Trận đánh cuối cùng

 


Ðào Vũ Anh Hùng/Người Việt Utah


Ngày 13 tháng 6, 1996, hãng thông tấn Reuter đánh đi một bản tin về Nguyễn Thành Trung, phi công A-37 của Không Lực VNCH đã lấy máy bay xạ kích dinh Ðộc Lập và hướng dẫn hai chiếc A-37 khác đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất chiều ngày 24 tháng 4, 1975, ngày hấp hối của miền Nam Việt Nam.








Di tản ngày 29 tháng 4, 1975, tấm hình tác giả chụp từ trên cockpit của chiếc trực thăng cảnh phu nhân tác giả đang bế cháu thứ nhì, Quỳnh Hà, 11 tháng tuổi cùng một vài bạn đồng đội chở ra đáp Ðệ Thất Hạm Ðội buổi trưa ngày 29 tháng 4.

Bản tin cho biết, Nguyễn Thành Trung, phi công chiến đấu của KLVNCH được huấn luyện tại Hoa Kỳ từ năm 69 tới 72, là hoa tiêu trưởng phi cơ của Hàng Không Việt Cộng, năm 1995, đã lái chiếc Boeing 767 chở tên chủ tịch nhà nước Lê Ðức Anh qua New York dự ngày kỷ niệm thứ 50 của Liên Hiệp Quốc. Trả lời cuộc phỏng vấn của thông tín viên Reuter tại Tân Sơn Nhất, Nguyễn Thành Trung kiêu hãnh nói, “Năm ngoái tôi bay trở lại Hoa Kỳ, đến Nữu Ước bằng chiếc phi cơ này, đáp tại phi trường Kennedy với máy bay riêng của chúng tôi, mang huy hiệu và sơn cờ riêng của chúng tôi, đến thẳng đất Mỹ!” (Last year, I flew back to America, to New York, in this aircraft, with our logo, with our flag, to the American land, he says proudly – Reuter).

Nguyễn Thành Trung, tên Việt Cộng nằm vùng được địch gài trong hàng ngũ chúng ta. Trung đã góp phần gây hoang mang, làm sụp đổ tinh thần chiến đấu của quân dân miền Nam, gián tiếp đầy đọa, giết hại anh em đồng đội trong các trại tù cải tạo để đổi lấy vinh thân, được Việt cộng tưởng thưởng công lao phản nghịch đó bằng địa vị hôm nay.
Cuộc oanh kích dinh Ðộc Lập và sau đó, phi trường Tân Sơn Nhất chiều 28 tháng 4, 1975 của năm chiếc phi cơ A-37, đã được Việt cộng tuyên dương như một chiến tích anh hùng. Hàng năm, đến ngày 30 tháng 4, báo chí của chúng đều nhắc đến cái gọi là “thành tích lịch sử” của Phi Ðội Quyết Thắng do Nguyễn Thành Trung dẫn đầu với một phi công A-37 khác của Không Lực VNCH là Trần Văn On, cùng bọn giặc lái Việt cộng Từ Ðể, Mai Vượng, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng. On và Xanh là hai phi công VNCH, tù binh bị Việt cộng bắt ở Ðà Nẵng, ép buộc phải thi hành công tác huấn luyện cấp tốc cho giặc lái MIG Việt cộng, để theo Nguyễn Thành Trung bay vào đánh Saigon.

Bài tường thuật đăng trên tờ Lao Ðộng của Việt cộng xuất bản ngày 2 tháng 5, 1996 cho biết Phi Ðội Quyết Thắng do Nguyễn Thành Trung bay ở vị trí số một, vừa là chỉ huy “Biên đội” (Phi đội), vừa là người dẫn đường. Bay số hai là Từ Ðễ (con trai giáo sư Từ Giấy, Ðại học Tổng Hợp Hà Nội), hiện đeo quân hàm Ðại tá ở Bộ Tham Mưu Không Quân Cộng sản. Bay số ba là Nguyễn Văn Lục, Phó chỉ huy Biên đội. Số bốn là Hán Văn Quảng, hiện là Ðại tá Sư trưởng Sư đoàn Không Quân của chúng. Máy bay số năm có hai người: Mai Vượng, quê ở Diễn Châu, Nghệ An (đã chết năm 1976) và Trung úy phi công “Ngụy” Trần Văn On.

Bọn giặc lái Việt cộng (Lục, Ðễ, Quảng, Vượng) từ trước đến nay chỉ quen với máy bay MIG-17 của Nga, chưa từng biết tới A-37 của Mỹ bao giờ. Giặc lái Việt cộng vào Ðà Nẵng từ ngày 22 tháng 4, 1975 để học lái A-37 cấp tốc trong vòng năm ngày. Nguyễn Văn Lục cho biết y chỉ bay tập được ba chuyến trong năm ngày đó. Lục nói, “Các bộ phận điều khiển của máy bay A-37 toàn là tiếng Anh, anh em chúng tôi nhờ người dịch ra tiếng Việt, rồi cắt giấy dán đè lên tiếng Anh để biết mà xử dụng…”

Tư Lệnh Không Quân Việt cộng thời đó là Lê Văn Tri, thiếu tướng, đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho bọn Lục. Y khoe, “Sau chiến thắng trở về, đồng chí Ðinh Ðức Thiện gặp chúng tôi, nói rất vui, “Chúng mày rất giỏi. Lính tao chuyển loại xe ô-tô cũng phải mất năm ngày, huống gì là máy bay của chúng mày… Giỏi, giỏi lắm!”…

Cái “giỏi lắm” của bọn giặc lái Việt cộng Từ Ðễ, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng là cái giỏi… “nói phét”! Việt cộng tổ sư nói phét không biết ngượng là gì trong bất cứ ngành nghề, giai cấp nào của chúng. Tên tướng Không quân Việt cộng xuất thân từ giới lơ xe đò Ðinh Ðức Thiện khen ngợi bọn Lục “giỏi lắm” chỉ là thói quen “mèo khen mèo dài đuôi” của bọn “đỉnh cao trí tuệ” mà anh em tù cải tạo ai cũng biết. Việt cộng làm gì cũng tự cho là giỏi. Không thấy ai khen, chúng tự vỗ tay khen chính mình, khen líu lo nồng nhiệt không biết ngượng thì cái chuyện anh Thiện khen em Lục chẳng có gì là lạ!

Ðể biết rõ cái “giỏi lắm” của những chiến sĩ “người lái anh hùng” nhãn hiệu Vi-Xi thế nào, mời bạn đọc hãy cùng chúng tôi đọc truyện ngắn “Trận Ðánh Cuối Cùng” của văn sĩ Hữu Mai viết ca tụng “anh hùng” Nguyễn Thành Trung và các đồng chí giặc lái Vi-Xi của y một cách trơ trẽn vô duyên trong tuyển tập “Văn 1957-1982” do Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số kỷ niệm lần thứ 25, xuất bản năm 82, để thấy trình độ nói phét của Vi-Xi nó “siêu” đến chừng nào mà cười đau khóc hận cho vận số hẩm hiu đất nước…

***

Hữu Mai mở đầu “Trận Ðánh Cuối Cùng” bằng câu “Một ngày thật dài…” Y cho biết buổi sáng hôm đó còn ở Gia Lâm, có lệnh đi công tác ngay bằng chiếc IL-18. Ði người không và một giờ sau đáp phi trường Ðà Nẵng. Hữu Mai viết theo thể văn tự thuật, dùng chữ “chúng tôi” nên người ta có thể hiểu y chính là một trong những tên giặc lái Vi-Xi được cử vào Nam làm cái “Mission Impossible” này và viết bài tường thuật. IL-18 là phi cơ vận tải như C-47 của Không Quân miền Nam. Y nói “lần này chúng tôi đi công tác người không” – chắc là cho nhẹ, để chuyến về còn chở theo chiến lợi phẩm “hia” được của miền Nam “phồn vinh giả tạo.” Có lẽ bọn y không mang theo cả vỏ cau khô đánh răng, khăn mặt hay cơm nắm muối vừng làm chi cho nặng. Hữu Mai chắc ăn, không cần bắt chước đàn anh Khổng Văn Tuyết ngày xưa.. tay đôi không chiến với máy bay “Con Ma” (Phantom) hay “Thần Sấm” (Thunderbolt) của đế quốc Mỹ xâm lược. Anh hùng Khổng Văn Tuyết bay phi cơ MIG đem theo cơm nắm muối vừng, một ấm nước vối và cả cái điếu cầy lên trời, tắt máy phây phả nằm gác chân chữ ngũ mai phục trong mây, đợi từ sáng tới chiều cho khỏi tốn xăng, khi thấy phi cơ Mỹ tới là mở máy nhào xuống bắn hạ cái một…!

Bọn giặc lái Vi-Xi hạ cánh xuống phi trường Ðà Nẵng sau một giờ bay. Sân bay Ðà Nẵng “rộng và dài hun hút” được Hữu Mai mô tả là “siêu cấp,” hơn gấp bội phi trường Gia Lâm của miền Bắc anh hùng. Cái phi trường Gia Lâm của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Ðộc Lập Tự Do Hạnh Phúc, theo lời cậu Trác “Thuốc Lào” phi công C-130 kẹt lại, đã từng bay chở cán bộ, bộ đội Vi-Xi từ Bắc vào Nam công tác và chở đồ thổ phỉ gồm cả kẽm gai, tôn gỗ và… ghế đá công viên từ Nam ra Bắc; sau còn được trưng dụng dạy bay và dạy Ðịa huấn cho bọn giặc lái Việt cộng trước khi “thầy” bị cho đi tù cải tạo. Hồi vượt biển qua Mỹ, cậu Trác đã kể lại với kẻ hèn này rằng:
– Phi trường Gia Lâm vắng như nghĩa địa bỏ hoang, cỏ tranh mọc cỡ đầu người… Tớ đáp xuống, thấy bộ đội lũ lượt từng đoàn vác liềm vào cắt cỏ tranh rồi gồng gánh đi ra… Sau đó lại một bầy dân chúng kéo vào mót những đám tranh còn sót lại! Phi trường này cũng như phi trường Bạch Mai không có đài Kiểm soát Không Lưu. Mỗi lần có máy bay ngoại quốc đến, chúng nó mướn một thằng Air Traffic Control người Nhật nói tiếng Anh vào hướng dẫn cho phi cơ đáp hoặc cất cánh xong rồi về.

Nên chi nhìn thấy phi trường “siêu cấp” Ðà Nẵng, bọn pilot Việt cộng cứ nghệt mặt ra. Hữu Mai cho biết, “Ngay sau khi đáp xuống Ðà Nẵng, có đồng chí tham mưu trưởng đứng đợi bên chiếc A-37 sơn màu vằn vện, hình thù dữ dội, giống như một con thú rừng chưa thuần hóa.” Ðàn anh ra lệnh cho các đàn em tập buồng máy ngay, “chỉ có từ ba đến năm ngày chuẩn bị.”

Màn tập tành “ba đến năm ngày” này quả là chuyện phong thần. Nhưng ai không làm được chứ Vi-Xi cái gì mà làm không được? Không làm được bằng chân tay, trí óc, các con làm bằngà mồm! Hữu Mai viết, “Nếu trước đây có ai nói như vậy thì đó là nói đùa. Trong chiến tranh, những lần chuyển loại máy bay gấp gáp nhất cũng phải mất ba tháng. Không thể đùa với máy bay. Ở trên không, không có điều kiện để rút kinh nghiệm cho những sai lầm…”

Nói vậy cho nổi bật cái khả năng thần thánh của con người cộng sản ”siêu cấp” và để bọn Ngụy nghe mà sợ chơi. Câu nói trên là áp dụng cho việc chuyển loại phi cơ cộng sản thôi đấy, mà cũng cần tới ba tháng là tối thiểu. Vậy mà các “đỉnh cao trí tuệ” chỉ cần từ ba tới năm ngày, nghe phát rét. Huống hồ bọn giặc lái Vi-Xi tiếng Anh tiếng U không biết một mẩu, ngoài ba tiếng “oẳn tù tì“à! Hữu Mai viết, “Mỗi feet bằng bao nhiêu đơn vị đo lường của ta nhỉ? Làm thế nào hiểu được hết những tiếng Anh trong buồng lái để khỏi phải nhớ các công-tắc, các đồng hồ bằng vị trí của chúng?…”

Cái này phải hỏi cậu Trác Thuốc Lào, tự nhà văn KQ Trác Vũ. Cậu Trác Thuốc Lào một lần chịu không nổi những quả… ngu của lũ giặc lái con cháu lão Hồ, đã buột miệng chửi thề, xém bị mất cái chỗ đội mũ vì lỡ “hỗn,” lỡ coi thường các đấng đỉnh cao trí tuệ. Cậu Trác kể:

– Phi công Việt cộng, chúng nó từng qua Nga học bay MIG. Nhiều đứa ở Nga đến 6, 7 năm mà khi về nước vưỡn đếch biết nói tiếng Nga La Tư mới tếu! Bọn chúng nó đi học, có thông dịch viên đi kèm theo để theo dõi, kiểm soát… Trong lớp thầy dạy gì, kệ bố thầy, chúng không cần nghe vì khi về phòng có thằng thông dịch lại… Tớ bỏ công dịch tất cả sách kỹ thuật tiếng Anh ra tiếng Việt, dạy chúng nó hoàn toàn bằng tiếng Việt. Thế mà mình đọc, chúng không hiểu. Ðánh vần đi đánh vần lại từng chữ như dạy trẻ con i-tờ-rít, chúng nó vẫn không biết viết ra làm sao. Tớ lập đi lập lại, bọn chúng vẫn ngớ ra như chúa tàu nghe kèn, mặt đần độn trông phát giận… Một lần, nhịn không được, tớ buột miệng chửi thề, “ÐM, sao các anh ăn gì mà ngu quá vậy?” Mình quen mồm như trước đây đùa giỡn với bạn bè… Chúng nó sừng sộ hỏi tội làm tớ xanh mặt.

Kẻ hèn này hồi đó nghe cứ tưởng cậu Trác bôi bác Vi-Xi, không tin nổi, nghĩ rằng cậu phịa ra để tếu chơi. Lạ gì cái giống Không Quân, bạn bè gặp nhau, đúng tần số là tha hồ đấu hót vung vít, hư thực khó lường… nên bèn hỏi đểu một câu:

– Thế hả? Thì ra chúng nó là bọn ngu cả lũ. Nhưng “ngu” mà chúng nó bay MIG, dám chơi “dog fight” tay đôi với pilot Mỹ? Cậu Trác nói vậy thì chúng tôi biết vậy…

“Dog fight” có nghĩa là “không chiến,” là vác máy bay uýnh lộn trên mây, giữa từng trời. Cậu Trác Thuốc Lào được coi là một pilot vận tải hiền nhất nước Không quân, thật thà như đếm. Nghe kẻ hèn này nói câu móc lò, cậu chỉ cười cười, phô hai hàm răng đầy nhựa thuốc lào, kể tiếp:

– Ðằng ấy tưởng chúng nó bay MIG thật đấy hả? Mình lầm hết. Mấy cậu Mẽo đồng minh mặc cảm, sợ quốc tế chê cười nên nhiệt liệt thổi phồng pilot Vi-Xi là ghê gớm để tăng giá trị của mình và để khỏi mang tiếng người nhớn bắt nạt ranh con. Chúng nó có đi Nga thật, học tới sáu, bẩy năm lận. Nhưng chúng chỉ lo buôn lậu “quần bò” đem về nước bán kiếm lời, bay với bổng mẹ gì. Toàn là bọn con ông cháu cha hay thành phần chăn trâu gánh nước có thành tích đấu tranh giai cấp tích cực, đấu cha, tố mẹ, dò la hàng xóm, được phong làm “anh hùng,” cho đi học lái nhưng chữ nghĩa đâu mà học?à Các cuộc không chiến với phi cơ Mỹ đều do pilot Bắc Hàn hay Trung cộng lái. Pilot Vi-Xi được cho đi theo, nhiều đứa thú thật với tớ chỉ là… “thợ vịn”! Ngoài Bắc chúng gọi bằng danh từ rất kêu, là “tháp tùng tử”!

“Người lái” kiêm nhà văn Hữu Mai, hôm đầu tiên khi từ Bắc vô Nam tay không (cầm bó rau), mô tả rằng bọn y đêm đó lo cóc ngủ nghê gì được. Phần vì cấp trên giao phó cho nhiệm vụ học bay A-37 chỉ trong vài ngày – với sức các cậu – “sỏi đá làm thành cơm” tương đối dễ ợt, chứ bay bổng loạng quạng là tan nát đời huê ngay. Cậu tả oán, lý do mất ngủ thứ hai là do… không khí. Mùi máy lạnh và vì cái nệm mút dầy êm quá, các cậu ngủ không quen… “Không khí hơi ngột ngạt. Chắc là còn phải một thời gian mới quen được với cái mùi nhân tạo của máy điều hòa nhiệt độ. Một mùi hăng hắc, nồng nồng. Mùi gì vậy?… Ngoài kia, ở thành phố đang tỏa một vùng ánh sáng xanh trong lên bầu trời đêm, chắc còn nhiều thứ chúng tôi còn phải lạ lắm!”

Ðúng dzậy! Các con sẽ còn thấy nhiều thứ “lọa” hơn nữa ở miền Nam. Cái mùi đó là mùi “hăm-bơ-gơ” của đế quốc, khi đã quen rồi, các con sẽ ghiền và khi ghiền tới độ nặng là các con sẽ chết không kịp ngáp đấy. Mất ngủ, suy nghĩ đến gần phát hoảng, Hữu Mai dẹp tự ái “đỉnh cao trí tuệ,” ao ước, “Giá có mấy anh nhân viên lái cũ của Ngụy ở gần đây để yêu cầu họ ghi lại cho những hàng chữ Anh ở trong buồng lái thì hay quá. Mỗi tối trước khi ngủ say sẽ in luôn nó vào trí nhớ…”

Mẹ kiếp, khi tỉnh học còn cóc vô, học theo lối “ngủ say” thì học với hành thế chó nào được? Mà chỉ có từ ba tới năm ngày để bay cho được chiếc A-37. Ngụy chúng nó trước khi học lái, phải tới Lackland trụ trì ít nhất vài tháng học Anh ngữ. Hữu Mai sau đó kể rằng y và đồng bọn được hai “nhân viên lái” mới được lựa chọn từ trại tập trung về kèm cho các cậu học Anh văn và học bay. “Cả hai đều gầy nhom. Người cao để râu tên là Xanh, người Quảng Bình, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Người thấp nhỏ là On, quê ở Gò Công. Cả hai người đều ngạc nhiên khi thấy chúng tôi không hỏi đến vấn đề cơ bản, không hỏi về cách xử trí trong trường hợp máy móc hỏng hóc, mà hỏi ngay vào công-tắc điều khiển những đồng hồ bay…”
 
Cái này phải xét lại ạ. “Những vấn đề cơ bản” nghĩa là cần điều khiển phi cơ, là những nút bấm, nút bật để mở máy, để chỉnh động cơ, để điều khiển bánh đáp, góc dựng cánh lái đuôi, v.v… các con không cần hỏi tới thì bay cái củ gì? Các con muốn chứng tỏ ta đã rành nghề, đâu cần biết tới vài ba cái lẻ tẻ, hay hỏi những cái “cơ bản” sợ quê xệ với bọn giặc lái Ngụy? Bọn giặc lái Ngụy, phi công phản lực A-37 bị các con khi dễ, chê là “gầy nhom,” đâu phải vì miền Nam đói khổ, thiếu dinh dưỡng? Mà vì họ mới được móc từ trong “tù cộng sản” ra đấy!

Cậu Trác Thuốc Lào kể chuyện hồi đó trong chuyến bay chở đồ thổ phỉ ra Bắc, có một thằng đại tá Không quân Việt cộng đi theo, đòi lên phòng lái ngồi ghế copil thay thằng công an “bảo vệ” như thường lệ. Trên đường bay, trời êm ả, cậu Trác lên cơn ghiền, móc cái điếu cầy ra, rít một bi thuốc lào. Ðang phê phê khoái tỉ thì anh đại tá Không quân Nhân dân tò mò hỏi chàng giặc lái miền Nam:

– Cái đồng hồ này là đồng hồ gì, có mỗi một cánh tay?

– Dạ, nó là cái đồng hồ “ây-đi-ép” (ADF), dùng để bay phi cụ khi trời xấu không thấy đường, từ điểm này tới vị trí khác. Có nó mới lấy đúng hướng được, không sợ phi cơ mất hướng, bay lạc…

ADF là “Automatic Directional Finding.” Tên đại tá Vi-Xi nhìn cậu Trác Thuốc Lào với vẻ nghi hoặc kỳ cục:

– Anh nói thật chứ? Ðề nghị anh giải thích thêm cho tôi được đả thông. Tôi không hiểu sao lại có thứ đồng hồ gì lạ như vậy?

Cậu Trác nhà ta cũng nhìn tên đại tá bằng vẻ nghi hoặc kỳ cục không kém:

– Phi cơ có ba cái đồng hồ phi cụ căn bản là đồng hồ chỉ cao độ, vận tốc và đồng hồ chỉ hướng, hay la bàn. ADF là đồng hồ tìm hướng khác, dùng tần số đài phát tuyến cố định dưới đất.

Khi thấy thằng cha đại tá hỏi, tớ tưởng nó muốn thử, muốn khảo sát trình độ và khả năng của mình, nên tớ ậm ừ không nói. Nhưng sau thấy nó có vẻ không biết thật ông ạ. Nó đưa tay sờ sờ cái đồng hồ, trầm ngâm nghĩ ngợi rồi hỏi nữa, “Anh nói bị mất hướng, dùng đồng hồ này lấy lại được đúng hướng à?” Nó bảo tớ biểu diễn thử, lúc bấy giờ tớ mới tin là nó không biết thật! Tớ cho phi cơ vòng trái vòng phải, nhào lên chúi xuống, quẹo tới quẹo lui, tăng giảm cao độ lung tung xong mới đem về bình phi, lấy cao độ cũ và chỉnh mũi phi cơ bay theo đúng hướng cũ của đồng hồ ADF. Thằng đại tá ngồi bên bị vertigo, mặt cứ thộn ra. Mãi nó mới hoàn hồn, tấm tắc:

– Hiện đại thật…! Ðúng là Mỹ có khác!

Pilot C-130 Trác Thuốc Lào sau đó mới cảm thấy tự nhiên, thấy hân hoan vì mình “nhớn” hơn anh Ðại tá Vi-Xi nhiều – ở tài bay và kiến thức phi hành. Trác Thuốc Lào từ hôm đó mới biết rõ:

– Mất miền Nam đau quá. Chúng nó ngu hơn chó chứ tài giỏi gì. Chúng chỉ giỏi lừa bịp và nói phét! Trình độ một thằng đại tá, khả năng và kiến thức không bằng một thiếu úy của mình. Tớ có hỏi nó, ở ngoài Bắc phi cơ của các ông không có đồng hồ giống như ADF của chúng tôi, làm sao mà bay từ tỉnh này tới tỉnh kia khi thời tiết xấu hay bay đêm được? 

Xin bà con Không Quân lắng nghe câu trả lời của cậu đại tá Không quân Hà Nội rất đáng đồng tiền bát gạo như thế này:

– Ngoài Bắc chúng tôi dứt khoát không bay đêm. Chúng tôi có khẩu hiệu “Tự Ði, Tự Ðến, Tự Về.” Nghĩa là khi nhìn thấy rõ đường đất làng mạc bên dưới thì người lái cứ việc tự mình bay theo con đường lúc đi và khi về cũng bay theo đường cũ mà về, vừa an toàn mà vừa không cần có người dưới đất điều hành chỉ đạo đường bay như các anh!

– Hèn chi, cậu Trác nói, có lần tớ để cho một thằng giặc lái Vi-Xi lái từ Hà Nội đi Tuyên Quang. Nó bay như thằng say rượu, bay rất thấp dưới mây và cứ lò dò bay theo đường lộ. Buổi chiều, theo lời dặn, bốn giờ rưỡi phải trở về Hà Nội, tớ ra mở máy… Ðang loay hoay check máy thì ba thằng Vi-Xi xách súng AK chĩa vào tớ quát tớ tắt máy đi xuống…

Lúc đó trời mưa lâm râm. Thằng cán bộ xếp sòng sừng sộ hỏi Trác:

– Ði đâu? Ai cho anh mở máy?

Trác phân bua:

– Cán bộ bảo bốn rưỡi về mà?

– Không về. Trời mưa. Ở lại đây tối nay.

– Nhưng mưa nhỏ… Mưa phùn bay đâu có sao?

Y trợn mắt nhìn Trác:

– Anh không biết bay trong mưa nguy hiểm sao? Tôi nói ở lại hôm nay!

Khả năng của cậu đại tá Không quân ngành bay Việt cộng là như thế. Hữu Mai cấp bậc gì, y không giới thiệu, nhưng khả năng chắc cũng chẳng khá hơn đàn anh đại tá với tiết lộ về khẩu hiệu “tự đi, tự đến, tự về” làm té ngửa bà con Không Quân Ngụy, thoạt nghe tưởng phi cơ được trang bị hệ thống ô-tô-pai-lốt “hiện đại,” tự nổ máy, tự cất cánh, tự bình phi, tự tìm lấy đường về căn cứ, tự hạ cánh, tự lồm cồm bò đi đổ xăng, và tự di chuyển vào bãi đậu…!

Ðêm đầu tiên không ngủ. Ðêm sau bớt lo vì đã có hai anh giặc lái Ngụy tên Xanh và On đến giúp nhưng cũng khó ngủ vì cái mùi “hăm-bơ-gơ” của đế quốc nó ám ảnh quá trời trời. Hữu Mai thuật lại rằng, Xanh và On đã rụt rè hỏi chúng tôi, “Chúng em muốn đề nghị các anh cho đi theo trong trận đánh được không? Chúng em sẽ không phụ lòng tin cậy của các anh…” Mẹ kiếp, toàn dân Không Quân chúng ta có ai tin được không, cái giọng “điếu đóm” sặc mùi Vi-Xi nghe hèn không tả được. Pilot Không Lực Việt Nam Cộng Hòa làm gì có thói quen xưng hô “anh, em” với cấp trên và cấp trên “mày, tao” với cấp dưới như anh tướng lơ xe Ðinh Ðức Thiện của quân đội Vi-Xi? Nhờ các cậu một tí. Viết gì thì viết nhưng cũng phải gần với sự thật người ta mới tin. Ðem bôi bác địch kiểu đó chỉ làm cho địch nó cười!

Sau đó Hữu Mai tường thuật đến kế hoạch dùng phi cơ A-37 của VNCH để tấn công bất ngờ phi trường Tân Sơn Nhất nhằm gây chấn động tâm lý và hoang mang quần chúng, đẩy nhanh đà di tản của Mỹ. Y nói đến những mối lo, cốt tăng phần nghiêm trọng cho phi vụ “Biên đội không có máy bay tiêm kích đi kèm để bảo vệ. Nếu kẻ địch phát hiện máy bay lạ từ phía Bắc bay xuống, chắc chắn chúng sẽ dùng bọn F-5 để ngăn chặn…” Và “Làm thế nào để lọt qua mạng lưới ra-đa tối tân của địch trên suốt chặng đường dài từ nơi máy bay cất cánh đến Tân Sơn Nhất? Lần này lại không có đài dẫn đường, chúng tôi đều chưa thuộc địa hình, làm sao bay đến đúng mục tiêu?”

Hữu Mai còn nói đến nguy hiểm thời tiết, mưa bất ngờ và kể ra nào hệ thống cao xạ phòng không của cả hai phía nhắm bắn vì không biết phi cơ phe nào. Y kể ra một lô những trở ngại nhưng sau đó kết luận, “Mọi trở ngại đều được lần lượt giải quyết (?).” 

Vai trò của Nguyễn Thành Trung bấy giờ mới được nói đến, “Ðồng chí Nguyễn Thành Trung bảo đảm sẽ đưa toàn Biên đội đến mục tiêu. Anh là người của ta hoạt động trong hàng ngũ Không Quân Ngụy, mới từ bên kia chiến tuyến trở về sau khi đã trút hai trái bom xuống dinh Ðộc Lập. Ta sẽ cố tránh các trận địa cao xạ cả của ta và của địch được chừng nào hay chừng ấy… Chúng tôi sẽ cố giáng cho kẻ địch một đòn thật bất ngờ…”

Nguyễn Thành Trung dẫn đầu Biên đội tới mục tiêu, với On được tham gia trận đánh. Trung là kẻ đã tích cực đóng góp ý kiến vào kế hoạch đánh Tân Sơn Nhất bởi tên phi công phản quốc này nằm vùng, nắm rất rõ tình hình và địa hình cùng các yếu tố quan trọng khác. Chúng dùng phi cơ A-37 phát xuất từ phi trường “siêu cấp” Phan Rang, sân bay Thành Sơn. Theo kế hoạch, Trung sẽ xuống đầu tiên “cắt” bốn lần bốn trái bom thành một vệt dài làm chuẩn cho những máy bay sau oanh kích.

Dù có khả năng siêu việt “tự đi, tự đến, tự về” nhưng bọn giặc lái Vi-Xi cũng thập phần vất vả từ Phan Rang bay vào vì…. trời mưa! Ðể chứng tỏ trời mưa nguy hiểm đến độ phi công Ngụy cũng teo bu-gi cho đỡ mất mặt bầu cua, Hữu Mai viết, “Sau này, đồng chí Nguyễn Thành Trung nói lại với chúng tôi, trên đường bay có lúc anh nẩy sinh ra ý nghĩ đưa Biên đội quay trở về vì thấy thời tiết quá xấu.” Y mô tả cảnh rùng rợn, khi chiếc A-37 dẫn đầu của Nguyễn Thành Trung chui vào mây, các anh con giặc lái Vi-Xi tí nữa thì… són đái, thần kinh căng thẳng, bởi như anh đại tá Vi-Xi đã nói, “Ngoài Bắc trời mưa, chúng tôi không bay!”

Cũng may cơn mưa nhẹ hều và cục mưa bé tí xíu nên chưa đầy ba mươi giây đồng hồ bọn không tặc Vi-Xi đã bay ra vùng trời sáng rỡ… “Chúng tôi đã ra khỏi mây. Không phải mất nhiều công tìm kiếm, lại nhìn thấy máy bay của Biên đội trưởng…”

Hú vía. Vừa thoát nạn là các con lại yên tâm nói phét ngay. Hữu Mai, có lẽ là tên giặc lái Mai Vượng viết thế này, “Chúng tôi nhìn xuống mặt đất. Phía trước không xa, hai dãy nhà thấp cao lố nhố nằm dọc theo một trục đường.

Ðúng là một thị trấn. Bà Rịa đây rồi! Người bỗng cảm thấy nhẹ nhõm hẳn. Ðồng bào đi lại rất đông trên mặt đường. Ðột nhiên những đám người đông đặc ấy vỡ ra, tóe sang hai bên đường và bỗng chốc quang hẳn đi. Chúng tôi hiểu ngay… Ðồng bào tưởng nhầm chúng tôi là những máy bay từ Saigon đến oanh tạc. Lòng chúng tôi se lại với ý nghĩ có hàng ngàn cặp mắt đang ném về phía mình những cái nhìn căm ghét và sợ hãi…”

Nhờ cậu tí. Saigon ở hướng Nam của Bà Rịa, phi cơ các cậu bay từ hướng Bắc xuống, đồng bào “tưởng nhầm” thế quái nào được? Ðoàn người xuôi Nam để chạy các cậu đấy, sợ các cậu đấy, căm ghét các cậu đấy. Không Quân miền Nam, trong chiến tranh, đôi khi xảy ra chuyện “ném chuột vỡ đồ,” đồng bào có thể lâm vào cảnh tên bay đạn lạc nhưng con số thật ít nhưng không ai thù ghét Không Quân bằng thù ghét cái bọn đi đến đâu là đem tang tóc điêu linh đến đó như lũ cha con đồng chí của các cậu. Vụ chôn sống mười ngàn người hồi Tết Mậu Thân 68 ở Huế mới khiến đồng bào giẫm đạp lên nhau mà chạy, gây nên thảm trạng “Ðại Lộ Kinh Hoàng” hồi mùa hè đỏ lửa 72 và cảnh di tản “Con Ðường Máu” từ Pleiku về Tuy Hòa tháng 3, năm 1975…

Hữu Mai lòng thòng kể chi tiết “Trận Ðánh Cuối Cùng” vào Tân Sơn Nhất với đầy đủ tính chất ly kỳ gay cấn và đầy phét lác kiểu Vẹm ăn không nói có cực kỳ trơ trẽn và nham nhở, ba xạo không thể tả. Chẳng hạn bay hành quân đột kích Tân Sơn Nhất “hoàn toàn bí mật và bất ngờ” nhưng lại dùng tần số hành quân của Không Quân VNCH để nói chuyện với nhau và nghe được “một giọng thất thanh, một giọng nói bằng tiếng Bắc”:

– Số Bốn đi đâu thế kia? Sao lại thế kia? Nhảy dù đi chứ?

Trái tim chúng tôi thắt lại. Có lẽ nào chưa kịp làm nhiệm vụ mà một người trong chúng tôi đã phải nhảy dù? Nhưng nhìn nhau, vẫn thấy đủ năm chiếc A-37 trên một đường bay ổn định.

Cái giọng Bắc ban nãy thét to:

– Cháy rồi…! Số Bốn nhảy dù đi!

Nhìn lại hai tên địch (?), chúng tôi chợt hiểu ra. Một chiếc AD-6 đang bùng cháy. Chắc nó trúng đạn của bộ đội ta tại nơi nó tới oanh kích, cố lê về đến đây, nhưng nó vẫn không thoát. Tên lái chiếc AD-6 này không nhảy dù. Chiếc máy bay lao xuống đất…

Bố khỉ. Cứ như trong xi-nê-ma! Phải có những chi tiết gay cấn ấy mới nổi bật chiến công vĩ đại của bọn Hữu Mai. Rồi cảnh đánh phá Tân Sơn Nhất cũng được mô tả y hệt cảnh những người hùng trong phim “Bla Bla Black Ship” vừa bay bỏ bom, bắn cà nông, vừa cười vui vẻ ra cái điều ngon lành dũng cảm. Nguyễn Thành Trung đánh trước, bom không ra, làm vòng tiếp. Ðại đội phó Từ Ðễ theo sau Trung, nhắm hangar A-37 nhưng bom rơi mẹ nó sát chiếc C-130 vừa hạ cánh ở tuốt luốt bên này bãi đậu Whiskey Five (W-5). Rồi Ðại đội trưởng Lục thả bốn trái nhưng lóng ngóng chỉ rơi có hai. Sau đó là Vượng và On, nhắm vào hangar A-37 nhưng đều trật lất!

Hữu Mai viết, “Những việc trên đã diễn ra hết sức nhanh chóng.” Chúng ta hãy đọc tiếp những đoạn văn dưới đây để xét giá trị toàn bộ bài viết “Trận Ðánh Cuối Cùng”…

Ðến lúc đó mới nghe thấy tên trực ở sân bay bắt đầu kêu lên:

– Tân Sơn Nhất bị pháo kích…!

Một tên khác, nghe giọng nói có vẻ là một tên chỉ huy, lập lại:

– Tân Sơn Nhất bị pháo kích! Rồi hắn hỏi tiếp ố A-37 của Phi Ðoàn nào, xin cho biết tên?

Giữa lúc đó, Biên đội trưởng đã lao xuống sân bay lần thứ hai. Nhưng rồi thấy anh kéo lên, tiếp tục lượn vòng. Những trái bom vẫn chưa chịu ra.

Một giọng nói khác bằng tiếng Anh, chắc là của một tên Mỹ, lập lại câu hỏi của viên sĩ quan trước đó:

– A-37 của phi đoàn nào?

Giọng nói có vẻ hách dịch của tên Mỹ đã làm cho Ðại đội phó Từ Ðễ nổi nóng. Anh quát to:

– Phi đoàn A-Mê-Ri-Ca đây!

Mẹ kiếp, thối không ngửi được. Ðang bay trên trời, trong phòng lái kín mít, lo bỏ bom, nhắm bắn mục tiêu mà có “thiên lý nhĩ,” nghe được cả “tiếng tên trực ở sân bay bắt đầu kêu lên…” thì quả là con đẻ của Tề Thiên Ðại Thánh! Rồi đang từ một thằng “người lái” mới vài hôm trước không biết nổi “mỗi feet là bao nhiêu đơn vị đo lường của ta” và “làm thế nào hiểu được hết những tiếng Anh trong buồng lái…” vậy mà hôm sau đã nghe rành rọt “giọng một tên Mỹ,” hiểu được nó nói gì và tên Mỹ còn biết “lập lại,” dịch ngay tại chỗ ra tiếng Anh câu hỏi của viên sĩ quan Việt, mới ly kỳ! Tên giặc lái Từ Ðễ còn biểu diễn màn Tarzan nổi giận, quát to lên cho thằng Mỹ sợ vãi đái! Ghê thiệt..!

Hữu Mai sau đó, được thể, cương thêm:

Bây giờ từ sân bay mới vang lên những tiếng hoảng hốt:

– Bốn A-37 ném bom Tân Sơn Nhất… Ðề nghị các máy bay hãy tránh xa!

Cái vụ “nghe thấy tên trực sân bay” ở đoạn trên có thể tạm hiểu là đương sự nghe trên tần số hành quân của bọn Ngụy cũng được đi. Nhưng việc “từ sân bay bấy giờ mới vang lên những tiếng hoảng hốt” thì đúng là… “bu-siệt”! Không Quân Miền Nam đâu có lối nói lịch sự kiểu Vi-Xi “đề nghị”? Người miền Nam nói “yêu cầu tránh xa” chứ trong trường hợp bấn xúc xích đó, làm quái gì có mục “đề nghị tránh xa”?

Văn nô Hữu Mai vớt vát thể diện cho Biên đội trưởng Nguyễn Thành Trung và bọn thợ gắn bom mà bom không nhả (có thể lính của ta bị ép buộc trang bị bom đạn cho Vi-Xi đã cố tình chơi đểu (?)…“Chiếc máy bay của biên đội trưởng đã giận dữ lao xuống lần thứ ba. Lần này, bốn trái bom của anh cùng rơi một lúc. Một đám cháy mới bùng lên tại khu vực tập trung máy bay tiêm kích F-5…” Xạo ke! Tân Sơn Nhất làm chó gì có khu vực nào tập trung F-5?
Từ đầu đến cuối toàn nói phét. Nói phét lộ liễu trắng trợn và bất chấp sự hợp lý của sự kiện. Cậu văn nô liên tục nói phét với mục đích đáng bóng thành tích với những chi tiết chỉ có thể đánh lừa được bọn lãnh đạo già nua ngớ ngẩn của các cậu, đánh lừa đám dân miền Bắc đã được họ Hồ làm cho ngu từ năm 1954… Còn đối với nhân dân miền Nam, nhất là với “bọn giặc lái Ngụy,” thì chỉ tổ làm trò cười rẻ tiền như cái phét vĩ đại trong bài “Trận Ðánh Cuối Cùng,” khi Hữu Mai viết về chuyến bay trở về của đám không tặc Vi-Xi.

Từ Ðễ gần hết xăng khi về gần căn cứ xuất phát nhưng y biểu diễn màn “người hùng” cải lương không chịu được. Y không báo cáo sắp hết xăng, không chuẩn bị nhảy dù và quyết định khi hết xăng sẽ dùng “tốc độ thừa” để chiếc A-37 tắt máy, thành máy lượn, đáp êm ru bà rù cho thiên hạ sợ chơi. Y học bay A-37 trong vòng từ ba tới năm ngày, khoe chỉ mới bay thử có một lần là ra trận!

Vụ cạn xăng chỉ là bịa đặt, tạo nỗi lo sợ cho có vẻ hồi hộp bà con chơi thôi. Ðồng chí Ðại đội phó đã nhìn thấy phi trường! Nguyễn Thành Trung bay sau cùng, nhắc “số Hai” Từ Ðễ nhớ bật đèn đáp trước khi hạ cánh.

Ðồng chí đại đội phó nhìn những núm nút trước mặt mình. Anh không tìm thấy công-tắc đèn pha ở đâu. Nhưng không sao, trời tuy gần tối, nhưng anh vẫn cảm thấy thời tiết ở đây tốt lắm vì anh vẫn còn nhìn thấy đường băng.

Anh tự bảo, mình chỉ cần giữ sao cho mọi động tác thật chính xác. Chiếc máy bay chiếu hướng đường băng hạ dần độ cao. Ðài chỉ huy sân bay đã đồng ý cho Ðễ hạ cánh trực tiếp.

– Số Hai bật đèn pha! Biên đội trưởng nhắc một lần nữa vì tưởng đồng chí Ðại đội phó quên.

– Rõ! Ðễ đáp gọn.

Anh không trả lời biên đội trưởng được nhiều hơn vì đang phải dồn toàn bộ tinh lực vào việc tiếp đất.

Hai bánh xe phía trước đã chạm mặt đường băng. Thế là xong. Chiếc máy bay theo đà tiếp tục lướt về cuối sân. Nó nằm ịch lại không chịu sự điều khiển của anh nữa. Anh không biết dầu của mình đã hết tự lúc nào. Có thể là từ khi máy bay chưa tiếp đất và anh đã hạ cánh bằng tốc độ thừa…

Ðộc giả từ bao nhiêu năm sống trong xã hội ưu việt miền Bắc chắc chắn sẽ tin lắm, phục lắm, vì dân trí được Bác và Ðảng dạy dỗ phải tin những gì Bác và Ðảng muốn dân nghe và tin. Như trước đây phải nghe và tin máy bay Mỹ Ngụy làm bằng giấy và dân quân miền Bắc lấy sào tre… thoọc phi cơ “Con Ma, Thần Sấm” rớt như sung rụng chẳng hạn.

Nhưng cái bọn nhân dân ngoan cố miền Nam thì phải xét lại ạ. Nhất là bọn giặc lái Ngụy thì dù ngu si cách mấy cũng bật cười phì khi đọc sáng tác “Trận Ðánh Cuối Cùng” của Hữu Mai trong tuyển tập Văn 1957-1982 của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội Việt Cộng. Trong đó, những “người lái anh hùng” mang nhãn hiệu Vi-Xi đã học Anh văn và học bay phản lực cơ chiến đấu A-37 trong vòng năm ngày, có đứa chỉ bay thử có một phùa là bay vung vít, đánh đấm vung vít, nói tiếng Anh vung vít. Cả bầy bay hồ hởi tới lúc sắp cạn xăng (chúng gọi là dầu) cũng cóc biết. Không biết cả tới cái công-tắc bật đèn pha nằm ở chỗ nào và đáp mò, đáp không đèn ở một phi trường nhỏ và xa lạ, khi phi cơ đã tắt máy và đáp như để…!

Cậu Pilot Trác Thuốc Lào nghe chuyện chỉ cười khinh khỉnh ra cái điều “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”… Hữu Mai kết luận rất dzui thế này:

– Mọi người cười ầm lên. Khi trận đánh đã hoàn thành, khó khăn đã qua rồi, thì những chuyện như vậy lúc này đều có thể trở thành chuyện vui…

Ðúng như dzậy. Dzui dễ sợ. Cũng may Hữu Mai, có lẽ là tên giặc lái Vi-Xi Mai Vượng đã “hy sinh,” ngỏm củ tỉ trong trận đánh nhau với thằng đàn anh Trung Quốc, bị mấy mụ xẩm du kích Tầu phù cầm sào tre thoọc rớt, chết lăn cù đèo, nếu không, bây giờ độc giả còn được thưởng thức nhiều sáng tác dzui hơn nữa. Như chuyện “người lái anh hùng” Hiệp Sĩ Mù của đảng cướp Vi-Xi đáp phi trường Ngã Năm Chuồng Chó chẳng hạn – và đáp không đèn. Thật đáng tiếc!

Xe chở khách lao xuống vực ở Ðà Lạt


LÂM ÐỒNG (NV)
– Một chiếc xe chở hành khách của công ty Phương Trang vừa gặp nạn tại Lâm Ðồng, sau vụ nhà chờ xe ở Cần Thơ bị nổ tung.








Xe chở khách Phương Trang lao xuống vực sâu 100 thước. (Hình: Báo Thanh Niên)

Tai nạn xảy ra khoảng 3 giờ 15 chiều ngày 12 Tháng Tư, tại quốc lộ 20 thuộc thành phố Ðà Lạt, làm một người chết và hai người bị thương. Khi tai nạn xảy ra, trên xe chỉ có 5 người gồm 3 hành khách, tài xế và một nhân viên bán vé.

Theo báo Thanh Niên, chiếc xe lâm nạn chạy tuyến đường Ðà Lạt-Trạm Hành, vừa qua khỏi đoạn đèo dốc thuộc xã Xuân Trường bỗng lật nhào, lăn nhiều vòng, rơi xuống vực sâu khoảng 100 thước.

Tai nạn làm một hành khách tên Nguyễn Thúy Hường, 52 tuổi, quê ở Hà Nội chết liền tại chỗ. Hai hành khách còn lại tên Nguyễn Duy Phương, 27 tuổi và Nguyễn Ðăng Huân, 15 tuổi, cư dân xã Xuân Trường bị thương nặng, được đưa vào bệnh viện Lâm Ðồng cấp cứu.

Không thấy báo Thanh Niên đề cập đến tình trạng của ông tài xế Nguyễn Hữu Lơ, 46 tuổi, cư dân Ðà Lạt và nhân viên bán vé của công ty Phương Trang.

Theo dư luận, công ty vận tải hành khách Phương Trang hiện nay được coi là “trùm” của ngành vận tải hành khách. Ðoàn xe của công ty này lên đến hàng trăm chiếc, sơn màu cam chói chang, có bến đậu xe riêng khổng lồ tại hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam như Ðà Lạt, Sài Gòn…

Dư luận còn cho rằng, công ty Phương Trang thuộc sở hữu của con gái ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng CSVN.

Trước đó, phòng chờ xe của công ty Phương Trang, tọa lạc tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ phát nổ đã gây xôn xao dư luận một dạo. Vụ nổ xảy ra khoảng 3 giờ chiều ngày 28 Tháng Hai, làm ba hành khách bị thương.

Cũng tin của báo Thanh Niên nói rằng, tiếng nổ phát ra từ một chiếc giỏ xách đặt tại phòng chờ. Trước đó, có hai hành khách cầm giỏ xách này bước vào phòng chờ, đặt xuống đất và ngồi đợi xe. Chiếc giỏ phát nổ thình lình làm hai người này và một người ngồi gần đó bị thương. Rất may, hai du khách ngoại quốc ngồi trong phòng chờ lúc đó lại không bị hề hấn gì.

Trong số ba nạn nhân kể trên, có một người ngụ tại thành phố Cần Thơ và hai người kia là cư dân Sài Gòn. Cho đến nay, nguyên nhân vụ nổ vẫn chưa được công bố. (P.L.)

Ðến Istanbul xem cung điện vua Hồi

 


Ði Cruise Ðịa Trung Hải (Bài 16)


Bài và ảnh: Minh Tâm


Tàu cặp bến Istanbul lúc 8 giờ sáng. Nếu là ngày thường thì chúng tôi đã tự đi xe tram để thăm viếng Hoàng Cung Topkapi nhưng hôm nay là ngày thứ ba, hoàng cung đóng cửa. Tuy nhiên, tàu Star Princess lại liên hệ được với chánh quyền địa phương để họ mở cửa đón chúng tôi. Dĩ nhiên là phải mua vé theo tour do tàu bán.










Cổng Hoàng Thành.


Phái đoàn chúng tôi khởi hành lúc 8:30 sáng. Hướng dẫn đoàn hôm nay là một phụ nữ. Khi chúng tôi lên xe buýt, cô hướng dẫn phát cho mỗi người một máy thu thanh nhỏ. Máy này tiếp nhận tiếng nói phát từ micro của cô ta. Do đó, trong khi đi theo đoàn, chúng tôi không cần phải đứng gần cô ta mà vẫn nghe được lời giới thiệu của cô ấy.

Từ bến tàu, xe từ từ khởi hành theo một con đường dọc bờ sông Bosphorus. Bên phải là một khu sang trọng trên một đồi cao. Ðó là khu khá giả của Istanbul. Giữa đường là đường rầy của xe tram. Tôi thấy mỗi xe có chừng 3 toa và chạy liên tục. Như vậy nếu không đi theo tua, tôi có thể đi ra khu Phố Cổ và trở về tàu rất dễ dàng. Dọc đường, tiệm quán, nhà cửa khang trang. Có hai thánh đường Hồi Giáo thật to lớn với các tháp cao nghệu. Xe chạy qua một chiếc cầu dài bắc ngang cửa sông Golden Horn. Trên cầu, có rất nhiều người đang câu cá. Ngoài sông lớn, tàu, phà chạy ra vô liên tục. Qua khỏi cầu là vào khu Phố Cổ. Bên tay trái, dọc bờ sông là bến tàu và phà từ phía bờ Á Châu sang. Tuy có chiếc cầu treo to lớn ở phía Bắc nối liền hai bờ Âu-Á, hệ thống tàu, phà vẫn hoạt động rất mạnh ở phía cửa sông dưới nầy. Khi tàu cặp bến, hành khách từ tàu lên bờ rất đông cho thấy đây là một phương tiện di chuyển rất phổ thông của người dân ở đây. Xe chạy vòng theo một con đường dọc biển về phía Nam. Bên tay phải là tường thành của Hoàng Cung. Một vài nơi trên tường còn trông thấy những lỗ đạn. Bên tay trái là cửa sông Bosphorus rộng lớn với tàu bè ra vô không ngớt. Xe rẽ phải lên dốc để vào một khu dân cư trước khi ngừng trước hoàng cung Topkapi để chúng tôi vào thăm viếng. Do đường hơi bị kẹt xe nên từ bến tàu vô hoàng cung tuy không xa lắm mà xe phải chạy cũng hơn nửa giờ mới tới.


Vào xem cung điện vua Hồi


Cung điện Topkapi nằm trên đồi cao. Ðây là nơi cư ngụ và thiết triều của Ðế Quốc Ottoman trong khoảng 400 năm trị vì của họ. Nó được Ðại Ðế Mehmet xây trên nền cũ của lâu đài Constantine từ năm 1453 rồi được các quốc vương (sultan) tiếp theo cư ngụ ở đó cho tới khi một hoàng cung kiểu mới có tên là Dolmabah được xây dựng bên bờ sông Bosphorus. Vị hoàng đế cuối cùng cư ngụ tại Topkapi là vua Mahmut II (1808-1839).










Cổng chào.


Hoàng cung này rộng khoảng 400,000 m2. Muốn xem cho tường tận chắc phải tốn cả ngày. Chúng tôi chỉ có 2 giờ ở đây và đi theo tour nên cũng chỉ là cỡi ngựa xem hoa mà thôi. Tuy nhiên đây là một nơi nhiều thú vị đáng ghi lại để bạn đọc theo dõi cho biết cuộc sống của những vị quốc vương Hồi Giáo đầy quyền uy từng làm chủ cả một vùng rộng lớn của đế quốc Ottoman từ Trung Ðông tới Bắc Phi.

Hoàng cung Topkapi có 4 lớp tường thành chia toàn thể khu vực thành 4 sân chầu khác nhau. Sân thứ nhứt mở rộng cho công chúng. Sân thứ hai dành cho nhân viên trong hoàng thành. Sân thứ ba và thứ tư dành cho gia đình thân quyến của quốc vương và nhân viên phục dịch.










Mô hình hoàng cung Topkapi.


Ðầu tiên chúng tôi được đưa qua một cổng thành to lớn có tên là Imperial Gate (Cổng Hoàng Thành). Cổng nầy cao chừng hai chục mét, cửa vòm. Tường thành dầy khoảng 10 mét. Hôm nay hoàng thành đóng cửa và có quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đứng gác phía trước, nhưng đoàn chúng tôi có liên lạc trước được đi vào thong thả. Từ cổng thứ nhứt vào trong là một khu công viên với nhiều cây cao bóng mát. Bên phải là trại lính và một cửa hàng bán sách báo và đồ lưu niệm. Bên trái là một nhà thờ xưa kiểu mái vòm có tên là Aya Irini. Ðây là nhà thờ kiểu Byzantine cổ nhứt Istanbul. Hôm nay tôi thấy người ta bày ra rất nhiều bàn ghế ở sân trước nhà thờ. Theo cô hướng dẫn thì có một công ty nào đó sẽ tổ chức lễ ra mắt ở đây. Từ cổng thứ nhứt vào bên trong có những con đường tỏa ra trong công viên. Chúng tôi theo một con đường ngắn để đi tiếp vào cổng thứ hai.

Cổng thứ hai mới thật sự là cổng thành. Cổng nầy có tên là Gate of Salutation (Cổng Chào). Nó gồm hai tháp cao ở hai bên. Ở giữa là cửa hình vòm rộng chừng 10 mét. Hồi xưa chỉ có quốc vương mới được cỡi ngựa qua cổng thành này. Tất cả mọi người muốn qua cổng thì phải xuống ngựa hay chỉ được đi bộ qua. Du khách phải mua vé mới được vào cổng này. Giá vé là 20 TL (khoảng 12 đô la).










Một góc cung điện.


Cổng số hai thật ra là một dãy nhà ngang mà mái nhà được chạm trổ rất đẹp. Bên tay phải có một phòng trống nơi đặt mô hình của hoàng cung và bản đồ của đế quốc Ottoman. Phía tay phải tiếp theo là khu vực nhà bếp của hoàng cung với những ống khói cao nghệu. Thời xưa, đây là nơi nấu ăn cho khoảng 5,000 người sinh hoạt trong cung điện Topkapi. Ngày nay, các phòng nầy là nơi trưng bày chén bát, đồ kiểu của Trung Quốc hay Á Châu đã từng được sử dụng trong hoàng cung thời trước. Ðây là một bộ sưu tập lớn nhứt và đẹp nhứt thế giới về đồ sành sứ. Từ cổng đi vào phía trong ta sẽ thấy một sân rất rộng nơi có trồng nhiều cây cao. Một con đường dẫn ta vào khu tiếp triều ở phía tay trái. Căn nhà làm nơi tiếp triều hay đón các phái đoàn ngoại giao. Tường, trần nhà được trang trí rất đẹp với các đường nét hình học theo phong cách Hồi Giáo và được phủ vàng nên đa số nơi đây có màu vàng óng ánh. Một tháp cao tên là Tháp Công Lý được xây bên cạnh để dành cho quốc vương khi ông ta muốn lên cao để ngắm nhìn thành phố Istanbul hay cảnh đẹp của cửa sông Bosphorus.


Nội cung (Harem)


Sau khi xem phòng thiết triều chúng tôi được hướng dẫn tiếp vào xem Nội Cung (Harem). Du khách phải mua thêm một vé khác giá 15 TL mới được vào xem bên trong khu này. Nội cung là nơi cư ngụ và sinh hoạt của gia đình hoàng gia bao gồm quốc vương, vợ con, hoàng thái hậu và các thái giám, cung nữ, nô tì… Nội cung Topkapi gồm khoảng hơn 300 phòng lớn nhỏ xây bằng gạch. Khu nào lớn thì có nóc xây kiểu vòm đá. Du khách muốn xem nội cung thì phải đi theo tua chớ không được đi một mình. Ðoàn chúng tôi có chừng 50 người, lúc nào cũng có một anh cảnh sát đi cuối cùng để bảo đảm không ai đi lạc. Thật ra, nội cung gồm nhiều phòng nhỏ, nhiều hành lang, nhiều ngõ ngách nên người ta sợ mình đi lạc mà không biết đường ra. Ða số phòng ốc được ốp gạch men xanh với những trang trí hình học. Những nơi có trần kiểu vòm thì được vẽ hoa văn rất đẹp. Ðồ nội thất thì có tủ kệ chạm trổ tinh xảo, nhưng các ghế hay giường nệm thì hơi bị cũ, rách… Tuy nhiên cũng có một số phòng chưa tân trang nên coi rất cũ kỹ. Trong nội cung đôi khi có những sân rộng để có thể lấy ánh sáng và khí trời nhưng không có vườn tược hay cây xanh. Có một phòng ở trên lầu cao. Từ đây, ta có thể thấy toàn cảnh eo biển Bosphorus ở phía dưới. Phong cảnh từ đây nhìn xuống thật đẹp. Xa xa là chiếc cầu treo nối liền hai lục địa, gần hơn là những tàu bè qua lại đông đảo nên từ đây ngắm cảnh thật thích.










Kiến trúc nội cung Harem.


Nội cung Topkapi là nơi có nhiều câu chuyện bí ẩn về sinh hoạt của hoàng gia như khi quốc vương chọn một cung nữ (trong số hơn 300 cung nữ) mà ông thích thì cô ta sẽ được tắm gội, xức dầu thơm và được tặng quà để chờ ông ta tới. Ngày giờ hợp cẩn được ghi chép. Nếu cô ta có thai và sanh con trai thì được nâng cấp thành thứ phi và được trọng dụng. Khi cung nữ quá 25 tuổi thì được trả cho về thường dân. Trong nội cung, Hoàng Thái Hậu là một người rất có quyền. Nơi đây cũng từng xảy ra những vụ giết người để tranh giành quyền lực giữa anh em với nhau… Có triều đại, quốc vương đã giết chết khoảng 280 nàng hầu vì trong hậu cung có loạn. Những chuyện nầy thì triều đại nào cũng có.

Xem nội cung xong, du khách được hướng dẫn ra sân số 3 để xem các báu vật của hoàng gia và các phòng xung quanh. Phòng ốc thì nhiều mà chương trình còn dài nên cô hướng dẫn chỉ cho phái đoàn có 15 phút để xem. Tôi không chịu và nói với cô ta là chúng tôi sẽ tự do đi xem các nơi mà không tiếp tục theo đoàn để ra Grand Bazaar. Do đó tôi có gần một giờ để xem được nhiều nơi như:

Phòng trưng bày y phục của hoàng gia và các tướng lãnh quân đội Ottoman, y phục của họ trông hơi thô chớ không đẹp lắm. Nhiều phòng trưng bày các báu vật của hoàng gia như: Các ngai vàng làm bằng vàng khối, thanh gươm của Quốc Vương Suleyman Magnificent có nạm ba viên ngọc lục bảo thật đẹp. Hai chân đèn to lớn làm bằng vàng, mỗi cây nặng khoảng 50 kg. Một rổ ngọc lục bảo (emerald) gồm mấy chục viên ngọc thật to lớn. Viên kim cương nặng 86 cara (lớn thứ năm trên thế giới) tên là Spoon Maker’s, xung quanh có thêm 49 viên nhỏ khác. Ngoài ra còn có những vương miện, quyền trượng, dây chuyền làm bằng vàng có nạm kim cương, đá quý.










Thánh đường hoàng gia.


Thánh đường Hồi Giáo của Hoàng Gia: bên trong còn giữ được nhiều hiện vật quý giá của đạo Hồi như: Một quyển kinh Koran cổ viết trên da nai. Tấm vải vàng đã từng phủ khối đá đen Kaaba ở thánh địa Mecca. Thanh gươm, vài sợi tóc và một cái răng của Giáo Chủ Mohamet. Một cái khăn thánh để trong hộp vàng. Nếu bạn không phải là người đạo Hồi thì có thể không thích thú xem các báu vật Hồi Giáo này nhưng bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy nơi đây có những báu vật rất quý của họ. Ngoài ra thánh đường thì đẹp vô cùng, tường, trần trang trí rất tỉ mỉ với các cây cỏ hay các chữ Á Rập trong kinh Koran. Chỉ có một điều làm cho tôi hơi chán khi xem thánh đường nầy là ở phòng bên cạnh có một anh Thổ Nhĩ Kỳ ngồi ngâm nga những câu kinh Koran nghe buồn bã vô cùng.

Một tòa nhà dùng để thiết triều được trang trí rất đẹp và một thư viện. Một phòng triển lãm các vũ khí chiến tranh thời Ottoman. Do không có nhiều thời giờ nên ba tòa nhà cuối cùng tôi chỉ xem phía bên ngoài mà thôi. Có một đường dẫn vào sân thứ tư cũng là sân cuối cùng. Tôi không thấy ai đi vào đó hết nên cũng ngần ngại không dám vào xem.

Ðến xem cung điện Topkapi để thấy sự giàu có quá mức tưởng tượng của đế quốc Ottoman, một đế quốc hùng mạnh của phương đông mà chúng ta ít biết đến. Kiến trúc nơi đây hết sức độc đáo. Trang trí ở đây lạ và mang sắc thái đặc biệt của Hồi Giáo. Riêng kho tàng của Ottoman ở Thổ nhĩ Kỳ thì có thể nói nó không thua kém bất cứ một hoàng cung nào bên Tây Âu như Anh, Pháp, Áo… Ở đây có những báu vật bằng vàng, ngọc thật giá trị và được gìn giữ tới ngày nay cho công chúng vào xem. Những báu vật trong kho báu của hoàng cung này hơn hẳn Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (nơi tuy rộng lớn mà chỉ có những cung điện làm bằng gỗ và bên trong trống trơn không có món gì quý giá).

Rời Hoàng Cung Topkapi, chúng tôi đi theo một con đường vòng theo chu vi của Hagia Sophia ra phía trước với dự định sẽ vào thăm nơi đây. Ðây là một con đường lát đá nhỏ hẹp. Hai bên là vài biệt thự ẩn mình sau một hàng rào kín. Sau đó là những căn tiệm bán đồ kỷ niệm, quán cà phê và một vài nhà hàng. Chúng tôi tìm một tiệm để đổi tiền. Vì ở Thổ người ta dễ dàng nhận tiền đô la hay Euro nên chúng tôi không đổi nhiều mà chỉ đổi 20 Euro tương đương khoảng 48 TL để có tiền mua vé vào xem Hagia Sophia.

Phía trước thánh đường Hagia Sophia chúng tôi thấy một quảng trường to lớn. Ðó là quảng trường Sultan Ahmet. Giữa quảng trường là một bồn nước thật to đang phun nước. Mấy xe buýt loại “hop on hop off” cũng đậu gần đó và du khách cũng lên xuống rất nhiều. Hôm nay trời quang đãng, có nắng nhưng không nóng. Du khách và người địa phương tụ tập ở đây đi lại nhộn nhịp tạo ra một không khí vui vẻ, phấn chấn. Quanh quảng trường có nhiều ghế ngồi để chúng ta ngồi nghỉ chân, ngắm thiên hạ đang chụp hình, mua đồ ăn vặt, hay tán dóc với nhau. Không khí trông rất thanh bình, thoải mái.

Minh Tâm





-Cùng một tác giả: Tác phẩm mới xuất bản: Ði Cruise Bắc Mỹ kể về các chuyến du lịch bằng du thuyền qua Caribbean, Alaska, Mexico, Canada, New England. Sách dầy trên 300 trang. Giá 15 đô la (kể cả cước phí). Muốn có sách có chữ ký của tác giả gởi tận nhà qua bưu điện, xin gởi chi phiếu về: Tam Tu, 17634 Fonthill Ave., Torrance, CA 90504. Ðiện thoại (310) 523-1857. Email: [email protected]
-Sách du lịch Trịnh Hảo Tâm đã xuất bản 8 quyển ký sự du lịch: 1. Trên Những Nẻo Ðường Việt Nam, 2. Miền Tây Hoa Kỳ, 3. Ký Sự Du Lịch Trung Quốc, 4. Mùa Thu Ðông Âu, 5. Tây Âu Cổ Kính, 6. Miền Ðông Nước Mỹ và Canada, 7. Hành Hương Thánh Ðịa Do Thái, 8. Nhật Bản, Hồng Kông-Macau, Thái Lan. Mỗi quyển đồng giá 15 USD xin hỏi ở các nhà sách VN hay liên lạc tác giả: Trịnh Hảo Tâm, 3683 Hawks Dr. Brea, CA 92823. Ðiện thoại (714) 528-1413. Email: [email protected]

Một thoáng Pleiku

 


Phạm Tín An Ninh
(Nguồn: VOA)


Thật lòng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đã cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đã xa – thực sự vĩnh viễn xa – Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ, trăn trở với cái cảm giác mình có tội với Pleiku, và mãi mãi sẽ còn nợ phố núi này một lời xin lỗi.

Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đã bé nhỏ, như một ông nhà thơ đã ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, giờ với tôi dường như chỉ còn là chút sương khói trong lòng. Ðiều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lãng đãng trong ký ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.

Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiết) và đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Ðúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lý Thường Kiệt-Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Ðoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận Bình Ðịnh, khi một số đơn vị của Sư Ðoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.

Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Ðoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Ðoàn Mãnh Hổ Ðại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hãm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Bộ Tư Lệnh HQ Sư Ðoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư lệnh đã ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Ðịch quân đang trên đà tràn xuống trong ý đồ chiếm lấy Kontum.

Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nhìn một dãy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến thì đã rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Ðây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum kiêu hùng.” Một tháng đóng quân trên Ðồi Ðức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa.” Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. Hình ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém còn rỉ máu trong lòng. Muốn tạm quên chốc lác đã là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông Ðại Úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lãng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?) như ai.

Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ tình.

Riêng tôi còn có một anh bạn, liên đoàn trưởng BÐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Ðức vì xe bị VC giật mìn, nên bây giờ anh chỉ làm người tình với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái vòng “tục lụy” này.
Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BÐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đã bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận tình giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội,” trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Ðoàn BÐQ tại QK2.

Do cái ân tình đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nhìn Pleiku qua những cơn say. Vì vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới. Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, thì làm sao biết được tên của một mỹ nhân, để “may mà có em đời con dễ thương!”

Tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13 Tháng Ba, 1975, theo những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, thì Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số còn lại phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh. Một nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đã tự sát, nhiều đồng đội đã chết trong đớn đau tức tưởi.

Hình ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dãy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ còn đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong lòng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh Bình, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Ðiền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lý, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Ðức, Bồ Ðề… mà những cô học trò ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình khờ khạo biết bao nhiêu!)

Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét,” chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ còn biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Ðược chút thời gian không đủ cho một cơn say, thì đâu còn biết gì tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ – nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Ðịnh, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Võ Ý, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng:


Ngày mai đánh giặc may còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Uống rượu tiêu sầu cùng gái điếm
Ðốt tiền mua vội một ngày vui
….

Cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, nhưng giờ thì đắm say ánh mắt của một nàng thiếu nữ Pleiku:


Ðứng trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy mình buốt lạnh mấy nghìn năm
Vì đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu nữ
Ðã nhìn mình rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó
….

Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đã ngu ngơ, lãng phí. Không nhìn ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đã bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lý ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Ðôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi mình “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đã làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lãng mạn hơn những gì nó có?” Nhưng có lẽ tôi đã nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như cứ mỗi người Pleiku đã là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời. Dẫu gì, tôi cũng có tội với Pleiku.

Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đã nằm lại nơi này. Võ Anh Tài, Ðặng Trung Ðức, Trần Công Lâm, Ðỗ Bê… những tiểu đoàn trưởng nổi danh, những người anh, người bạn thân thiết như tình huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đã vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku. Khi tất cả – có lẽ cũng như tôi – chưa biết rõ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.

Tôi vẫn mãi đau đớn khi hình dung cuộc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa Tháng Ba. Cùng với những đồng đội của tôi, còn có biết bao nhiêu người Pleiku đã không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Ðịnh, những bông hoa dại đã làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố Núi sẽ không còn đẹp, không còn lãng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Võ Ý vẫn mãi còn tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Ðó”:


Xưa trên đó sương nhòa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền



Một dạo bay qua nhìn qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng
phố cũng xưa và tim thì đau nhói
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…”


Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô tình) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đã từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nhìn (trộm) các cô vô tư khoe mình bên các dòng suối biếc. Tuyệt vời!

Thuở ra đi, lòng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong lòng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.

Thì ra, tôi đã mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đã ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó, nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.

Nợ ân tình thì không thể nào trả cho hết được. Ðành viết mấy dòng này xin tạ lỗi Pleiku.

Phụ huynh nạn nhân Newtown phát biểu thay Tòa Bạch c

 


NEWTOWN, ConnecticutMẹ của một học sinh trong vụ thảm sát ở Newtown, Connecticut, sẽ thay mặt Tổng Thống Barack Obama để truyền đi thông điệp hằng tuần của Tòa Bạch Ốc, theo nhật báo The New York Times trích dẫn lời phát ngôn viên tổng thống hôm Thứ Sáu.








Một địa điểm tưởng niệm nạn nhân vụ thảm sát tại trường tiểu học Sandy Hook, ở Newtown, Connecticut. (Hình: Andrew Burton/Getty Images)


Trong một thông điệp video công bố vào sáng Thứ Bảy, bà Francine Wheeler, người có đứa con trai sáu tuổi tên Ben bị giết ở trường tiểu học Sandy Hook hồi Tháng Mười Hai, lên tiếng kêu gọi thực hiện luật kiểm soát vũ khí, khi Thượng Viện đang chuẩn bị tranh luận cho một loạt những đề nghị vào tuần tới.


Ông Jay Carney, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc, phát biểu trong một cuộc họp báo ngắn ngủi hôm Thứ Sáu: “Điều rõ ràng không thể chối cãi là không ai có một cái nhìn quan trọng và có tiếng nói mạnh mẽ về vấn đề này hơn những gia đình bị mất người thân yêu vì tai họa của bạo động do vũ khí. Như quí vị biết, tổng thống từng thường xuyên tiếp xúc trong tuần này với gia đình các nạn nhân vụ tàn sát ngày 14 Tháng Mười Hai, và tổng thống tin rằng tiếng nói và quyết định của họ mới quan trọng để tiếp tục diễn tiến mà chúng ta thấy ở Thượng Viện.”


Ông Carney nói đây là lần đầu tiên mà chính phủ Obama có người khác thay thế tổng thống hay Phó Tổng Thống Joe Biden để truyền đi thông điệp hàng tuần. Đúng ra, ý tưởng này cũng không có gì mới mẻ. Hồi Tháng Năm, 2004, đảng Dân Chủ từng mời ông Paul Rieckhoff, một cựu chiến binh Iraq, truyền đi bài diễn văn hằng tuần để đáp lại bài diễn văn của Tổng Thống George W. Bush. (TP)

Khu Rừng Lau (Kỳ 132)


Người đầu tiên kha gặp là ông Toán. Ông Toán tay cầm quạt lông ở trong hàng nước đầu hàng bước ra. Ông trạc năm mươi tuổi, râu dài và rậm, loại râu mà người làng Ðịnh Quyết vẫn gọi là “râu sàm Tào Tháo”. Hồi còn trẻ ông có tiếng là “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”. Người làng ai cũng biết chuyện hổi đó ông Toán có hỏi cô Nai (tên tục mẹ Kha) hoa khôi của làng nhưng bị cô từ chối, chê là trọc phú. Cô ưng lấy chàng thư sinh gia tư bậc trung tên là Lãm mà sau này thi đỗ được bổ làm giáo viên tiểu học, dạy học năm năm ở trường phủ Hoài Ðức, rồi đuổi Tuyên Quang dạy hơn hai mươi năm nữa, ngày gần về hưu thì mất ở đó.

Bị thất tình, ông Toán bắt đầu đọc truyện Kiều và thuộc rất nhiều đoạn.

Ông đã lấy vợ và có nhiều con mà vẫn còn nhắc đến hận xưa. Thấy bà giáo hiếm-hoi, sinh nở mấy lần mà rồi chỉ còn được có Kha, ông thường nói: “Giá lấy mình có phải con cái đầy đàn không”. Thỉnh thoảng gặp Kha – hồi Kha còn nhỏ – trên đường làng, ông Toán thường chỉ vào mặt hỏi:

-Có phải mày là thằng “Tuyên” con giáo Lãm?

Kha sinh ở Tuyên Quang nên ông Toán nhất định gọi Kha là “Tuyên”, ông làm như không hề biết có tên Kha và cho rằng ông có quyền đặt tên “Tuyên” cho con ông giáo Lãm, ông lại đinh ninh rằng rồi đây cả làng sẽ công nhận cái tên đó.

Ông đã đứng tuổi, vẫn tiếp tục đọc Kiều, thuộc có thể nói gần trọn quyển và nảy ra tính thích đố Kiều. Ngày ngày sau bữa cơm, ông phe phấy cái quạt ra hàng nước, ông đọc một câu tám chữ và thách người nghe đọc ngay câu sáu chữ ở trên.
Khi vừa bước qua cổng làng, Kha nhận ngay ra ông và ông cũng nhận ra Kha ngay. Mặt ông đỏ gay, ông nói sặc mùi rượu. Ông chỉ vào mặt Kha:

-Có phải anh là thằng Tuyên con giáo Lãm ở xóm chùa? (ông phất cái quạt lông về phía trước). Trông anh tôi biết ngay là thằng Tuyên!

Ông kéo bừa Kha vào hàng. Bà hàng và mấy người có mặt trong làng lúc đó đều là bà con gần họ xa cả. Kha lễ phép cúi chào tất cả mọi người. Ông Toán nắm độc quyền câu chuyện. Ông vừa phe phẩy quạt vừa nói với “Tuyên” là ông chán đời, chán “anh Hồ” lừa dân bán nước (đã từ một năm nay có đồn binh Việt-Pháp đóng ở cánh đồng cuối làng nên những dư luận loại đó nói công khai mà không sợ). Ông chán cả mấy anh “chó chết” trong vùng quốc gia cũng lừa dân bán nước. Ông nhắc lại cho “Tuyên” nhớ – tuy chàng vẫn nhớ lắm – trước đây ông là một trong những người giàu có nhất làng. Rồi ủng hộ “anh Hồ”, rồi ba năm tản cư, rồi đến khi “biết thừa” cộng sản – tuy là mãi đến ba năm sau mới… “biết thừa” – ông hồi cư, thì gia sản mười phần còn một. Giờ đây ông chỉ còn hơn hai mẫu ruộng tốt và một ao thả cá mè. Ông chẳng ham làm giàu như ngày xưa nữa, ông uống rượu cho mát phổi – ông bảo thế – và cho quên sầu. (Thực dân còn nắm chính quyền kia, rượu đâu có thiếu!) Mỗi ngày hai bữa túy lúy! Ông còn rắp tâm hút thuốc phiện nữa (thứ này càng không thiếu) nhưng cũng là may cho ông – và không may cho thực dân – ông lại sáng suốt nhận thấy rằng ông đã sa sút, số gia sản ít ỏi còn lại kia không cho phép ông lao mình vào khói thuốc để quên sầu.

Thấy câu chuyện tâm sự của ông đã vời vợi, Kha chào ông, chào mọi người. Vừa bước ra khỏi cửa hàng, chàng đã nghe tiếng ông ngâm vang: Tấm riêng riêng những nặng vì nước non.

Tiếp theo là giọng thách thức:

-Tôi đố các ông, trên câu đó là gì?

Kha thấy bà Nụ dường như vô tình tiến về phía chàng. Bà Nụ là cô họ chàng. Kha còn nhớ hồi còn nhỏ mỗi dịp hè hay mỗi dịp giỗ Tết, họp mặt đông đủ, chàng vẫn được bà Nụ quý và chiều nhất trong hàng các cháu. Tuy rất nghèo nhưng chẳng lần nào gặp Kha bà không móc túi lấy ra cho cháu một trinh Khải Ðịnh hay ba đồng Bảo Ðại. Có lần bà móc mãi chỉ thấy có đồng trinh Minh Mạng – thứ tiền này gờ mép rộng hơn trinh Khải Ðịnh và tiêu không được – Bà cũng ân cần trao cho Kha và Kha cũng sung sướng nhận lấy, rồi cả hai cô cháu cùng hỉ hả chẳng kém gì mấy lần trước.

Tiến tới gần Kha, bà Nụ nheo mắt – bây giờ mắt bà kém rồi – bà chợt phá cười, chỉ vào mặt Kha, y như ông Toán chỉ vào mặt chàng khi nãy, bà nói:

-Cái thằng bé kia, cháu cô!

Kha cười:

-Cô ơi, cháu cứ định thủ xem cô có còn nhớ cháu không?

-Sao lại không nhớ!? – bà Nụ cướp lời – cô gì, cô lốc cô lô mà lại không nhớ cháu!

Nghe cô nói “cái thằng bé kia” chẳng khác hồi nào cháu còn nhỏ.

Bà Nụ cười… bà tíu tít, Kha không kịp xen lời. Cũng may bà Nụ phải ra thăm đồng, Kha hẹn:

-Sẽ có hôm cháu về ở hẳn nhà cô một buổi để cháu nói chuyện lâu!

Ngô Tổng Thống mời nhà báo Trần Tấn Quốc vào Dinh Ðộc Lập

 


Ngành Mai



Thời Ðệ Nhứt Cộng Hòa mà có một nhà báo nào được Ngô Tổng Thống mời vào Dinh Ðộc Lập đàm đạo là chuyện hiếm thấy, nếu người ta không muốn nói là khó có thể xảy ra. Thế mà đã có một nhà báo miền Nam: Ông Trần Tấn Quốc lại được mời gặp Ngô Tổng Thống đến 4 lần trong một tháng ắt phải có điều gì quan trọng lắm.









Thời Ðệ Nhứt Cộng Hòa, Ngô Tổng Thống đi kinh lý. Người mang kiếng đen là ông Trần Tấn Quốc. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)

Tháng Ba, 1961, ông Quốc cuốn gói về quê nhà ở Cao Lãnh, nói là để an dưỡng một thời gian sau những năm tháng dài quá vất vả gian nan với nghề nghiệp. Chớ thật ra thì đối với một người đam mê nghiệp làm báo từ thuở nhỏ như ông Quốc thì không thể an dưỡng sớm như vậy. Do đó mà những người am tường sự việc, và trong giới báo chí thì quá rành cái nguyên nhân gác bút của ông Quốc là vì cô vợ đào hát Thanh Loan, một cán bộ nằm vùng mà trong mấy kỳ trước tôi có đề cập.

Lúc bấy giờ không ai có thể tiên đoán được những gì sẽ xảy ra cho ông Trần Tấn Quốc sau khi rời Sài Gòn. Do bởi đâu đâu cũng là chính quyền quốc gia, trừ phi ông nối bước theo bà vợ đào hát Thanh Loan.

Nhưng rồi mới về Cao Lãnh ở được bảy ngày thì Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đánh công điện xuống tỉnh Kiến Phong cho Trung Tá Tỉnh Trưởng Ðinh Văn Phát bảo tìm cho được Trần Tấn Quốc, và dĩ nhiên ông Quốc phải (hay là được) trở về Sài Gòn.

Khi nhận được tin điện như vậy chính ông Trần Tấn Quốc cũng chả biết chuyện gì đây, và ông phải khăn gói trở lại Sài Gòn theo lời mời của Ngô Tổng Thống.

Sau nầy ông Quốc có kể rõ từ ngày 8 Tháng Ba đến ngày 10 Tháng Tư, 1961, trong thời gian một tháng, ông được Ngô Tổng Thống mời đến Dinh Ðộc Lập tất cả 4 lần. Nội dung đàm đạo giữa hai người thì nào ai biết được, nhưng có ai hỏi thì ông Quốc trả lời chủ yếu là để thăm dò ý kiến về các vấn đề quốc kế dân sinh, và ông được mời hội đàm với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với tư cách một ký giả mà thôi.

Có điều là sự có mặt của ông Trần Tấn Quốc ở Sài Gòn đã đương nhiên giải tỏa được cuộc khủng hoảng giải Thanh Tâm 1960. Do bởi chính ông Quốc là người công bố hai nữ nghệ sĩ Bích Sơn và Ngọc Giàu đoạt giải nghệ sĩ triển vọng năm đó.

Ðến Tháng Năm, 1961, ông Trần Tấn Quốc được phép xuất bản tờ Tiếng Dội Miền Nam, trụ sở vẫn ở 216 đường Gia Long, Sài Gòn. Thế là ông Quốc trở lại làng báo một lần nữa.

Với chuyện trở lại Sài Gòn lần này rồi tiếp tục ra báo, ông Quốc có tâm sự rằng: Sau mấy lần hội kiến với Ngô Tổng Thống chính tổng thống có nói với ông Quốc câu nầy:

“Tôi mến ông là một nhà báo có tài, tôi quý ông là một cây bút có tiết tháo…”

Khi tờ Tiếng Dội Miền Nam ra đời, lúc đó có những bàn tán xôn xao trong giới báo chí Sài Gòn. Ðại khái như: Trần Tấn Quốc được Ngô Tổng Thống chiếu cố, trong tương lai chiếc ghế Bộ Trưởng Thông Tin sẽ giao cho ông là cái chắc! Hoặc có những lời mỉa mai xem tờ Tiếng Dội Miền Nam như là tiếng nói của nhóm “gia nô” v.v…

Sở dĩ có sự đồn đãi, mỉa mai như vậy cũng có cái lý của nó, bởi từ lúc Tờ Tiếng Dội Miền Nam ra đời thì mỗi lần Ngô Tổng Thống đi kinh lý thì y như rằng, chánh văn phòng Phủ Tổng Thống gọi điện thoại báo cho ông Quốc tháp tùng phái đoàn. Và dĩ nhiên mọi tin tức sốt dẻo liên quan đến cuộc kinh lý, và những lời huấn thị của tổng thống đã được lên tờ Tiếng Dội Miền Nam.

Ông Quốc từng nói với bạn bè, với các ký giả cộng tác với ông, rằng dầu được sự chú ý của Ngô Tổng Thống, ông không bao giờ lợi dụng thời cơ để mưu đồ tư lợi, chạy theo bả công danh. Trần Tấn Quốc này chỉ biết “hành đạo” với đầy đủ lương tâm và chức nghiệp của một ký giả độc lập. Con đường làm báo của ông luôn luôn quyết tâm phục vụ theo quan niệm sống và làm người của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh: là sử dụng ngòi bút mình để “quyết làm cho điều phải nó thắng điều quấy.”

Với 40 năm làm báo, những người hiểu biết ông đều không thấy ông bị ràng buộc vào một tổ chức chánh trị nào. Từ đó người ta có thể hiểu rằng những năm đầu của thập niên 1960 qua lời đồn đãi “Trần Tấn Quốc sẽ làm Bộ Trưởng Thông Tin” cũng chỉ là câu chuyện phù phiếm.

Tờ báo Tiếng Dội Miền Nam của ông vẫn mạnh tiến với số độc giả ủng hộ càng ngày càng cao, xuất bản liên tục cho đến ngày Ngô triều sụp đổ (ngày 1 Tháng Mười Một, 1963).

Thu nhập năm 2012 của Tổng Thống Obama giảm

 


WASHINGTON (WP)Tổng Thống Obama nạp thuế $112,214 trên thu nhập $608,611 năm 2012, với mức thuế là 18.4%. Tòa Bạch Ốc cho biết hôm Thứ Sáu.










Trụ sở trung ương IRS ở Washington D.C. (Hình: AP)


Năm 2011 Tổng Thống phải đóng thuế hơn 20% trên tổng số thu nhập $789,674. Sự giảm sút năm ngoái do từ tiền chia về bản quyền các cuốn sách bán được bớt đi. Lương của Tổng Thống $400,000 một năm và Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama không có lương.

Căn nhà ở Chicago của Tổng Thống Obama phải đóng thuế $29,450 cho tiểu bang Illinois.

Năm 2012, ông bà Obama hiến tặng $150,034, cho 33 quỹ từ thiện khoảng ¼ thu nhập của họ.

Phát ngôn viên tòa Bạch Ốc Jay Carney, khi công bố tiền đóng thuế của Tổng Thống, nói rằng Tổng Thống muốn tăng mức thuế của những người giầu giống như ông. Bản thông cáo do Carney đưa ra viêt: “Tổng Thống Obama tin rằng chúng ta phải cải tổ hệ thống thuế, vì vậy ông đã đề nghị những chính sách như quy tắc Buffett theo đó những người dân Mỹ giầu có nhất phải chia sẻ một cách công bằng, trong khi không bắt những gia đình thu nhập dưới $250,000 phải chịu đóng thêm tiền”.

Cũng trong ngày Thứ Sáu, tòa Bạch Ốc công bố tiền thuế Phó Tổng Thống Joe Biden và bà Jill Biden phải đóng cho liên bang là $87,851, với mức thuế khoảng 22.8%. Thu nhập của hai người tổng cộng $385,072 trong đó có lương Phó Tổng Thống $225,540, lương bà Jill Biden ở Northern Virginia Community College $82,046. Họ cũng phải đóng $13,531 thuế cho tiểu bang Delaware vẫn được giữ làm nơi cư ngụ chính và $3,593 thuế cho Virginia nơi bà Lill Biden làm việc.

Ông bà Biden hiến tặng các quỹ từ thiện $7,190 năm 2012 không kể quần áo và vật dụng, cùng với $2,400 tiền mặt cho giáo hội công giáo Wilmington, Delaware. (HC)

Vụ kiện tài sản cơ sở chùa Phổ Quang sắp kết thúc

 


* Phóng viên Người Việt Utah


Theo nguồn tin chính thức từ Chùa Phổ Quang, vụ thưa kiện từ Ðạo Tràng Pháp Hoa San Jose, California và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ tranh chấp tài sản cơ sở Chùa Phổ Quang tại tiểu bang Utah với Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Utah Chùa Phổ Quang, Phật tử địa phương yêu cầu GHPGVNTN trả lại chùa cho bá tánh địa phương, đã ra tòa ngày 12 tháng 3, 2013.








Vào sáng ngày 13 tháng 3, 2013, Tòa án đã ra phán lệnh, bác bỏ tất cả những lời biện hộ của luật sư đại diện Ðạo Tràng Pháp Hoa San Jose, California và GHPGVNTN, đồng thời Tòa án đã chấp thuận tất cả lời thỉnh cầu của luật sư đại diện Chùa Phổ Quang đưa thêm các bằng chứng mới, phản bác các lời khai của Giáo Hội và Ðạo Tràng Pháp Hoa đã nói trong khi thẩm cung vào tháng 12, 2012 vừa qua.







Phiên tòa kế tiếp đã ấn định vào ngày 6 tháng 5, 2013. Cho tới hiện nay, phía Giáo Hội và Ðạo Tràng Pháp Hoa vẫn tiếp tục vụ kiện dù rằng nhiều thuận lợi đang nghiêng về Phật tử chùa Phổ Quang.

Trung tân Văn Hóa Utah tổ chức triển lãm nghệ thuật và văn hóa Việt “Seeing and Hearing Vietnam’

 


* Phóng Viên Người Việt Utah


Ngày 27 tháng 3, 2013 vừa qua, đại diện Tuần Báo Người Việt Utah đã có cuộc họp với ông Michael Christensen, đại diện của Trung Tâm Ða Văn Hóa Utah, bà Susan Klinker và ông John Steele để bàn chi tiết cho việc tổ chức buổi triển lãm nghệ thuật và văn hóa Việt Nam, nhằm giới thiệu về đất nước và con người, văn hóa và những mỹ thuật phẩm Việt Nam.








Cuộc triển lãm sẽ được diễn ra từ Thứ Năm ngày 16 tháng 5, 2013 đến Thứ Tư ngày 26 tháng 6, 2013 sẽ có nhiều chương trình văn hóa như triển lãm nghệ thuật như hình ảnh, tranh ảnh, nhạc cụ, tác phẩm nghệ thuật đương đại, đồ cổ, nhạc cụ, trang phục truyền thống Việt Nam, và nhiều tác phẩm văn hóa khác. Ngoài ra còn có một chương trình biểu diễn âm nhạc cổ truyền của Việt Nam.

Ban Tổ Chức chúng tôi kêu gọi Cộng Ðồng Người Việt Utah, các hội đoàn người Việt, các nghệ sĩ, những người sưu tầm, sưu tập hoặc các chủ nhân những tác phẩm nghệ thuật, mỹ thuật mang tính văn hóa Việt Nam hãy gửi tác phẩm tham dự cuộc triển lãm này.

Ðây là một cơ hội hiếm có để chúng ta có thể giới thiệu đến mọi người những nét đẹp văn hóa của quê hương Việt Nam. Xin quý vị đại diện các hội đoàn Việt và đồng hương phổ biến rộng rãi.

Mọi tác phẩm tham dự sẽ được xét duyệt trước khi trưng bày. Ðể tiện việc sắp xếp, quý vị đóng góp đồ vật vào buổi triển lãm xin gửi tác phẩm tham dự kèm theo những chi tiết sau đây về Mr. Michael Christensen, email: [email protected]:

-Một bức ảnh (digital image) về đồ vật/tác phẩm với kích thước và chất liệu thực hiện.

-Một hay hai dòng giới thiệu về đồ vật/tác phẩm với tên tác giả, nếu biết.

-Họ tên người gửi, địa chỉ hộp thư điện tử (email) và số điện thoại liên lạc.

Hạn chót nộp hình cùng những chi tiết kể trên là ngày 2 tháng 5, 2013.

Buổi khai mạc sẽ bắt đầu lúc 8 giờ tối Thứ Năm ngày 16 tháng 5, 2013 với thức ăn nhẹ và một chương trình trình diễn nhạc cổ truyền Việt Nam. Vào cửa tự do, tại địa điểm Trung Tâm Ða Văn Hóa Utah, 1355 West 3100 South, West Valley City, UT 84119.

Muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc: (801) 965-5100 hay vào trang nhà www.culturalcelebrtaion.org hoặc facebook.com/CulturalCelebration

Giới thiệu sách

 


Trăng Vàng


Trịnh Công Sơn


Người hát rong qua nhiều thế hệ được nhà xuất bản Trẻ xuất bản sau khi Trịnh Công Sơn qua đời. Sách in theo dạng khổ trung, dày 416 trang. Mỹ thuật do Nguyễn Văn Vinh trình bày. Bài vở do Trần Thanh Phương và các bạn bè của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sưu tầm.

Tập sách được chia làm 3 phần:

Phần I: Những bài viết của Trịnh Công Sơn.

Phần II: Những bài viết về Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trước ngày 1 tháng 4, 2001.

Phần III: Những bài viết của bạn bè, đồng nghiệp sau ngày 1 tháng 4, 2001 và một số ảnh tư liệu về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
Muốn mua sách, xin liên lạc với Nhà Sách Sài Gòn qua địa chỉ 2718 Nicollet Ave., S. suite 101, MPLS, MN 55408. ÐT: 612-870-0652 hay Fax: 612-872-5616.

Khu Rừng Lau (Kỳ 131)

Kỳ 131


Cũng kể từ ngày đi dạy học, Kha ít có thì giờ đến thăm bà Phán. Hãng thì tới thăm Kha luôn thỉnh thoảng thoảng vào dịp đi vắng vài ngày Hãng đến báo cho biết trước. Tuy nhiên cho đến giờ, Hãng làm ở đâu chính Kha, Hiển cũng không biết, và chẳng cần biết, nhất là Kha, chàng thấy rõ Hãng luôn luôn lảng tránh mỗi khi câu chuyện có thể đưa đến câu hỏi đó.

Ðã hơn một tháng gần Miên! Những ngày còn ở trong nhà giam, Kha nghĩ hễ được tha, chàng sẽ thú thực, lòng quý mến của chàng với Miên ngay. Nhưng đến nay chàng thấy không cần. Chàng cho rằng cách sống hợp với chàng nhất và xứng đáng với tình bạn của Hiển, nhất là thẳng thắn coi Miên như em, rồi khi hoàn cảnh thuận tiện, sẽ thẳng thắn hỏi Miên làm vợ.

Cuối tháng vừa rồi lĩnh lương hơn ba ngàn, Kha đưa cả cho Miên làm thủ quỹ, rồi mỗi khi chàng và Hiển cần tiêu món gì lại hỏi Miên, điều đó không đủ là một lời hứa hôn sao?

Ba ngày trước đây Kha có tạt vào thăm bà Phán. Bà nói:

-Tuần nào em Thi cũng ra đây một lần. Em có hỏi thăm anh.

Kha nghĩ thầm nếu chàng về làng, chàng sẽ sang thăm Thi ngay. Ôi, chàng quên sao được kỷ niệm ngày đầu chàng hôn Vân đến thác loạn tâm thần, ngày đó Thi còn nhỏ xíu… Ngày chàng dời đồn điền, Thi mới mười tám. Tới ngày nay ồ tính ra Thi đã hai mươi ba tuổi, dễ thường bằng tuổi Miên, vậy thời Thi đã trưởng thành rồi, chẳng biết trông Thi có khác xưa nhiều?
Sáng nay không rõ bực dọc điều gì ông Cai lại ra sân dang tay, ưỡn ngực:

-Chà tôi muốn về quê quá đi mất!

Phải về thăm quê chứ! – Kha nghĩ thầm như vậy. Chàng muốn về quê ra đồng thăm mộ mẹ, chàng muốn về thăm làng cũ, gặp bà con anh em, những người chân phương thật thà, chàng muốn về quê nhìn lại căn nhà cũ và sang thăm Thi một chút… Nhưng điều cốt yếu là đến đứng dưới mái hiên nơi chàng ôm Vân lần đầu.

Thế là tới ngày Chủ Nhật tuần đó, trong khi Hiển đưa Miên đi gặp mấy người quen để hỏi về đơn xin của Miên và nhà thương Phủ Doãn sao chưa được chấp thuận. Kha nhất quyết một mình về làng tuy chàng chưa có thẻ căn cước.

Ngày hôm đó trời bỗng nhiên vẩn mây, gió hiu hắt. Người ta cho Kha biết Tây thường về vây các làng vào lúc gà gáy rồi kiểm soát cho đến trưa, chàng bèn đợi đến chín giờ sáng mới ra bến xe điện mang theo một cái cặp trong đựng vài thứ quà. Xuống xe điện ở Kim Liên, đi một quãng nhỏ nữa, rẽ vào con đường đồng bên trái, Kha đã trông thấy cây si, lũy tre thưa và cổng làng loang lổ xiêu vẹo. Tới gốc si đầu làng, nhân vắng bóng người, chàng dừng lại ngắm cảnh chung quan rồi ghé mắt nhìn theo con đường chính từ cổng hút vào.

Kha mới xa Việt Bắc có hơn một tháng nay, khu cảnh rộng lớn của núi rừng cong nguyên vẹn trong trí. Về tới Hà Nội nơi hoàn toàn do bàn tay người tạo tác, nhưng số người đông, số nhà đông, số đông đánh lừa được cảm giác của Hà Nội với cảnh núi cao rộng của Việt Bắc. Nay về tới đầu làng, ngắm làng nằm giữa thiên nhiên, Kha chụp ký ức thiên nhiên Việt Bắc vào làng và chàng thấy làng nhỏ xíu đến tức cười. Ngày xưa con đường chính của làng sao mà dài, gò lưng phóng xe ngoẵn ngoèo mãi mới tới nhà; giờ đây cũng con đường ấy trước mắt Kha sao mà nhỏ, hẹp tưởng chỉ cần bước mấy bước là đã đến ngay cổng chùa cuối làng. Nhà của hai bên đường tuy có chiều đổ nát nhưng vẫn còn đủ, xưa kia hai dãy nhà đó sầm uất biết bao, nay trông lại Kha bâng khuâng có cảm tưởng tất cả những dãy nhà đó, tất cả những đường ngàn lối dọc kia đều như bày như đắp trên… sa bàn và chính Kha cũng vừa biến thằng bé tí con để hợp với trò trẻ con đó.

Kha chui vào cổng làng, đặt bước đầu tiên trên con đường chính lát gạch xếp nghiêng. Kể từ lúc đó chàng luôn luôn chỉ đi được vài bước phải dừng. Các ông chú bà bác, anh em trọng họ ngoài làng hầu như từ hai bên đổ ra, từ phía trước lại liên tiếp… liên tiếp… Nào những lời thăm hỏi, nào những lời ôn qua chuyện cũ, nào những lời trách móc thân mật… Tới đâu chàng cũng thấy dấu vết chiến trang sự hàn gắn tuy có nhưng chỉ tạm bợ. Thêm một điều lạ: Mọi người đua nhau để râu dài. Nhiều anh em cỡ tuổi Kha để râu quai nón xồm xoàm trông đến hay. Mãi về sau Kha mới vỡ lẽ: Sự cố tình già như vậy là để khỏi bị Tây bất chợt về làng bắt đi phu. Vào trường hợp đó, nạn nhân chỉ vào bộ râu nói: “Moi, vieux notable!” (Tôi là kỳ mục già nua mà!) May thì được tha.

Tản mạn thơ văn

 


Mắt nai… quyến luyến


Thơ: Chân-Trời-Chân-Mây


Ta thường thân trọng tình chung,
Thương em trẻ dại muôn trùng vắng xa.
Ðêm trôi nổi bóng trăng ngà,
Nhìn em kiêu hãnh nhành hoa anh đào!


Tên em ghi khắc hôm nào,
Mai sau mai mãi ngọt ngào nhân gian!
Dáng thanh Gái Việt điệu đàng,
Tâm tư điềm đạm ngọc vàng quý yêu!


Quý yêu đâu tả chi nhiều,
Lén nhìn một chút… thiếu điều ngất ngư!
Tình ta nước ngập trào bờ,
Dõi trăng tâm thức tảng lờ ánh sao!


Con nai quanh quẩn thăm chào,
Ngây thơ mấy thuở đời nào… đã quen.
Tánh lành chưa hiểu bon chen,
Hoang vu cặp mắt tròn đèn… thiết tha!


Em về đất ấm Xuân ca,
Em về đúng lúc rừng hoa đón chào!

Thái Văn
(4 tháng 3, 2013)
______


Sân vườn cúc trắng


Thơ: Chân-Trời-Chân-Mây


Mùa Xuân vừa nhú trước nhà,
Nhìn quanh cảnh thuộc… vẫn là thương em.
Bên này tuyết xuống trùm đêm,
Bên em cây mận, nắng mềm nhánh hoa!


Con nai hoang dại thiệt thà,
Biết anh đau khổ… nên sà bên anh!
Cây dù tim tím ly tình;
Sầu ơi, anh chứa trong mình đắng cay!


Tội chưa, đời chẳng còn dài,
Sao em chủ ý quân bài… nhớ quên!
Bao giờ quên tuổi, họ, tên,
Ta thăm địa ngục là lên thiên đàng!


Mây xanh lộng kiếng mơ màng,
Bầy nai chó rượt chạy quàng đồi xa.


Không cười, môi chúm duyên hoa,
Thương em, hâm mộ nhớ bà Quan Âm!
Mắt hiền ngó xuống trăm năm,
Vần thơ ẩn nhẫn thăng trầm trần gian!


Ở đâu tráng lệ, huy hoàng,
Sao bằng cúc trắng bên nàng tri âm!

Thái Văn
(Vạn Hồ, Maple Grove , 5 tháng 4, 2013)
_____


Bên thơ


Thơ: Mỹ Trinh


Bên thơ gió nói thì thầm
Xuân về rồi đó thăng trầm cũng qua
Cũng thời cũng sắc với hoa
Trăm năm một thoáng chiều tà mênh mông
Bên thơ nắng ướp hương nồng
Giấu xuân trong áo giấu hồng trong tim!


Bên thơ ai biết nỗi niềm
Vẽ xuân hoa mộng vẽ triền núi cao
Ðỉnh trời mây hát ngọt ngào
Vực sâu thin thít hư hao đã mòn
Bên thơ chữ ướp vàng son
Khoe trăng tròn nở khoe non nước tình!
_____


Tiễn tinh anh hùng


Thơ: Luân Tâm


Anh ơi…
Rừng thiêng nước độc tha ma
Không chim không thú không quà thăm nuôi
Thân yêu vượt biên hết rồi
Hay là giặc cướp chôn vùi xác xơ


Xương tàn cỏ úa rêu mờ
Không tên không tuổi sững sờ thần kinh
Tình nhà nợ nước quê mình
Tiền nhân hận hải cháy đình địa linh


Tháng Tư đen đỏ tội tình
Tâm hương một nén tiễn tinh anh hùng
Ru anh suối ngọt bao dung
Dỗ anh sương núi mưa rừng gió trăng


Ðạn tha tên tránh sống nhăn
Ðội trời đạp đất chống ngăn hung tàn
Ai ngờ gãy cánh đại bàng
Gươm thiêng chiến mã khăn tang tóc sầu


Ðất thiêng tiên bồng anh đau
Lửa thiêng hồn nước chôn nhau mẹ chờ
Ðất bằng sóng dậy vỡ bờ
Ðại nghĩa cứu nước dựng cờ diệt gian


Xin anh rong chơi thiên đàng
Cháu con anh thật cao sang thành tài
Tre tàn măng mọc thiện tai
Chim hồng lạc tổ vẫn hoài hương quê


Một mai văn minh đi về
Dời non lập mộ bia thề ghi công
Cốt nhục tâm linh tương thông
Ruột mềm máu chảy tiên rồng còn nguyên


Tha ma nước độc rừng thiêng…
Anh ơi…
(MD, 14 tháng 4, 2012)
_____


Run run thơ hát lửa tình thắp mơ


Thơ: Hoài Thương


Ầu ơ… trầu héo cau khô
Anh đi đánh giặt đội mồ lưng cong
Quê cha thương hận phập phồng
Ca dao chết đói bên dòng sông xanh


Ầu ơ… trăng khóc trên cành
Không ai bậu bạn em giành khóc theo
Bao năm quê cũ còn nghèo
Bao năm quốc hận cheo leo đỉnh trời


Ầu ơ… nước mắt mẹ rơi
Thương con gái khúc nửa vời xuân ca
Ðất mòn tìm xác của cha
Cho đàn con nhỏ chiều tà ấm êm


Ầu ơ… sông chảy tình mềm
Chân cầu nước cuốn lênh đênh siết lòng
Lạc loài bến hẹn hư không
Lạc loài tình chết lửa hồng tàn tro


Ầu ơ… hạt mẹ nuôi cò
Ngậm cay nuốt đắng cuối bờ tử sinh
Kiên trường nhẫn nhục ân tình
Run run thơ hát lửa tình thắp mơ


Ầu ơ… trầu héo cau khô
Anh đi đánh giặt đội mồ lưng cong
Quê cha thương hận phập phồng
Ca dao chết đói bên dòng sông xanh…!
_____


Một cổ trăm tròng


Thơ: Luân Tâm


Ba mươi tám năm tháng tư đen
Ðường hầm giải phóng cõng rắn hèn
Một cổ trăm tròng dân nô lệ
Vận nước tới trôn cướp ngày đêm…
(MD, 2 tháng 4, 2013)

Trình bày lịch sử truyền khẩu tại University of Minnesota

 


Mai Hoàng


MINNEAPOLIS, Minnesota – Chị Phước Trần, quản thủ thư viện, là một trong các thuyết trình viên về lịch sử truyền khẩu trong buổi sinh hoạt do Asian America Studies Department tại Ðại Học University of Minnesota ở Minneapolis (U of M) tổ chức.

Chương trình được bắt đầu lúc 1pm và chấm dứt lúc 3pm tại tòa nhà Coffman Union trong khuôn viên Ðại Học Minnesota.

Buổi nói chuyện đã cho khán thính giả biết về dự án mà trước đây chị Phước và một số người trong cộng đồng Việt Nam tại Minnesota tham dự. Cùng có mặt tại buổi thuyết trình và mạn đàm còn có các thành viên David Zander và Pa Yang thuộc Council on Asian Pacific Minnesotans.

Buổi thuyết trình và thảo luận đã đem lại nhiều thích thú cho mọi người tham dự.

Thượng Nghị Sĩ Black giải thích về Nghị Quyết SJ455

 


Nguyễn Ngọc Bích


Sau khi có tin là Nghị quyết Lưỡng viện SJ455 của Virginia đã được thông qua để lập ra một “Ngày Việt Nam Cộng Hòa” (Republic of Vietnam Day) ở Virginia, nhiều người đã gọi về để chia sẻ sự mừng vui khi nhận được tin này.

Từ Seattle, Washington State, cựu Ðại Tá Phạm Huy Sảnh đã yêu cầu gởi cho ông và các bạn thuộc nhiều binh chủng trong Quân Lực VNCH miền Tây bắc bản văn của nghị quyết bằng tiếng Anh để xem có thể đưa ra được những nghị quyết tương tự ở các tiểu bang miền Tây Bắc Hoa Kỳ hay không. Giáo Sư Nguyễn Chính Kết ở Houston, Texas, cũng gọi lên ca ngợi việc làm này của đồng bào ở Virginia. Từ Arizona cũng có người yêu cầu được có bản tiếng Anh “để vận động ở Arizona” cho một bản nghị quyết tương tự. Chương trình Văn Hóa Nhân Bản Lạc Việt ở Nam Cali cũng ngỏ ý muốn được phỏng vấn về câu chuyện hình thành nghị quyết tiên phong này. Từ Paris, một cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên cũng muốn có một bản tiếng Anh để phổ biến đến các bạn ở Âu Châu.

Nhưng đặc biệt nhất là có một vị, ký tên Thi Kham Nguyen ở Côte d’Azur miền Nam nước Pháp, đã điện cho Thượng Nghị Sĩ Dick Black, người đỡ đầu cho Nghị quyết SJ455 từ những ngày đầu tiên cho đến khi nó được thông qua vào tháng 2, 2013. Ðiện thư của vị phụ nữ này viết gỏn gọn có mấy chữ: “Thank you for VN Day that you’re agreed with us: Republic VN Day+Forever” (“Cám ơn thượng nghị sĩ đã đồng ý với chúng tôi về một Ngày VN: Ngày VNCH Mãi Mãi”). Vì văn phòng TNS Dick Black không rõ về giới tính của người viết điện thư nên đã trả lời và xem đó là một người đàn ông. Văn phòng ông đã chuyển đến cho chúng tôi nội dung lá thư và xin một bản dịch Nghị quyết S455 sang tiếng Việt để có thể gởi cho vị phụ nữ nói trên. Chúng tôi đã cho văn phòng ông biết người viết là một phụ nữ, nhưng dưới đây chúng tôi xin dịch nguyên văn thư trả lời lúc ban đầu của TNS Black. Thiết tưởng lá thư này cũng giải tỏa được một số thắc mắc mà người Việt chúng ta có thể có được về nghị quyết vừa thông qua ở Virginia. Lá thư có tiêu đề của văn phòng TNS Black với nội dung như sau.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2013

Thưa ông Nguyễn:

Cám ơn ông đã gửi cho tôi điện thư về nghị quyết mà tôi đã thảo ra và đưa ra khóa năm nay, 2013, để cho Ðại Nghị Viện Virginia thông qua. Nghị quyết đặt ra lệ là kể từ nay, ngày 30 tháng 4 sẽ được đánh dấu như Ngày Việt Nam Cộng Hòa ở Virginia. Nghị quyết đó đã được đồng thanh biểu quyết ở Thượng Viện và chỉ có một phiếu chống trong số 100 dân biểu ở Hạ Viện.

Tôi viết nghị quyết trên là để tạo ra một văn bản lịch sử chính xác và vĩnh viễn về sự can trường của người Nam Việt Nam đã chiến đấu chống bạo quyền Cộng sản. Nghị quyết ghi lại cái dã man ác độc của bọn đồ tể đã cưỡng chiếm được miền Nam. Nó nêu ra chuyện hai triệu người đã bỏ trốn khỏi “Thiên đàng Nhân dân” của tên độc tài khát máu Hồ Chí Minh. Nó kể lại chuyện những quân nhu quân cụ bị cắt đứt, làm cho những chiến binh anh dũng của Quân Lực VNCH đã không còn đạn dược để tiếp tục chiến đấu, và chuyện hơn một triệu người vô tội đã bị gởi đi đến các trại tập trung, nơi dây khoảng 1/3 số người trong đó đã chết.

Hiệp Hội Thương Mại Á Châu đã mời một nhóm cựu quân nhân và cựu cảnh sát VNCH đến văn phòng của tôi để bàn thảo cái nghị quyết và đảm bảo là nó chính xác. Tôi biết ơn ông Tính Phan, chủ tịch, và bà Mỹ Lan Trần, giám đốc điều hành của hiệp hội, đã đứng ra tổ chức buổi gặp gỡ đó. Tôi cũng biết ơn ông Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch Ban Ðiều Hợp Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ, là đã đóng vai trò hướng dẫn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt, cũng như Thượng Nghị Sĩ Toddy Puller và các dân biểu Mark Keam và Bob Marshall, mỗi một vị này đã có một vai trò đặc biệt trong việc biến nghị quyết thành hiện thực.

Chúng tôi đang dịch nghị quyết sang tiếng Việt, và tôi mong rằng nghị quyết này sẽ vào được tận Việt nam hiện đang bị [CS] chiếm đóng. Nhân dân Việt Nam đáng được biết là tiểu bang Virginia công nhận sự can trường của người miền Nam VN trong chiến đấu và rằng những hy sinh của họ sẽ không bị lãng quên.

Là một phi công, tôi đã chuyên chở hàng trăm binh sĩ VNCH đi vào chiến trường. Như một sĩ quan bộ binh thuộc Trung Ðoàn 1 TQLC Mỹ, tôi đã tham dự nhiều trận chiến dưới đất vai kề vai với các binh sĩ VNCH anh dũng.

Trước khi rời VN, tôi bị thương trong một trận ở sông Hội An, ở phía Nam Ðà Nẵng. Tôi hy vọng là những người con, trai cũng như gái, của những anh hùng đã chiến đấu để bảo vệ tự do của Việt Nam Cộng Hòa sẽ học được sự thật khi nghị quyết này về đến tận Việt Nam đang bị [CS] chiếm đóng cũng như đi ra khắp thế giới.

Thân kính,

[ký tên]

Richard H. Black
Thượng nghị sĩ Virginia, đơn vị 13

Lá thư chủ nhiệm

 


Tranh đấu cho quyền bảo lãnh thân nhân


Hiện nay Quốc Hội Hoa kỳ đang soạn thạo chính sách cải tổ di dân. Chính sách này đang nằm trong sự giằng co giữa lao động và đoàn tụ gia đình. Hiện nay đoàn tụ chiếm 65%, trong khi đó chỉ có 14% là di dân theo chiếu khán lao động và 21% còn lại là các trường họp tị nạn & nhân đạo.

Công việc soạn thảo khung sườn cho chính sách di dân được ủy thác cho 8 thượng nghị sĩ. Bốn thượng nghị sĩ Cộng Hòa gồm John McCain (AZ), Lindsey Gram (SC), Marco Rubio (FL) và Jeff Flake (AZ). Thượng nghị sĩ Dân Chủ gồm Dick Durbin (IL), Charles Schumer (NY), Robert Menendez (NJ) và Michael Bennet (CO).

Các doanh nghiệp và các tổ chức công đoàn đang vận động mạnh mẽ để tăng chiếu khán lao động. Rất có thể ảnh hưởng đến quyết định cắt giảm chiếu khán bảo lãnh thân nhân và cộng đông Việt nam sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều.

Chúng tôi xin kêu gọi mọi người cùng tham gia vào các cộng đồng Mỹ gốc Á để cùng nhau vận động bảo vệ chiếu khán đoàn tụ gia đình. Nhất là những vị thuộc các tiểu bang có tám thượng nghị sĩ này cần gửi email, đánh fax hay gọi điện thoại để nói lên nguyện vọng của chúng ta.

Trân trọng

Huỳnh Sĩ Nghị

Chủ nhiệm

Nhận định của nhà báo Phạm Trần

 


Về bản án oan sai, vô đạo đức đối với gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn ngày 5 tháng 4, 2013 của Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng


Vì đây là vụ án tranh chấp đất đai lịch sử giữa một gia đình nông dân hiền lành, chất phác và cần cù lao động chống cường quyền đàn áp cướp đi công lao mồ hôi và nước mắt của người dân nên từ Hoa Kỳ, tôi đã theo dõi phiên tòa từ đấu đến cuối qua tường thuật và bình luận của hầu hết các cơ quan ngôn luận của Nhà nước Việt Nam và của nước ngoài cũng như các bài viết của các nhà truyền thông xã hội ở Việt Nam.

Sau đây là quan điểm của tôi sau 4 ngày xét xử (2-5 tháng 4, 2013) với tư cách một nhà báo chuyên theo dõi và bình luận về các vấn đề Việt Nam từ 38 năm qua cho các cơ quan truyền thông của người Việt Nam ở nước ngoài:

Tôi thấy rằng:

Thứ nhất, bản án 15 năm 6 tháng tù dành cho 4 người trong gia đình ông Ðoàn Văn Vươn và các ông: Ðoàn Văn Quý, Ðoàn Văn Sịnh và Ðoàn Văn Vệ, cũng như 33 tháng “tù treo” và 66 tháng “thử thách (theo dõi)” áp đặt cho hai bà Phạm Thị Báu (tự Hiền vợ ông Quý) và bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) là hoàn toàn phi pháp, vi phạm nghiêm trọng quyền con người, phản bội đạo đức và luân lý truyền thống của dân tộc Việt Nam, chà đạp lên điều được gọi là “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền,” bất chấp đa số dư luận nhân dân đã đứng về phía gia đình ông Ðoàn Văn Vươn và hoàn toàn chống lại kết luận (số 43/TB VPCP) ngày 10 tháng 2, 2012 của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng “Về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.”

Thứ nhì, quyết định của chủ tọa phiên tòa Phạm Ðức Tuyên trong vụ án Ðoàn Văn Vươn đã để lại một vết nhơ cho lịch sử ngành ngành Tư pháp của Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vì ông đã hành xử quyền hạn của mình thấp kém, thiếu vô tư, không công chính như Chánh án De Rozario, đã biết bảo vệ công lý và danh dự cho chính quyền thuộc địa Pháp trong phiên Tòa Ðại Hình Cần Thơ xét xử vụ án tranh chấp đất đai Nọc Nạn (Bạc Liêu) ngày 17 tháng 8 năm 1928.

Thứ ba, khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kết luận: “Do quyết định thu hồi đất không đúng với quy định của pháp luật đất đai nên quyết định cưỡng chế thu hồi đất cũng không đúng pháp luật” của chính quyền huyện Tiên Lãng với sự đồng tình và yểm trợ của chính quyền thành phố Hải Phòng thì vụ án gia đình Ðoàn Văn Vươn, đúng lý ra, không thể giải quyết tùy tiện theo ý đồ bao che tội phạm cho lực lượng cưỡng chế đã gây ra cho gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn, người đã một thời được báo chí vinh danh là “anh hùng lấp biển.”

Thứ Tư, chủ trương truy tố ông Ðoàn Văn Vươn là gia đình về các “Tội giết người” và “Chống người thi hành công vụ” hoàn toàn sai với hoàn cảnh thực tế, trái pháp luật, không hội đủ các yếu tố cấu thành tội phạm trong hoàn cảnh người dân bị ức hiếp bất công đến tận cùng, không còn đường thoát nên đã quyết tâm phải bảo vệ tài sản và công lao bằng mọi giá. Gia đình ông Ðoàn Văn Vươn không hề có vũ khí giết người, không chủ tâm “giết người” như cáo buộc được nói công khai trước tòa của một số bị cáo là bị “ép cung, mớm cung và ký tên vào giấy trắng để sau đó nhân viên điều tra tự ý quy kết tội phạm giết người” như trường hợ ông Ðoàn Văn Vệ. Ông Vệ còn tố cáo tại tòa việc vợ ông phải nạp 30 triệu đồng cho một nhân viên điều tra, nhưng người này không hề can thiệp cho ông được nhẹ án như đã hứa.

Tòa cũng không hề gọi viên chức này ra đối chất để chứng minh “đúng, sai.”

Thứ năm, các chính quyền xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng và thành phố Hải Phòng đã bất chấp hoàn cảnh của gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn, không đặt mình vào vị trí của những người dân bị oan khiên, bức hiếp để có quyết định công minh. Ngược lại, cả 3 chính quyền này đã toa rập, đồng lõa để cướp đi công lao, mồ hôi, nước mắt và máu (hy sinh chết đuối của con gái ông Ðoàn Văn Vươn tại nông trại) với toan tính biến khu đất mầu mỡ này thành một dự án sân bay đem lại bổng lộc kếch xù cho những viên chức có chức, có quyền.

Thứ sáu, chính quyền Thành phố Hải Phòng đã không thi hành đúng kết luận của thủ tướng chính phủ để “xét xử công khai, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.” Bởi vì chính quyền này đã ngăn chặn người thân và người dân không được vào tham dự phiên tòa. Lực lượng công an còn đàn áp, đánh đập, đe dọa, khủng bố và bắt giam trái phép nhiều nhà báo truyền thông xã hội và cảm tình viên với gia đình Ðoàn Văn Vươn khi họ đến khu vực tòa án ngày 2 tháng 4, 2013.

Với kết luận trong bản án ngày 5 tháng 4, 2013 của chủ tọa phiên tòa Phạm Ðức Tuyên, rõ ràng ông đã không “bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật” như yêu cầu của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, vì vậy ông Tuyên đã vi phạm luật pháp khi không bảo vệ được tính “độc lập của Tư pháp.”

Vì vậy tôi kết luận rằng: Bản ánh dành cho gia đình ông Ðoàn Văn Vươn hoàn toàn chà đạp lên công lý vì nó đã chứng minh Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam không phải là “nhà nước pháp quyền” của dân, do dân và vì dân mà là của những người có chức, có quyền muốn sử dụng luật pháp để phục vụ quyền lợi cho một thiểu số cầm quyền độc tài và không có đạo đức như những người Việt Nam và người Pháp văn minh sống trong thời đại của vụ án Nọc Nạn 75 năm về trước.

Hậu quả của vụ án Ðoàn Văn Vươn đã để lại cho xã hội và nông dân Việt Nam ở thế kỷ 21 một bài học rất cay đắng và nghiệt ngã không kém gì vết nhơ của đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi trong vụ án Cải Cách Ruộng Ðất từ 1953 đến 1960 ở miền Bắc.

Phạm Trần

(5 tháng 4, 2013, ngày có bản án gia đình ông Ðoàn Văn Vươn như ghi dưới đây:

Ðoàn Văn Vươn: 5 năm tù giam về tội giết người

Ðoàn Văn Quý: 5 năm tù giam về tội giết người

Ðoàn Văn Sịnh: 3 năm 6 tháng tù về tội giết người

Ðoàn Văn Vệ: 2 năm tù về tội giết người

Phạm Thị Báu (Vợ ông Quý): 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng về tội chống người thi hành công vụ.

Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn): 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng về tội chống người thi hành công vụ.)

Cộng Hòa tái khẳng định chống hôn nhân đồng tính

 


WASHINGTON (Washington Post)Uỷ Ban Cộng Hòa Quốc Gia (RNC) hôm Thứ Sáu vừa tái khẳng định hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam với một người nữ, và kêu gọi Tối Cao Pháp Viện “hãy bảo vệ tính chất linh thiêng của hôn nhân.”








Reince Priebus dược bầu làm tân chủ tịch Uỷ Ban Cộng Hòa Quốc Gia (RNC) hồi Tháng Giêng 2011, tại National Harbor, Maryland. (Hình: Alex Wong/Getty Images)


Một nữ phát ngôn viên của ủy ban cho biết, tại hội nghị RNC tổ chức ở Los Angeles, các thành viên đều đồng ý thông qua một loạt các nghị quyết nói trên mà hoàn toàn không có một tranh luận nào. Một trong số đó tái khẳng định “hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam với một người nữ, và trong một môi trường như thế mới nuôi dưỡng được những đứa con lành mạnh cho tương lai của nước Mỹ.”


Tối Cao Pháp Viện đang tranh luận hai trường hợp liên hệ đến hôn nhân đồng tính. Một về việc California đưa ra luật cấm sự hôn phối này, trong khi trường hợp khác liên quan đến đạo luật bảo vệ hôn nhân Defense Of Marriage Act của liên bang, trong đó ngăn không cho những cặp hôn nhân đồng tính được nhận một số phúc lợi của liên bang.


Nghị quyết của RNC có đoạn nói: “Uỷ Ban Cộng Hòa Quốc Gia kêu gọi Tối Cao Pháp Viện hãy bảo vệ tính chất linh thiêng của hôn nhân, qua phán quyết đối với Proposition 8 của tiểu bang California và đạo luật bảo vệ hôn nhân Defense Of Marriage Act của liên bang.” (TP)

Khu Rừng Lau (Kỳ 130)

Kỳ 130


 



Ông cai dang rộng hai cánh tay:

-Ðấy có phải không ông giáo?

Rồi ông ôn tồn tiếp:

-Ông giáo ạ, lắm lúc nhìn đời, tôi muốn về làng tậu mẹ nó mấy thửa ruộng, rồi cáy cấy chăm nuôi lấy mà ăn, quanh mình ông chú bà bác, ông cậu bà dì, anh em thân thuộc toàn là những người chân phương thật-thà, thế lại hay. Nhưng chết cái, không được ông giáo ạ, các người ở vùng quê mình dạo này khổ lắm. Ừ thi mấy thằng Việt-Minh giết chết mấy thằng Tây thực dân, rồi mấy thằng Tây thực dân lại giết chết mấy thằng Việt-Minh chết tiệt phản dân hại nước, chúng nó cứ việc giết lẫn nhau cho đến khi cả hai bên cùng chết cả, như thế còn gì bằng! Nhưng cái thằng bỏ mẹ Việt-Minh lại cắn trộm thằng Tây mấy cái, thằng Tây nổi khùng nhảy xổ lại đánh, thì đầu chẳng phải tai, chỉ chết dân, khổ thế!

Kha gật đầu:

-Khổ thật, người dân mình khổ thật, những lời nhận xét của cụ thật chí lý. Thoáng thấy Hiển, Miên đã đậy rửa mặt, Kha xin phép ông cai về buồng.

Ông cai thủng-thẳng ra sân thở phào một tiếng, dang tay ưỡn người như để xua cho hết nỗi bực dọc chứa-chất trong lồng ngực ra, rồi ông cất giọng oang oang:

-Chà tôi muốn về quê quá đi mất!

Và từ đấy cứ mỗi lần bất bình với cuộc đời ở chốn phồn-hoa đô-hội này, công cai lại nói lớn, giọng sách-mé như chửi đổng: “Chà, tôi muốn về quê quá đi mất!”


V


Câu nói lớn của ông cai cũng là câu nói thầm trong bụng của Kha:

-Chà, tôi muốn về quê quá đi mất!

Kha đã đi dạy học được một tháng và chàng cũng đã tới trình diện Nha Công-An, nhưng ở đây họ chỉ gia hạn giấy thông hành tạm thời chứ chưa cấp thẻ căn cước. Kha chưa dám ra khỏi Hà Nội vì thế.

Phải về thăm quê chứ! Cứ nghĩ mình về Hà-Nội được hơn một tháng mà chưa về thăm quê, Kha thấy thực vô lý. Chàng ghi tên theo Ðại Học Văn Khoa. Còn nhớ sau cuộc cách mạng tháng tám giành được độc lập, một số học giả, nhà văn, nhà thơ có mở ngay Văn khoa tại đại học đường, để phát huy tư tưởng học thuật dân tộc, nhưng ngành đại học này chưa hoạt động được trọn niên khóa thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Gần đây một số học giả vùng quốc gia ý thức được sự cần thiết của “ngành linh hồn nền đại học dân tộc” đó, bèn nương theo lời tuyên bố huênh hoang của chính quyền bù nhìn mà tương kế tựu kế xin mở lại Ðại Học Văn Khoa. Cả giáo sư lẫn sinh viên đều ý thức được tầm quan trọng và sự khó khăn ban đầu của ngành này nên mọi người tìm đến nhau với tinh thần thân hữu cởi mở vô cùng. Hơn nữa lớp sinh viên mấy niên học đầu đều đã tới tuổi đứng đắn, cỡ xấp xỉ “tam thập nhi lập”. Chính lúc Kha tới đây ghi tên, chàng gặp một số người bạn cũ, xưa cùng học với chàng dưới trung học và cũng vì cuộc kháng chiến mà việc học bị gián đoạn. Giảng đường Ðại Học Văn Khoa được viện trưởng (người Pháp) dành cho dẫy nhà thấp phía bên, nơi trước đây quân Nhật nhốt ngựa. “Ðại học chuồng ngựa” là lời riễu đương thời (lẽ tất nhiên thực dân Pháp không ưng gì người Việt phát triển ngành quốc học này) những lời riễu đó càng là chất kích thích cho cả giáo sư lẫn sinh viên.

Trong khoảng thời gian này ông Hạo có ra thăm chàng hai lần nữa. Vì Kha đã bắt đầu kiếm được tiền nên hai lần sau này mâm cơm thết (do Miên làm) hậu hĩ lắm và lần nào, tối đến Kha cũng mời ông Hạo đi xem chèo cổ ở rạp Lạc Việt.
Vợ chồng cô Hĩm cũng ra thăm Kha một lần và nói rằng anh em bà con trong làng ai cũng nóng lòng được gặp “bác giáo”. (Trong câu chuyện, vợ chồng cô Hĩm tự xưng “em” và gọi Kha là “bác giáo”, đúng kiểu xưng hô của miền quê giữa những người đã trưởng thành.)

Tuy là bước đầu Kha vào nghề dạy học, bài giảng của Kha bao giờ cũng cố cho dồi dào ý kiến, chàng trích dẫn những tỉ dụ linh động hấp dẫn lấy ngay ở cuộc đời hay những tác phẩm nổi danh quốc tế. Kha chú trọng nhất là sao cho lũ học sinh khỏi bị nô lệ vào tư tưởng của bài văn, trái lại biết nương vào bài văn đó để thẩm định lại mọi ý nghĩ của mình và của người. Trong những cuộc mạn đàm thân mật với An (ông hiệu trưởng), Kha không dấu sự ghê tởm của chàng trước những phương pháp tuyên truyền ngày nay theo kỹ thuật “tha nhân ám thị” với những khẩu hiệu, truyền đơn, biểu ngữ nhồi vào óc, nhồi vào tai, nhồi vào mắt, chúng là tê liệt trí thông minh, đàn áp nhân phẩm, hủy diệt tự do.

Nghe những lời phê bình quá thẳng thắn đó đã có lần An bảo Kha: “Anh không bao giờ làm chính trị được, tâm hồn anh là một nhà làm bằng kính”.

An quý Kha lắm, nghĩ về Kha, An còn có hình ảnh khá ngộ nghĩnh mà An chỉ nghĩ thầm trong bụng: “Con người ấy cho dẫu có dìm sâu xuống bùn chỉ để hở mỗi đôi mắt, và chỉ cần nhìn thấy đôi mắt ấy thôi, người ta cũng biết mình đương đứng trước một người ngay thẳng.”

Lu’s Sandwich

 


Mai Hoàng


LU’s SANDWICH là một tiệm bánh mì ngon, nằm trên đường Nicollet, trong khu thương mại sầm uất của thành phố Minneapolis, Minnesota. Tiệm do bà Tuyết làm chủ và các người con phụ việc.










Bên ngoài Lu’s Sandwich.


Trông thật xinh xắn từ ngoài vào trong. Phía ngoài cao ráo, sạch sẽ phía trong gọn gàng, ngăn nắp. Có khoảng 20 chỗ ngồi cho khách. Nhưng phần lớn là khách “to go” đến đặt hàng và mang đi.

Bà Tuyết cho biết tiệm đã mở cửa gần 2 năm vào tháng 7, 2011. Bà cũng cho biết đặc biệt nhất của Lu’s Sandwich là bánh mì thịt nguội. Trả lời câu hỏi lý do thành công, bà Tuyết cho biết, “Thức ăn ngon, tiếp đãi nồng hậu và nhất là giá cả rất phải chăng.”










Bên trong Lu’s Sandwich.

Mở cửa 7 ngày trong tuần từ 8am-8pm.

Chủ Nhật từ 10am-8pm.

Ðịa điểm: Lu’s Sandwich, 2624 Nicollet Avenue S., Minneapolis, MN 55408. ÐT: (612) 870-0350, Fax: 888-855-7843, Web: www.lusandwiches.com

Tin mới cập nhật