Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 14)


Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 14


 


Bây giờ, khi trời vừa tang tảng sáng, hắn ta đã ngồi đấy, đôi mắt chìm vào xa xăm, hướng về vùng ánh sáng, mắt còn lim dim. Người ta tưởng chừng như hắn ta đang ở trong cơn hôn mê nhè nhẹ; thái dương hắn dường như chưa thoát khỏi giấc ngủ.


Ðiềm tĩnh, thụ động, hắn ta buông mình trong vùng tranh tối tranh sáng dầy đặc như mật ong. Vũ trụ như trôi chẩy, đất đai, sông nước, tư tưởng, con người, tất cả đều trôi chẩy về một miền biển xa xôi, và Zorba cũng hân hoan trôi chẩy cùng với chúng, không kháng cự, không thắc mắc hỏi han chi.


Thôn làng bắt đầu thức dậy – tiếng gà gáy inh ỏi cùng với tiếng lợn, lừa và người ta. Tôi muốn nhẩy xuống giường và la lên: “Này Zorba! Hôm nay chúng ta có việc làm rồi đấy!” Nhưng tôi tự cảm thấy vô cùng diễm phúc khi đắm mình như thế, im lặng, bất động, vào những tia hồng thắm len lỏi, chập chờn của buổi bình minh. Trong những giây phút thần kỳ này, tất cả cuộc đời nhẹ tựa lông hồng. Như một áng mây chờn vờn và mềm nhũn, trái đất thay hình đổi dạng theo cơn gió thổi.


Tôi nhìn Zorba hút thuốc, tôi cũng thèm hút nữa, và tôi với tay lấy cái tẩu thuốc. Tôi ngắm nghía và bồi hồi cảm động. Ðó là một cái tẩu thuốc Ăng-lê vừa to vừa quí giá, một tặng phẩm mà một người bạn thân – người có đôi mắt xám xanh và bàn tay ngón búp măng – cách đây nhiều năm, ở ngoại quốc đã tặng cho tôi vào một buổi trưa. Việc học vừa xong, bạn tôi đã lên đường sang Hy Lạp ngay chiều hôm đó. “Bỏ thuốc lá, hắn nói với tôi như thế; anh đốt thuốc, anh hút một nửa và anh quẳng nó đi như một con đĩ. Xấu lắm. Tốt hơn hết anh hãy dùng tẩu thuốc. Ðó là một người vợ trung thành. Khi anh trở về nhà, nó sẽ luôn luôn ở đó, lặng lẽ chờ đợi anh. Anh sẽ châm tẩu, anh sẽ nhìn theo làn khói tỏa trong không khí, và anh sẽ nhớ đến tôi!”


Giữa trưa, chúng tôi bước ra khỏi một viện bảo tàng ở Bá Linh nơi bạn tôi đến đó để giã từ bức tranh hắn thích, bức Chiến Sĩ của Rembrant, đội nón đồng, má hốc hác, với cái nhìn đau đớn và cương quyết. “Trong đời tôi, nếu có bao giờ tôi thực hiện được một hành động nào xứng đáng với con người, đó là nhờ hắn!” Anh bạn tôi vừa thì thầm vừa ngắm chàng chiến sĩ ghê gớm và tuyệt vọng.


Chúng tôi đang tựa lưng vào một cột trụ trong sân viện bảo tàng. Ðối diện với chúng tôi là một pho tượng đồng – một nữ kỵ sĩ khỏa thân cưỡi trên lưng con ngựa rừng với một vẻ duyên dáng khó tả. Một con chim nhỏ mầu xám, con chim chìa vôi, đến đậu một lát trên đầu nàng kỵ sĩ, hót hai ba lần với vẻ nhạo báng rồi vỗ cánh bay.


Tôi rùng mình nhìn bạn tôi:


– Anh có nghe con chim hót không? Tôi hỏi. Nó có vẻ như muốn nói với chúng ta điều gì?


Bạn tôi mỉm cười:


“Ðó là một con chim, hãy để yên cho nó hót, đó là một con chim, hãy để cho nó nói!” Hắn đáp lại bằng một câu vè trích từ một bài ai-ca của dân gian.


Tại sao giây phút này, khi trời vừa sáng, trên bãi biển đảo Crete này, kỷ niệm kia lại hiện về nơi ký ức tôi cùng với câu thơ ảo não khiến tinh thần tôi tràn trề cay đắng?


Tôi thong thả nhồi thuốc vào tẩu và châm lửa. Tất cả đều có một ý nghĩa thầm kín trong thế gian này, tôi nghĩ. Con người, thú vật, cỏ cây, tinh tú, tất cả chỉ là một tượng hình; hạnh phúc thay cho kẻ nào bắt đầu đọc ra được những chữ ấy và minh giải được điều chúng muốn nói, nhưng cũng bất hạnh thay cho kẻ ấy. Khi chúng ta thấy chúng, chúng ta không hiểu chúng. Chúng ta tưởng đó là những con người, thú vật, cỏ cây, tinh tú. Chỉ nhiều năm sau, lâu lắm, chúng ta mới khám phá ra được cái ý nghĩa đích thực của chúng.


Người chiến sĩ với cái nón đồng, anh bạn tựa lưng vào cột trụ, trong ánh sáng dầy đặc của buổi trưa ấy, con chim chìa-vôi và những gì nó nói qua tiếng chim kêu chim chíp, câu thơ trong bài ai ca, tất cả những điều ấy, hôm nay tôi nghĩ rất có thể có một ý nghĩa thầm kín nào đó, nhưng ý nghĩa nào mới được chứ?


Tôi đưa mắt nhìn theo làn khói cuồn cuộn và từ từ tản mát trong vùng tranh tối tranh sáng. Và tâm hồn tôi quấn quít theo làn khói, chầm chậm tan biến trong những cuộn khói xanh lơ. Một hồi lâu trôi qua, không cần sự can thiệp của luận lý, tôi trực nhận ra một cách vô cùng đích xác nguồn gốc, sự triển nở cùng sự tiêu diệt của thế giới. Dường như tôi bị chìm ngập một lần nữa trong Ðức Phật nhưng lần này không có những danh từ phỉnh phờ và những trò múa rối vô liêm sỉ của tinh thần. Làn khói kia là tinh hoa của giáo lý ngài, những cuộn khói tan biến kia, đó là cuộc đời, thanh thản, tự tại và hoan hỷ đạt tới Niết Bàn xanh biếc. Tôi không suy nghĩ, không tìm kiếm, không chút nghi ngờ. Tôi sống trong niềm tin tưởng xác thực.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT