Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 56
“Tôi đi khắp các tỉnh, các làng, tôi tập trung dân Hy Lạp, tôi viết báo cáo và điện tín, tôi cố gắng tìm cách khiến những sĩ quan hải quân của chúng ta ở Nhã-Ðiển gửi tầu bè, thực phẩm, quần áo, thuốc men đến và chuyên chở những sinh vật khốn khổ này về Hy Lạp.
Nếu chiến đấu với nhiệt tình và lòng kiên quyết là hạnh phúc, thì tôi hạnh phúc. Chẳng biết có phải tôi đã ‘thửa’ hạnh phúc tôi theo vóc dáng của tôi như thầy đã nói đó không; lạy trời, bởi vì nếu thế tôi có một vóc dáng vĩ đại. Tôi còn muốn trải cái vóc dáng của tôi với những biên cương xa tắp của Hy Lạp đồng thời cũng là giới hạn của hạnh phúc tôi. Nhưng thôi, dẹp lý thuyết đi! Thầy đang nằm dài trên bờ biển Crete, thầy nghe biển và đàn santuri, thầy có thì giờ, tôi thì không. Tôi bị ngấu nghiến bởi hành động và tôi sung sướng vì điều đó. Hành động, thầy bất động thân mến của tôi, hoạt động không có một sự cứu chuộc nào khác.
“Ðề tài suy tưởng của tôi bây giờ, quả thực, rất đơn giản và hợp nhất, tôi tự nhủ: dân ở Pontus và dân Caucasus, nông dân ở Kars, thương gia lớn bé ở Tiflis, Batum, Navo Rossik, Rostov, Odessa, Crimea là đồng bào ta, họ là máu mủ ta: đối với họ cũng như đối với chúng ta, kinh đô Hy Lạp là Constantinople. Chúng ta cùng có một lãnh tụ. Thầy gọi người là Udysseus, những người khác gọi là Constantinos Palaeologos (*) – không phải người đã bị giết ở dưới chân thành Byzantium, nhưng là người khác, người đã hóa thành cẩm thạch và vẫn còn đang đứng trơ trơ chờ Thiên Thần Tự Do. Xin thầy cho phép, tôi gọi vị lãnh tụ của dòng giống chúng ta là Acritas (**).Tôi thích tên này hơn; nó có vẻ khắc khổ và hiếu chiến hơn. Khi nào tôi nghe thấy nhắc tới tên đó, tôi cảm thấy trong tôi hình ảnh của Hellene vĩnh cửu vươn lên, võ trang cùng mình, đang chiến đấu không ngừng trên những quan ải, biên giới. Trên tất cả mọi biên giới: quốc gia, trí thức, tinh thần. Và nếu người ta thêm Degenis, người ta càng vẽ dòng giống chúng ta một cách hoàn hảo hơn, cái tổng hợp kỳ diệu giữa Ðông Phương và Tây Phương này.
“Bây giờ tôi đang ở Kars; tôi đến để tập trung dân Hy Lạp ở tất cả những làng mạc lân cận. Chính hôm tôi tới, dân Kurds đã bắt giữ trong vùng Kars một linh mục và một giáo viên Hy Lạp và đã đóng móng họ như những con la. Những vị linh mục sợ hãi đã trốn cả vào trong nhà tôi ở trọ. Luôn luôn chúng tôi nghe thấy tiếng đại bác bọn Kurds mỗi lúc một gần thêm. Tất cả đều hướng vào tôi như thể tôi là kẻ duy nhất có đủ sức mạnh cứu vớt họ.
“Tôi định mai đi Tiflis, nhưng bây giờ, trước hiểm họa, tôi xấu hổ nếu bỏ ra đi. Bởi thế tôi ở lại. Người Chiến Sĩ của Rembrant, người Chiến Sĩ của tôi, đã chẳng từng làm như vậy hay sao? Chắc chàng đã ở lại; vậy tôi cũng ở lại. Nếu bọn Kurds vào thành phố, dĩ nhiên là đúng lý tôi là người đầu tiên bị đóng móng sắt. Tôi chắc không bao giờ, thưa thầy, thầy lại nghĩ học trò của thầy có thể chấm dứt cuộc đời như vậy.
“Sau một cuộc thảo luận liên tu bất tận kiểu Hy Lạp, chúng tôi quyết định rằng tất cả tối nay tập trung, với la, ngựa, bò, cừu, đàn bà, trẻ con, và sáng sớm tất cả chúng tôi sẽ cùng khởi hành về phương Bắc. Tôi sẽ đi tiên phong, con cừu đực đầu đàn hướng dẫn bầy cừu.
“Một cuộc di dân tộc trưởng của một dân tộc qua những rặng núi và bình nguyên có những cái tên thần thoại! Và tôi, tôi sẽ là một thứ Moses – Moses giả hiệu – dẫn dắt dân được chọn tới Ðất Hứa, như những kẻ ngây thơ gọi Hy Lạp. Dĩ nhiên, để xứng đáng với sứ mệnh có tính cách Moses này và để khỏi làm thầy xấu hổ, tôi phải bỏ những cái xà cạp dạ thanh lịch mà thầy thường chế diễu và quấn chân tôi bằng những dải da cừu. Lẽ ra tôi còn phải có một chòm râu dài gợn sóng, trơn mượt và nhất là hai cái sừng. Nhưng rất tiếc về điểm này tôi không thể làm thầy vừa lòng được. Thay đổi tâm hồn với tôi dễ hơn thay đổi y phục. Tôi mang xà cạp, râu ria cạo nhẵn nhụi như một cái lõi bắp cải và tôi chưa lập gia đình.
“Thưa thầy, tôi hy vọng thầy nhận được lá thư này vì có thể đây là lá cuối cùng. Biết đâu. Tôi không tin vào những mãnh lực bí mật bảo vệ con người, như người ta nói. Tôi tin vào những sức mạnh mù quáng đánh tả đánh hữu, không quỉ quái, không mục đích, giết bất cứ kẻ nào trên đường chúng. Nếu tôi lìa trần gian (tôi nói ‘lìa’ để khỏi làm thầy và chính tôi sợ nếu dùng chữ chính xác), vậy, nếu tôi lìa trần gian, tôi mong thầy khỏe mạnh và sung sướng, thầy thân mến của tôi! Tôi xấu hổ phải nói lên điều này, nhưng tôi phải nói, vậy xin thầy thứ lỗi cho tôi: tôi cũng yêu thầy lắm lắm.”
Và, ở dưới, tái bút viết thảo bằng bút chì:
“T.B. Tôi không bao giờ quên điều chúng ta đã đồng ý với nhau hôm tôi ra đi. Nếu tôi phải “lìa bỏ” trần gian này, sẽ báo cho thầy rõ, thầy hãy nhớ, bất cứ thầy ở đâu; xin thầy đừng sợ.”
(*) Ðại Ðế cuối cùng của Ðế Quốc Ðông La Mã (1448-1423)
(**) Basilius Digenes Acritas: vị anh hùng Byzance thế kỷ thứ 10. Digenes có nghĩa là song sinh (cha Hồi Giáo và mẹ Thiên Chúa Giáo, Hy Lạp và Ðông Phương) còn Acritas là tráng sĩ phòng vệ biên thùy của Ðế Quốc – G.c.D.



























































































