Không Việt, không Mỹ


Phương Quỳnh



Viết về nước Mỹ. Một chủ đề mà tôi luôn có ý định viết thử dự thi. Muốn viết không vì giải thưởng mà tôi chỉ muốn chia sẻ tâm tư, với hy vọng văn từ lượm thượm của mình sẽ giúp những bậc cha mẹ hiểu thêm tí về thế hệ sau. Có ý vậy thôi chứ tôi thích đứng ngoài lề, vả lại, bài này không theo chủ đề nào, hơi lung tung cho nên nó xuất hiện nơi đây. Ðiều tôi thật sự muốn là làm gì tôi có thể làm, làm để bảo tồn chữ viết, văn hóa Việt Nam.


Từ ngày sang Mỹ, để tránh sai chính tả quá nhiều, tôi viết thư tay cho người chị lớn còn lại Việt Nam và thỉnh thoảng xuống Bolsa mua sách báo tiếng Việt về đọc. Chủ đề tôi ưa không phải sách dạy nấu món Việt, tiểu thuyết ướt át Quỳnh Dao hay truyện Kim Dung đầy kích động. Dù lịch sử có lẽ là môn học chung duy nhất mà học sinh và sinh viên toàn cầu không ưa, tôi lại mê, tôi say tìm hiểu.









Hình minh họa: Dân Huỳnh/Người Việt.


Có lẽ vậy, mỗi lần tôi vào một trong những nhà sách khu Bolsa tìm mua sách về lịch sử, các cô chú tính tiền gọi tôi bằng cô hoặc bằng em. Có mấy ai nghĩ tới một cô gái chỉ sống hơn một phần tư thế kỷ và sống tại Mỹ lại đọc sử Việt. Nhưng cũng có lẽ tôi lão hóa trước tuổi, đi chung với mấy chị ra đường thì ai cũng hỏi có phải tôi là chị lớn. Khi tôi thắc mắc sao lại nghĩ vậy, họ nói tại thấy tôi đứng ngồi gì cũng cứng đơ, chững chạc hơn chị tôi. Không chắc nữa, một là họ nói thật, hai là họ lịch sự, nói khéo léo để tôi không buồn phiền.

Ðâu chi buồn, để phiền. Thật sự tôi thấy tính cách mình lớn hơn rất xa. Mà có là cụ non cũng không gì lo, già hết cỡ thì còn già đâu được nữa. Thôi kệ, chịu già khi trẻ để được trẻ khi già, cuộc trao đổi lời quá đi chứ.

Ðã vậy, tôi còn là thành viên hội “bốn mắt.” Mà cũng chẳng sao, mang kiếng có lợi. Lợi thứ nhất là chống bụi và hai là tùy hỷ nhìn. Vui thì nhìn, buồn thì thôi. Khi vui, mang kiếng vô thấy toàn màu tươi sắc thắm. Khi buồn, lột kiếng ra, vẫn sắc màu như ai, đời này vẫn đẹp vẫn thơ có thêm đom đóm. Nhưng dường như người mất đi vẻ đẹp khi đeo kiếng, mặt trái, mặt phải đều có thể nhìn ra. Tôi lại lộ tuổi ‘già’ của mình nữa rồi.

Tôi không trẻ, không già. Nếu nói mình già thì kém lịch sử với lớp dì, chị; còn nói trẻ thì đàn em, cháu sẽ cười, cho tôi là lớn ham làm con nít. Và tôi cũng chẳng nằm trong hai nhóm: lớn và nhỏ. So với người bản xứ, tôi chưa hội đủ tiêu chuẩn; còn như đem tôi sánh với đồng hương, tôi lại thiếu vóc dáng nhỏ thó của người phụ nữ Việt Nam.

Ðiều ngạc nhiên hơn hết là khi đến khu Việt, đồng hương mình không nhận ra tôi là đồng hương nếu tôi không nói tiếng Việt. Có người còn hỏi tôi phải Mỹ gốc Phi Châu hay không. Một kỷ niệm vui khác nữa là lần tôi đi chợ Việt Nam. Tôi nhớ lần đó đến chợ đổi lại bao gạo vì nó bị sâu dù ngày hết hạn chưa đến. Khi đến quầy tính tiền, tôi đưa hóa đơn cho chị tiếp thị ở hàng rượu. Chị cầm lấy và bảo “Wait here. OK?” và nhấc điện thoại gọi người quản lý. Chỉ nói, “Có cô này đem gạo hư đổi.” Trên điện thoại chị nói tiếng Việt. Ðứng đợi không bao lâu, một cô trạc tuổi tôi, đi nhanh về hướng tôi, thoạt đầu cô nói tiếng Việt nhưng chuyển sang tiếng Anh sau khi nhìn mặt tôi. Cô xin lỗi và cho biết hàng tôi muốn đã hết, ít nhất hai tuần nữa mới nhập hàng mới về nên cô sẽ hoàn tiền lại. Khi tôi đưa ID để cô làm thủ tục trả tiền vào credit card, thấy tên tôi, cô ngạc nhiên hỏi, “Chị cũng là người Việt?”

Khuôn mặt ‘không Việt’ của tôi cũng là một trong những chuyện vui trong gia đình. Thỉnh thoảng thích đùa, tôi hỏi Ba Má, “Có phải Ba Má lượm con ngoài gốc sầu đâu vô nuôi không dạ? Sao ra đường ai cũng cho con không phải người Việt Nam.” Má cười, chỉ vào tấm hình của Ba chụp lúc trẻ và nói, “Con nhìn mặt đó với mặt con khác nhau bao xa.” Nghĩ cũng lạ, trong gia đình đông anh chị em chỉ có tôi là giống Ba và khác với mấy chị nhất là vóc dáng. Tôi cao lớn hơn mấy chị.

Mấy năm mới qua Mỹ, một trong ba chị lớn của tôi rất thích dùng tên Mỹ nhưng sau một thời gian, chị nhàm chán nó và trở lại yêu tên Việt. Tôi thì khác – xưa như nay – không tha thiết cũng không nhàm chán tên Mỹ; tôi vẫn mến tên trên giấy khai sanh của mình hơn. Gia đình cho là tôi bị Mỹ hóa: nước mắm không ăn, cá có mùi tanh, gà vịt thì mang mùi “gà vịt”, còn mắm thì quá là nặc nồng. Hầu hết đồng hương nói ăn gì ăn rồi cũng thèm và quay lại nồi cơm, không gì qua cơm.

Phần tôi thì có thể một tháng không thèm hột cơm nào. Bánh mì, mì ta, mì Ý, bagels, pizza, tortillas là nguồn tinh bột trong thức ăn mà tôi chuộng. Ngay từ lúc bé xíu, khi còn ở Việt Nam, tôi đã không thích thịt cá. Chỉ có điều nhỏ không được chọn lựa, người lớn cho gì thì ăn nấy. Trong vòng mười năm qua, tôi được “bình yên” vì đã bỏ mặn sang chay, câu “Nó là Mỹ, không phải Việt Nam” không còn nhắm vào tôi nữa.

Ðó là phương diện ăn uống, tôi còn thêm vài “tật xấu” do “Mỹ hóa.” Tôi thường đùa với người thân và bè bạn rằng tôi là công dân tốt, mua sắm cho người có việc làm, công ty sản xuất thêm và giúp kinh tế hồi phục. Tôi làm một, xài một, có khi hai, tiêu sắm cho nhà, tặng biếu có, và dĩ nhiên không khỏi sắm cho bản thân. Và tôi thích sự riêng tư. Ví dụ như thư từ, tôi không thích ai mở đọc khi không có sự đồng ý của tôi. Ba Má tôi cũng không ngoại lệ. Ðồ trong nhà, ai lấy đâu phải trả lại đó, lớn nhỏ không ngoại lệ, biết dùng thì phải biết dẹp. Khi ra khỏi nhà hay lúc về, tôi thấy phiền khi một ai đó hỏi tôi đi đâu và làm gì. Tôi tự nghĩ từ lúc có trí nhớ và nhận định được phải trái, tôi chưa nói điều gì hoặc làm chuyện nào đó khiến gia đình mất mặt, xấu hổ thì tại sao bị hỏi cặn kẽ như vậy.

Ngược lại, bạn bè lại nói tôi sao quá truyền thống, “Sống và lớn lên ở Mỹ mà còn thua mấy đứa ở Việt Nam nữa.” Vốn dĩ Má Ba sống lối Việt trên đất Mỹ, tánh lại khó nên tôi không hạp lối sống vội yêu cuồng: mặc theo mode, khoe nhiều hơn là che, yêu người này yêu người kia, chân tay thảy đều muốn nắm, sống chung trước hôn nhân. Tôi thường tự hỏi, không biết những cô cậu kết hôn – sau cuộc sống như vợ chồng với người không là hôn phối – nghĩ gì khi tình cờ gặp lại cố nhân và người đi bên cạnh là hôn phối của mình. Và người hôn phối đó cảm giác ra sao nếu biết người mà họ tình cờ gặp kia – được giới thiệu là bạn cũ, là người quen – lại là người từng chân ấp tay gối cùng chồng hoặc vợ mình.

Gia đình nói thế này, bạn bè nói thế nọ; riêng tôi, tôi có thấy gì khác hay Mỹ hóa đâu. Tôi chỉ khác ở chỗ là sống theo phương châm, tôn chỉ của riêng mình mà thôi. Tôi chấp nhận tôi không Ta, nhưng Mỹ hóa thì không. Ngoài ăn uống khó khăn và đòi hỏi chút quyền riêng tư cá nhân ra, tôi vẫn là người Việt Nam hoàn toàn. Có thể nói tôi còn thủ cựu hơn cả những vị cao niên tân thời. Mặc dù vậy, đôi lúc tôi thấy vài phong tục truyền lại quá bảo thủ, chúng trở thành hàng rào, chia cách các thế hệ giữa ông bà, cha mẹ, và con cái.

Cha mẹ thắc mắc sao con cái mình như biến thành người khác, đối bạn bè, lối xóm, và người qua đường thì vui cười, nói năng líu lo. Còn khi cha mẹ hỏi, “Con đi đâu đó?” Chỉ vậy thôi đã sầm mặt, mày mi nhăn nhó, khó chịu trả lời cộc lốc, “Con đi công chuyện.” Lý do cũng dễ hiểu, máu nồng hơn nước. Bạn bè thân mấy cũng không qua gia đình. Người mình thương bao nhiêu thì người ấy làm mình đau bấy nhiêu, người nhà với nhau thì phải hiểu nhau hơn, biết lời nói chỉ để xã giao và lời nào là bền lâu.

Có bao giờ cha mẹ nghĩ cho rằng những tiếng cau có, cử chỉ vùng vằng từ con thật ra là áo tự vệ? Thường người lớn bảo con cháu đừng làm cái này, chớ làm điều kia mà không giải thích nguyên nhân, hậu quả có thể gây ra. Ðứa con có thể chọn cách thứ nhất, phản kháng thẳng thừng và thứ hai, nó chạy bằng cách vùng vằng nhưng im lặng. Nhất là những đứa sanh ra hoặc lớn lên ở Mỹ, không hiểu được nhiều tiếng Việt, mà cha mẹ lại không biết đầy đủ từ ngữ để giải thích.

Ðã bao giờ những ý nghĩ ấy thoáng qua trong đầu cha mẹ để thông cảm cho những đứa con của mình. Ðể hiểu rằng chúng đang đối diện với hai lối sống – Việt và Mỹ – trên một mảnh đất, một thân, một cuộc sống không dễ chịu? Theo lối sống bản xứ thì cảm giác có lỗi. Theo phong tục cổ truyền lại thấy bứt rứt. Thêm điều nữa là cách dạy răn đe. Họ muốn con họ không vấp ngã, một đường đi xuyên suốt. Họ không muốn con họ bị trầy da chảy máu, mang sẹo hay bất cứ tỳ vết nào, dù biết có đau nhiều mới nhớ dai mà chừa. Thế nên cha mẹ thường răn: con đừng chạy, té bây giờ; con phải học để sau này có nghề nuôi thân; con đang yêu vội mà hết tâm trí học hành… Những lời răn đó không sai, hoàn toàn đúng, và rất cần nhắc tới.

Tuy nhiên, bản tánh con người là tự ái. Tự ái dẫn đến tự ti thành ra cha mẹ nên khéo léo, chọn lời lẽ mà khuyên răn và phải hợp thời khắc. Bằng không, lời hay lẽ phải sẽ có mang đến kết quả tương phản. Chúng sẽ nghĩ cha mẹ chỉ trích và cho rằng họ ghét bỏ dẫn đến tự ti trong chúng.

Con cái tuổi trẻ có trí thức cao nhưng đó chỉ nên áp dụng ngoài xã hội, trong giao tiếp mà thôi. Trong gia đình, tri thức quan trọng hơn và thường người lớn là người có ưu điểm đó. Con cái cần phải dành giây phút nào đó trong cuộc sống để suy nghĩ mà hiểu cho cha mẹ mình.

Và còn áp lực nữa. Con cái thường cảm thấy lúc nào cũng có áp lực từ người trên trước, phải làm gì cho gia đình hãnh diện. Nào bằng bác sĩ, bằng luật sư, v.v… biết bao là áp lực từ bạn đồng lứa. Trong đời sống hiện nay, hầu như tất cả chúng ta bị hút vào vòng xoáy, lúc nào cũng thấy thiếu sót, con chưa ngoan, khuyết chỗ kia. Thế là chúng ta chạy đuổi cho bằng được, con đậu đại học thì lại muốn nó theo y, theo dược. Con được cha mẹ nuôi ăn học, được laptop, iPad, iPhone, xong trung học là được chiếc xe thì lại muốn xe mới, xe xịn. Ðược lại muốn nữa, không thì bực dọc, bứt rứt. Trong người lúc nào cũng như có mục nhọt, ai chạm nhẹ đã nổi sùng, bất kể người trên kẻ dưới. Câu kính trên nhường dưới không còn, chỉ hai chữ khó chịu rồi lời qua tiếng lại.

Bởi sẵn khó chịu, lời nói thật ta suy non ra già, bên nào cũng cho mình thiệt thòi, bị bên nọ chèn ép lép vế. Nhưng nếu tất cả chịu khó, thay vì khó chịu, suy cùng nghĩ tận, ta sẽ thấy cuộc sống ta đang có quá đủ đầy, ta quá diễm phúc. Khi lòng đã mở, ta sẽ cảm nhận được rằng đời này rất công bằng, luật bù trừ lúc nào cũng hiện hữu dù tâm chẳng nhìn ra và mắt không thấy được. Vạn vật quanh ta chuyển biến theo thời gian, chúng ta đừng tự dằn vặt mình với tránh móc, so đo.
Nhân lễ Tạ Ơn sắp tới, ta hãy để tâm ta lắng đọng mà tạ ơn bề trên, ghi ơn đời, cám ơn những ai ta từng quen biết và chấp nhận những ai còn trong đời ta.

“Cám ơn đời, sướng khổ riêng ban.”

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT