinh viên trẻ trên khắp thế giới, đồng Mỹ lim vẫn là căn bản tiền tệ mặc dù các nước đang lên BRICS (Ba Tây, Nga, Ấn, Trung Hoa) muốn thay đổi hệ thống tiền tệ.

Tình trạng Hoa Kỳ hiện nay đúng như Arthur Schlesinger mô tả trong sách “Chu kỳ của nền Dân Chủ Hoa Kỳ” năm 1986, chu kỳ đi từ thụ động qua chủ động, trong thời kỳ tốt như thời kỳ Reagan thì độc lập, tự do cá nhân, tự do kinh tế không tùy thuộc chính quyền, khi kinh tế suy thoái như thời kỳ Obama thì dân chúng trở lại cần chính quyền.

Ðiều khôi hài khác biệt nhất giữa nền dân chủ Hoa Kỳ và các chế độ độc tài Nga và Trung Cộng là “Bí Mật.” Các chế độ cộng sản cố tình giấu giếm, ngăn chặn tin tức từ quân sự đến kinh tế nhưng dân chúng đều rõ tất cả những điều chính quyền cố tình giấu giếm còn chính quyền Hoa Kỳ giữ bí mật (những bí mật chỉ được giải sau 50 năm) và không ai rõ chính quyền dân chủ Hoa Kỳ giấu bí mật nào và giấu bao nhiêu? Chính quyền ấy khác các chính quyền độc tài ở một điều chính là dân không bao giờ mất tin tưởng vào chính quyền và có phản ứng quá độ trong một xã hội cởi mở và kinh tế thị trường tự do.


Trung Quốc bá quyền


Trung Hoa với năm nghìn năm lịch sử khác với lịch sử của Hoa Kỳ. Trong năm nghìn năm, Trung Hoa cũng theo những chu kỳ lịch sử như những quốc gia khác, mỗi lần suy, con Rồng nằm ngủ, khi thịnh con Rồng vùng dậy và xâm lăng các nước láng giềng. Trong lịch sử cận đại, Trung Cộng vẫn có một thái độ cố hữu của người Hoa. Thập niên 1950 đến cuối thập niên 1970, trong hai mươi năm, Trung Cộng gây hấn với Xô Viết, Mao gây chiến tranh biên giới với Ấn Ðộ và năm 1979 đại bại khi Ðặng Tiểu Bình dạy Việt Nam một bài học, từ Indonesia qua Phi Châu những can thiệp quân sự của Trung Cộng đều mang đến kết quả thảm hại.
Ðặng Tiểu Bình có tinh thần của một anh “quân tử Tàu” người quân tử đợi mười năm trả thù không muộn, và người Tàu, như trong các truyện cổ, thù rất dai. Họ Ðặng trong thập niên 1980 ra chính sách cho đảng Cộng Sản Trung Hoa: “Giấu khả năng và tiềm lực để chờ đợi thời cơ,” chính sách tiên quyết của đảng. Bộ mặt hiền lành của Trung Cộng thể hiện trong hai thập niên từ 1980 đến năm 2000: Trung Cộng củng cố kinh tế, theo thị trường tự do, hòa hoãn với Hoa Kỳ. Năm 2011, được thế giới đánh giá là nền kinh tế Trung Hoa đứng hạng nhì sau Hoa Kỳ, vượt qua Nhật Bản, Trung Cộng trở mặt không còn giữ thái độ “xã hội hài hòa” của Khổng Tử, gây hấn trên biển Ðông, giành đất với láng giềng, vẽ bản đồ “lưỡi bò” trên Thái Bình Dương.

Kẻ thù số một của TC là Nhật, gây hấn trên Thái Bình Dương, Trung Cộng gây ra cuộc chạy đua vũ khí vĩ đại tại vùng Thái Bình Dương từ Malaysia, Indonesia, Brunei, Úc, Việt Nam, Philippines, nước nào cũng sắm tiềm thủy đĩnh. Philippines và Nhật thành đồng minh, đối tác chiến lược chống lại Trung Cộng nhưng chỉ có Nhật là cường quốc Hải Quân đối đầu với Trung Cộng, muốn trả thù Nhật về mối thù thời thế chiến thứ hai, Hải Quân Trung Cộng chưa đủ sức đối đầu với Nhật trên biển. Giành quần đảo Ðiếu Ngư, quần đảo nằm giữa TC, Ðài Loan và Nhật, Trung Cộng gây hấn cả mấy tháng. Tàu chiến nhắm vào các tàu Nhật, tàu tuần đi vào vùng Nhật kiểm soát không xin phép. Từ mùa Thu 2011 tổng cộng có 28 lần vi phạm hải phận. Năm 1895, sau chiến tranh Hoa Nhật, Nhật đã giành được Ðiếu Ngư, đến sau Thế Chiến Thứ Hai Hoa Kỳ kiểm soát đảo, năm 1972 Hoa Kỳ giao đảo cho Nhật làm cả Trung Cộng lẫn Ðài Loan giận dữ. Từ 1969 vùng đảo cho thấy có nhiều mỏ dầu hỏa, tương tự như ở Hoàng Sa vùng đảo có nhiều tài nguyên, nhưng khác với Nhật và Philippines đã đứng đối đầu với kẻ thù, bắt tàu đánh cá vũ trang, bắt giữ tàu chiến, Việt Nam nhượng bộ kẻ thù để Trung Cộng lập quận Tam Sa và đưa du khách ra du lịch Hoàng Sa.

Thủ đoạn của Trung Cộng trong hai năm qua đối với các nước láng giềng giống nhau: dùng thuyền đánh cá giả dạng đến các đảo để thử sau đó đến tàu thám thính với Hải Quân Trung Cộng đứng từ xa.
Trung Cộng với nền kinh tế đang lên, đang nghĩ là Nhật cần Trung Cộng hơn là TC cần Nhật. Năm 2010, Trung Cộng phản ứng Nhật bắt giữ thuyền đánh cá TC vi phạm hải phận bằng cách ngưng bán các loại “đất hiếm” (rare earth elements), bắt giữ thương gia Nhật, gây phong trào chống Nhật. Kết quả trái với Trung Cộng mong đợi, đây là bài học cho VN, TC không lấn tới ở Philippines và Nhật. Phong Trào chống Nhật gây kết quả ngược là năm 2012, thống đốc của Tokyo muốn mua những đất đai tranh giành bởi Trung Cộng và cuối cùng chính quyền Nhật đã mua những đảo đó. Bắc Kinh càng gây hấn càng thua, nếu chịu nhục như chính quyền CSVN thì Bắc Kinh làm tới.

Phong trào quốc gia quá khích do đảng CSTQ tạo ra nhằm để đoàn kết tất cả người Hoa trên thế giới dùng lại những bản đồ cũ của một đế quốc trước khi bị Ngũ cường chiếm. Cả Trung Cộng lẫn Kim Chánh Ân của Bắc Hàn áp dụng sách “Quân Vương” (The Prince) của Niccolo Machiavelli dạy cho ấu chúa Lorenzo de Medici thế kỷ 16, những nhà độc tài và những chính phủ độc tài muốn cai trị dân phải tạo ra một kẻ thù chung tưởng tượng để giữ chế độ và ngôi vua.

Hoa Kỳ từ sau Thế Chiến Thứ Hai thường hay bị gọi là Ðế Quốc Mỹ, nhưng khác với Ðế Quốc La Mã, Hoa Kỳ không chiếm đất bất kỳ quốc gia nào trong khi con rồng đỏ Trung Quốc đang lên giống như Ðại Tần (thời Tần, Trung Hoa gọi La Mã là Ðại Tần), chiếm đất (như vùng biên giới Việt Nam) dành đảo. Trung Cộng với nền kinh tế kỹ nghệ đang lên dường như không thể ngừng. Nhà bình luận Pháp nổi tiếng Martin Jacques năm 2009 nghĩ Trung Cộng sẽ qua mặt Mỹ và thế giới không thể nào chặn được con Rồng đang bay lên. Ông Arvind Subramarian thuộc viện nghiên cứu Peterson cũng cho là Trung Cộng sẽ qua mặt Hoa Kỳ, làm chủ thế giới vì Hoa Kỳ hiện giờ giống như Ðế Quốc Anh sau Thế Chiến Thứ Hai bị cuộc khủng hoảng kinh đào ở Suez Ai Cập năm 1956. Iraq và A Phú Hãn là bước đầu dẫn đến sự suy sụp cho Hoa Kỳ như Anh ở Ai Cập. Hai nhà bình luận Jacques và Subramarian thiên về kinh tế còn nhà phân tích Edward Luttwak không phải là kinh tế gia có cái nhìn khác. Ông cho là Trung Cộng có lợi thế kinh tế nhưng không thành siêu cường vì “định luật sắt về chiến lược” áp dụng cho mọi quốc gia, mọi văn hóa trong mọi thời kỳ cho thấy khi một quốc gia đang lên trở nên hùng mạnh và phách lối thì các quốc gia láng giềng sẽ đoàn kết chống lại như ở Âu Châu vào thế kỷ thứ 19, khi nước Ðức trở nên giàu có nhờ nền kinh tế lớn mạnh thì Pháp và Anh trở thành đồng minh ngăn chặn Ðức. Hiện nay ở Á Châu người ta đã thấy phản ứng tương tự, Philippies và Nhật đã liên kết ngăn chặn CSTQ, đồng minh của Hoa Kỳ trong nhiều thập niên dang tay chào đón Hoa Kỳ trở lại Thái Bình Dương không như CSVN vẫn xem anh CSTQ kẻ thù chung của dân Việt là đồng chí.

Bản chất người Hán không thay đổi. Ngày xưa Trung Hoa xem các nước láng giềng miền Bắc là Rợ, các nước miền Nam như Việt Nam là Man thì nay TC vẫn tự xem mình là Trung Quốc cái rốn của thiên hạ.

Năm 2011, Vương Kỳ Sơn (Wang Qi Shan) hiện là một trong bảy ủy viên Trung Ương đảng CSTQ, cầm đầu phái đoàn đối thoại kinh tế và chiến lược tới Hoa Kỳ đã tuyên bố “Trung Quốc có nền văn hóa cổ thâm sâu khó hiểu còn dân Hoa Kỳ là dân của một nước mới giản dị thiếu văn minh.” Ông Lattwak đem ví dụ lịch sử mà tất cả người Việt Nam đều thuộc: đời nhà Nguyên và nhà Thanh, Rợ ngoài biên cương chiếm Trung Hoa dù người Hán cố xây bức Ðại Trường Thành để ngăn chặn.

Năm 2007, một ví dụ khác cho thấy thái độ cao ngạo của chính quyền Trung Cộng, Ấn Ðộ gởi một phái đoàn trí thức trẻ đến Trung Hoa trao đổi văn hóa, Trung Cộng đã từ chối cấp giấy chiếu khán cho một thành viên Ấn vì ông ở trong vùng đang tranh chấp giữa Ấn và Hoa.

Cái xã hội hài hòa của Trung Cộng giống như nước Ðức thời Bismack. Ở biển Ðông, Trung Cộng không còn dùng sức mạnh kinh tế mềm dẻo, bộ mặt xâm lăng càng ngày càng hiện rõ. Ngược lại Hoa Kỳ từ sau Thế Chiến Thứ Hai, sau khi Pháp và Anh trở lại sau khi Nhật thua, đến vùng Thái Bình Dương với viện trợ kinh tế và sau chiến tranh Việt Nam đã có bộ mặt tử tế hơn. Trung Cộng phải đối đầu với Hoa Kỳ chẳng những ở Biển Ðông mà còn ở Phi Châu và A Phú Hãn vì lòng tham, xây hải cảng, lập ống dẫn dầu ở Phi Châu và A Phú Hãn. TC bị cái gai căn cứ quân sự Mỹ ở lại A phú Hãn đến 2024 sau Hoa Kỳ rút quân năm 2014.

Ông Odd Arne Westad cho thấy tương lai không có gì là sáng chói cho CSTQ về phương diện ngoại giao. Hồi thập niên 1960 Trung Cộng lên chân nhờ thế giới ghét Mỹ ghét Xô Viết nhưng sau đó vì Mao Trạch Ðông làm mất tình bằng hữu như ngăn viện trợ cho Bắc Việt thời chiến tranh Việt Nam (tài liệu của ông Westad khác với luận điệu bán nước, bán Trường Sa Hoàng Sa của đảng CSVN vì CSVN có nợ với Trung Cộng) sau đó Ðặng Tiểu Bình làm mất lòng VN vì trận chiến biên giới 1979. Ở Phi Châu hình ảnh Trung Cộng cũng bắt đầu đen tối khi TC ủng hộ chiến tranh du kích kiểu Mao ở Ghana. Kinh tế xây dựng của TC cũng khác với viện trợ Hoa Kỳ, chương trình kinh tế ngắn hạn chủ trương hối lộ, vơ vét nguyên liệu chở về Trung Hoa, xây đường sá cẩu thả sập đổ khi Trung Cộng rút về, vắt chanh bỏ vỏ.

Ông Luttwak nghĩ Trung Cộng chỉ có một cách giải quyết là cải tổ một nước Trung Hoa trở thành một nước hoàn toàn dân chủ.

Các học giả Tây Phương nghiên cứu thiếu ý kiến của người VIệt. Trên bốn nghìn năm ở cạnh Trung Hoa, người Việt hiểu thế nào là tình hữu nghị Trung Quốc. Ở thế kỷ thứ 21, Trung Cộng giống như triều nhà Minh vào thế kỷ 16, các nước “man rợ” nổi dậy chống Trung Hoa. Thời ấy Việt Nam có Vua Lê Lợi, với lòng yêu nước và dũng cảm, mười năm kháng chiến ở vùng Nghệ An. Thời nay, Việt Nam có đảng Cộng Sản, xuất phát từ Cách Mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh, với 14 tân thái thú có lòng yêu tiền cực độ. Gần đây, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã giận dữ với nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên và dân Việt Nam khi dân đòi bỏ điều bốn Hiến Pháp, ông Trọng đã kể công đảng từ ngày kháng chiến chống Pháp đến chống Mỹ, làm tôi nhớ đến câu chuyện ngụ ngôn con cóc và con bò cạp: “Con bò cạp không biết bơi nên nhờ con cóc cõng qua sông. Qua được bên kia sông, con bò cạp quay lại trở mặt cắn chết con cóc và mắng: ‘Mày ngu nên đã nghe lời tao!’” Tội nghiệp cho con cóc Việt Nam!

(10 Tháng 4, 2013)    

Tech-savvy Viet Nam coffee farmers brew global takeover


From WIRE REPORTS



 Most Vietnamese coffee farmers have never heard of a double tall skinny latte, but they could tell you the price of the beans that go into one in their sleep.










 From hi-tech Israeli irrigation systems to text message updates of global prices for the commodity, coffee farming in Viet Nam’s Central Highlands has come a long way since the French first introduced the bean over a century ago.

 “I used to carry my coffee to market by bicycle,” said 44-year-old farmer Ama Diem. “Now I check the bean price on my mobile phones” before making the trip.

 By texting “CA” to the number 8288 from any Vietnamese mobile phone, farmers almost instantly receive a message with the London prices of robusta coffee beans and the New York price of arabica beans from a data supply firm.

 Farmers are only too aware that the price of coffee – the second-most traded commodity in the world after oil – can move quickly.

 “We only take the coffee to market when we can be sure of getting a high price,” Diem told a reporter at his plantation outside Viet Nam’s coffee capital Buon Ma Thuot. “We check the price a lot.”

 Vietnamese coffee farmers have changed the global market; if you had a cup this morning, there is a high chance you consumed at least some Vietnamese beans, with companies such as Nestle and Britain’s Costa Coffee among major buyers.

 In 20 years, Viet Nam went from contributing less than 0.1 percent of world production in 1980 to some 13 percent in 2000 – staggering growth that has been partially blamed for the collapse of global coffee prices in the 1990s.

 Viet Nam is now the world’s second-largest coffee producer, but it is seen as high volume rather than high quality. Its bitter-tasting robusta wins few accolades internationally and is mostly exported as raw beans.

 “Viet Nam is an amazing phenomenon,” said Jonathan Clark, general director of coffee exporter Dakman.

 He said exports “shot up” last year to nearly rival Brazil, the world’s top exporter and producer.

 Last year, Viet Nam exported 1.73 million tons of coffee, worth some $3.67 billion and accounting for more than 50 percent of the world’s robusta, which is used in instant coffee or other blends.

Putting Viet Nam’s robusta on the map

 Coffee consumption in Asia is on the rise and roasters are eyeing the low-cost country – where there is no tax on coffee exports – to set up operations to boost their regional presence, Clark said.

 As consumption volumes have stagnated in the west, Viet Nam, with its growing middle class and long standing love of coffee, is full of “tremendous opportunities,” said Jinlong Wang, president of Starbucks Asia Pacific.

 Starbucks – which opened its first store in southern Sai Gon in February – says it could open hundreds more in the near future in Viet Nam, which it describes as a “dynamic, exciting” market.

 The country’s volcanic soil is perfect for growing coffee, and while global coffee drinkers are more used to arabica – which has 1.5 percent caffeine – they should wake up and smell the joys of 2.5 percent strength robusta, according to Dang Le Nguyen Vu, Viet Nam’s “coffee king.”

 The founder of home-grown coffee giant Trung Nguyen ― which has 55 stores in Viet Nam and five in Singapore ― is passionate about putting Viet Nam’s robusta coffee on the map.

 “Robusta is not lower quality. It’s just that globally, people have learned to drink arabica coffee,” Vu said at the Trung Nguyen Village in Buon Ma Thuot.

 A big part of the company’s work is to improve the quality of local beans, working with farmers to introduce hi-tech irrigation, reduce pesticide use and boost their income.

 Trung Nguyen already exports to 60 countries, and Vu said Starbucks’ recent arrival in his homeland had increased his determination to open cafés in the United States offering Viet Nam’s traditional style of thick, strong coffee brewed in individual drip filters.

 “We must be able to surpass Starbucks. We must offer something more attractive for U.S. consumers,” Vu said. “I want the world to understand that Vietnamese coffee is the best, the cleanest, most special coffee.”

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QP/VNCH

(Disabled Veterans and Widows Relief Association)

A Non-Profit Corporation – No. 3141107 EIN: 26-4499492

P.O. Box 25554, Santa Ana, CA 92799

Phone: (714) 539-3545, (714) 371-7967

Email:
[email protected]; [email protected]

Website: http://www.camonanhtb.com

Chi phiếu xin đề: Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH


Hải ngoại không quên tình chiến sĩ
Ðồng hương nhớ mãi nghĩa thương binh


Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội:

(Tính đến ngày 14 Tháng Tư 2013)


Minh Tieu & Quốc Bửu, Los Angeles, CA $100
Pual Lê, Daly City, CA $200
Vị ẩn danh, San Francisco, CA $30
Khâu Muội, San Diego, CA $10
Tiền phúng điếu của Cố ÐT Lữ Mông Chi Pháp danh Nguyên Kim, $1,500
c/o Ms. Lữ Thị Bạch Nhạn, Maple Grove, MN
310 North Parkman LLC, Covina, CA $1,000
Thien Phan, Covina, CA $250
Steven To, San Jose, CA $250
Châu Ngọc Hương $120, Hà Thị Ơn $120, Dương Kim Loan $120, Spokane Valley, WA $360
c/o Châu Ngọc Hương, để giúp 3 TPB.
Neil X.N. Nguyễn (LS Nguyễn Xuân Nghĩa), Westminster, CA $240
Capital Group Companies, Charitable Foundation (matching gift for contribution made by
Thien Kim Nguyễn), Santa Ana, CA $200
Giau Nguyễn, Hanford, CA $50
Sương Ngọc Võ, Dallas, TX $50
Minh Từ, Berkeley Lake, GA $100
Tam M. Châu, San Jose, CA $20
Phạm Hoạt, Fountain Valley, CA $30
Gia Morgan, Bay Saint Louis, Ms. $20
Hoa Thị Lý, Everett, WA $30
Don Nguyễn, San Gabriel, CA $20
Ðinh Thị Tuyết, San Jose, CA $30 (còn tiếp)


Danh sách mạnh thường quân ủng hộ ÐNH “Cám Ơn Anh” Kỳ 6:


Liên Huê II Food To Go & Restaurant, Garden Grove, CA $500
Lê Châu & Thu Hoài, Garden Grove, CA $1,000
Trương Bá Tòng, Rosemead, CA $100
Cô Nguyễn Hòa, Irvine, CA $100
Cô Châu Hồng, Mission Viejo, CA $70
ÔB. Trần Trọng Thuyên, Colorado $100
Hội Ái Hữu SQTB Khóa 5 TÐ Vì Dân, Orange, CA $80
Ô. Mai Trúc Sơn, Los Angeles, CA $70
Nguyễn Năng Khóa, Dumfries, Virginia, VA $100
Lê Minh Cảnh & Kim Thu, Oceanside, CA $100
Võ Jennett, Long Beach, CA $100
Hội Thân Hữu Bình Thuận Nam Cali, Long Beach, CA $200
ÔB. Nguyễn Ngọc Ðức, Poway, CA $200
M.D. Trần Long, Huntington Beach, CA $500
Gia Ðình Cựu Quân Nhân Nguyễn Chánh Trực, $200
ÔB. Nguyễn Mừng Quyền, $100
Garden Park Care Center, $220
Bà Phạm Thị Dung, $50
Lê Thi & Bạn Hữu ở San Diego, CA $120
Nguyễn Long Bảy, $40
Chiến Hữu Hắc Bảo ở Sacramento, CA $100
ÔB. Huệ & Lợi ở H & L Travel, $100
Trần Thị Thi & Bích, $20
Nguyễn Thị Yến, $50
Minh Chúc, $20
Vương Andy, $40
Quỳnh Loan, $30
Nguyễn Minh Thuận, $50
Trần Thị Tuất, $20
ÔB. Trần Hoàng, Garden Grove, CA $20
Nguyễn Q. Huỳnh, Garden Grove, CA $100
ÔB. Ninh Ðức Thuận, Seal Beach, CA $100
Nguyễn Thái Hoàng, Huntington Beach, CA $250
First Mortgage, Garden Grove, CA $300
Nguyễn Kim Kathy,Huntington Beach, CA $50
Quân Cảnh Nguyễn Văn tân, Garden Grove, CA $100
ÔB. Trần Văn Long, Happy Valley, OR $100
Chùa A Di Ðà, Westminster, CA $200
ÔB. Lê Quang G. Michael, Garden Grove, CA $300
Bùi T. Sơn, Westminster, CA $500
Ô. Lê Ðình Quý, Florida $100
ÔB. Hà Phú Dư & Các bạn ở Chùa Từ Ân, $250
Ô Võ Bá, $500
Nguyễn Hùng, Garden Grove, CA $100
Bà Nguyễn Hinh, $100
Huỳnh Vũ Hùng, Clearwater, FL $100
Chị Hai của NS Phượng Liên, $100
Cô Nguyễn Sáu, $100
Cô Nguyễn Kim, $100
Cô Nguyễn Thị Hà, New Mexico $100
Ô. Võ Dũng, co H.O., Santa Ana, CA $20
Vị ẩn danh, $40 (còn tiếp)


Danh sách TPB/VNCH đã được giúp đỡ:


Nguyễn Văn Nhơn, Ðồng Tháp, Sq:120.684. Liệt 2 chân.
Nguyễn Văn Thế, Hậu Giang, Sq:448.729. Mù 2 mắt. Cụt chân phải.
Phan Ngọc An, Cần Thơ, Sq:124.973. Cụt chân phải. Mù mắt trái.
Lê Văn Hồng, Bạc Liêu, NQ Sq:M06. 209. Cụt 2 chân.
Nguyễn Thành Sâm, Trà Vinh, Sq:128.157. Mù 2 mắt.
Nguyễn Ngọc Thành, Vĩnh Long, Sq:802.445. Mù 1 mắt. Tai biến não.
Ðỗ Lợi, Cần Thơ, Sq:119.225. Liệt 2 chân.
Nguyễn Văn Bạch, An Giang, Sq:503.819. Cụt chân trái. Cụt Ệ bàn chân phải.
Lương Văn Ðược, An Giang, Sq:737.343. Mù mắt phải. Cụt 2 chân. Cụt 2 tay.
Lê Văn Nguyện, Cần Thơ, CLQ Sq:110.920. Cụt 2 chân.
Trần Văn Xếp, Cần Thơ, B2 CLQ Sq:500.840. Liệt bán thân.
Huỳnh Văn Khuyên (Xuân), Tiền Giang, B1 BÐQ Sq:508.523. Cụt tay trái. Mù mắt phải.
Ðinh Văn Lũy, Kiên Giang, HS1 ÐPQ Sq:252.539. Cụt 2 chân.
Nguyễn Văn Cườm, Bến Tre, NQ Sq:817.003. Cụt 2 chân.
Lê Văn Lực, Kiên Giang, HS ÐPQ Sq:793.200. Cụt 2 chân. Mù mắt trái.
Phạm Văn Thoát, Ðồng Nai, B2 CLQ Sq:141.647. Liệt 2 chân. Bị thương ở ngực.
Nguyễn Văn Luốc, Tiền Giang, Sq:815.457. Liệt 2 chân. Gãy tay phải.
Trần Công Hoàn, Ðồng Nai, B1 BÐQ Sq:110.715. Mù 2 mắt.
Ðặng Cao Thuyên, Tiền Giang, Sq:628.793. Liệt bán thân.
Võ Văn Xù, Tiền Giang, Sq:475.970. Liệt 2 chân. Bị thương ở bụng.
Nguyễn Văn Hiên, Ðồng Nai, B2 Nhảy Dù Sq:139.430. Liệt 2 chân.
Nguyễn Công Lý, Saigon, B1 Nhảy Dù Sq:151.108. Mù mắt trái. Liệt chân trái.
Bùi Văn Thiệt, Saigon, HS CLQ Sq:101.890. Cụt 2 chân.
Cao Thanh Sơn, Ðồng Tháp, Sq:514.458. Cụt chân trái. Liệt chân phải.
Trần Văn Hiền, Vĩnh Long, HS1 CLQ Sq:900.039. Cụt tay phải.
Trần Văn Cư, Tiền Giang, Sq:767.336. Cụt chân trái. Bị thương ở bụng.
Vũ Văn Thư, Vũng Tàu, Sq:326.547. Liệt toàn thân.
Ðỗ Văn Mai, Huế, ThT K.18 TVBQGVN Sq:216.275. Mù 2 mắt.
Nguyễn Văn Ðể, Trà Vinh, B2 CLQ Sq:118.848. Gãy chân trái.
Tôn Thất Tuệ, Huế, TrU CLQ Sq:204.400. Cụt chân phải.
Tống Văn Rộng, Bình Dương, TU Sq:487.129. Cụt tay trái. Liệt 2 chân.
Nguyễn Ðoàn, Saigon, ThS Nhảy Dù Sq:202.284. Bị thương ở bụng.
Nguyễn Thọ, Quảng Ngãi, HS CLQ Sq:149.569. Mù 2 mắt.
Phạm Văn Hường, Daklak, HS ÐPQ Sq:202.811. Cụt chân trái.
Lê Văn Bá, Khánh Hòa, Sq:406.461. Gãy chân trái.
Nguyễn Văn Sinh, Tiền Giang, B1 CLQ Sq:673.305. Cụt chân trái. Liệt.
Trương Văn Tiến, Bình Dương, NQ Sq:359.144. Mù 2 mắt. Cụt 2 tay.
Nguyễn Quang Toàn, Ðồng Nai, HS Nhảy Dù Sq:210.258. Liệt tay trái.
Nguyễn Chờ, Khánh Hòa, Sq:418.281. Mù 2 mắt.
Võ Tiến, Khánh Hòa, Sq:210.734. Mù 2 mắt. Cụt chân phải.
Ðoàn Lũy, Bình Ðịnh, Sq:360.730. Liệt 2 chân.
Trần Văn Hồng, Ninh Thuận, Sq:403.092. Mù 2 mắt.
Huỳnh Nghiêm, Bình Ðịnh, Sq:242.919. Mù 2 mắt.
Phạm Khắc Diệu, Khánh Hòa, Sq:132.4?? Gãy chân trái.
Cao Tấn Bình, Quảng Ngãi, Sq:809.441. Cụt 2 chân.
Nguyễn Thông, Quảng Ngãi, Sq:232.141. Liệt 2 chân.
Lê Thiện, Quảng Ngãi, Sq:149.969. Mù 2 mắt.
Nguyễn Phướn, Quảng Ngãi, Sq:214.800. Liệt toàn thân.
Bùi Tấn Thuyên, Quảng Ngãi, Sq:216.382. Mù 2 mắt.
Lưu Ba, Quảng Nam, Sq:C07.725. Cụt 2 chân.
Nguyễn Ðức Kinh, Quảng Nam, Sq:350.887. Cụt 2 chân.
Bùi Thế Kỷ, Quảng Nam, Sq:201.853. Bị thương ở đầu. Mù 2 mắt.
Phan Mau, Ðà Nẵng, Sq:210.621. Cụt tay phải. Mù mắt phải. Mờ mắt trái.
Tôn Ðức Anh, Quảng Nam, Sq:696.531. Cụt 2 chân.
Trần Mạnh Ðống (Á), Phú Yên, Sq:111.148. Mù 2 mắt.
Lê Quang Thông, Bình Thuận, Sq:206.699. Cụt tay phải. Liệt chân trái. Mù mắt phải.
Phạm Văn Hải, Bình Thuận, Sq:273.089. Cụt 2 tay.
Hồ Nhứt, Khánh Hòa, Sq:420.119. Cụt 2 chân.
Phan Văn Xinh, Ninh Thuận, Sq:401.379. Cụt 2 chân.
NguyễnÐến, Phú Yên, Sq:406.91? Cụt tay phải. Cụt chân phải.
Trần Văn Hùng, Khánh Hòa, Sq:99?. 185. Cụt chân phải. Cụt bàn tay trái.
Huỳnh Thêm, Bình Thuận, Sq:106.815. Liệt 2 bàn chân.
Trần Hòa Tịnh, Bình Ðịnh, Sq:405.009. Cụt bàn chân trái. Mù mắt phải.
Ðỗ Văn Lấu, Bình Ðịnh, Sq:301.744. Cụt chân phải. Gãy chân trái.
Bùi Ðình Lang, Bình Ðịnh, Sq:410.374. Mù mắt trái. Cụt các ngón tay trái.
Quách Ninh, Bình Thuận, Sq:85?. 612. Cụt chân trái. Gãy chân phải.
Phan Thành Chương, Bình Ðịnh, Sq:D01.428. Cụt 2 chân.
Lê Hạnh, Quảng Ngãi, Sq:229.920. Cụt 2 chân.
Lưu Văn Liên, Quảng Nam, Sq:807.487. Mù 2 mắt.
Cao Tấn Sơn, Quảng Nam, Sq:170.035. Cụt 2 chân.
Nguyễn Ðạt, Quảng Ngãi, Sq:208.562. Cụt bàn chân trái. Cụt 3 ngón tay trái.
Võ Sừng, Quảng Nam, Sq:348.736. Cụt 2 chân.
Nguyễn Thạch , Quảng Nam, Sq:212.586. Cụt chân phải. Bị thương ở chân trái.
Trần Hùng, Quảng Ngãi, Sq:101.420. Cụt 2 chân.
Ngô A, Quảng Ngãi, Sq:534.237. Mù 2 mắt. Ðiếc.
Võ Tấn Ðức, Quảng Nam, Sq:209.635. Cụt 2 chân.
Ðinh Tiến Ðường, Quảng Ngãi, Sq:194.045. Liệt 2 chân. Bị thương ở lưng. (Còn tiếp)


Danh sách QP/VNCH đã được giúp đỡ:


Nguyễn Thị Kiện, Long An, Quả phụ Cố HS ÐPQ Trần Thông Tâm. Tử trận năm 1970.
Lê Thị Bảnh, Cần Thơ, Tổ phụ Cố B1 Nguyễn Văn Hùng. Tử trận năm 1972.
Lê Văn Ða, Quảng Nam, Cha Cố ChU Lê Văn Lân. Tử trận năm 1974.
Ðặng Thị Hai, Long An, Quả phụ Cố B1 ÐPQ Tô Văn Rớt. Tử trận năm 1969.
Ðinh Thị Nhương, Bến Tre, Quả phụ Cố HS ÐPQ Huỳnh Văn Tơ. Tử trận năm 1971.
Vũ Thị Bông, Saigon, Quả phụ Cố TS Trần Văn Màu. Tử trận năm 1971.
Nguyễn Thị Lang, Long An, Quả phụ Cố TS Phạm Văn Tình. Tử trận năm 1972.
Nguyễn Thị Chúc, Saigon, Quả phụ Cố TS Cao Văn Chu. Tử trận năm 1974.
Lê Thị Diệu, Saigon, Mẹ Cố B2 Nguyễn Văn Kiêm. Tử trận năm 1974. (Còn tiếp)

Thêm một quan chức Trung Quốc chết bí ẩn trong nhà tù đảng

 


BẮC KINH (AP)Một quan chức cao cấp thuộc tòa án một thành phố ở miền trung Trung Quốc vừa mới qua đời một cách bí ẩn vào hôm Thứ Ba.








Công an đứng gác bên ngoài cửa chính dẫn vào Trung Tâm Lao Cải Số 1 ở Bắc Kinh, nơi có thể chứa đến 1,000 phạm nhân. (Hình minh hoạ: Ed Jones/AFP/Getty Images)


Gia đình nạn nhân cho biết thi thể của đương sự bị bầm tím sau 11 ngày bị nhân viên an ninh thuộc đảng bộ địa phương giam cầm, để điều tra tội tham nhũng.


Ông Jia Jiuxiang, phó chủ tịch tòa án thành phố Sanmenxia, tỉnh Hồ Nam, là trường hợp thứ nhì trong vòng hai tuần lễ, cho thấy một quan chức bị chết lúc bị giam giữ trong nhà tù thuộc hệ thống bí mật của đảng Cộng Sản, vốn nằm ngoài phạm vi của luật pháp.


Thân nhân của ông Jia nghi ngờ ông bị tra tấn trong thời gian bị giam cầm.


Người em rể của ông, tên Zhou Qiang, cho biết ông Jia, 49 tuổi, bị ủy ban thanh tra kỷ luật của đảng bộ địa phương bắt vào hôm 12 Tháng Tư và được đưa đến bệnh viện vào đêm Thứ Hai, rồi qua đời sáng hôm sau.


Vợ ông Jia, người được vào nhìn xác, cho hay mặt ông xanh lè và thân thể bị thâm tím khắp nơi. Thân nhân ông Jia nói rằng ông có sức khỏe tốt trước khi bị bắt.


Hồi đầu tháng, một kỹ sư cao cấp thuộc một công ty quốc doanh ở thành phố Wenzhou cũng bị chết sau 38 ngày bị các nhân viên điều tra tham nhũng cầm giữ. (TP)

Hồi ký dang dở…

 


Dương Hiếu Nghĩa


Sau ngày quốc hận 30 Tháng Tư, 1975, có một số anh chị em Quân Dân Cán Chính và gia đình, tuy may mắn được di tản ra nước ngoài, nhưng không có dịp “may” ở lại để chứng kiến tận mắt được những hành động ngu xuẩn, tàn ác đến man rợ của của những người cộng sản Việt Nam từ miền Bắc vào, tự xưng là để “giải phóng cho đồng bào ruột thịt đói rách ở Miền Nam,” của những người cùng uống nước sông Cửu Long nhưng tự hào được cộng sản Bắc Việt cho “ tạm mang dép râu, đội nón cối” (mà không biết!), và của những con “cọp 30,” những người Miền Nam hống hách được cộng sản cho mang băng đỏ trên tay áo, thuộc hệ thống nằm vùng, và nhất thời làm tay sai cho cộng sản!!!

Có thể nói đây là một trang sử bi thảm nhất của người dân Miền Nam Việt Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Những đồng bào nào được may mắn rời khỏi Việt Nam trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, và những em cháu thuộc những gia đình này (tính đến nay cũng từ 21 tuổi trở lên, kể cả những con em của tất cả người Việt Nam được chào đời trên các nước phương Tây tự do) không bao giờ hình dung được cái ngày lịch sử đen tối này, vì cộng sản Việt Nam đã cố tình sửa lịch sử ngay từ đầu chiến dịch tiến chiếm Miền Nam để giành lấy chánh nghĩa “giải phóng dân tộc” cho đảng.

Cho đến giờ này dù chúng tôi có nói lên những sự việc thật sự đã xảy ra từ trước và sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, thì bà con nào đã rời khỏi đất nước trước ngày lịch sử đó (nhất là thế hệ sau 75) cũng không ai muốn tin và chịu tin đó là sự thật, một phần vì có người còn cho chúng tôi thuộc thành phần chống cộng, thù ghét cộng sản nên chỉ nhằm tuyên truyền chống cộng mà thôi, một phần vì bà con không ai ngờ là “cùng là người Việt Nam với nhau ai lại có tâm địa vô nhân đạo, phi đạo đức và phi dân tộc đến như thế được.

Do đó những gì chúng tôi kể lại đây không hẳn là những trang “hồi ký” của riêng cá nhân mình mà thật sự là những gì đã xảy ra tại Saigon và những vùng phụ cận trong những ngày trước và sau 30 Tháng Tư, 1975, kể lại trung thực những sự việc mà chính bản thân chúng tôi vừa là một nạn nhân, vừa là nhân chứng, những sự việc mà chính mắt chúng tôi đã thấy, chính tai chúng tôi đã nghe… để tạm gọi là “luận cổ” (nói về chuyện xưa). để những anh em bạn già sống tha phương cầu thực chúng ta có đầy đủ yếu tố mà trao đổi nhận định, và để các thế hệ con cháu chúng mình có thêm sự hiểu biết chính xác hơn về bản chất, về con người, về đường lối chủ trương và chánh sách của người cộng sản Việt Nam mà “suy kim” (suy biết được cái hiện tại). tức là để thấy được việc làm của người cộng sản trong hiện tại và trong tương lai…

Người dân Miền Nam chúng ta gọi ngày 30 Tháng Tư là “Ngày Quốc Hận” vì Nước Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta bị xóa tên khỏi bản đồ của thế giới nói chung và của thế giới tự do nói riêng, từ ngày 30 Tháng Tư, 1975, vì cộng sản Bắc Việt đã xé bỏ Hiệp Ðịnh Ba Lê 1973 mà chúng đã vừa long trọng ký kết, vừa xua quân công khai tiến chiếm Miền Nam Việt Nam. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ngày mất nước, khách quan có, chủ quan có, xa, gần đều có v.v… chúng tôi không muốn bàn thêm ở đây, vì trong gần 30 năm qua đã có rất nhiều sách báo, hồi ký, Việt có, Mỹ có, Pháp có, tất cả đều có phân tách rất rõ ràng rồi. Chúng tôi chỉ muốn ghi lại một vài mẩu chuyện thật, vui buồn lẫn lộn của bản thân, có liên quan đến ngày quốc hận này, để gọi là đóng góp thêm một ít tài liệu vào trang lịch sử đau thương của đất nước.

***

Ngày 1 Tháng Hai năm 1973

Tôi và một nhóm anh em sĩ quan cấp tướng tá thuộc Khóa 5 Cao Ðẳng Quốc Phòng được thuyên chuyển về Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương vừa được thành lập theo điều khoản của Hiệp Ðịnh Ngừng Bắn Ba Lê, được ký kết giữa 4 Bên ngày 27 Tháng Giêng 1973 tại Ba Lê.

Từ hơn một tháng qua, anh em học viên Cao Ðẳng Quốc Phòng chúng tôi được lệnh chia nhau từng toán sửa lại từng điều khoản một, trong bản thảo của cái gọi là Hiệp Ðịnh Ngừng Bắn sắp được 4 Bên ký kết ở Ba Lê (Pháp), vì qua nghiên cứu chánh phủ không thấy có một câu nào, một đoạn văn nào trong bất cứ điều khoản nào mà không có lợi hoàn toàn cho phía Bắc Việt, ngược lại chỉ có hại hoàn toàn cho Miền Nam Việt Nam mà thôi. Cũng qua nghiên cứu anh em học viên chúng tôi đều thấy là: toàn bộ bản văn tiếng Việt của hiệp định này rõ ràng là tác phẩm của cộng sản Bắc Việt được Lê Ðức Thọ trao cho Kissinger dịch ra tiếng Anh, một bản dịch “thật sát nghĩa” từ ý lẫn lời văn của tác giả Miền Bắc!

Ðúng vào ngày 27 Tháng Giêng 1973 sau khi ký kết hiệp định cả chánh phủ và chúng tôi đều hết sức thất vọng vì không thấy được một dấu vết sửa chữa nhỏ nào cuối cùng được thực hiện trước khi các bên ký kết.

Tôi muốn ghi lại chi tiết này để chúng ta cùng thấy được là nước VNCH của chúng ta đã bị Ðồng Minh của mình phản bội, bán đứng cho cộng sản Bắc Việt ngay từ khi họ dàn xếp được Hội Nghị Paris (có cả MTGPMN là một trong 4 Bên ở Bàn Hội Nghị) một ít lâu sau Tết Mậu Thân 1968, để rút chân ra khỏi cuộc chiến với một danh từ thật kêu là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh.”

….

Ngày 28 Tháng Tư, 1975: 8 giờ sáng

Ðại Tá Nguyễn Hồng Ðài từ tư dinh của Ðại Tướng Dương văn Minh điện thoại ngay cho tôi nhờ đưa một phái đoàn đại diện cho tổng thống đến gặp phái đoàn cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng (MTGPMN) ở trại Davis. Phái đoàn gồm có Luật Sư Nguyễn Văn Huyền, phó tổng thống; Luật Sư Vũ Văn Mẫu, thủ tướng và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, quyền tham mưu trưởng QLVNCH từ ngày 28 Tháng Tư, 1975. (một bộ hạ thân tín của Tướng Dương Văn Minh ở Bộ Tư Lệnh Hành Quân từ 1955, sau này mới được biết là đã làm tay sai cho CS từ đầu thập niên 70 và từ đó đã trở thành một Việt Cộng nằm vùng rất đắc lực của Bắc Việt.) Khối Ngoại Vụ chúng tôi cho biết là CSBV và Việt Cộng không tiếp phái đoàn, nhưng Ðại Tá Ðài cho tôi biết là “ông già nhấn mạnh là tôi nên cố gắng, vì cuộc gặp mặt này rất quan trọng.” Tôi đành phải đích thân gọi vào trại Davis, gặp Ðại Tá Sĩ để điều đình và cuối cùng phái đoàn của Tổng Thống Minh “được đồng ý cho vào trại Davis gọi là để viếng thăm hai phái đoàn cộng sản Bắc Việt và CPLTMN” (nguyên văn lời Ðại Tá Sĩ trực tiếp nói với tôi qua điện thoại).

(Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói rõ về anh Ðại Tá Sĩ này. Tôi biết được anh Nguyễn Văn Sĩ trước học ở trường Collège Cần Thơ, có biệt danh là “Sĩ Kiến, Theo bản trận liệt mà chúng ta biết được thì anh Sĩ là tư lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh của MTGPMN. Chúng tôi hai đứa gặp nhau và nhìn lại nhau ở cương vị đối nghịch nhau tại bàn hội nghị Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên ở Tân Sơn Nhất. Nhờ đó mỗi khi gặp bế tắc trong bất cứ vấn đề gì ở bàn hội nghị, nhất là về trao trả tù binh thì anh Sĩ lại được Tướng Trần Văn Trà cho anh đại diện cho Cộng sản để “mật đàm với đại tá Nghĩa” nhằm tìm ra giải pháp. Ðến năm 1989, sau khi ra khỏi trại tù cải tạo, nhân một dịp đi xuống Cần Thơ, tôi lại được gặp anh Sĩ vài lần ở ngay sân quần vợt Cần Thơ, và đươc biết là anh đã rời khỏi quân ngũ từ 1977, vì lý do đảng tịch, và là người Miền Nam nên anh phải “đi một xuồng” với Tướng Trà.)

Phái đoàn của Luật Sư Huyền vào trại Davis lúc 9 giờ 30 và rời khỏi trại hồi 10 giờ hơn. Tôi tò mò muốn biết kết quả của cuộc gặp gỡ này, nhưng Ðại Tá Ðài không cho biết vì anh không được biết hay vì anh không muốn tiết lộ, hay vì một lý do nào khác? Qua Ðại Tá Sĩ thì tôi cũng không được biết gì hơn ngoài câu “như đã thỏa thuận với anh hồi nãy,” tức phải được hiểu ngầm là “chỉ có viếng thăm xã giao mà không có bàn đến các vấn đề gì khác”

Tò mò hơn, qua điện thoại với trung tá chánh văn phòng Trương Minh Ðẩu, tôi được biết là Ông Dương Văn Minh đã “mò” lên tận vùng Long Khánh (không rõ chính xác ở đâu) với liên lạc viên Dương Văn Nhật để gặp Lê Ðức Thọ từ mấy ngày trước, qua đường dây liên lạc đặc biệt nào đó mà anh không biết.
(Dương Văn Nhật là em ruột của Tướng Minh, tập kết ra Bắc năm 1954, về Nam với quân hàm trung tá của MTGPMN, vào ở ngay Dinh Hoa Lan tại đường Trần Quý Cáp với gia đình Tướng Minh từ lâu, dĩ nhiên trong nhiệm vụ sĩ quan liên lạc của cộng sản.)

Vẫn theo lời anh Ðẩu thì sau khi phái đoàn của ông Nguyễn Văn Huyền về đến Dinh Hoa Lan, ông Minh họp Hội Ðồng Chánh Phủ và cho biết là MTGPMN đã bác bỏ đề nghị của ông nhằm tìm một giải pháp chánh trị cho Miền Nam Việt Nam. Vì vậy ông đã quyết định là “chỉ còn một cách duy nhất là “đầu hàng vô điều kiện” mà thôi.

4 giờ chiều:

Tôi muốn nhắc lại ở đây một đoạn đàm thoại ngắn giữa tôi và thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ qua điện thoại mà ông gọi tôi lúc 4 giờ chiều ngày hôm nay từ tư dinh của ông ngay trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất.

-Anh còn ở đây chưa đi đâu sao anh Nghĩa?

-Thưa thiếu tướng chưa, vì tôi còn trách nhiệm phải lo cho gia đình các anh em quân nhân của Ban Liên Hợp đi cho xong rồi tôi mới đi. Dự trù chiều mai 29 thưa thiếu tướng.

-Gia đình anh đi chưa ?

-Thưa thiếu tướng đã đi xong đêm 26 vừa rồi. Còn thiếu tướng sao giờ này còn ở đây?
-Tôi và gia đình đang sắp sửa đi đây, Anh Tiên (Chuẩn Tướng Phan Phụng Tiên) cho phi cơ đưa chúng tôi đi nhưng anh Tiên thì còn ở lại, đi sau.

Nói đến đây ông hơi ngập ngừng chừng một phút rồi mới nói tiếp:

-Phải đi chớ ở lại đây sao được anh Nghĩa ? Tôi vừa mới từ nhà ông Minh về đây. Theo lời ông Minh nói với tôi lúc nãy thì chúng ta coi như đã, mất hết rồi không còn quyền gì nữa hết, anh Nghĩa, kể cả quyền làm chánh trị !…

Ông Minh đã nói thẳng cho tôi như thế, lúc này thì mình còn ở lại đây để làm gì nữa anh Nghĩa?
Nói tới đây ông sụt sùi và tôi nghe có tiếng khóc nghẹn ngào của ông qua điện thoại. Tôi nghĩ có lẽ ông vừa bực tức ông Minh vừa bực tức vì một đời ngang dọc của ông coi như bị trói cả hai tay trong lãnh vực quân sự lẫn chánh trị… và xúc động thấy mình sắp phải rời khỏi quê hương.

Không thấy tôi nói gì nữa ông nói tiếp:

-Vậy tôi đi hôm nay nghe, anh cũng nên đi luôn đi, coi chừng đi không kịp nữa đó. Anh Tiên chắc cũng đi sau tôi. Còn sấp xếp cho anh em Không quân nữa, chắc phải đưa tất cả phi cơ đi cho hết. Thôi anh ở lại đi sau nghe, chúc anh may mắn

-Xin chúc thiếu tướng và gia đình thượng lộ bình an.

-Cám ơn anh.

Một lúc sau đó anh Phan Nhật Nam về gặp tôi ở Ban Liên Hợp xác nhận là gia đình ông Kỳ vừa bay ra Hạm Ðội 7 bằng trực thăng và anh cũng nhân đó hỏi tôi đã nói gì với ông Kỳ làm cho ông khóc vậy? Tôi đáp:

-Có lẽ ông cảm động trước khi rời khỏi quê hương, và bực tức vì lời nói của ông Minh Dương chớ tôi thì không có nói gì cả?

Từ sáng sớm hôm nay, căn cứ Không Quân Biên Hòa được lệnh dời hết về Tân Sơn Nhất tất cả phi cơ các loại, từ phi cơ chiến đấu, vận tải đến trực thăng các loại, tất cả nhân viên phi hành và không phi hành đều lục tục kéo nhau về hết ở đây cho đến gần 7 giờ chiều mà vẫn chưa hết. Người nào có gia đình hay thân nhân ở vùng Sài Gòn Chợ Lớn Gia định thì được phép về nhà nhưng toàn bộ vũ khí cá nhân đều phải gởi lại hết ờ Tân Sơn Nhất. Như thế là cả Vùng 3 và Biệt Khu Thủ Ðô chỉ còn có mỗi căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất mà thôi.

6 giờ chiều:

Chúng tôi vào D.A.O. đưa một toán 200 người thuộc gia đình sĩ quan và hạ sĩ quan /Ban Liên Hợp Quân sự ra phi cơ trong chương trình di tản (toán thứ 8).

Chờ cho phi cơ cất cánh xong (9 giờ) chúng tôi mới trở về lại Ban Liên Hợp, vẫn phải trực như mọi người và mọi đơn vị.

10 giờ đêm:

Từ 10 giờ đêm, Bắc Việt bắt đầu pháo kích và bắn hỏa tiễn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay ban chiều vào khoảng 7 giờ, họ đã cho một loạt tác xạ điều chỉnh vào khu vực sân bay rồi: tất cả 5, 6 quả và 2 hỏa tiễn đều rơi vào khu dân cư ở xóm Trương minh Giảng và Lăng Cha Cà ở bên ngoài khu vực sân bay. Nhưng từ 10 giờ đêm trở đi thì tất cả đạn pháo nặng nhẹ từ 130 ly đến bách kích pháo 82 ly và hỏa tiễn đều rơi vào các đường bay, các ụ chứa phi cơ và các kho bom đạn cũng như Bộ chỉ huy các Không đoàn, Riêng Ban Liên Hợp chúng tôi cũng được hưởng mấy trái hỏa tiễn và đạn pháo 130 ly làm cho 3 dãy nhà bị cháy và gây tử thương vài binh sĩ, làm bị thương một số khác

Chúng tôi và Ðại Tá Ba ra ngoài đường thoát nước lộ thiên bằng xi măng trước văn phòng nằm tránh đạn. Chiếc xe của tôi đậu cách chỗ nằm của chúng tôi chừng 15 thước bị một mảnh đạn và bốc cháy mà chúng tôi không dám chữa.Từ đó, Bắc Việt pháo kích từng chập từng chập cách nhau chừng 15 phút, đủ loại, không ngừng cho đến sáng hôm sau. Hầu như không có phi cơ quan sát hay tiềm kích nào cất cánh lên được suốt đêm nay, và cũng không nghe thấy có tiếng súng phản pháo nào.

Riêng trại Davis của hai phái đoàn cộng sản, cách văn phòng chúng tôi chừng 100 thước, thì không bị một quả đạn nào, tất nhiên đây là vị trí của tiền sát viên Bắc Việt giúp điều chỉnh tác xạ suốt đêm nay thật chính xác, vì trong 2 năm ở đây họ đã nắm rõ từng vị trí trong sân bay này rồi!

(Còn tiếp)

Gửi người bạn tù năm cũ

 


Thơ Huy Phương



Chúng ta, những thằng tù dăm bảy đứa,
Từ lúc nước mất nhà tan
Trong hỗn mang sẻ nghé lạc đàn
Áo trận treillis đổi thành áo tù vẽ số.
Chân lấm lem đất bùn, đen đủi dép râu
Trong ba lô cuốn sách gối đầu
Bảy ngày lương cơm đùm gạo bới…


Từ đó chúng ta là những tên tù biệt xứ
Ngày hai chén bo bo, trèo rừng lội suối
Tưởng như thời măng trúc măng mai
Biền biệt trên ngàn, chém tre đẵn gỗ
Tối về trên đầu, quờ tay mỗi thằng một gia sản


Một mẻ sành, một ống tre, một đôi đũa.
Sống mặc chiếc áo tù
Chết mang lên đồi sắn.
Chúng ta không dám mơ tới một ngày
Ðược leo lên chiếc yên xe đạp
Ðược ăn một bát cơm đầy
Ðược về với gia đình giữa chiều mùa đông ấm áp.


Hỡi thằng bạn tù ngày đó
Giờ mày có tất cả những gì muốn có:
Gia đình, hạnh phúc, cơm áo, tự do
Trừ quê hương, đất nước ở xa
Trong giấc ngủ lành, giường nệm thơm tho.
Có khi nào mày còn mang cơn ác mộng
Của những ngày tù, những tháng ngày tuyệt vọng
Giữa núi rừng Việt Bắc, chim hú vượn la.


Xin mày đừng quên thằng bạn tù nằm lại
Nắm xương chưa có được ngày về
Xin mày đừng quên anh em què cụt
Kiếp sống tàn còn phải kéo lê.


Chúng ta có những anh hùng tuẫn tiết
Ðền ơn tổ quốc xem thường cái chết
Chúng ta có bạn bè trong chiến tranh.


Ðã sống một cuộc đời lẫm liệt.
Vì chúng ta tiếc, thèm sự sống
Phải ngu ngơ nhận kiếp tù đày.
Giờ đây gông cùm thoát khỏi
Ðã giạt trôi mãi tới phương này.
Hỡi thằng bạn tù ngày trước,
Mày dư biết vì sao mày tới đây.
Ðừng sung sướng mà quên quay nhìn lại
Mới bỏ gậy ra đã quên lúc ăn mày (1)


____


Chú thích:

(1) “Ðiều trước thanh trúc can, vọng khứ khiếu nhai thời.”
(trích trong “Chúc thư của một người lính chết già” – [email protected])

Nghi can gởi thư có chất độc được tạm trả tự do

 


TUPELO, Mississippi (AP) Paul Kevin Curtis, người bị tạm giữ để điều tra vì gởi thư có chất độc ricin đến  Thượng Nghị Sĩ Roger Wicker và Tổng Thống Obama, đã được đóng bond tại ngoại.









Nhân viên điều tra liên bang mặc y phục và mang mặt nạ chống chất độc khám xét căn nhà của nghi can Paul Kevin Curtis ở Corinth, Mississippi hôm Thứ Tư 17 tháng 4. (Hình: AP/Rogelio V. Solis)

Hôm Thứ Ba các giới chức công lực ở Oxford,  Mississippi, không giải thích gì về việc thả Curtis. Nhưng sau đó luật sư Hal Neeilson đại diện cho đương sự cho biết thân chủ của ông đươc tạm trả tự do sau khi đóng bond, nhưng  vẫn còn bị truy tố và tòa án không tiết lộ điều kiện đóng bond.

Trong khi đó các nhân viên FBI đã trở lại khám xét căn nhà của Everett Dutschke, căn nhà này tuần trước cũng đã từng bị khám vì coi là có liên quan đến vụ việc. Dutschke khẳng định rằng mình vô can và không bị bắt. Theo lời ông, các nhân viên FBI hỏi ông về Curtis và đã bao giờ mua hạt castor, chất có thể dùng làm độc tố, nhưng ông hoàn toàn không biết gì về các chuyện ấy.

Curtis bị bắt hôm Thứ Tư tuần trước tại nhà ở Corinth, Mississippi. Một nhân viên FBI khai trước tòa là không tìm thấy ricin ở xe, computers hay chỗ nào khác trong nhà Curtis.

Các thư gởi đến Washington đựng trong bao thư sẵn keo tự dính, có nghĩa là người gởi không lưu lại dấu vết DNA. Nhân viên điều tra cũng không tìm thấy dấu tay.

FBI đã cố gắng tím ra người gởi thư, căn cứ theo danh sách những cử tri có tên tắt K.C. ở Mississippi, tiểu bang của Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Roger Wicker.  Luật sư Chisti McCoy cho rằng có thể có kẻ đã mạo danh, ghi tắt K.C. trên bao thư để gài Kevin Curtis. (HC)

Hoãn cho phép mang dao lên máy bay

 


WASHINGTON (AP)Lệnh cho phép hành khách mang dao nhỏ lên máy bay đúng ra có hiệu lực trong tuần này vừa mới bị hoãn lại, theo lời các giới chức hôm Thứ Hai.








Vật dụng cấm mang lên máy bay, gồm dao, kéo, cùng nhiều thứ khác, tịch thu được ở các trạm kiểm soát hàng không. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)


Cơ quan Quản Trị An Ninh Chuyển Vận (TSA) loan báo qua một văn bản rằng việc trì hoãn này là cần thiết để thích nghi với phản hồi của một ủy ban cố vấn, gồm các giới chức thuộc ngành kỹ nghệ hàng không, khách hàng và nhân viên công lực. Văn bản thêm rằng việc trì hoãn chỉ có tính cách tạm thời, nhưng không nói rõ là bao lâu.


Ông John Pistole, lãnh đạo của TSA, đề nghị việc cho phép này hồi tháng trước khi cho rằng nó sẽ giúp cho TSA tập trung ngăn ngừa những đe dọa lớn hơn nhiều. Được biết, mỗi ngày nhân viên TSA tịch thu của hành khách chừng 2,000 con dao xếp nhỏ. Đề nghị này lập tức gặp sự phản kháng kịch liệt từ nghiệp đoàn tiếp viên hàng không và an ninh hàng không liên bang, khi cho rằng dao vẫn nguy hiểm khi nằm trong tay kẻ xấu. Một số hãng máy bay và thành viên quốc hội cũng thúc giục TSA xét lại quyết định này.


Hôm Thứ Hai, một liên hiệp nghiệp đoàn đại diện cho 90,000 tiếp viên hàng không trên toàn quốc nói rằng quyết định trì hoãn của TSA chẳng có gì thay đổi, mà “tất cả dao phải vĩnh viễn bị cấm mang lên máy bay.” (TP)

Margaret Thatcher, người chuyển đổi nước Anh

Lê Mạnh Hùng



“Bà đã làm tất cả chúng ta thay đổi. Chúng ta đi từ một dân tộc vốn tự cho rằng đang mãi mãi đi trên con đường suy thoái sang một dân tộc có thể tự hào trở lại. Trên chính trường thế giới cũng vậy, bà đã làm cho nước Anh trở thành mọt quốc gia ngưòi ta phải nhắc đến.”

Đó là nhận xét của ông Charles Powell. một trong những cộng tác viên thân cận nhất của bà Margaret Thatcher khi bà còn nắm quyền. Và quả thật, bà Margaret Thatcher, vốn từ trần hôm thứ hai tuần này thọ 87 tuổi đã không những làm đảo lộn trật tự xã hội của chính nước bà mà còn đóng góp rất nhiều trong việc làm thay đổi chính trị thế giới vào lúc đế quốc Liên Sô bắt đầu suy thoái và sụp đổ.

Vị thủ tướng phụ nữ đầu tiên của Anh quốc, được mệnh danh là “người đàn bà thép” (The Iron Lady) đã làm thay đổi nền kinh tế bị sơ cứng của nước Anh, hầu như trung hòa hết ảnh hưởng của nghiệp đoàn và “cắt giảm tầm mức của nhà nước” với một chính sách tư hữu hóa các công ty quốc doanh và bán các khu nhà cửa công hữu cho những người dân đang ở thuê mua. Bên ngoài bà là một nhà lãnh đạo kiên cưòng đã dẫn nước Anh chiến thắng Argentina trong cuộc chiến Falklands và là nguồn cảm hứng cho học thuyết Thatcher, một quan điểm triết học chính trị mà thực sự hầu như không được chính nước Anh của bà chấp nhận.

Nhưng mặt trái của lòng can đảm, sự kiên trì và tính cách mạng đó của bà lại là một thói tự kiêu, sự cố chấp và một sự sa vời đối với người chung quanh mà càng ngày càng trở nên rõ rệt hơn cùng với thời gian mà bà nắm quyền lãnh đạo nước Anh. Bà đã tập trung quyền lực vào trong tay đến mức chưa bao giờ thấy ở nước Anh hiện đại. Một hậu quả của cung cách bà chi phối chính phủ là sự thất bại của bà trong việc hàn gắn những vết thương mở ra ngay chính bên trong đảng Bảo Thủ của bà chung quanh việc bà đưa ra một loại thuế thân và thái độ tiêu cực của bà đối với châu Âu và vai trò của Anh tại châu Âu. Nhưng cũng bởi vì chính cái sức mạnh của những tư tưởng và con người của bà mà tất cả những chuyện gì xảy ra về sau đều được thấy qua lăng kính của bà.

Sinh năm 1925 tại Grantham, Lincolnshire, Magaret Hilda Roberts là con gái út một gia đình chủ tiệm tạp hóa nhỏ, ông Alfred Roberts và bà Beatrice. Ông Alfred là một người tự lập mà quan niệm sống tự lập, lương thiện và cần cù đã là những ảnh hưởng quan trọng đối với bà. Tuy rằng nhà nghèo, nhưng bà Margaret và chị Muriel lúc nào cũng được ăn mặc tươm tất – bà mẹ làm thợ may – và tại một xã hội rất chú trọng đến giai cấp, bà được gởi đi học xướng âm khi vào được trường nữ Kesteven and Grantham Girls School. Bà sau đó vào học hóa học tại Somerville College thuộc viện đại học Oxford. Đây là một thành tựu to lớn đối với một cô gái con nhà nghèo như bà ở thời điểm đó.

Tốt nghiệp Oxford, bà làm việc cho một công ty với tư cách là một nhà nghiên cứu hóa học tại Luân Đôn đồng thời tham gia chính trị với tư cách một đảng viên đảng Bảo Thủ. Trong giai đoạn này, bà gặp người chồng tương lai, ông Dennis Thatcher, một nhà doanh nghiệp giầu có đã ly dị vợ, hơn bà 10 tuổi. Hai người lấy nhau sau khi bà thất cử dân biểu lần thứ hai tại hạt Dartford thuộc Kent. Năm 1953 họ có được hai người con sinh đôi Carol và Mark. Lấy chồng rồi bà tiếp tục theo đuổi sự nghiệp chính trị và đến năm 1959 thì trở thành dân biểu hạt Finchley tại Luân Đôn.

Ngay từ đầu bà đã nổi bật trong Quốc Hội Anh. Westminster không có bao nhiêu nữ dân biểu; và những dân biểu này thường già nua và độc thân trong lúc bà, bên ngoài khả năng ăn nói lại không những là một người đàn bà trẻ, có chồng con mà còn có sắc đẹp giống như một người mẫu.Bà được bổ làm thứ trưởng đặc trách liên lạc với quốc hội cho ông bộ trưởng bộ hưu trí và khi đảng Bảo Thủ dưới lãnh tụ Edward Heath thắng cuộc tuyển cử năm 1970 bà được cử làm bộ trưởng bộ giáo dục. Trong con mắt của những đồng bào của bà lúc đó, bà được coi như là tiêu biểu của “sự hiện diện cho có” của phụ nữ trong chính phủ Anh.

Bà có thể vẫn còn giữ vai trò đó nếu không nhờ khả năng của mình. Với tư cách là bộ trưởng giáo dục bà đã cho thành lập nhiều trường trung học tổng hợp nhất so với tất cả các bộ trưởng giáo dục trước và sau mình. Nhưng bà cũng bắt đầu gây tiếng xấu khi chấm dứt việc cung cấp sữa miễn phí cho các học trò trên 8 tuổi “Maggie Thatcher, kẻ cướp sữa của trẻ em” là một trong những khẩu hiệu nói xấu bà đầu tiên trong suốt cuộc đời chính trị của bà.

Chính quyền Bảo Thủ của ông Edward Heath càng ngày càng bị mất lòng dân và cuối cùng bị đổ vào tháng hai năm 1974. Tháng 10 năm đó, ông Heath và đảng Bảo Thủ của ông lại bị thua một cuộc tuyển cử thứ hai nhưng ông Heath đã từ chối không chịu rút lui khỏi chức vụ lãnh tụ đảng.
Khi không một lãnh tụ nam nào dám đứng ra thách thức ông Heath dành chức lãnh tụ đảng, bà đã đứng ra vì “phải có một người nào đứng ra làm chuyện đó”. Bà đã thắng ông Heath ngay sau đợt bỏ phiếu đầu tiên và sau đó dành được chức lãnh đạo sau một loạt các thách thức của những người khác. Với tư cách là lãnh tụ đối lập, bà và những người ủng hộ thảo ra một bản tuyên ngôn nguyên tắc có tên là “The Right Approach to the Economy” mà căn bản là các chính sách tiền tệ và thuế vụ thận trọng, cắt bỏ vai trò của nghiệp đoàn trong việc quản lý các vấn đề của quốc gia và giảm thiểu vai trò của nhà nước. Đó là tài liệu căn bản của cái gọi là chủ nghĩa Thatcher. Chẳng bao lâu bà đã trở thành nổi tiếng, không những trong nước mà cả ở nước ngoài nhờ vào một bài diễn văn chỉ trích Liên Sô khiến cho tờ báo của Hồng Quân Liên Sô đặt cho bà cái tên là “Thiết Phu Nhân” (Iron Lady).

Đối lập muốn thắng thường phải trông cậy vào bên chính phủ tự hại mình. Và năm 1979, chính phủ Lao Động đã làm như vậy. Mùa đông năm 1979, một đợt đình công của công nhân viên chức đã để rác rưởi chất đầy trên các đường phố và người chết không được chôn tại các nghĩa địa. Các hy vọng thắng cử của đảng Lao Đông tại nước Anh đã tiêu tan trong suốt trên mười năm.

Khi bà Thatcher lên nắm quyền năm 1979, nước Anh đang ở trong một tình trạng thê thảm. Lạm phát và thất nghiệp gia tăng trong khi các nghiệp đoàn lũng đoạn các xí nghiệp. Bất chấp những lời khuyên của các nhà chính trị đàn anh, bà cho thực hiện một chính sách khắc khổ, cắt giảm công chi. Liều thuốc đắng này thoạt đầu tưởng sẽ làm con bệnh chết. Số người thất nghiệp tăng lên trên 3 triệu, sản suất công nghiệp đi xuống. Nhưng đến năm 1983, lạm phát đã từ 22% xuống còn 4% và kinh tế Anh đã tăng trưởng mạnh trở lại.

Khi Argentina đánh chiếm quần đảo Falklands năm 1982, bà đã không ngần ngại gởi một đạo quân 25,000 người đánh chiếm lại. Chiến thắng tại Falklands đã hoàn thiện hình ảnh của bà như một con người kiên quyết tại trong nước cũng như nước ngoài. Tại Âu châu cũng vậy, bà đã tranh đấu thành công trong việc cắt giảm đóng góp của Anh vào ngân sách Cộng đồng châu Âu khiến cho ông Francois Mitterrand, tổng thống Pháp lúc đó gọi bà là có “cặp môi của Marilyn Monroe, nhưng con mắt của Caligula.” (Caligula là một hoàng đế rất tàn bạo của cổ La Mã).

Chính sự chống đối của bà với chủ nghĩa Cộng Sản đã giúp mang lại điều mà bà tự hào là thành quả lớn nhất trong đời mình: sự sụp đổ của đế quốc Sô Viết. Mười năm làm thủ tướng của bà trùng với 8 năm tổng thống của ông Ronald Reagan và hai người trở thành đồng minh chính trị. Chính bà đã khuyến khích ông Gorbachev thực hiện chương trình cải tổ của mình, cho rằng nó sẽ giúp hủy diệt chủ nghĩa cộng sản từ bên trong

Tuy nhiên, trong nước, những chính sách và sự độc đoán của bà đã càng ngày càng làm chia rẽ đảng Bảo Thủ của bà. Lần lượt những cộng tác viên quan trọng nhất của bà đã quay sang chống lại bà. Cuối cùng dự án đưa ra một đạo luật thuế thân (poll tax) đã tạo một phản ứng chống đối rộng rãi. Và rốt cuộc chính nội các của bà đã làm điều mà không ai ngờ tới: tất cả đều nói đã đến lúc bà phải ra đi.

Tấn bị kịch của việc lật đổ bà Thatcher đã ảnh hưởng đến sự thống nhất của đảng Bảo Thủ trong suốt hơn mười năm. Bà Thatcher còn sống để thấy đảng của bà trở lại nắm quyền vào năm 2010, nhưng bà không bao giờ phục hồi được tinh thần cũ sau vụ truất phế đột ngột của mình. Năm 2010, chồng bà, ông Dennis mất và bà chỉ còn lại một mình. Bà tiếp tục sống nhưng những lúc vui nhất của bà chỉ là khi gặp lại những người bạn cũ và nói tới những chiến thắng ngày xưa.

Chó pitbull cắn bị thương hai em nhỏ

 


SAN BERNARDINO, California (KABC)Hai em nhỏ, một tuổi và hai tuổi, bị thương nặng và đang hồi phục, sau khi bị một con chó pitbull nuôi ở vườn sau nhà một người quen cắn hôm Thứ Hai.








Chó pitbull hung dữ từng tấn công người bị nhốt tại các trung tâm quản lý súc vật. (Hình minh hoạ: Luis Liwanag/AFP/Getty Images)


Vụ tấn công xảy ra tại khu nhà số 800 đường North Granger ở San Bernardino, khi cha mẹ cùng hai em từ vùng Rialto đến thăm gia đình một người bạn.


Hai em đang chơi ở vườn sau thì bị con chó pitbull tám tuổi táp điên cuồng vào mặt em nhỏ hai tuổi. Trong khi bố mẹ lo tiếp cứu thì con chó quay sang tấn công em bé một tuổi. Cả hai được băng bó và đưa đến một bệnh viện địa phương, với vết thương trầm trọng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng. Tại đây hai em được khâu vết cắn trên má rồi được cho về.


Con chó bị đem về nhốt tại cơ quan kiểm soát động vật thành phố San Bernardino. Các giới chức cho biết con chó sẽ không bị chích cho chết nhưng sẽ bị giữ trong 10 ngày để xem có còn hung hăng hay không, trước khi được mang về gia đình, miễn là chủ nhân có thể chứng minh nó đã được chích ngừa và được cấp phép nuôi.


Đây là vụ chó pitbull tấn công người lần thứ hai trong vòng một tuần ở San Bernardino. Hôm Chủ Nhật, một cụ bà 74 tuổi bị một con chó pitbull tấn công. Khi cảnh sát tìm cách khống chế thì họ cũng bị tấn công nên buộc lòng cảnh sát phải nổ súng. (TP)

Vợ hiền

 


Tràm Cà Mâu


1.

Vợ tôi không phải là một người đàn bà có nhan sắc khuynh nước đổ thành. Bởi tôi, vốn tài mạo tầm thường và cũng không có nhiều may mắn bất ngờ để lọt mắt xanh những cô có nhan sắc chim sa cá lặn. Vả lại tôi cũng thường nghe bố tôi tuyên truyền nhồi nhét trong cái đầu từ nhỏ rằng, đẹp đến mấy rồi cũng trở thành méo mó xấu xí, và vợ đẹp là vợ người ta.



Vợ tôi cũng không có tài ba xuất chúng, bởi tôi vốn nể sợ và có thành kiến với những người đàn bà tài giỏi, vì họ thường kiêu ngạo và hay thành độc tài vợ trị. Ðộc tài đảng trị thì có thể bỏ nước chạy ra biển chết, chứ độc tài vợ trị thì không chạy đâu cho thoát cả! Vợ tôi chỉ là một người đàn bà trung bình trên tất cả mọi mặt. Với một vóc dáng tầm thường bên ngoài, không vêu vao xấu xí khó nhìn. Bên trong nàng mang một tấm lòng hiền hậu, bao dung, biết hành xử khôn ngoan khéo léo, để đem lại cho gia đình hạnh phúc êm ấm lâu bền mà tôi vô cùng biết ơn mỗi khi nghĩ đến. Trong nhiều năm chung sống, chưa bao giờ nàng nặng lời với tôi, chưa bao giờ có cử chỉ hay ngôn ngữ thiếu lịch sự, cũng chưa lần khóc lóc giận hờn đòi hỏi điều này điều kia, hoặc đặt điều kiện làm khó, hay so đo chuyện nhà với gia đình người khác. Ngoài tình cảm thắm thiết chia sẻ của vợ chồng, nàng âu yếm như một người tình, khoan dung rộng lượng như một người mẹ và hiểu biết như một người tri kỷ.


2.

Năm tôi hai mươi tám tuổi, mẹ tôi nóng ruột thúc hối ép tôi lập gia đình. Bà đưa cái công thức cổ xưa của mấy ông Tàu bày ra là “tam thập nhi lập.” Tôi cũng chưa đến ba mươi, mẹ tôi cứ gán đại thêm cho hai tuổi để dễ bề ép uổng. Tuổi đó, thích được quen nhiều bạn gái, bạn thôi thì được, nhưng nghe đến chuyện hôn nhân là xanh mặt. Vì qua kinh nghiệm bạn bè, kinh nghiệm giao tiếp trong sở, tôi thấy đa số mấy anh có vợ rồi thì dường như bị khép chặt trong cái vòng “chuyên chính” của bà vợ nhà! Cái vòng tuy lỏng lẻo và êm ái, nhưng bằng sắt, rất chặt và siết cứng.

Một anh bạn thân, lâu lâu giận vợ, đến nhà tôi ở lại, nằm rũ ra trên giường như đống mền rách rầu rĩ nói với tôi:

– Tao chỉ mong có được một ngày an bình, sung sướng như mày, một ngày thôi cũng đủ.

Nghe thế thì không sợ sao được? Trong sở tôi có mấy anh bạn bị vợ cào rách mặt và phải lấy cớ là bị dao cạo râu cắt. Ai cũng biết chuyện gì đã xảy ra, vì mặt mày các anh láng lẩy, trơn tru, có sợi râu nào đâu mà phải cạo cho dao cắt!

Một ông lớn tuổi khác, vợ vào tận sở xé áo và kêu bằng mày tao, còn tố cáo ông mang bằng kỹ sư giả bên Pháp về. Nhan nhản những tấm gương gia đình u ám trước mắt như vậy, thì chỉ có ngu quá hoặc liều mạng mới không sợ mà thôi. Tôi khất lần mãi không được, phải bẽn lẽn theo mẹ, đi ra mắt, và xem mặt nhiều cô con gái các gia đình mà bà quen biết. Tôi theo lời dạy của một anh quân sư quạt mo, cứ mang bộ mặt đưa ma đến nhà người ta và ăn nói nhát gừng cộc lốc thì không ai muốn gả con gái cho, và các cô thấy vậy cũng ớn lạnh mà dạt ra. Thế mà cũng có nhiều nhà khen tôi hiền lành, muốn gả con gái cho. Tôi tìm đủ lý do nói riêng với mẹ để chê bai từ khước. Cô thì chê mặt dài, cô thì chê mũi lớn, cô khác chê mắt có đuôi, cô thì miệng như có râu. Toàn những lý do vu vơ. Mẹ tôi phiền muộn thở dài, vì biết con trai bà cũng chẳng có sự nghiệp gì sáng giá, chẳng có một phong cách đặc biệt nào mà đòi hỏi quá đáng chăng?


3.

Không nỡ để mẹ buồn, tôi đem Lam, người bạn gái thân thiết nhất về giới thiệu với mẹ, bà vui vẻ chịu ngay. Bà khen Lam láu lỉnh, bặt thiệp và xinh đẹp. Mẹ tôi đến thăm xã giao nhà Lam hai lần để dò xét gia thế, và quyết liệt chống đối cuộc hôn nhân, lấy lý do là mẹ Lam dữ dằn và có cách cư xử thiếu lễ độ với chồng. Tôi nói:

– Con cưới Lam chứ cưới bà ấy đâu mà mẹ sợ?

Mẹ tôi nhất quyết tin rằng, mẹ hổ thì khó sinh được con cừu. Vì cách đối xử của cha mẹ ảnh hưởng đến tính tình con cái. Cha mẹ dữ dằn, con cái khó mà hiền lành được, vì ngày ngày học cách ăn nói, cách đối xử, tiêm nhiễm những thói quen của cha mẹ, và đem ra xử sự với đời mà không biết đó là xấu. Tôi cố bào chữa cho Lam, nhưng mẹ tôi đã nhất quyết, không lay chuyển được. Bà nói:

– Mẹ thương con, mẹ không muốn sau này con khổ vì đời sống gia đình thiếu hạnh phúc. Vì không có gì khổ bằng có vợ dữ dằn, hỗn láo, có thể làm người chồng buồn phiền sinh ra rượu chè, cờ bạc, trai gái hư hỏng. Mẹ thương con, lo cho tương lai con nên mẹ không chịu.

Tôi định nói với mẹ rằng, con trai của mẹ cũng chẳng hiền lành chi mà chê thiên hạ. Nhưng sợ mẹ buồn nên im lặng. Mẹ của Lam biết được ý kiến của mẹ tôi, nổi tự ái, nói nhiều lời tàn nhẫn, tổn thương đến gia đình tôi, và tuyên bố không bao giờ gả Lam cho tôi. Khi bị trắc trở, ngăn cấm thì tình yêu càng thêm tha thiết bốc lửa, và hai đứa tôi càng quyết vượt qua hàng rào ngăn cản của gia đình. Muốn sống cho nhau, và sống chết vì tình yêu. Một lần chìu ý mẹ, tôi miễn cưỡng đi xem mặt một cô mà mẹ tôi gọi là gia đình phúc hậu đàng hoàng. Tôi chẳng tha thiết gì, chỉ giữ đủ lịch sự tối thiểu để cho mẹ khỏi mất mặt. Lần đó Lam biết được, nàng giận dữ sỉ vả tôi:

– Anh là một thằng đểu cáng, xấu xa đê tiện, một kẻ hèn nhát núp váy mẹ, không dám làm gì cả. Anh không xứng đáng với tình yêu của tôi.

Tôi nghe mà bàng hoàng, như bị sét đánh. Hai đứa giận nhau. Tôi chợt nhớ tới lời nhận xét của mẹ, và thấy bà cũng có lý phần nào. Nhưng tim tôi vẫn nát tan xót xa vì chuyện tình đổ vỡ. Ngay sau đó, Lam có người yêu mới là Tuân. Tuân cũng là trong đám bạn bè quen biết lâu dài với tôi, tính tình Tuân hiền lành, chịu đựng, và Tuân đã bền bỉ theo đuổi Lam từ lâu. Nửa năm sau, tôi đi dự đám cưới Tuân-Lam với trái tim vỡ nát, nhưng cũng vui mừng vì

Lam lấy được chồng hiền lành và đàng hoàng, có thể bảo đảm đời sống tinh thần vật chất cho gia đình sau này. Tôi thật tình nghĩ rằng, tôi không bằng được Tuân về nhiều mặt. Lam bỏ tôi là phải.



4.

Mẹ tôi làm như lấy vợ cho bà, cứ khóc lóc thúc giục mãi. Tôi tâm sự với một người bạn cũ. Anh cười và nói:

– Hay là cậu thử tìm hiểu Mai, em gái tôi xem sao. Nó cũng sẵn có cảm tình với cậu đó. Mai hiền lành lắm.

Ðược bạn khuyến khích, tôi bắt đầu tìm hiểu Mai. Nàng không đẹp, không xấu, chăm chỉ, hiền lành. Trước đây, đến nhà bạn chơi, tôi chỉ thấy Mai thấp thoáng đâu đó sau bàn học, hoặc lẳng lặng rút lui sau khi cúi đầu chào lễ phép.

Dẫn Mai đi chơi, tôi không tìm hiểu được chi nhiều về Mai, vì nàng quá thụ động, khi nào cũng nhẹ nhàng chiều chuộng, ít đưa ý kiến riêng. Khi hỏi ý, nàng thường bảo:

– Dạ, anh cho em đi đâu cũng thích cả.Aanh vui thì em cũng vui.

Tôi đem nhận xét về cái hiền lành của Mai nói với một người bạn.

Anh cười hô hố và nói:

– Trời ơi, khi mới quen thì em nào mà không hiền lành như thánh mẫu, dịu dàng như tiên cô. Khi cưới về thì cái đuôi dài thòng mới lòi ra, và dữ như chằn tinh. Em nào cũng vậy cả.

Tôi hỏi thẳng anh của Mai, anh trả lời:

– Con nhỏ hiền lành, biết nhường nhịn và rất dịu dàng. Cậu có phước lắm mới gặp nó. Không phải vì nó là em gái mà tôi khen đâu.

Mẹ tôi đến thăm gia đình Mai nhiều lần, khen mẹ của Mai phúc hậu, hiền lành, cư xử lịch sự, phải phép với chồng.

Bà nghĩ rằng, nhất định Mai cũng học được nề nếp gia đình của mẹ, không nhiều thì ít. Bà thúc tôi làm đám cưới ngay. Tôi xin hoãn một thời gian để tìm hiểu thêm, mẹ không chịu và bảo:

– Lấy vợ thì lấy liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ gièm pha.

Tôi nói rằng, nếu nghe được lời gièm pha đúng thì cũng là điều tốt, mình khỏi phải xét đoán lầm người. Mẹ tôi lại giảng cho tôi rằng, chín mươi phần trăm cách cư xử của con cái là do ảnh hưởng sinh hoạt tốt xấu của cha mẹ. Cha mẹ gieo vào đầu con cái thứ tư tưởng nào thì nó sẽ hành động theo lối đó. Thương mẹ, tôi tạm quên kinh nghiệm ghê gớm trong đời sống gia đình của bạn bè và đồng sự, liều thân lấy vợ cho mẹ vui lòng. Có một ông bạn bảo rằng, lại thêm một thằng đàn ông ngu muội đi vào vết xe đổ nghìn năm của nhân loại


5.

Tôi cưới Mai, nàng như cái bóng dịu hiền bên tôi. Tôi thấy mình tan loãng vào tình yêu êm đềm, và chợt nhận ra đời sống gia đình êm ái, thoải mái và hạnh phúc hơn nhiều lần đời sống độc thân. Không thấy gò bó tù túng trong dây ràng buộc của gia đình như nhiều người thường bảo. Mai lo lắng cho tôi những thứ cần thiết lặt vặt trong cuộc sống bình thường, bổ khuyết cho tôi những thiếu sót, dịu dàng an ủi tôi những khi lo buồn. Tôi nói với vợ:

– Anh ngu quá, biết lấy vợ mà sung sướng hạnh phúc như thế này thì đâu để độc thân đến gần ba mươi tuổi. Uổng thật.

Những khi chúng tôi có ý kiến trái ngược,Mai dịu dàng phân tích thiệt hơn cho tôi nghe rồi để cho tôi tự quyết định. Sau đó dù quyết định ấy có trái ý nàng, Mai cũng vui vẻ cố gắng giúp tôi hoàn thành công việc. Không như các bà khác, những lúc chồng làm trái ý thì các bà mong cho ông chồng thất bại để chứng tỏ ý kiến của bà là đúng, là hay. Mai thường nói:

– Thuận vợ thuận chồng tát bể Ðông cũng cạn. Nếu ai cũng khăng khăng giữ ý của mình, thì chẳng làm nên được việc gì cả.

Cũng có khi quyết định của tôi sai lầm, đưa đến kết quả không tốt. Những lúc này, Mai thường hết lời dịu dàng an ủi tôi, và cho rằng tôi không có lỗi gì cả, ví ai cũng có thể sai lầm. Và Mai cho rằng nàng cũng có phần lỗi, vì chưa tận tình giúp tôi đầy đủ ý kiến để có quyết định đúng.Từ đó, tôi cảm thấy mình phải lắng nghe ý kiến của vợ nhiều hơn. Tôi nghĩ, nếu những lúc này mà Mai dằn vặt, nằng nặc buộc tội tôi thì chưa chắc tôi đã thấy mình lầm lỗi. Mai không như một số đàn bà khác, đúng hay sai cũng đổ lỗi cho chồng; và những khi chồng thất bại trong đời lại là cái dịp cho các bà chê bai, mai mỉa, nói những lời tàn nhẫn. Ngoài xã hội, có những lúc tôi vô tình hoặc thiếu may mắn, gây nên những sai lầm với người khác, Mai tự đứng ra, gánh vác hết trách nhiệm thay tôi. Tự ái đàn ông đâu cho phép tôi để vợ gánh vác trách nhiệm thay mình. Tôi thấy thương và quý vợ nhiều hơn. Mai bảo:

– Chuyện nhỏ, để em gánh vác giúp, anh để tâm trí làm những việc khác ích lợi hơn.Tôi thầm nghĩ, tôi thì làm chi có việc lớn mà gánh vác.


6.

Những năm mới lấy nhau, tài chánh gia đình khó khăn, đắp trước bù sau hàng tháng. Áo quần đơn sơ, ăn uống dè sẻn. Thế mà Mai bao giờ cũng vui vẻ, chưa bao giờ nghe Mai than thở hoặc so sánh với các bạn bè khác. Nàng thường nói:

– Chúng ta nghèo vật chất, nhưng giàu hạnh phúc, tinh thần thanh sạch, thế là đủ. Ðời sống biết đủ là đủ.

Chính vì Mai không than thở, nên tôi thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn về tài chánh gia đình. Buổi chiều về, tôi đi dạy thêm cho các lớp đêm. Ngày nghỉ, tôi mở lớp dạy kèm luyện thi cho từng nhóm nhỏ. Tài chánh gia đình nhờ đó mà dồi dào hơn, có thêm tiền, nhưng Mai không vui mà chỉ lo cho tôi thiếu sức khỏe sinh bệnh hoạn. Năm đó, tôi không chịu theo bè cánh với nhóm tham nhũng, chúng đày tôi về một tỉnh nhỏ xa xôi. Tôi buồn phiền lắm. Không đi thì không được, đi thì bỏ hết công chuyện làm ăn riêng tư. Mai khuyên tôi nhẫn nhịn, và gắng tìm vui trong hoàn cảnh mới.

Khi chúng tôi về tỉnh nhỏ, Mai thường an ủi và nâng đỡ tinh thần tôi, đặt mua các thứ sách báo tôi thích, để giải trí và quên đi phần nào nỗi buồn nơi tỉnh nhỏ. Mai xin được việc ở một nhà dạy trẻ, để phụ thêm kinh tế gia đình….

Khi chạy vội về Sài Gòn vào năm 1975, chúng tôi mất tất cả, trở thành trắng tay. Tôi lo lắng và muộn phiền lắm, nhưng nhờ thái độ trầm tĩnh và chịu đựng của Mai mà tôi bớt bối rối. Trước ngày miền Nam sụp đổ, chúng tôi bàn nhau là nên ở hay đi. Ý Mai thì nên đi để bảo toàn tính mạng cho gia đình, khi yên ổn thì quay trở về cũng chẳng mất mát gì. Phần tôi thì vì yêu mến quê hương một cách lãng mạn, quyết ở lại, muốn cùng chia sẻ khổ đau, sống chết cùng quê hương. Chủ nghĩa đối với tôi không quan trọng, tôi nghĩ chính thể nào cũng thế thôi, cũng cùng là người Việt, cùng dòng giống tổ tiên thì việc gì mà phải bỏ chạy?

Tôi đã lầm to. Thảm họa trùm xuống khắp miền Nam. Ðau khổ, lao tù, đói lạnh, đè nén, áp bức.Tôi cũng ôm gói đi tù như mọi bạn bè. Trong tù, tôi vô cùng ân hận về quyết định sai lầm, để thân xác mình bị tù đày, để vợ con bơ vơ, đau khổ, đói rách, không vốn liếng, không tài sản. Ba tháng sau khi tôi đi tù, Mai thấy chồng chưa được thả về, đã xoay xở rất mau. Nàng mua áo quần cũ, cắt ra may thành áo quần trẻ em đem bỏ mối tại các chợ trời hè phố.

Ðêm nào cũng may đến mười hai giờ khuya. Một mình nuôi chồng tù tội, nuôi con thơ dại, ngược xuôi trong cuộc đổi đời. Những năm tháng nằm tù, có nhiều thì giờ suy nghĩ, tôi mới sâu sắc nhận ra mình mang ơn vợ quá nhiều. Tình cảm nàng dành cho tôi tràn đầy dịu dàng, bao dung, âu yếm và hy sinh. Tôi biết mình là kẻ có phước được vợ hiền….


7.

Khi tôi được ra tù, thể xác tiều tụy, tinh thần suy nhược, đời sống bất ổn, bị đe dọa thường trực. Hàng tuần bị tên công an khu vực đến thúc giục đuổi đi về vùng kinh tế mới, và nói lời hăm dọa. Tôi nản lòng bàn với Mai để dọn về vùng kinh tế mới cho yên thân. Nàng đã khôn ngoan giải thích rằng, bằng mọi giá phải bám vào thành phố, để sống còn và để bớt bị độc tài áp bức, bớt khốn khổ vì cái u mê của chế độ hành hạ. Nàng thường khuyên tôi:

– Mình hãy xem cuộc đời này như một trò chơi không vui, đừng quá quan tâm đến những gì xảy ra cho mình, cho thiên hạ chung quanh. Những đau khổ mà mình đang chịu đựng cũng là một thứ thử thách, làm cho mình lớn thêm lên, trưởng thành hơn, và cứ vui với những gì nhỏ nhoi nhất có thể có trong thời gian này. Không xấu xa nào có thể tồn tại mãi mãi được, ánh sáng tương lai sẽ có ngày chiếu rọi trên quê hương.
Mai đã an ủi, khuyên nhủ và dịu dàng dắt tôi đi qua quãng đời đau khổ trong chế độ lạ lùng vô nhân kỳ quái này.

Chúng tôi bữa đói bữa no dắt nhau đi trong đời sống mịt mù của xã hội chủ nghĩa trá hình. Khi tôi ngỏ ý tham gia một tổ chức phục quốc chống lại chính quyền cộng sản trong thành phố, thì Mai đồng ý ngay. Nàng nói:

– Chúng ta đã vất súng đầu hàng, chỉ mong được bình yên sống và góp phần xây dựng lại quê hương.Nhưng kẻ chiến thắng đọa đày nhân dân xuống vực thẳm. Không cho ai yên sống. Chính họ đã buộc chúng ta đứng dậy, cầm lại súng. Việc đáng làm thì phải làm. Nếu ai cũng trốn tránh cả, thì đau khổ này biết bao giờ dứt được? Nhưng phải thận trọng để khỏi phí thân làm việc dã tràng.

Cùng với bạn bè cũ mới, chúng tôi tổ chức mua súng, liên lạc với các nhóm kháng chiến khác. Ra một tờ báo bí mật chuyền tay. Mai đã ngược xuôi giúp đỡ chúng tôi, mang tin tức, chuyển vận hàng hóa. Chúng tôi mơ mộng một ngày ánh sáng tự do chiếu rọi trên quê hương, trở lại đời sống không áp bức kẹp kềm… Nhưng vì một vài người trong nhóm bất cẩn, tổ chức bị đổ bể, đa số anh em bị bắt.

Tôi chạy thoát được với cái áo có nhiều lỗ đạn bắn thủng bên hông. Mai nhờ người nhắn tôi bình tĩnh chờ nàng sắp đặt. Nàng vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà, đóng tiền cho tôi bí mật vượt biên… Phút cuối chủ thuyền cho vợ con tôi cùng đi với lời hứa trả tiền sau. Tôi cám ơn Trời Phật đã xui khiến cho chúng tôi còn có bên nhau trong đời. Trên biển đói khát Mai nhường phần ăn uống cho con, cho chồng, với lý do là tôi cần sống hơn nàng, tôi có thể làm được nhiều việc ích lợi hơn. Nhưng theo ý tôi thì chính Mai mới xứng đáng để sống sót vì đời sống nàng có nhiều ý nghĩa, tốt đẹp hơn. Những ngày khó khăn nắng cháy cực khổ tại trại tỵ nạn, nàng giành lấy hết tất cả việc vặt vãnh như lãnh thức ăn, xách nước, nấu nướng, chăm sóc con cái, để cho tôi có thì giờ tham gia tiếp tay phụ giúp các công tác chung trong trại. Mai dặn tôi tránh xa những nơi có tranh giành, có chút quyền lợi, chỉ nên kê vai gánh vác những việc có ích chung mà không ai làm.Với khuyến khích và an ủi của vợ, tôi làm được nhiều việc hữu ích cho cộng đồng. Trong lúc đó, một vài anh bạn tôi tham gia việc cộng đồng mà như làm việc quốc cấm, bị vợ cằn nhằn, ngăn cản, mỉa mai rằng việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. Nhiều người than vãn về những thiếu thốn, khó khăn, cực khổ trong trại tỵ nạn. Mai thì khi nào cũng vui vẻ lạc quan và cho rằng tương lai được sống đời tự do đang rõ ràng trước mắt. Những thiếu thốn khó khăn trong trại tỵ nạn là đương nhiên. Ở đây cũng còn sung sướng hơn những ngày tháng sống với chế độ công sản u ám, bất trắc, chèn ép, sợ hãi. Những khi con tôi chê cơm, Mai nhắc nhở cho chúng những ngày khoai sắn qua bữa, những ngày đói khát trên biển khơi thì chúng vội vàng ăn ngon lành những chén cơm trong trại tỵ nạn.


8.

Chúng tôi đến Mỹ vào mùa Ðông, tuyết phủ ngút ngàn, trắng xóa cả đất trời. Chưa biết có thể làm gì để nuôi sống gia đình trong miền đất mới; nhưng nhờ trợ cấp xã hội trong thời gian đầu, đắp đổi tạm sống qua ngày. Dù không dư dả, tiền trợ cấp xã hội được Mai chia ra làm ba phần: hai phần ba nuôi sống gia đình với chi tiêu dè sẻn tiện tặn, một phần ba gởi về giúp những bạn bè đang đói khó khắc khoải trong lao tù, trong các vùng kinh tế mới… Hai vợ chồng dắt nhau đi tìm việc, không nản lòng. Tôi tìm được một chân rửa chén bát tại khách sạn Holiday Inn. Mai tìm được một chân làm bánh ngọt Donut. Chúng tôi tự túc được rồi.Và từ đó mà tiến lên, tôi tìm được công việc khác trong hãng tiện có đồng lương khá hơn. Chúng tôi bắt liên lạc với bạn bè xa gần, ao ước được đóng góp phần nào vào nỗ lực làm vơi khổ trên quê nhà. Thư của bạn bè hồi âm với lời lẽ bi quan, nhiều người khuyên tạm quên chuyện quê hương đi mà lo cho đời sống bản thân và gia đình trước đã… Nhiều đêm Mai thì thầm:

– Chúng ta có yên lòng hưởng hạnh phúc, tự do khi cả quê hương đang chìm đắm trong khổ đau? Chúng ta có quên được bao nhiêu người đang kỳ vọng chúng ta nơi quê nhà? Liệu chúng ta có làm được gì không, hay chỉ mải mê lo cho đời sống riêng tư. ..

Chưa bao giờ tôi nghe Mai phàn nàn, sanh nạnh với tôi về công việc trong nhà.Chưa bao giờ nàng lên giọng sai bảo tôi hút bụi, quét nhà, rửa chén bát. Nếu rảnh thì tôi làm, nếu tôi bận xem những trận thể thao hấp dẫn thì thôi.

Nhiều lúc Mai không cho tôi rửa chén bát, giành lấy mà làm, vì những lúc đó nàng rảnh rang. Chúng tôi cùng làm việc nhà trong tinh thần chia sẻ, không phải trong trách nhiệm phân chia việc nào chồng làm, việc nào vợ làm. Mai chưa bao giờ tranh hơn thua với chồng. Nàng quan niệm rằng, vợ chồng không cần tranh hơn thua nhau, hơn chồng cũng không được gì mà chỉ tổ tình yêu bị tổn thương… Chưa bao giờ Mai lớn tiếng hay khăng khăng quyết đoán việc gì. Khi nào cũng dịu dàng thảo luận và sẵn sàng chờ lúc thuận tiện để thuyết phục thêm. Tôi đã nghe thấy vợ nhiều người bạn, sẵn sàng xẵng tiếng với chồng, mở miệng ra là nói nặng lời, nói điều chua chát khó nghe; và tôi biết mình may mắn có vợ hiền… Những lúc tôi gặp khó khăn ngoài xã hội, mang bực bội và cái không vui về nhà,

Mai thường khuyên tôi rằng:

– Mục tiêu tối thượng của đời người là đi tìm hạnh phúc. Ði làm kiếm tiền cũng chỉ để mua hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực của cuộc sống là gia đình vui vẻ, ấm êm và dễ chịu. Không tội chi đem cái khó khăn bực bội của bên ngoài về nhà cho mất vui, mà phí phạm ngày tháng yên ấm của gia đình. Dù giàu sang danh vọng đến mấy mà gia đình thiếu hạnh phúc thì đời không còn ý nghĩa gì.Thế là tôi tìm được nguồn vui và yên tĩnh tâm hồn…


9.

Nhiều khi nằm bên nhau, tôi hỏi Mai:

– Sao hơn mười mấy năm sống bên nhau, chưa bao giờ em làm cho anh buồn lòng, chưa bao giờ em làm cho anh phải nổi giận. Em có khi nào buồn giận anh không?

Nàng nói:

– Sách dạy cho em biết rằng, người cho thì được nhiều hạnh phúc hơn người nhận.Không cầu thì sẽ được, không đòi thì sẽ có. Biết vui với cái tương đối mà mình đang có thì trở thành kẻ sung sướng nhất trong đời. Cho đi tình thương chân thành thì được nhận lại bằng tình thương. Nhiều người đàn bà đòi hỏi ở chồng quá đáng, ngoài khả năng của chồng. Bao nhiêu cũng không thỏa mãn cả. Họ không nhìn thấy sự hy sinh của người khác, chỉ cố bươi móc lỗi lầm cỏn con của chồng để mà trách móc, giận hờn. Làm thế không có lợi gì cả,mà chỉ là cách phá hoại hạnh phúc gia đình hữu hiệu nhất.

Tôi thành thực mà nói rằng đã học được rất nhiều điều tốt của vợ tôi. Nàng càng dịu dàng, càng thu mình nhỏ lại thì tôi càng thương yêu trang trải bù đắp cho vợ nhiều hơn. Mỗi khi đi làm về, thấy nét mặt tươi vui hân hoan của vợ, bao nhiêu mệt nhọc bực bội trong ngày đều tiêu tan. Khi tôi phạm phải lỗi lầm, hành động sai quấy, vợ tôi thường an ủi rằng mình là con người chứ đâu phải là thần thánh chi mà không có sai lầm. Ðừng buồn, cái thiệt hại này cũng là bài học tốt về sau. Những an ủi, khuyến khích tinh thần của vợ làm cho đời sống tôi nhẹ nhàng, êm ái, thư giãn, không bị dồn ép, không bị áp lực cuộc sống, không có căng thẳng gia đình như nhiều bạn bè khác. Trên bước đường tha hương, một lần vợ chồng Tuân-Lam ghé thăm chúng tôi. Tuân là bạn cũ, Lam là người xưa.Vợ tôi biết rõ mối tình cũ giữa tôi và Lam, nhưng nàng tin chồng, và rất lịch sự, vồn vã đón tiếp họ hết lòng. Có lẽ Mai cũng biết chuyện xưa của chúng tôi đã nguội lạnh từ lâu, chẳng ai còn tiếc thương chi. Tuân vẫn hiền lành phúc hậu như xưa, nét mặt chịu đựng. Ðêm khuya tôi vẳng nghe tiếng Lam đay nghiến dằn vặt chồng ở phòng bên cạnh, nói những lời thiếu lễ độ. Về sau, mỗi lần nghĩ đến Lam, lòng tôi phơi phới vì may mắn, cuộc đời không phải gắn liền với một người đàn bà như Lam. Tôi biết ơn mẹ nhiều hơn. Kinh nghiệm sống của mẹ đã giúp cho cuộc đời tôi có hạnh phúc hơn. Và tôi biết thương yêu, nể trọng vợ hơn nhiều.


10.

Một chị bạn gia đình không được hạnh phúc, hỏi vợ tôi bí quyết để được chồng thương yêu nể nang. Mai cười mà nói:

– Không có bí quyết nào cả. Chỉ có câu chuyện sau đây, tôi thuộc nằm lòng từ thời còn đi học. Chuyện ở trong sách tập đọc của Pháp. Chuyện rằng: Có một anh nông dân đem bò ra chợ tỉnh bán. Suốt ngày không bán được phải dẫn bò về. Ðường xa mệt nhọc, con bò trở chứng không chịu đi. Có người gạ đổi con bò lấy con ngựa hồng tung tăng.

Anh tưởng được ngựa sẽ thong thả dong cương ra về, nhưng con ngựa lạ chủ không chịu cho anh cưỡi và cũng trì kéo dằng dai. Một người khác dẫn con heo nái ngoan ngoãn đi qua, gạ đổi heo lấy ngựa, anh đổi liền. Ðường xa mệt nhọc, con heo cũng nằm ì không chịu đi, bí quá, anh đổi heo lấy một con dê nái. Con dê càng cứng đầu khủng khiếp, anh vật lộn với dê phờ phạc. Ðêm đã tối mịt mù, một hành khách đề nghị đổi dê lấy một con gà trống lớn.

Vừa đói, vừa khát, vừa mệt, anh ôm con gà vào quán đổi lấy bữa cơm. Thế là một bữa ăn trả giá bằng một con bò.

Ăn xong,anh nông phu thong thả ra về, vừa đi vừa ca hát khỏe khoắn. Khi về đầu làng có bạn quen hỏi đi đâu mà về khuya thế. Anh kể chuyện đi bán bò, và đổi con gà lấy bữa cơm. Người bạn hết hồn, khuyên anh khoan về nhà mà bà vợ nổi cơn tam bành lên, không khéo vợ chồng xô xát gây ra án mạng. Anh nông dân bảo rằng, chắc vợ anh cũng thấy việc làm của anh là có lý. Người bạn ức quá, đánh cá một con bò, nếu chị vợ mà không gây gổ thì anh nông dân sẽ được một con bò; còn ngược lại, phải mất lại một con bò khác. Người bạn đi theo núp bên ngoài nghe cuộc đối thoại của vợ chồng anh nông dân. Chị vợ hỏi anh, đã ăn gì chưa, đi đường có mệt lắm không, bò bán có được giá không? Anh đáp rằng đã ăn rồi, con bò không bán được mà trên đường về nó không chịu đi nên đã đổi con bò lấy con ngựa rồi. Chị vợ nói rằng, có con ngựa cũng tốt, nó sẽ kéo xe, giúp mình di chuyển mau chóng hơn. Anh chồng cho biết con ngựa không chịu cho anh cưỡi nên đã đổi lấy con heo nái. Chị vợ cũng tán thành ngay và còn dự trù con heo mùa sau sẽ sinh ra một bầy heo khác, rất có lợi. Anh chồng cho biết thêm, con heo cũng trở chứng không chịu đi nên đổi lấy một con dê cái. Chị vợ tiếp liền, là con dê cũng rất có lợi, từ nay mỗi sáng gia đình sẽ có sữa dê mà uống. Anh chồng lắc đầu và cho biết đã đổi con dê ương ngạnh lấy con gà trống lớn. Chị vợ anh nông phu tiếp rằng, có con gà cũng tốt, mỗi sáng nghe nó gáy cũng vui tai. Anh chồng bảo là buổi sáng ra đi không đem tiền theo, đói quá, đã vào quán đổi con gà lấy bữa cơm. Nghe xong, chị vợ anh nông phu đến quàng hai tay, ôm vai chồng và nói rằng, anh làm như thế là phải. Lấy của che thân, chứ đừng lấy thân che của. Ði cả ngày mệt nhọc đói khát, không ăn chịu sao nổi. Em đã để sẵn khăn, múc sẵn nước, anh đi tắm cho khỏe. Mai kết luận rằng: “Muốn được chồng thương cũng rất dễ, đừng bao giờ tranh hơn thua với chồng,việc gì đã lỡ thì cho qua luôn,vui vẻ chấp nhận,và dịu dàng, nhường nhịn chồng là yếu tố căn bản để được chồng thương.”


11.

Ngoài song thân ra, người tôi biết ơn nhiều nhất là vợ tôi. Ðời sống tôi có ý nghĩa hơn, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn nhờ vợ khôn ngoan dịu dàng. Nhiều đêm thức giấc tôi nhẹ hôn lên mắt vợ, thầm so sánh tấm lòng hiền chân của vợ với trái tim của một vị nữ thánh. Phần nàng, thì luôn luôn: “Em chỉ muốn làm cái bóng nhỏ và âm thầm bên đời anh thôi.”

Mai chưa hề đọc thánh kinh, nhưng nàng đã biết chọn chỗ ngồi thấp nhất để được nâng lên cao nhất trong lòng chồng con.

(Nguồn: DaiHocVanKhoaSG)

Tháng Tư về rồi

 


Hồ Ðình Nghiêm


Tháng Tư về rồi, tuyết tan và hoa chớm nụ. Gió hết buốt chim tụ bầy để màu trời xanh hơn. Người ta đổi giờ vì ngày sẽ dài đêm sẽ ngắn, giấc mơ sớm vĩnh biệt chăn màn nghe tiếng ho khan của cơ thể hao gầy khuấy đường cốc cà phê đen điểm tâm trước mỗi bình minh lao vào hãng xưởng tuần hoàn như kim đồng hồ gõ nhịp, chưa yên.








Tháng Tư về rồi chỉ là thứ tin tầm thường của khí tượng, mùa Ðông dài đang cuốn gói buông tha chúng ta, dẹp hết những ủng những bốt những áo lông này áo da nọ, phong phanh đưa đầu trần mà ra chơi với nàng Xuân. Xuân đến rồi xuân đến rồi, bài hát tuổi ấu thơ nức lòng được mặc áo mới giấu kín phong bao lì xì suốt đêm không ngủ vì tuổi mới chồng lấp tuổi cũ. Mai vàng nở để mỗi người phải chịu già đi một năm. Xuân chốn này lần khân chậm bước và mình đã hai thứ tóc chẳng buồn ngó quá vãng xuân thì.

Tháng Tư về rồi, đôi khi là một hung tin, mũi tên thời gian quay ngược cắm vào hồng tâm rách sâu vết thương đã từng băng bó. Ngày em ngoái đầu nhìn lúc sang ngang bỏ tôi đứng ngập chôn cùng xác pháo là một kỷ niệm. Ngày em âm thầm lên sà-lan quên tôi mãi đợi trong thành phố nhiều người di tản là một kỷ niệm khác. Ngày tôi nổi trôi vào tới được Sài Gòn để ôm khoảng trống với tin em ra bến Bạch Ðằng một tối trời là kỷ niệm quá tam ba bận.

Những kỷ niệm buồn thường chẳng chịu dừng chân. Quá tứ quá ngũ quá lục quá thất vẫn là chuyện thường ngày ở huyện. Một huyện đường xao xác những hoang đường khởi sự từ Tháng Tư.

Tháng Tư về rồi, ngồi bỏ đũa bần thần và không hết chén cơm. Canh hôm nay thất thần lỡ tay bỏ muối hơi nhiều. Biển thì mặn sao còn nuôi chi thêm hải tặc, tôi như bị trấn nước sặc sụa nghe ghe em bị chúng đón đầu. Dẫu vô thần tôi cũng làm dấu thánh, dù ngoại đạo tôi phải thốt mấy chữ Nam Mô. Không duyên nợ tự kiếp trước tôi vẫn mù quáng yêu em trong kiếp này. Yêu bởi bạc ác trùng vây đổ sóng vào một phận người. Kiếp có tháng tư bày trò dâu bể đòi đoạn những trang đời rách bươm.

Tháng Tư về rồi tôi man khai bệnh tật, bỏ chỗ làm hăm hở đi nhìn mặt em. Em cũng trốn chồng gửi con nhà trẻ.

Tháng Tư mà, em vụng về kiếm cớ, chúng ta ngồi xếp lại nếp thời gian. Này mười tám này hai mươi này quãng đời thơ mộng. Này tóc xanh này nắm tay này những vụng về. Quán ăn vắng, bàn ghế trống làm chứng giùm mọi thất thế.

Tráng miệng kem sầu riêng hay ăn cùng sầu chung? Tàn phai trôi như giọt nắng chói đọng mắt cay. Em mãn kinh, tuổi này tâm sinh lý thay đổi. Anh thích không, em trao, món quà mọn vào cuối đời. Ðời đi nhanh với duyên tình chậm lụt, tôi nắm tay em để nghịch xoay chiếc nhẫn vàng. Tờ giấy đã lỡ vo làm sao trải thẳng được? Những vết nhăn trên da thịt không là chứng tích của sự chối từ? Thôi em ạ nói chi điều muối xát, chẳng cần gừng tụi mình vẫn nhớ xin đừng bỏ nhau. Ngưng tạo nghiệp giữ tâm trong sáng, uống chén trà sen này mừng khúc tương phùng. Trên phố lạ và đôi ta cũng lạ nốt, có người bảo trong tình yêu đừng nói chữ sorry. Em lạ lùng nhìn một người quay gót, ai đặt tên dốc đứng côte des neiges? Cổ thi luận: Ví phẳng đường đời bằng phẳng cả… ừ đường riêng tôi mãi gập gềnh, gánh sao nổi anh hùng với kèn cựa hơn thua.

Thất thế métro phải chui lòng đất, giấu nhẹm con tàu u u chạy quàng xiên. Em không thích ngoại tình nhưng chúng mình cần gặp mặt, những trạm dừng cửa mở đóng rất mau. Tôi chạy như chuyến tàu không người điều khiển, viết tên em trên băng ghế vắng người. Nó sẽ phai như từng nhạt hình ảnh cũ, tháng tư nào tôi ra biển đứng vọng trông.

Sóng xô bờ y như bài tình ca của Pháp: “Aline”. Tôi vẽ xuống cát ẩm, này khuôn mặt hiền dịu kia ơi.

Không dưng gặp mặt vào chương cuối, soạn giả cải lương nào xàng xê một hậu vận, khán giả ngồi có ai lén vội chùi đi một hân hoan. Nước mắt còn chảy là một diễm phúc, trái tim nghe quặn mừng sót chút tình người. Tôi yêu em như kẻ làm vườn đi thu vén những quả rụng, mỗi nhát chổi nghe thốn ở lưng còng. Hãy hiểu cho giới hạn kia khó vượt, bây giờ Tháng Tư còn nguyên vẹn những hư hao.

Tháng Tư về rồi em gọi điện từ giã, quên quên quên tựa kẻ lạ bên đường. Ra phi trường đường chim bay một ngày xám, đến phương nào anh biết có ích gì? Ừ cũng phải, mình vuột trôi tự khởi thủy, nhạt hương mùi và ký ức nghèo thuở hoang sơ. Ði đường bình an sẽ chẳng có không tặc, bọn Thái Lan giờ cũng đã già nua.

Tháng Tư về tôi thắp cây nhang xiêu vẹo, gió gõ cửa với tiếng phong linh thì thầm. Tôi ngủ muộn cùng bóng hình em chưa siêu thoát, nếu làm ma ai sẽ đốt hương trầm cho tôi?

(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Việt Nam tung 11 tấn vàng ra thị trường trong một tháng

* Khoảng cách giá nội địa và thế giới ngày càng cao


HÀ NỘI (NV) – Chỉ trong vòng một tháng, sau hơn 10 phiên đấu giá, Ngân hàng nhà nước Việt Nam (độc quyền) đã tung ra thị trường tổng cộng gần 300 ngàn lượng vàng 9999, tương đương 11 tấn.









Vàng lượng, vàng lá hiện nay do Ngân Hàng Nhà Nước đứng chủ xị kinh doanh độc quyền. Các ngân hàng khác phải mua lại theo hình thức đấu thầu, chia nhau kiếm lời trên đầu đám người giầu có, tư bản đỏ. Các tiệm vàng bây giờ chỉ còn được kinh doanh nữ trang. (Hình:  HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)


Điều đáng lo, sau giờ kết thúc phiên thứ 10 hôm 23 tháng 4, khoảng cách giữa giá vàng Việt Nam và thế giới lại càng kéo dài: 6.3 triệu đồng, tương đương 310 đô một lượng.

Báo Tuổi Trẻ cho biết, trong phiên đấu thầu vàng thứ 10 diễn ra sáng ngày 23 tháng 4, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã bán sạch 26,000 lượng vàng lá, tương đương 1 tấn vàng. Giá mua của các ngân hàng thương mại và nhà kinh doanh vàng tại phiên này là 42.12 triệu đồng một lượng, tương đương 2,100 đô, chỉ thấp hơn giá chợ đen 30,000 đồng, tương đương 1.5 đô.  Trong khi đó, giá vàng thế giới sáng ngày 23 tháng 4 chỉ vào khoảng 1,428 đô/ounce.

Như vậy, sau thời gian giảm sụt, giá vàng ở Việt Nam đã quay đầu đi lên đáng kể. Cũng vậy, chỉ “ế ẩm” vài phiên đấu giá đầu hồi tháng qua, đến nay hầu như phiên nào thì Ngân hàng nhà nước cũng bán sạch vàng. Tuy nhiên, dư luận hầu như không hài lòng với giá vàng ở Việt Nam so với giá vàng thế giới.

Trước  đó, các nhà lãnh đạo Ngân hàng nhà nước Việt Nam tuyên bố chủ trương tung hàng tấn vàng ra thị trường dưới hình thức vàng lá để các ngân hàng thương mại và đơn vị kinh doanh vàng “ổn định giá vàng,” góp phần “làm giảm áp lực tiêu thụ vàng.”  Tuy nhiên, sau khi đã tung ra 290 ngàn lượng vàng lá, tương đương 11 tấn vàng, người ta vẫn không kềm được giá vàng trong nước tính đến sáng ngày 23 tháng 4 so với giá vàng thế giới. Khoảng cách này một tháng trước khoảng 200 đô thì đến ngày 23 tháng 4 đã là 6.13 triệu đồng, tức trên 310 đô một lượng.

Trong khi đó, cũng theo báo Tuổi Trẻ, giá đô la ở thị trường tự do chiều ngày 20 tháng 4 đã bị đẩy lên cao kỷ lục trong vòng một năm nay: 21,600 đồng/USD. Đến ngày 22 tháng 4, giá đô giảm chút ít, nhưng cũng còn rất cao: 21,300/USD.

Báo Tuổi Trẻ dẫn lời một số chuyên viên kinh tế cho rằng khoảng cách chênh lệch quá lớn giữa giá vàng ở Việt Nam và thế giới đã “kích thích” giới kinh doanh gom đô để nhập cảng vàng. Các chuyên viên này giải thích rằng đây là nguyên nhân khiến giá đô leo thang.

Dư luận còn cho hay, giá vàng và giá đô đồng thời tăng vọt cho thấy, người dân không muốn giữ tiền mặt mà muốn đổi lấy vàng hoặc đô la cất trữ.(PL)
 

Giải Mâm Xôi Vàng

 


* Phạm Thanh Nghiên


Giải “Mâm Xôi Vàng” (Golden Raspberry Awards hay Razzies) là một giải thưởng điện ảnh do John Wilson lập ra năm 1980 với mục đích làm giải thưởng điện ảnh ngược với giải Oscar, theo đó giải “Mâm Xôi Vàng” sẽ được trao cho những tác phẩm điện ảnh, các vai diễn và các hạng mục khác liên quan đến điện ảnh được coi là dở nhất trong năm của điện ảnh Hoa Kỳ. Trong tiếng Anh, “Raspberry” còn là từ thân mật để chỉ tiếng tặc lưỡi hay bĩu môi (như âm thanh khi trung tiện), tỏ ý chế nhạo hoặc khinh miệt.” (Theo Wikipedia)

Nền điện ảnh Việt Nam không thể so sánh với điện ảnh Hoa Kỳ. Không có giải Oscar, không có giải “Mâm Xôi Vàng” nhưng có những sự thật khốc liệt với những phận người vô cùng đặc biệt mà nếu được dựng thành phim, người Mỹ có lẽ rất sửng sốt.

Ðặt giả thiết có một bộ phim mang tên: “Ngài X, Ðoàn Văn Vươn và những người bạn.” Trong phim này, nhân vật trung tâm là ngài X – chủ một “Tập đoàn quyền lực” đang có tham vọng chen chân vào Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và kiếm điểm trong cuộc đối thoại Nhân quyền sắp tới với “tên đế quốc sừng sỏ” Hoa Kỳ nhằm có được những quyền lợi mà ngài muốn. Nhân vật chính của phim là ông Ðoàn Văn Vươn và những vai phụ là những người yêu công lý, trong đó có cả tôi, tác giả bài viết này, gọi chung là những người bạn của Ðoàn Văn Vươn.

Chúng ta hãy xem những ngày vừa qua, ngài X và “tập đoàn quyền lực” đã diễn bài Nhân quyền trong cuốn phim “Ngài X, Ðoàn Văn Vươn và những người bạn.” như thế nào để xét tặng cho ngài giải Oscar hay giải Mâm Xôi Vàng nhé?

Ðoàn Văn Vươn là một kỹ sư nông nghiệp. Từ nhiều năm trước, ông đã thực hiện việc quai đê lấn biển để nuôi trồng thủy sản. “Ông khởi nghiệp bằng việc bán tài sản, vay mượn bạn bè, người thân và ngân hàng, chịu nhiều thiệt hại mất mát trong quá trình lấn biển. Ðau đớn nhất là cái chết của con gái đầu tám tuổi bị rơi xuống cống chết đuối trong một lần theo bố mẹ ra đầm.” (Theo Chất Lượng Việt Nam/ Bách khoa toàn thư mở).

Tất cả những thành quả mồ hôi, xương máu của ông trong một khoảnh khắc đã trở thành tan hoang, mây khói. Vợ chồng ông Ðoàn Văn Vươn và các anh em khác của ông đã trở thành nạn nhân của một chính sách sai lầm, một âm mưu ăn cướp có hệ thống và kết quả là gia đình ông bị dồn đến bước đường cùng, bị cướp tài sản và bị đi tù với một thứ tội danh thật rùng rợn: Giết người – dù không có một ai bị chết.

Khi sự việc Ðoàn Văn Vươn bùng nổ, ngài X đã ra một thông báo, “Kết luận về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng” và ngài khẳng định: “UBND huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã có những sai phạm trong giao đất, thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất đã giao cho ông Ðoàn Văn Vươn…” Chi tiết hài hước và có thể coi như đắt giá nhất là Tòa án Hải Phòng đã chống lại kết luận trước đó của ngài X để rồi nạn nhân, người bị hại phải nhận hình phạt 5 năm tù giam.

Ba người anh em khác của ông Vươn lần lượt nhận các mức án tù về tội danh “Giết người,” cụ thể:

– Ông Ðoàn Văn Quý: 5 năm tù giam.

– Ông Ðoàn Văn Sịnh: 3 năm 6 tháng tù giam.

– Ông Ðoàn Văn Vệ: 2 năm tù giam.

– Bà Phạm Thị Báu:18 tháng tù treo, thử thách 36 tháng.

– Bà Nguyễn Thị Thương: 15 tháng tù treo, thử thách 30 tháng.

Trong khi đó, Lê Văn Hiền, Phạm Xuân Hoa, Lê Thanh Liêm, Phạm Ðăng Hoan, những quan chức cộng sản, thủ phạm chính gây ra bi kịch Ðoàn văn Vươn chỉ bị tuyên 15 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Quan chức duy nhất không được hưởng án treo như đồng sự là ông Nguyễn Văn Khanh, nguyên phó chủ tịch huyện Tiên Lãng, người từng phản đối việc cưỡng chế đất của gia đình Ðoàn Văn Vươn, bị kết án 30 tháng tù giam. Nếu tinh ý, có thể thấy trang phục của các bị cáo cũng có sự khác biệt. Anh em họ Ðoàn khi ra tòa phải mặc đồng phục của trại tạm giam còn các quan chức được mặc comple, quần âu áo sơ mi “đóng thùng” rất lịch sự.

Hành động của Tòa án HP chẳng khác nào đưa ngài X – sếp lớn của họ – rơi vào thế “việt vị” nếu phân tích theo ngôn từ của luật bóng đá. Miêu tả đúng bản chất sự việc thì đây là sự vận hành của một bộ máy yếu kém và giả dối.

Nhận xét theo góc nhìn điện ảnh thì ngài X và cả bộ sậu của ngài đã không chuẩn bị kỹ từ khâu kịch bản. Kết quả là các vai diễn đã trở nên lố bịch, diễn viên đi lại lộn xộn, va mặt vào nhau trước ống kính máy quay. Mặc dù được thông báo đây là một “phiên tòa công khai,” nhưng ngay từ nhiều ngày trước đó, chiếc mặt nạ Nhân quyền đã bị đế giầy của công an giẫm nát. Bạn bè, người thân của ông Ðoàn Văn Vươn, những người quan tâm muốn kéo đến tòa án Hải Phòng để theo dõi phiên xử đều bị lực lượng an ninh ngăn cản. Trước phiên xử Ðoàn Văn Vươn gần một tuần, nhà riêng của tôi cũng bị công an bao vây canh gác. Trong vòng bốn ngày, tôi bị chính quyền địa phương triệu tập hai lần (ngày 28 Tháng Ba và 1 Tháng Tư, 2013). Chưa kể giữa đêm khuya họ đập của đòi vào nhà “kiểm tra hộ khẩu.”

Ngay từ sáng sớm ngày 2 Tháng Tư, Hải Phòng chìm trong một bầu không khí sặc mùi khủng bố. Gần mười chiếc xe khách chở bà con dân oan đến phiên tòa để ủng hộ ông Ðoàn Văn Vươn đã bị chặn ngay tại cửa ngõ vào thành phố. Nhiều người bị xua đuổi, thậm chí bị đàn áp, đánh đập, bắt giữ hàng giờ đồng hồ khi tìm cách tiến đến khu vực tòa án. Trong số những người bị bắt giữ có bà Bùi Thị Minh Hằng, ông Trương Dũng, ông Nguyễn Chí Ðức, một số bạn trẻ khác. Nghiêm trọng nhất, ông Trương Dũng đã bị những kẻ “bảo vệ phiên tòa” đánh đập dã man đến nỗi phải nhập viện. Trong lúc ông Trương Dũng nhập viện, rất nhiều công an (cả sắc phục lẫn thường phục), dân phòng canh gác bên ngoài, gây khó khăn cho việc chữa trị cũng như việc thăm hỏi ông Dũng. Theo thông tin được lan truyền trên mạng xã hội, trưa hôm sau ông Dũng đã bị… quẳng ra bến xe buộc phải trở về Hà Nội trong tình trạng vô cùng đau đớn và hoàn toàn bị cô lập bởi điện thoại của ông đã bị tước mất.

Việc bắt bớ và phong tỏa không chỉ diễn ra quanh khu vực tòa án. Hàng chục công an (đa số mặc thường phục) được trang bị cả xe cảnh sát, máy bộ đàm cầm tay đổ bộ tới khu vực nhà tôi nhằm ngăn cản những người bạn từ phiên tòa ghé thăm tôi vốn đang bị tù tại gia. Một số phương tiện giao thông như ôtô, xe taxi đều không được phép đi vào khu vực này. Sáng ngày mùng 2 Tháng Tư, hai anh Ngô Nhật Ðăng và Nguyễn Lân Thắng bị bắt ngay đầu ngõ. Chiều cùng ngày, hai người khác là ông Ðỗ Viết Kết và anh Nguyễn Việt Hưng cũng bị bắt ngay tại cổng. Cả bốn người đều không thể vào nhà và bị bắt với cùng một lý do dám “đến thăm người từng bị đi tù và đang bị quản chế.” Họ chỉ được thả khi đã chịu thẩm vấn hàng giờ đồng hồ tại trụ sở công an phường Ðông Hải 1, quận Hải An.

Nạn nhân tiếp theo là Nguyễn Hoàng Vi, một blogger rất nổi tiếng. Cô là một trong bẩy phụ nữ được Tổ chức IFEX vinh danh vì đã có những “nỗ lực tranh đấu cho quyền tự do phát biểu” và là người đứng đầu trong bản Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do. Có khoảng hai chục công an chờ sẵn ngoài cổng và bắt Hoàng Vi đi trong khi một toán khác dùng vũ lực đẩy tôi vào nhà. Một người trong số đó đã đe dọa hành hung tôi đồng thời hắn buông những lời chửi rủa rất tục tĩu, giơ tay cướp máy chụp hình nhưng không thành. Trong quá trình chịu thẩm vấn tại đồn công an, Hoàng Vi đã bị “tịch thu” thánh giá, thu máy điện thoại và một số đồ dùng khác.

Như vậy chỉ trong vòng hai ngày, đã có năm người bị bắt chỉ vì tới thăm tôi. Khi tôi gõ những con chữ này thì vừa hay tin anh Nguyễn Chí Ðức, (người từng bị bắt giữ hôm mùng 2 Tháng Tư) bị đánh trọng thương phải nhập viện.

Trên các mạng xã hội, nhiều người không ngần ngại khẳng định thủ phạm gây ra vụ việc là mật vụ cộng sản. Chí Ðức là một người khá nổi tiếng không chỉ vì lá đơn xin ra khỏi đảng. Hình ảnh anh hứng trọn một cú đạp vào mặt khi đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược hồi năm 2011 được loan tải rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Người công an tên Minh vì “thành tích” này cũng trở nên nổi tiếng.

Ðã hai tuần liên tiếp tôi không thể ra khỏi nhà, cũng không ai được tới thăm. Một người hàng xóm mua đồ ăn sáng cho tôi đã bị công an chặn lại với câu hỏi đầy đe dọa: “Có muốn ra phường ngồi không?” Ðiều gì sẽ xảy ra nếu tôi ở một mình trong tình trạng hoàn toàn bị cô lập, khủng bố nhiều ngày?

Câu chuyện về một gia đình có tới ba cha con là những nhà hoạt động nhân quyền trở thành nạn nhân của sự vi phạm nhân quyền trầm trọng: Gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn. Con gái út của ông, cô Huỳnh Khánh Vy mới sinh nở liên tục bị đe dọa, gây khó khăn trong cuộc sống và trong công việc chỉ vì là “con gái của một nhà bất đồng chính kiến.” Con trai ông, anh Huỳnh Trọng Hiếu bị cấm xuất cảnh ngoài lý do trên còn vì những bài viết thể hiện quan điểm trái với đảng cộng sản. Sự việc trở nên tồi tệ khi nửa đêm ngày 3 Tháng Tư, những kẻ lạ mặt đã ném chất bẩn vào nhà ông. Trong bài viết tường trình lại sự việc trên, Huỳnh Thục Vy, con gái cả của nhà văn đồng thời là một nhân vật tranh đấu rất nổi tiếng đã khẳng định đây là “trò bẩn của an ninh cộng sản.”

Không biết ngài X và “Tập đoàn quyền lực” của ngài có giành được ưu thế trong cuộc Ðối thoại Nhân quyền sắp tới với Hoa Kỳ và thực hiện được ước mơ trở thành thành viên trong Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc hay không? Nhưng xem ra, vai diễn Nhân quyền của ngài đã quá vụng về, chỉ xứng với giải Mâm Xôi Vàng mà thôi.

Thành thật chia buồn cùng ngài X!

(Nguồn: Tác giả gửi qua sangtao@org)

Số nhà mới bán ra tăng 1.5% trong tháng 3

NEW YORK (Bloomberg)Số nhà mới làm cho một gia đình bán được trong tháng 3 là 417,000 căn, con số điều chỉnh theo mức toàn, năm nghĩa là tăng 1.5% với 411,000 tháng 2, theo báo cáo của bộ Thương Mại đưa ra hôm Thứ Ba.










Một căn nhà đang xây dựng. (Hình: Bloomberg via Getty Images)


Số nhà bán được trong ba tháng đầu năm nay trung bình 424,000 là thành tích cao nhất trong một quý kể từ quý 3 năm 2008, chứng tỏ sự hồi phục kinh tế được tiếp tục duy trì.

Ward McCarthy, trưởng ban kinh tế tài chính của Jefferies LLC ở New York nhận xét: “Khu vực địa ốc tiếp tục là điểm sáng trong nền kinh tế”, ông nói tiếp: “Số nhà sẵn có hãy còn ít nghĩa là các nhà xây dựng sẽ tiếp tục làm thêm”.

So với tháng 3 năm ngoái, nhà được bán tăng 17.6% và giá tăng 3% lên tới $247,000.

Hai trong bốn vùng có số nhà bán tăng lên trong tháng 3, 20.6% ở miền Đông Bắc và 19.4% ở miềm Nam. Tại hai vùng khác, số bán giảm xuống, 20.9% ở miền Tây và 12.1% ở miền Trung Tây.

Cho đến cuối tháng 3,  còn 153,000 căn sẵn sàng để bán; với mức độ xây cất và bán ra hiện nay tình trạng sẽ tiếp tục tồn tại trong 4.4 tháng. Tuần trước bộ Thương Mại đã cho biết số nhà xây dựng 1.04 triệu trong năm là sự gia tăng nhanh nhất kể từ tháng 6 năm 2008.

Hiệp hội địa ốc quốc gia cho biết số những nhà cũ bán trong tháng 3 ở mức 4.92 triệu tháng 3, thấp hơn con số 4.95 triệu tháng trước. (HC)

Hàng hóa ở Việt Nam cái gì cũng giả


*Từ bột giặt, trang bị nội thất đến gốm sứ đời… Trần
 
HÀ NỘI (NV).- Tung hàng ngàn món vật liệu xây dựng “dởm” của Trung Quốc gắn nhãn “Made in Japan” ra thị trường bán với giá gấp đôi, thương gia đang hưởng siêu lợi nhuận nhờ qua mặt người tiêu thụ.


 





Trang bị nội thất “dởm” gắn mác “sịn” bán đầy thị trường Hà Nội. (Hình: báo Tiền Phong)
 

Cuộc bố ráp hàng giả tại quận Hai Bà Trưng chiều ngày 22 tháng 4 kéo dài nhiều tiếng đồng hồ của công an Hà Nội đã phát giác không dưới 5 tấn hàng vật liệu xây dựng như vòi tắm hoa sen, lavabo… “dởm.”

Tất cả số hàng này đều gắn nhãn “hàng hiệu” như Inax, American Standard, Viglacera “Made in Japan,” nói là của công ty thương mại D.H. đặt văn phòng tại Hà Nội nhập về. Tuy nhiên, theo báo Tiền Phong, cuộc điều tra sau đó giúp xác định rằng tất cả đều là hàng Trung Quốc.
 
Lục soát kho hàng của công ty D.M. tại phố Kim Đồng, Hà Nội, người ta tìm thấy rất nhiều bộ vòi sen cùng với tem, nhãn, cả tem “chống hàng giả” dùng để dán lên hàng giả. Công an Hà Nội cho biết, số hàng giả nói trên trị giá ít nhất một tỉ đồng, tương đương 50,000 đô. Đây là giá thực nhập từ Trung Quốc. Đưa hàng “dởm” ra thị trường bán với giá gấp đôi, nhà kinh doanh lời trung bình mỗi món khoảng 1 triệu đồng, tương đương 50 đô, – con số không hời.
 
Giám đốc công ty D.M. – ông Nguyễn Văn Hiểu, cư dân quận Hoàng Mai thú nhận đã đặt các công ty ở Trung Quốc sản xuất các loại sản phẩm trên, vận chuyển về kho ở Hà Nội. Sau đó, ông Hiểu thuê công nhân lắp ráp, dán nhãn, biến thành hàng Nhật rồi tung ra thị trường. Theo một số nhà chuyên môn, hàng giả giống y như thật, nên “chỉ có mua lầm chứ bán không lầm.”
 
Đến 10 giờ sáng ngày 23 tháng 4, người ta lại tìm thấy hàng trăm bình rửa chén “dởm,” được “sản xuất” tại một căn nhà ở phường Long Bình, thành phố Biên Hòa do bà Nguyễn Thị Thêm, cư dân Thái Bình làm chủ. Theo báo Thanh Niên, đây là “cứ điểm” của ổ sản xuất các loại nước xả, nước rửa chén, bột giặt… “dởm.”
 
Bà Thêm – chủ nhà, thú nhận đã mua các loại sản phẩm thật mang về pha thêm nước lạnh, hóa chất, sau đó đóng chai, dán nhãn y như thật rồi đóng thùng mang đi tiêu thụ. Đội quản lý thị trường Đồng Nai tịch thu hàng trăm chai nước xã, rửa chén, bột giặt “dởm” thành phẩm suýt chút nữa được tung ra thị trường.
 
Báo Thanh Niên còn cho biết thêm, hàng giả cổ bán đầy chợ Viềng, thị trấn Nam Giang, tỉnh Nam Định. Các loại hàng này được bày bán tại 100 quày, sạp, được giới thiệu là đồ gốm, đồ đồng, đồ sứ… được sản xuất từ thời… Lê, Lý, Trần cho đến thời Nguyễn. Các chủ sạp còn khoe có cả đồ cổ đời Thanh, Trung Quốc.
 
Tuy nhiên, theo một hội viên Hội Cổ vật ở tỉnh Nam Định, chỉ có khoảng 20% hàng hóa ở đây là cổ thật, còn lại đều là “giả cổ.” Vì không thể phân biệt được thật – giả nên nhiều người vung tiền ra mua lấy đồ “dởm” mang về nhà.
 
Ông Trần Trung Hưng, hội viên Hội Cổ vật Thiên Trường cho biết, người làm hàng giả rất khéo, có thể khiến người ta mua lầm một chân đèn bằng đồng ố “hàng trăm năm tuổi.” Ông Hưng nói thêm, không ít người mua nhầm chiếc chum lấm lem bùn, tưởng cổ vật vừa được đưa lên từ lòng đất chứ không biết đó là sản phẩm của nền kỹ nghệ “phục chế.” Theo ông, có người mới chơi đồ cổ đã ngậm đắng nuốt cay khi biết ra món đồ cổ mình mua lầm chỉ đáng giá vài chục ngàn mà ông đã bỏ ra tới hàng triệu để mua lấy. (PL)  
 


 

Ý kiến độc giả ‘Biết tỏ cùng ai’

LTS: “Biết Tỏ Cùng Ai” do cô Nguyệt Nga và anh Vân Tiên phụ trách, nhằm mục đích góp ý, chia sẻ những ưu tư, vướng mắc về những vấn đề liên quan đến cuộc sống, đời thường mà quý vị không biết tỏ cùng ai. Thư từ xin gửi về: Người Việt (Biết Tỏ Cùng Ai), 14771 Moran St. Westminster, CA 92683, hay email: [email protected]


Bài: ‘Cũng tại em, anh muốn có con mà em không chịu’




*Bà Ba Cháo Lòng:


Tui xin góp ý kiến của tui, đây là kinh nghiệm bản thân, ông xã tui cũng y chang như vậy, nói nào ngay mới đọc tui cứ tưởng ai nghịch chơi phá tui đó chớ. Nhưng biết là mình nghĩ sai vì tui đã bỏ tám ngoánh rồi. Ban đầu cũng nói hay ho như vậy, anh không bỏ em đâu, cái con đó nó cố tình hại anh, nên lỡ bị dính. Nói thì như vậy nhưng lỡ thì lỡ một lần thôi chớ, đây cứ hàng năm lỡ đều đều, Đến đứa thứ hai và đang có bầu đứa thứ ba thì tui cho đi luôn cho rãnh việc. Tui ly hôn và chia hai mọi thứ coi thử có kham nổi cô kia và bầy con dại không? Cái cảnh này quá quen thuộc, nên quý bà nào có đi kèm chồng về Việt Nam thì đó không phải là chắc chắn đâu, hở tí là nó chớp hở tí là nó chợp, mình tình ngay không đề phòng là chết. Chỉ 5 phút hở ra là xong đời, tụi con gái Việt Nam nó rình mà, người ngay thì chịu chết thôi. Cách hay nhất là ông đi tui đi sát bên hông, ông đứng tui đứng cạnh, ông ngồi tui ngồi vào lòng, vậy mà còn chưa chắc ăn nữa là. Mấy cái con đó nó dụ hay lắm, cái mững: em muốn có một đứa con để kỷ niệm tình đôi ta, rồi thì em nuôi con, thề không bao giờ làm phiền anh, hễ biết có bầu là em sẽ đi xa. Em chỉ muốn giữ lại hình ảnh, giọt máu của anh lại cho em mà thôi. Câu này quen lắm, ông nào cũng nghe, nhưng ông nào cũng tưởng trường hợp mình khác người kia. Ô hô đến khi úm ba la thì xong rồi.


Cứ bỏ quách là xong mọi thứ, đừng có nghe cô Nguyệt Nga mà mất thì giờ




Bài: ‘Anh chỉ muốn sống với em, nhưng anh lỡ…’




*Ngọc Vân


Trước hết mình xin chia sẻ với bạn về nỗi buồn phiền mà bạn đang gặp. Theo mình nghĩ, vợ chồng mà mỗi người sống một nơi trong một thời gian quá dài thì những chuyện đáng tiếc như trường hợp của bạn rất dễ xảy ra, nhất là khi vợ chồng còn trẻ. Mình nghĩ có thể lý do mà bạn vui vẻ đồng ý để cho anh ấy vẫn tiếp tục sống bên Việt Nam một mình là vì bạn rất tự tin vào bản lãnh của bạn, bạn tin là anh ấy không thể nào có người phụ nữ khác vì bạn là người vợ quá xuất sắc. Nhưng qua kinh nghiệm của mình, mình thấy phần lớn đàn ông rất dễ bị lay chuyển, nhất là khi họ có quá nhiều thời gian rảnh hoặc khi họ cô đơn.


Trong bài, bạn nói là anh ấy khăng khăng là anh ấy lỡ và anh ấy chỉ yêu bạn. Vậy thì nếu như bạn cũng vẫn yêu thương anh ấy thì bạn phải làm mọi cách để anh ấy qua Mỹ sống chung với ban. Tha thứ và để cho anh ấy vẫn tiếp tục ở bên Việt Nam  thì nhất định không phải là biện pháp để giải quyết vấn đề. Còn về việc đứa con riêng của anh ấy thì anh ấy phải có trách nhiệm gởi tiền về nuôi dưỡng.


 

Khu Rừng Lau (Kỳ 140)

Kỳ 140


Khiết tiếp:

– Tôi từ chức chánh văn phòng, nói với hắn: “Anh quan niệm như vậy tôi không thể hợp tác với anh được!” Chính phủ Liên Hiệp thành lập xong, cử một phái đoàn thiện chí sang Trùng Khánh yết kiến Tưởng Giới Thạch, chúng tôi dùng áp lực bắt Việt Minh phải để cho ông Bảo Ðại cùng đi nói là để thêm uy tín và càng sáng tỏ thiện chí, kỳ thực để sẽ tôn ông lên làm “minh chủ” làm bình phong cho một mặt trận quốc gia thống nhát sau này, như thế tiện bề ngoại giao với liệt cường bên thế giới tự do. Ðại biểu các đoàn thể quốc gia sẽ tùy theo phương tiện mà từ các ngả đổ về tạp trung tại Nam Kinh.

Một số lớn đại biểu Quốc Dân Ðảng theo quân đội rút lui từ Yên Bái tới Lao Kay để rồi tới Nam Kinh bằng con đường ngang qua Côn Minh.

Một đại biểu tham chính thì dùng đường hàng không từ Hà Nội qua Côn Minh, qua Trùng Khánh, sẽ gặp ông Bảo Ðại ở đây, cố thuyết phục ông tới Nam Kinh phó hội.

Một toán đại biểu khác đi đường Móng Cáy, qua Ðông Hưng, rồi tới Nam Kinh bằng con đường ngang qua Ngô Châu.

Một toán đại biểu khác nữa đi đường Lạng Sơn qua Liễu Châu để tới Nam Kinh.

Còn toán do tôi cầm đầu thì rời Hải Phòng bằng đường thủy, qua Hương Cảng, tới Thượng Hải, rồi từ Thượng Hải chúng tôi tới Nam Kinh bằng xe hỏa.

Khiết mím môi gật gù nhưng chưa nói tiếp, Hãng hỏi:

– Các anh gặp ông Bảo Ðại ở Nam Kinh?

Khiết lắc đầu:

– Không, ông không đến.

– Sao thế?


Hiển hỏi:

– Vì Ủy Ban Giải Phóng của ông thành lập với cụ Trần Trọng Kim không được thống chế Tưởng Giới Thạch và Tướng Marshall ủng hộ.

– Vì sao thế anh? vẫn lời Hiển.

– Dạo đó Mỹ còn ngây thơ lắm, tin ông Hồ là người có tinh thần quốc gia. Biết cơ sự như vậy, ông Bảo Ðại rời Trùng Khánh về Hương Cảng, nơi đây hình như ông nhờ Anh trung gian cho tiếp xúc với Pháp, không phải ông muốn đầu hàng Pháp mà là muốn tìm một giải pháp dung hòa nào đó.

– Còn các anh ở lại Nam Kinh?

– Chúng tôi tiếp tục chờ đại biểu các đoàn thể kháng chiến quốc gia từ miền Nam tới để chuẩn bị thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc. Trong thời gian đó, một lần chúng tôi thành lập một phái đoàn nhỏ, đệ cử một vị lão thành cách mạng làm trưởng đoàn, cùng đến Trùng Khánh xin yết kiến thống chế Tưởng Giới Thạch để tỏ bày lập trường cùng mọi lẽ thiệt hơn, mong được sự ủng hộ tích cực hơn của Quốc Dân Ðảng Tàu. Tới gặp được thống chế Tưởng Giới Thạch thì vị lão thành của chúng ta – người rất đạo đức nhưng quá thật thà và còn cổ quá – khề khà nói: “Ít khi được dịp gặp Tưởng Tổng Tài, nay được hân hạnh đó xin có một bài thơ tặng Tưởng Tổng Tài.”

Thống Chế Tưởng Giới Thạch tuy ngạc nhiên nhưng cũng cười xã giao đợi nghe. Rồi đọc thơ, rồi vài lời giải thích thêm ý nghĩa. Thời gian tiếp khách đã được án định trước, đến giờ viên Sứ Trưởng – tựa như trưởng ban nghi lễ của ta – ra thựa nhỏ với Tưởng Thống Chế là phái đoàn Tây Tạng hiện đương đợi được yết kiến. Thế là việc chính chưa bàn được máy, coi như viên gạch nhỏ ném mất hút xuống sông sâu.

Mọi người vẫn yên lặng theo dõi câu chuyện Khiết thuật với một nhịp điệu trầm buồn.

Tiếng Kha:

– Rõ hoài!

Khiết cải chính:

– Chẳng hoài đâu, ở Nam Kinh một thời gian tôi đã có dịp quan sát, nghe ngóng và thấy rằng Quốc Dân Ðảng Tàu đã hủ hóa quá rồi. Một anh tỉnh trưởng mới lên – tỉnh bên họ lo bằng cả nước mình – thôi thì mang cả họ hàng làng nước đặt vào guồng máy chính quyền, ấn hành tiền tệ mới, thu vét vàng về… cứ như thế, tại mỗi miền mỗi lần thay đổi người cầm đầu, là toàn thể cánh cũ lật nhào, quan tân chế độ tân mà! Nhưng thôi việc mình mình cứ làm, chúng tôi vẫn chuẩn bị thành lập Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Toàn Quốc Toàn Quốc. Trong khi chờ đợi tôi viết báo, viết cho Courrier de Shanghai và North Chiana Morning Post (Hoa-Bắc Chiêu Báo). Tôi vừa làm cái thoi liên lạc với các anh em giữa Nam Kinh với Thượng Hải vừa làm quản lý cho cả hai nơi, vì vậy tôi cũng biết kinh doanh tí ti. Nam Kinh có món hàm-ạp, vịt muối để hấp với xôi, ngon nhất thế giới; mỗi khi từ Nam Kinh đi Thượng Hải tôi mang theo vài tá hàm-ạp, cứ bán hết mười hai con như vậy thì được lãi hai con; ở Thượng Hải về Nam Kinh tôi mang theo gấm Thượng Hải, dạ Thượng Hải…

Tin mới cập nhật